Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

Nhận thức tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ, chống các luận điểm sai trái, xuyên tạc

 Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản. Đảng thống nhất nhận thức lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết lý luận, khoa học và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Cùng với tuân theo học thuyết lý luận, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải theo lý tưởng cách mạng, ra sức đấu tranh theo Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, mục tiêu cách mạng Đảng đã đề ra, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng và đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Phải thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật và các quy định của Điều lệ Đảng và đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức đảng là chi bộ.

Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng và yêu cầu xây dựng Đảng, Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã xác định: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”. Đó là bản chất cách mạng, khoa học và tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ và được thực hiện nhất quán trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các đảng cộng sản cầm quyền ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chậm được sửa chữa. Điều đó dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô (1989-1991). Nguyên nhân khách quan là chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân chủ quan là các đảng cộng sản cầm quyền đã rời bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận và Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng trước sự tiến công hiểm độc của kẻ thù. Các đảng cộng sản đã không kiên định và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho những quan điểm sai trái về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, công khai hóa, dân chủ hóa lộng hành dẫn tới sự rối loạn trong Đảng và xã hội, Đảng không kiểm soát được tình hình và mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền.

Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình xấu đi của các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ở trong nước và lưu vong ra sức phá hoại hòng đưa đất nước rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, ngay từ năm 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải dân chủ tư sản. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội”.

Trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) trong tổng kết công tác xây dựng Đảng đã nêu rõ kinh nghiệm hàng đầu là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã xử lý thành công các nội dung cơ bản, đó là:

Thứ nhất, thực hiện tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của Đảng, Nhà nước với thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo tập trung trước hết phải thống nhất về nền tảng tư tưởng, học thuyết lý luận là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lãnh đạo bằng đường lối đổi mới, cương lĩnh, chính sách, pháp luật không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả. Phát huy dân chủ trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội dựa trên nâng cao trình độ trí tuệ và nâng cao dân trí. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kiên quyết chống tập trung quan liêu, lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan và lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Thứ hai, xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ thực chất là mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đề cao trách nhiệm, trí tuệ, quyền hạn, góp phần xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tự giác thực hiện. Kỷ luật, kỷ cương của Đảng đòi hỏi cá nhân phục tùng tập thể, tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý đúng đắn những mối quan hệ lớn. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.

Thứ ba, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ một số hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần được quy định cụ thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương.

Các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ với luận điệu ở Việt Nam chỉ có một đảng lãnh đạo, không có dân chủ và Đảng độc đoán, chuyên quyền. Đó là sự xuyên tạc, nhắm mắt trước sự thật, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải không ngừng hoàn thiện và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc đó không chỉ cần thiết của Đảng cầm quyền mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại.

Thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tập trung dân chủ là nguyên tắc mang tính khoa học và hiện thực trong xây dựng Đảng và có vai trò rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, bảo đảm phát huy dân chủ thực chất và giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nguyên tắc đó vì thế có giá trị bền vững trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam không có khẩu hiệu nào là “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ” Để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch không từ bất kỳ thủ đoạn nào, trong đó có cả việc sử dụng các luận điệu xuyên tạc, “lật sử”, và cả vu khống. Câu chuyện về khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là một điển hình của các mưu đồ này. Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có câu khẩu hiệu này Đối với một đảng chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện có giá trị cao nhất là Cương lĩnh chính trị. Vì vậy, mọi nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều không được trái với Cương lĩnh chính trị. Khi đưa ra luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam có hẳn câu khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cho rằng nó ở trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 do Tổng Bí thư Trần Phú soạn thảo. Có thể thấy việc hiểu sai hay cố tình xuyên tạc về nội dung này thì thiên hình, vạn trạng. Trên BBC, cũng đăng bài viết có tiêu đề “Khiếp nhược hay là đang náu mình” có nội dung như sau: “Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ. Như vậy trí thức là đối tượng được ưu tiên xếp hạng đầu tiên Đảng Cộng sản cần tiêu diệt”. Đa phần các bài viết trên mạng đều dẫn khẩu hiệu này để quy kết cho Đảng Cộng sản Việt Nam về việc coi khinh trí thức, đàn áp trí thức. Cũng có những bài viết có vẻ khách quan hơn khi cho rằng đó là “một sai lầm của Đảng” và đã được sửa sai. Sự thật thì Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt lịch sử hơn 90 năm của mình chưa bao giờ có khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”. Câu khẩu hiệu này chỉ là một khẩu hiệu được đưa ra bởi một cấp ủy và chỉ để thực hiện trong nội bộ đảng của cấp ủy đó. Sau khi biết được điều này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời chấn chỉnh. Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Như vậy, khẳng định rằng câu khẩu hiệu này không phải của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó càng không phải là đã được ghi trong Cương lĩnh Chính trị năm 1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương như bài viết của BBC nêu trên. Đây chỉ là chủ trương của một xứ ủy trực thuộc và sau khi nhận được thông tin này ngay lập tức Đảng đã ra chỉ thị chấn chỉnh. Chúng ta đều biết Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 đã bùng lên mạnh mẽ và sau đó bị đàn áp đẫm máu. Hàng loạt các tổ chức Đảng bị đàn áp, hàng loạt người yêu nước bị bắt và giết hại, các tổ chức của Đảng vỡ từng mảng, nhất là ở Xứ ủy Trung Kỳ. Khi ấy, ban lãnh đạo của Xứ ủy nhận định rằng tổn thất của phong trào có thể do trong hàng ngũ có kẻ phản bội. Nghi vấn đổ dồn vào những trí thức trong tổ chức khi ấy. Vì vậy, năm 1931, Xứ ủy Trung kỳ ra chỉ thị về vấn đề thanh Đảng (tức thanh lọc nội bộ của Đảng) có câu: “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Ngay sau khi nhận được thông tin, Trung ương Đảng đã kịp thời uốn nắn nhận thức sai lầm này và khẳng định: “Xứ ủy Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng”. Trung ương đã yêu cầu Xứ ủy Trung Kỳ phải có nhận thức đúng đắn và sửa sai: “Vậy tiếp được chỉ thị này, Xứ ủy phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai phải dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy”. Trung ương khẳng định: “Đảng ta được xây dựng theo những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta, Đảng ta kế thừa truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc ta (…). Không tránh khỏi xuất hiện những tư tưởng hoang mang, dao động, bi quan, những phần tử đầu hàng phản bội. Điều đó không có gì lạ, mà là việc thường xảy ra đúng với quy luật đấu tranh cách mạng… nhưng là số ít, còn thì giai tầng nào mặc dầu, nhưng đa số đồng chí hết sức trung thành hiến thân cho Đảng đến giọt máu cuối cùng”. Trung ương cũng yêu cầu Xứ ủy Trung kỳ phải tự chỉ trích, phải khắc phục những sai lầm, Chỉ thị cho Xứ ủy Trung Kỳ phải nghiên cứu thẩm tra lại tình hình cụ thể từng đảng bộ, từng cấp ủy và toàn thể đảng viên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm điểm sắp xếp lại lực lượng. Sau đó, Xứ ủy Trung kỳ đã kịp thời khắc phục sai lầm này trong lãnh đạo, chỉ đạo. Việc xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm bóp méo, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là không phải bàn cãi. Tuy nhiên, có một điều đáng tiếc là ngay chính những người là cán bộ, đảng viên cũng đã có lúc nhận thức sai, hiểu sai về vấn đề này. Chẳng hạn, vì không tìm hiểu kỹ nên khi đánh giá về những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cách mạng, có những đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn chưa hiểu thật sự thấu đáo vấn đề này khi còn cho rằng đó là một trong những sai lầm của Đảng khi ấy. Rõ ràng, Đảng là một thực thể sống và bao gồm rất nhiều người thuộc các thành phần khác nhau. Do đó, Đảng không phải không có sai lầm. Đánh giá đúng, “có gan thừa nhận những khuyết điểm” (lời Hồ Chủ tịch) để rút ra bài học, khắc phục những hạn chế khuyết điểm là việc đáng nên làm. Thế nhưng, bất luận trong bối cảnh nào cũng phải hiểu thấu đáo vấn đề, gắn với bối cảnh và hoàn cảnh lịch sử. Từ câu chuyện này, rõ ràng nếu xem kỹ Văn kiện Đảng, chắc chắn ai đó sẽ không thể phán bừa rằng câu khẩu hiệu ấy “được ghi trong Cương lĩnh của Đảng” và những ai tìm hiểu cặn kẽ cũng sẽ hiểu rõ thêm.

 Để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch không từ bất kỳ thủ đoạn nào, trong đó có cả việc sử dụng các luận điệu xuyên tạc, “lật sử”, và cả vu khống. Câu chuyện về khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là một điển hình của các mưu đồ này.

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có câu khẩu hiệu này

Đối với một đảng chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện có giá trị cao nhất là Cương lĩnh chính trị. Vì vậy, mọi nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều không được trái với Cương lĩnh chính trị. Khi đưa ra luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam có hẳn câu khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cho rằng nó ở trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 do Tổng Bí thư Trần Phú soạn thảo. Có thể thấy việc hiểu sai hay cố tình xuyên tạc về nội dung này thì thiên hình, vạn trạng. Trên BBC, cũng đăng bài viết có tiêu đề “Khiếp nhược hay là đang náu mình” có nội dung như sau: “Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ. Như vậy trí thức là đối tượng được ưu tiên xếp hạng đầu tiên Đảng Cộng sản cần tiêu diệt”. Đa phần các bài viết trên mạng đều dẫn khẩu hiệu này để quy kết cho Đảng Cộng sản Việt Nam về việc coi khinh trí thức, đàn áp trí thức. Cũng có những bài viết có vẻ khách quan hơn khi cho rằng đó là “một sai lầm của Đảng” và đã được sửa sai. Sự thật thì Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt lịch sử hơn 90 năm của mình chưa bao giờ có khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”. Câu khẩu hiệu này chỉ là một khẩu hiệu được đưa ra bởi một cấp ủy và chỉ để thực hiện trong nội bộ đảng của cấp ủy đó. Sau khi biết được điều này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời chấn chỉnh.

Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân

Như vậy, khẳng định rằng câu khẩu hiệu này không phải của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó càng không phải là đã được ghi trong Cương lĩnh Chính trị năm 1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương như bài viết của BBC nêu trên. Đây chỉ là chủ trương của một xứ ủy trực thuộc và sau khi nhận được thông tin này ngay lập tức Đảng đã ra chỉ thị chấn chỉnh. Chúng ta đều biết Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 đã bùng lên mạnh mẽ và sau đó bị đàn áp đẫm máu. Hàng loạt các tổ chức Đảng bị đàn áp, hàng loạt người yêu nước bị bắt và giết hại, các tổ chức của Đảng vỡ từng mảng, nhất là ở Xứ ủy Trung Kỳ. Khi ấy, ban lãnh đạo của Xứ ủy nhận định rằng tổn thất của phong trào có thể do trong hàng ngũ có kẻ phản bội. Nghi vấn đổ dồn vào những trí thức trong tổ chức khi ấy. Vì vậy, năm 1931, Xứ ủy Trung kỳ ra chỉ thị về vấn đề thanh Đảng (tức thanh lọc nội bộ của Đảng) có câu: “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Ngay sau khi nhận được thông tin, Trung ương Đảng đã kịp thời uốn nắn nhận thức sai lầm này và khẳng định: “Xứ ủy Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng”. Trung ương đã yêu cầu Xứ ủy Trung Kỳ phải có nhận thức đúng đắn và sửa sai: “Vậy tiếp được chỉ thị này, Xứ ủy phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai phải dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy”. Trung ương khẳng định: “Đảng ta được xây dựng theo những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta, Đảng ta kế thừa truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc ta (…). Không tránh khỏi xuất hiện những tư tưởng hoang mang, dao động, bi quan, những phần tử đầu hàng phản bội. Điều đó không có gì lạ, mà là việc thường xảy ra đúng với quy luật đấu tranh cách mạng… nhưng là số ít, còn thì giai tầng nào mặc dầu, nhưng đa số đồng chí hết sức trung thành hiến thân cho Đảng đến giọt máu cuối cùng”. Trung ương cũng yêu cầu Xứ ủy Trung kỳ phải tự chỉ trích, phải khắc phục những sai lầm, Chỉ thị cho Xứ ủy Trung Kỳ phải nghiên cứu thẩm tra lại tình hình cụ thể từng đảng bộ, từng cấp ủy và toàn thể đảng viên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm điểm sắp xếp lại lực lượng. Sau đó, Xứ ủy Trung kỳ đã kịp thời khắc phục sai lầm này trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Việc xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm bóp méo, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là không phải bàn cãi. Tuy nhiên, có một điều đáng tiếc là ngay chính những người là cán bộ, đảng viên cũng đã có lúc nhận thức sai, hiểu sai về vấn đề này. Chẳng hạn, vì không tìm hiểu kỹ nên khi đánh giá về những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cách mạng, có những đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn chưa hiểu thật sự thấu đáo vấn đề này khi còn cho rằng đó là một trong những sai lầm của Đảng khi ấy. Rõ ràng, Đảng là một thực thể sống và bao gồm rất nhiều người thuộc các thành phần khác nhau. Do đó, Đảng không phải không có sai lầm. Đánh giá đúng, “có gan thừa nhận những khuyết điểm” (lời Hồ Chủ tịch) để rút ra bài học, khắc phục những hạn chế khuyết điểm là việc đáng nên làm. Thế nhưng, bất luận trong bối cảnh nào cũng phải hiểu thấu đáo vấn đề, gắn với bối cảnh và hoàn cảnh lịch sử. Từ câu chuyện này, rõ ràng nếu xem kỹ Văn kiện Đảng, chắc chắn ai đó sẽ không thể phán bừa rằng câu khẩu hiệu ấy “được ghi trong Cương lĩnh của Đảng” và những ai tìm hiểu cặn kẽ cũng sẽ hiểu rõ thêm.

 

Không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam

 Trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX, XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đều tiếp tục chỉ rõ sự nguy hại của tham nhũng đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng”. Đại hội XII của Đảng đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và coi đây là nhiệm vụ cấp bách đối với Đảng. Vấn đề xây dựng Đảng, phòng chống quan liêu, tham nhũng được đề cao. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được xác định là trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ: Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và “xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu”. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng đã một lần nữa khẳng định lại quan điểm nhất quán này,…

Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng xác định là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, khó khăn, phức tạp; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, không nóng vội, không chủ quan, với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm; phòng chống tham nhũng cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp; phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, các hành vi bao che, dung túng tiếp tay cho tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam…

Những quan điểm chỉ đạo của Đảng được thực tiễn kiểm nghiệm và chứng minh hoàn toàn đúng đắn với các bước đi phù hợp, hiệu quả trong một quyết tâm chính trị cao nhằm tạo chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng. Với sự quyết tâm và nghiêm khắc của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiều vụ tham nhũng được xét xử, nhiều cán bộ tha hóa, biến chất ở mọi cấp, mọi ngành, “không có vùng cấm” đã chịu sự trừng phạt của pháp luật; đã thu hồi, đề nghị thu hồi tại sản trị giá hàng nghìn tỷ đồng cho Nhà nước. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được điều tra, khởi tố, truy tố và xử lý công khai, khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tính từ năm 2013 (năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN- tháng 02/2013) đến hết năm 2020, các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã khởi tố, điều tra 14.300 vụ/24.410 bị can, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ/22.600 bị cáo về tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Riêng Ban Chỉ đạo, từ khi thành lập đến nay đã đưa hơn 800 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm... Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã quyết định kỷ luật hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý (trong đó có 27 đồng chí là Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 4 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị)… Các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm hơn 14.000 tập thể và nhiều cá nhân sai phạm; chuyển cơ quan điều tra hơn 650 vụ việc có dấu hiệu tội phạm[6]… Mới đây, hàng loạt cán bộ cao cấp ở tỉnh Bình Dương, Khánh Hòa cả đương chức và đã nghỉ hưu bị xử lý kỷ luật và bị truy tố vì các vi phạm.

Từ những dẫn chứng nêu trên để thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa và cũng không bao giờ bao che, dung túng cho quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tất cả những ai phạm tội thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị xem xét xử lý kỷ luật một cách thấu đáo. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng được hiến định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, Đảng phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân về tất cả các quyết định của mình. Trong bộ máy Nhà nước, đa phần cán bộ đều là đảng viên của Đảng. Vì vậy, nếu để một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất dẫn tới quan liêu, tham nhũng, lãng phí sẽ làm mất lòng dân, gây ra tác hại khôn lường và đe dọa nguy cơ cầm quyền của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định các quan điểm về đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đảng luôn coi tham nhũng là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ, đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Vậy nên, để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền, để nâng cao uy tín trước Nhân dân, để thực sự xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể không quyết liệt trong phòng, chống tham nhũng. Phòng, chống tham nhũng là mệnh lệnh sống còn của Đảng. Luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không thực tâm chống tham nhũng là luận điệu xuyên tạc nhằm đánh lạc hướng dư luận, gây xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân đối với công cuộc phòng, chống tham nhũng hiện nay./.

Về luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không thực tâm chống tham nhũng

 Trong những năm qua, để xuyên tạc chủ trương chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là quyết tâm mạnh mẽ từ người đứng đầu cao nhất của Đảng và Nhà nước, các thế lực thù địch đã không ngừng xuyên tạc công cuộc này. Họ cho rằng thực chất cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay chẳng qua chỉ là cuộc đấu đá nội bộ giữa phe này và phe khác. Rằng Đảng cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng vì Việt Nam chỉ do một đảng duy nhất lãnh đạo, rằng chỉ có một đảng thì không thể có dân chủ và vì vậy không thể chống được tham nhũng, lãng phí, quan liêu (?).

Không bao giờ bao che, dung túng cho tham nhũng, lãng phí

“…Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, vì vậy chỉ những người có chức vụ mới có thể lợi dụng chức vụ để tham nhũng. Tham nhũng chính là một hành vi tha hóa đạo đức cá nhân để làm những việc bất chính nhằm biến tài sản Nhà nước, tài sản của Nhân dân thành tài sản riêng hoặc của một nhóm lợi ích…”. Đó là những ý kiến của các thế lực thù địch nói về tham nhũng; đồng thời cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống được tham nhũng vì tất cả những người có quyền lực trong bộ máy của Nhà nước đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy nên, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam chống tham nhũng là ta đánh ta nên không dám làm và vì vậy sẽ không chống được tham nhũng. Đây là ý kiến không mới nhưng lại được không ít người phụ họa và cổ súy. Tuy nhiên, ý kiến này sai toàn bộ, bởi quyền lực của Đảng cầm quyền, quyền lực của Nhà nước được phân công, ủy quyền cho từng nhóm cơ quan, tổ chức, từng cá nhân trong bộ máy, mỗi người, tùy cương vị khác nhau đảm nhiệm các nhiệm vụ được giao phó khác nhau. Vì vậy, chỉ có những cán bộ thoái hóa, biến chất mới lợi dụng quyền lực được Đảng giao phó, mà thực sự là quyền lực được Nhân dân ủy thác để tham nhũng, lãng phí làm thiệt hại của công và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Vậy nên, không phải tất cả mọi người khi được giao quyền lực đều tham nhũng, lãng phí. Bằng chứng là có những nơi cũng người có chức vụ ấy tham nhũng, lãng phí, nhưng có những nơi, cũng những người giữ chức vụ ấy lại luôn tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả. Điều ấy chứng tỏ rằng cùng là cán bộ, cùng được giao quyền lực như nhau nhưng chỉ có những người thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, cộng với cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực mới dẫn họ tới con đường tha hóa và tham nhũng. Chính những kẻ đục khoét của công ấy sẽ tìm cách vô hiệu hóa tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị để dễ bề thao túng nhằm thực hiện mưu đồ tham nhũng làm suy thoái tổ chức Đảng.

Vì những nguy cơ mà tham nhũng đe dọa tới vị thế cầm quyền của Đảng, đe dọa nguy cơ tồn vong của Đảng và chế độ, vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc chống tham nhũng không chỉ để bảo vệ tài sản của Nhà nước, của Nhân dân mà còn để bảo vệ uy tín của Đảng trước Nhân dân. Cụ thể, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã chỉ rõ: “Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước chưa bị trừng trị nghiêm khắc” Đảng thừa nhận và coi tham nhũng là nguyên nhân gây mất lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), 5 bài học kinh nghiệm rút ra về cơ bản vẫn giữ nguyên như Cương lĩnh 1991. Tuy nhiên, Cương lĩnh đã bổ sung vào bài học kinh nghiệm thứ 2 nội dung rất quan trọng: “Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”. Đây có thể xem là một cam kết chính trị trước Nhân dân về công cuộc phòng, chống tham nhũng. Việc đưa ra cảnh báo nghiêm khắc về nguy cơ mà tệ tham nhũng gây ra thể hiện bản lĩnh chính trị của Đảng đã thẳng thắn thừa nhận, nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật để có các biện pháp hữu hiệu phòng chống hiệu quả.

Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch

 Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.

Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. 

 Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta. Theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm suy giảm niềm tin, tạo ra trong nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ một “khoảng trống” về mục tiêu lý tưởng, lịch sử truyền thống và thành tựu của cách mạng. “Nội công, ngoại kích” là chiêu bài rất nham hiểm mà các thế lực thù địch phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ,… để sử dụng làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. 

 Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, của dân tộc. Vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện lớn, đặc biệt là chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chiêu trò này tiếp tục được chúng sử dụng. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng bị chúng lợi dụng để chống phá. Chúng xuyên tạc rằng đó là cuộc thanh trừng, đấu đá nhằm tranh giành lợi ích giữa các phe, nhóm trong nội bộ Đảng. Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận ngoại giao cũng bị chúng xuyên tạc, phủ nhận hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới.

 Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động. 

 Tính chủ động trước hết trong nhận thức. Hiện nay một số lượng rất lớn  các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ, được cập nhật thường xuyên về tình hình và những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

 Những năm qua, các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để khẳng định tính cách mạng khoa học của mục tiêu lý tưởng, của đường lối, chủ trương, chính sách và những thành tựu của cách mạng chưa được quan tâm đúng mức. Tính thuyết phục trong tuyên truyền đấu tranh phản bác còn hạn chế. Để khắc phục, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn nữa trong tổ chức các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chính là cơ sở khoa học để chúng ta nâng cao tính thuyết phục trong phản bác các luận điệu xuyên tạc và những âm mưu, thủ đoạn chống phá.

 Sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp. Điều này chỉ được tạo ra khi các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị có sự chủ động phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Thực tế thời gian qua cho thấy trong từng nhiệm vụ, từng nội dung đấu tranh cần tránh hô hào chung chung mà phải phân rõ trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị trong cơ chế, quy chế phối hợp thống nhất.

 Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch. Sự chủ động trong quản lý, nắm bắt tình hình, phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm đấu tranh của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là các cơ quan, đơn vị chức năng cũng rất cần được quan tâm. 

 Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

Làm gì để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

 Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước trong thời gian tới chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: 

Một là, tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW.

 Hai là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. 

 Ba là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời.

 Bốn là, các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, sai trái, thiếu gương mẫu của đảng viên. Phát hiện đảng viên tham gia các hội, nhóm trái quy định của Đảng, Nhà nước, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây ảnh hưởng xấu đến nội bộ Đảng.

 Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN; thực hiện công khai, minh bạch; chú ý vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; vai trò nêu gương của của người đứng đầu trong công tác PCTN, có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;  trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành.

 Sáu là, nâng cao hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” và Quy định số 205- QĐ/TW, ngày 23/9/2019, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

 Bảy là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tổ chức chiến dịch truyền thông quy mô lớn, cung cấp thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, răn đe đối tượng vi phạm pháp luật, nâng cao cảnh giác, tăng sức “đề kháng” cho người dân khi tiếp cận thông tin; vô hiệu hóa các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại tư tưởng của các đối tượng, tổ chức phản động trong và ngoài nước, giúp chúng ta giành được thế chủ động trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền. Có như vậy chúng ta mới bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu” là cách thức, biện pháp của các thế lực phản động

 Hiện nay, các thế lực phản động chống đối trong và ngoài nước không ngừng gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thông tin sai sự thật, suy diễn về mặt tư tưởng; bôi nhọ, xúc phạm, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự; sử dụng mạng xã hội để tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân gây tâm lý hoang mang, làm giảm sút lòng tin đối với Đảng, chế độ và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Để truyền tải các nội dung phản động nói trên, các đối tượng phản động, chống đối đã dùng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, song chủ yếu là chúng lợi dụng công nghệ 4.0; mạng xã hội để tuyên truyền, thông tin xấu, độc. Cụ thể là: 

Thứ nhất: Tạo lập các website, blog, facebook, fanpage giả mạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, xuyên tạc về bản chất chế độ XHCN và kích động chống đối. Có thể kể đến các trang thông tin chống phá như: “Dân làm báo”, “Dân luận”... Các website, blog, facebook, fanpage mạo danh thường được thiết kế theo dạng trang thông tin chuyển tải tin tức, có nhiều chuyên mục với bố cục rõ ràng, cung cấp thông tin cập nhật, đa dạng. Thời gian đầu, các trang mạng này muốn lôi kéo và tạo được sự tin cậy của người đọc nên chủ động đăng tải, chia sẻ những thông tin kịp thời, chính xác như các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử chính thống của các cơ quan, tổ chức đã được cấp phép tên miền trên internet. Nhưng càng về sau, chủ nhân của các trang mạng mạo danh này có thể cài bẫy một vài thông tin theo kiểu “đánh lận con đen” nhằm làm rối nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội. Đó là một “đòn đánh” vào tâm lý người đọc rất tinh vi, thâm độc để lèo lái vào mục đích tuyên truyền lệch lạc, nguy hại.

Thứ hai: Tạo lập các trang giả mạo cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ.

Thứ ba: Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Thứ tư: Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến các sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội. Chúng lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Thứ năm: Lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ có tính thuyết phục cao... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những “ý kiến tâm huyết”, “những đóng góp chân thành”... Các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Thứ sáu: Thành lập các đài phát thanh, kênh truyền hình trên internet và các phần mềm chuyên dụng để chống phá Việt Nam. Các đài phát thanh, truyền hình của Mỹ và phương Tây như: BBC, VOA truyền tải nhiều nội dung xấu, độc. Một số tổ chức phản động lưu vong cũng lợi dụng phương thức này để phá hoại tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta như: “Đảng vì dân”, “Việt Tân”, Radio Chân trời mới”… 

 Thứ bảy: Sử dụng các trang mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn: Các thế lực thù địch tạo lập và huy động những tài khoản giả mạo kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân tụ tập, biểu tình ngoài thực địa và có các hành vi vi phạm pháp luật. Chúng sử dụng hàng loạt các mạng lưới tài khoản đã được xây dựng trước, lấy 2-3 tài khoản làm trung tâm thường xuyên đăng tải bài viết, thông tin xuyên tạc về một chủ đề, lĩnh vực và hàng trăm tài khoản vệ tinh thực hiện nhiệm vụ chia sẻ trên các nhóm, diễn đàn phản động hoặc các nhóm có lượng thành viên lớn. Một trong những biểu hiện của thủ đoạn này là kêu gọi “Biểu tình ảo trên không gian mạng” bằng cách huy động, kêu gọi tất cả các tài khoản trên mạng xã hội gắn các biểu ngữ phản đối chính sách pháp luật của Nhà nước ta, tạo ra hiệu ứng đám đông, trong đó người dùng mạng xã hội thường xuyên nhìn thấy các biểu ngữ phản đối, hoặc những người không có lập trường tư tưởng vững vàng sẽ bị tác động thay đổi tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực. 

 Thứ tám: Từ không gian mạng, các đối tượng phản động hướng dẫn cách thức chế tạo chất nổ, vũ khí, cách thức tiến hành khủng bố, phá hoại, gây rối an ninh, biểu tình, livestream các vụ việc nhạy cảm, tụ tập biểu tình, khiếu kiện... để kêu gọi cộng đồng mạng và những người cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ, tạo điểm nóng. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong đó, Bộ Chính trị nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, cương lĩnh chính trị, đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế…”; đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh: “Đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng…”.

Nhận rõ các thế lực thù địch chúng không từ thủ đoạn nào và không bao giờ từ bỏ âm mưu phá hoại Đảng, Nhà nước ta, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu , rộng như hiện nay. Chúng ta là người dân Việt Nam yêu nước, cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, góp phần bảo vệ vững chắc chế độ XHCN ở nước ta./. 

Nâng cao cảnh giác, đấu tranh phòng chống lừa đảo trên không gian mạng

 

Nâng cao cảnh giác, đấu tranh phòng chống lừa đảo trên không gian mạng

Trong hai tháng qua, công an đã phát hiện, xử lý 74 vụ, 174 cá nhân lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, theo trung tướng Tô Ân Xô.

Bên lề họp báo Chính phủ chiều 6/9, trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an cho VnExpress biết, thời gian qua, tình hình tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng có xu hướng gia tăng, thậm chí diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, có tính chất xuyên quốc gia. Việc này gây thiệt hại lớn về tài sản và bức xúc trong nhân dân, nhất là trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp.

Trong số đó, vụ nổi cộm là sàn giao dịch ngoại hối Hitoption hoạt động trái pháp luật, lừa hàng chục nghìn người tham gia đầu tư với số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Công an TP Hải Phòng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối với Nguyễn Thế Dương, Nguyễn Văn Quyền để điều tra về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 290 Bộ luật Hình sự.

Những người này được xác định trực tiếp can thiệp vào hệ thống để làm thay đổi tỷ lệ, khiến nhà đầu tư thua lỗ và chiếm đoạt tiền. Cơ quan chức năng kiểm tra trên hệ thống sàn Hitoption có gần 1.000 người tham gia, tổng số tiền nạp vào kể từ khi mở sàn ước tính hàng trăm tỷ đồng.

Mở rộng điều tra, Bộ Công an phát hiện Dương, Quyền còn tạo lập hàng chục sàn giao dịch khác có dấu hiệu tổ chức kinh doanh theo phương thức đa cấp với hơn 115.000 tài khoản; có số dư hàng chục nghìn tỷ đồng, trong đó tổng số tiền nhà đầu tư đã rút ra là 611 tỷ đồng...

Theo Chánh văn phòng Bộ Công an, để phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, Bộ Công an chỉ đạo công an các địa phương nắm rõ thủ đoạn hoạt động của loại tội phạm này, thường xuyên thông báo để người dân cảnh giác và xử lý kịp thời những kẻ vi phạm.

Bộ cũng kiến nghị sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh, quản lý chặt chẽ các loại hình dịch vụ, lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh tội phạm như tiền ảo, kinh doanh ngoại hối, hoạt động cung ứng, sử dụng sim, thẻ điện thoại; quản lý việc mở thẻ, sử dụng thẻ ngân hàng, thanh toán qua biên giới.

Bộ Công an cũng tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mạng nói chung và phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng không gian mạng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nói riêng.

 

Tư duy cát cứ, giả danh yêu nước

 


Cụm từ “cát cứ” hiểu theo nghĩa của Từ điển tiếng Việt là muốn chiếm cứ một vùng, tự lập chính quyền riêng mà không phục tùng chính quyền Trung ương. Hiểu theo nghĩa thông thường là muốn tự thâu tóm quyền hành, tự quản lý, điều hành, tự “xưng hùng, xưng bá” ở một địa bàn nhất định.

Cứ nghĩ rằng ở nước ta trong thời đại ngày nay, tư duy cát cứ sẽ không còn chỗ để tồn tại. Bởi từ sau năm 1975, dân tộc được giải phóng, đất nước thống nhất, núi sông đã liền một dải, chúng ta cũng đã và đang vững vàng xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ở cấp Trung ương, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có đầy đủ các cơ quan lập pháp (được lập ra do bầu cử công khai theo hình thức phổ thông đầu phiếu), tư pháp, hành pháp phối hợp hoạt động thông qua vai trò của các cơ quan chức năng. Ở cấp địa phương có hệ thống chính quyền nhân dân các cấp (được tổ chức chặt chẽ thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu) thay mặt Nhà nước làm công tác quản lý, điều hành mọi hoạt động của xã hội, với mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Với cách tổ chức như trên, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phát huy được vai trò làm chủ của nhân dân, không ngừng mở rộng dân chủ, do đó đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc hướng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thế nhưng mấy năm gần đây, có một số linh mục cực đoan đã liên tục đăng đàn (thông qua thuyết giảng, làm lễ trong giáo xứ, thông qua mạng xã hội) để xuyên tạc tình hình đất nước, xuyên tạc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội, sự lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp ở địa phương. Một số linh mục còn tự cho mình cái quyền được thay chính quyền cấp cơ sở điều hành các hoạt động trong giáo xứ. Họ kêu gọi, kích động nhân dân, nhất là các giáo dân trong giáo xứ do họ đảm nhiệm vai trò mục vụ không chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, không thực hiện các quy định của địa phương, vận động giáo dân sang nhượng, hiến đất trái phép, rồi tự ý xây dựng, mở rộng khuôn viên nhà thờ, tu viện; tự huy động lực lượng, phương tiện san lấp mặt bằng, lấn chiếm đất đai do chính quyền địa phương quản lý để thực hiện cái gọi là “phục vụ lợi ích của giáo dân”...

Chỉ từ tháng 5-2021 đến nay, trên địa bàn các tỉnh miền Trung như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế... đang xảy ra hiện tượng một số linh mục tuyên truyền, xúi giục giáo dân tụ tập đông người, huy động máy móc, phương tiện san lấp mặt bằng trái phép để xây dựng, mở rộng khuôn viên và xây dựng các công trình cho nhà thờ. Chẳng hạn, ngày 7-5, Hội đồng mục vụ Giáo xứ Mục Sơn (Thanh Hóa) đã tổ chức cho giáo dân tập kết vật liệu để xây tường bao quanh khu đất nông nghiệp rộng khoảng 3.000m2 cạnh nhà thờ giáo xứ để tiến hành mở rộng khuôn viên. Đến ngày 25-6, linh mục Nguyễn Văn B. đã chỉ đạo giáo dân thuê phương tiện, tổ chức san lấp trái phép khoảng 300m2 đất. Cũng trong ngày 7-5, linh mục Đặng Ch. (Thừa Thiên Huế) huy động khoảng 20 đan sĩ ra đồi Đức mẹ do Lâm trường Tiền Phong quản lý tổ chức cầu nguyện, nhằm từng bước khẳng định khu đất này là của đan viện. Ngày 19-6, linh mục này tiếp tục huy động 65 đan sĩ và giáo dân ra vị trí này để tổ chức cầu nguyện. Hoặc ngày 5-6, linh mục Nguyễn Anh T. (Nghệ An) chỉ đạo giáo dân huy động phương tiện san lấp mặt bằng trái phép trên khu đất nông nghiệp rộng 2.100m2. Cùng ngày, linh mục Nguyễn Duy Kh. (Nghệ An) cũng huy động giáo dân san lấp trái phép khoảng 2.800m2 đất nông nghiệp để mở rộng khuôn viên nhà thờ. Ngày 8-6, linh mục Trần Trọng H. (Bình Thuận) huy động giáo dân dựng trái phép 41 cột bê tông xung quanh mảnh đất rộng khoảng 1.200m2 (thuộc khu đất đã được chính quyền địa phương quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái) với mục đích là để mở rộng khuôn viên nhà thờ. Mới đây, ngày 30-6, linh mục Lê Văn Kh. (Quảng Bình) đã huy động giáo dân thuê phương tiện san lấp trái phép khu đất rộng gần 12.000m2 để mở rộng khuôn viên giáo xứ... bất chấp sự tuyên truyền, vận động của cấp ủy, chính quyền địa phương, thậm chí một số giáo dân quá khích còn lao vào giằng co, cố ý chống lại lực lượng chức năng khi họ thực thi công vụ.

Điểm qua một số vụ việc để thấy, dường như việc tổ chức lấn chiếm đất đai để mở rộng khuôn viên nhà thờ, xây dựng các công trình của giáo xứ là công việc khá “thường xuyên” của một số linh mục. Khi các linh mục thực hiện hành vi nêu trên, bao giờ họ cũng núp dưới danh nghĩa “vì giáo xứ, vì giáo dân”. Nhưng thực chất, đây là một hành động coi thường pháp luật, được tiến hành bài bản, có tổ chức, bất chấp sự tuyên truyền, vận động, khuyến cáo, ngăn chặn của lực lượng chức năng và chính quyền địa phương. Có thể gọi hành động của một số linh mục nêu trên là “vô pháp, vô thiên”. Họ muốn khẳng định trước giáo dân trong giáo xứ rằng mình có thể “muốn làm gì cũng được”, từ đó hòng gây thanh thế, tạo dựng uy tín cá nhân, lôi kéo, kích động giáo dân làm những việc trái quy định của pháp luật. Điều này đã từng xảy ra trên địa bàn giáo phận Vinh vào năm 2016, khi một số tỉnh ven biển miền Trung bị ô nhiễm môi trường biển do nhà máy Formosa xả thải gây ra. Tại thời điểm này, một số linh mục cực đoan đã kêu gọi giáo dân tụ tập đông người, ngăn chặn quốc lộ gây ách tắc giao thông và rối loạn về an ninh trật tự ở địa phương... Còn hiện nay, những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, trái với những điều quy định của giáo hội mà một số linh mục đã thể hiện qua việc lấn chiếm đất công đang tạo những hệ lụy xấu tại các địa phương.

Hẳn nhiều người còn nhớ vào dịp tháng 4-2017, khi người dân cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì một số linh mục trên địa bàn giáo phận Vinh đã đăng đàn diễn thuyết với những lời nói hết sức bậy bạ, xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của cả dân tộc trong suốt các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Họ cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “cuộc nội chiến”, rồi xuyên tạc việc sử dụng bạo lực cách mạng để tiến công lực lượng phản cách mạng, giải phóng miền Nam là "sự lựa chọn sai lầm” của Đảng, họ coi ngày 30-4 là “ngày đen tối” của dân tộc... Ngay sau khi nội dung thuyết giảng của các linh mục này tán phát lên mạng xã hội đã gây ra sự phẫn nộ trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với các cựu chiến binh đã từng hy sinh xương máu trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do cho dân tộc. Các linh mục này sau đó đã bị xử lý theo đúng quy định của giáo hội và quy định của pháp luật, có linh mục đã bị cho nghỉ mục vụ. Không chịu rút kinh nghiệm từ những sai phạm của một số linh mục, những ngày gần đây, trên địa bàn một số tỉnh miền Trung tiếp tục xuất hiện một vài linh mục đăng đàn xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước. Chẳng hạn ngày 11-5, linh mục Nguyễn Văn S. (Nghệ An) đã lợi dụng lễ thường nhật, tập trung khoảng 350 giáo dân, tuyên truyền, xuyên tạc về diễn biến dịch Covid-19 và tình hình chống dịch ở các địa phương. Ngày 6-6, linh mục Nguyễn Ngọc Ng. (Nghệ An) lợi dụng việc giảng đạo cho khoảng 450 giáo dân tại nhà thờ xứ đã tuyên truyền, xuyên tạc việc các tổ chức, cá nhân đang hưởng ứng ủng hộ kinh phí cho công tác phòng, chống dịch và cho rằng đó là do “chính phủ huy động tiền của dân để mua vaccine của Trung Quốc”, rồi hô hào, kêu gọi giáo dân “tẩy chay” vaccine. Đây là hành động rất thiếu hiểu biết và phi khoa học, thể hiện sự suy diễn, nhận định chủ quan, ấu trĩ của một số linh mục. Rồi linh mục Phan Văn A. (Thừa Thiên Huế) thì cho rằng việc cơ quan chức năng khởi tố vụ án hình sự đối với các thành viên Hội thánh truyền giáo Phục Hưng là “không có căn cứ”, vu cáo chính quyền “đàn áp tôn giáo”.

Trong khi đó hành động tụ tập đông người làm phát tán dịch bệnh của Hội thánh truyền giáo Phục Hưng là có thật. Những hành động của các linh mục nêu trên đã được một số linh mục cực đoan khác hùa theo, cổ xúy hòng tạo ra làn sóng dư luận để nâng cao uy tín, tạo thanh thế cá nhân của các linh mục. Có một điều đáng chú ý là ngoài việc tuyên truyền, kích động, xuyên tạc về mọi lĩnh vực từ tình hình kinh tế, chính trị... đến văn hóa, lịch sử của đất nước, các linh mục cực đoan luôn cho rằng mình mới là “người yêu nước”, mình mới là người dám nói ra những điều hạn chế, tiêu cực trong xã hội. Họ tự khoác lên mình cái danh “yêu nước, vì cộng đồng, vì giáo dân”, nhưng nhìn lại thì thấy toàn bộ những hành động, lời nói của họ đều hướng vào sự chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo, gây nên sự rối ren về an ninh trật tự ở cơ sở, đồng thời lôi kéo một số giáo dân vào con đường vi phạm pháp luật. Điều nguy hiểm là họ muốn tách các giáo xứ thành một không gian riêng, trong đó họ tự coi mình như một “ông vua”. Thật đáng tiếc là hiện nay đang có một số giáo dân thiếu sự tỉnh táo, mê muội trước những lời thuyết giảng của một số linh mục cực đoan, hùa theo sự xúi bẩy, kích động của họ để gây rối ở địa phương. Vấn đề này rất cần cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để các giáo dân có nhận thức đầy đủ về luật pháp, tuân thủ đúng phương châm của giáo hội là “kính Chúa, yêu nước, sống phúc âm trong lòng dân tộc”. Bên cạnh việc giáo dục, thuyết phục, cũng cần phải nói rõ rằng: Tất cả các nước trên thế giới đều xây dựng hệ thống luật pháp để quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia. Đối với nước ta, hệ thống luật pháp ngày càng được hoàn thiện, bao trùm, điều chỉnh mọi lĩnh vực, mọi hành vi trong đời sống xã hội.

Việc duy trì luật pháp dựa trên nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Các linh mục, giáo dân ở Việt Nam cũng đều là công dân, do đó phải có nghĩa vụ và bổn phận chấp hành luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như mọi công dân khác. Vì vậy, việc một số linh mục cực đoan tự cho mình cái quyền đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, phát ngôn bừa bãi, xúi bẩy giáo dân lấn chiếm đất đai trái phép, hành động bất chấp các quy định của pháp luật là điều không thể chấp nhận. Hành vi của các linh mục cực đoan đứng phía sau kích động, giật dây cho một số giáo dân thiếu hiểu biết làm những điều sai trái như đã nêu ở trên cần phải được các cơ quan chức năng làm rõ, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giữ vững kỷ cương, phép nước.

Phản bác các quan điểm sai trái về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

 


Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn nỗ lực đấu tranh để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tố quốc; các thế lực thù địch lại lợi dụng internet và mạng xã hội để ra sức xuyên tạc, chống phá. Do đó, nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để có những giải pháp đấu tranh đấu tranh hiệu quả nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; từ đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Biển Đông ngày càng được định vị quan trọng hơn trong các chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, là tâm điểm tranh giành quyền lực và tầm ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực đặc biệt là các nước lớn. Hơn hai thập kỷ trôi qua, vùng biển này luôn là “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Do đó, các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Trước hết, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lập nên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài như BBC, Đài châu Á tự do (RFA)..; các trang mạng xã hội như facebook, Youtube, Twitter,… để phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình, diễn biến phức tạp trên Biển Đông. Thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch là lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Điển hình là các sự kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; Mỹ và các nước đồng minh ngày càng can dự sâu hơn vào vấn đề Biển Đông...

Sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019) đã được một số đối tượng triệt để lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, chính sách và các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ, bất ổn trong nước. Các đối tượng thù địch đã viết bài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Chính phủ Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “Chính phủ Việt Nam bán Biển Đông”, “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài; chính quyền “không nói rõ về tình hình tại khu vực bãi Tư Chính”, “không có giải pháp mạnh với Trung Quốc”. Chính phủ Việt Nam “bịt miệng báo chí”, “Nhà nước Việt Nam đã đồng ý giao bãi Tư Chính cho Trung Quốc” để nhân đó kêu gọi lật đổ chế độ. Vấn đề biển, đảo cũng bị lợi dụng, gắn với xuyên tạc công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: bịa đặt một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam “im lặng” để đổi lấy vị trí trong Đảng. Có kênh Youtube bịa đặt danh sách “ủy viên Bộ Chính trị” “chia đôi bãi Tư Chính cho Trung Quốc”; tung ra nhiều tin giả như “vụ Tư Chính là bước đầu để hợp thức hóa Mật ước Thành Đô” để kích động nhân dân bức xúc, xúi giục biểu tình, tẩy chay Trung Quốc...

Gần đây nhất, lấy cớ việc lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc, trên mạng xã hội các tổ chức khủng bố, phản động lại tăng cường tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng, Nhà nước ta; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định, mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”... Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do đó, các thế lực thù địch đã lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông để kích động một bộ phận nhân dân biểu tình, tuần hành gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, từ đó tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Mưu đồ sâu xa của các thế lực là thông qua vấn đề biển, đảo đểchống phá chế độ, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “diễn biến hòa bình”; chia rẽ quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan, làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập.

Có thể nhận thấy, những căng thẳng trên biển Đông đã trở thành “miếng mồi béo bở” để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, chống phá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo; từ đó chia rẽ mối quan hệ mật thiết của Đảng với nhân dân; hạ vệ uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi nên cần phải có những cách thức để đấu tranh phản bác có hiệu quả.

Bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.