Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng

 

Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay đi đúng hướng và có hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách” gắn với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Cụ thể bao gồm: (1) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn liền với cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu... Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; (2) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả; (3) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng; (4) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính.

Điều đó đòi hỏi sự quan tâm của Đảng về xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, tạo môi trường thuận lợi phát huy mặt tích cực trong mỗi con người và tổ chức; để ngăn chặn những yếu tố nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó, coi trọng xây dựng tinh thần đoàn kết, ý thức chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi con người và tổ chức, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chống quan điểm sai trái thù địch, phản động; chống sự thâm nhập phá hoại tư tưởng, chống lũng đoạn nội bộ làm tha hóa cán bộ, đảng viên của các thế lực thù địch; chống chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa. Vì vậy, cần phải thực hiện tốt các biện pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã nhấn mạnh:

Một là, kết hợp “xây và chống” để giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa thực hiện dân chủ rộng rãi vừa coi trọng kỷ cương, kỷ luật. Kết hợp chủ động đấu tranh phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với tư tưởng tích cực tiến công làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, xét lại, với tinh thần tích cực, giữ vững bên trong và tự bảo vệ mình là chính. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã chiến thắng giặc ngoại xâm, thì hiện nay, không có lý do gì chúng ta lại không thể chữa trị căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và sự cấu kết chống phá của các thế lực thù địch.

Hai là, đổi mới hình thức, biện pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm cho nó thêm đa dạng, phong phú với tất cả các hình thức của công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; các hình thức, biện pháp về hành chính, kinh tế, pháp luật… trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thường xuyên được đổi mới phù hợp với sự phát triển của tình hình.

Ba là, nắm chắc tính chất, đặc điểm của cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Từ đó, có biện pháp phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong quá trình đấu tranh. Đây vừa là biện pháp quan trọng, vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay, đồng thời là hình thức, biện pháp có sức lôi cuốn mạnh mẽ, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn cho công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta, cần được phát huy tốt trong thực tiễn đấu tranh.

Bốn là, chủ động xử lý kịp thời, nghiêm minh, hiệu quả mọi biểu hiện vi phạm đạo đức, tư cách của cán bộ, công chức, viên chức; vi phạm các chế độ quy định, vi phạm pháp luật, đặc biệt là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác… góp phần vào cuộc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan, đơn vị.

Năm là, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là biện pháp trực tiếp ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo sức đề kháng, “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để hoàn thiện phẩm chất, năng lực, tư cách, đạo đức, lối sống, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng./.

 

NHÀ KHOA HỌC QUÂN SỰ XUẤT SẮC

 


Năm 1990, dù tuổi đã cao, nhưng trước yêu cầu nghiên cứu tham mưu chiến lược quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, với tài năng, trí tuệ của mình, Thượng tướng GS, NGND Hoàng Minh Thảo là người đầu tiên được bổ nhiệm Viện trưởng Viện chiến lược quân sự, nay là Viện chiến lược quốc phòng (Bộ Quốc phòng).

Trong 5 năm (1990-1995), ông đã chỉ đạo và trực tiếp tham gia nghiên cứu hoàn thành nhiều công trình, đề tài có tính cấp thiết. Nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu của ông đã được công bố, phát hành, trong đó có cụm 8 công trình về nghệ thuật quân sự: "Học tập khoa học quân sự Xô Viết" (1958); "Tổ tiên ta đánh giặc" (1969); "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa" (1975); "Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng" (1977); "Tìm hiểu một số vấn đề về nghệ thuật chỉ huy" (1987); "Nghệ thuật tác chiến: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn" (1990); "Về cách dùng binh" (1997); "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự (2001)... Đây thực sự là những sản phẩm có hàm lượng khoa học cao để các thế hệ cán bộ chỉ huy, cơ quan các cấp trong quân đội nghiên cứu, học tập, vận dụng vào lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

NGƯỜI THẦY TÂM HUYẾT VÀ UYÊN BÁC TRÊN GIẢNG ĐƯỜNG

 


Sau khi tiếp quản Thủ Đô (10-1954), Thượng tướng, GS, NGND Hoàng Minh Thảo giữ chức vụ Hiệu trưởng Học viện Quân sự liên tục từ 1954-1966. Hơn chục năm làm công tác quản lý giáo dục, đào tạo, vừa chỉ đạo vừa trực tiếp nghiên cứu khoa học quân sự, những bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn được chuyển tải cho những thế hệ cán bộ cao cấp của quân đội. Ông luôn là người đi đầu truyền lửa, truyền thụ không chỉ kiến thức mà phương pháp tư duy cho người học một cách khoa học, sát với thực tiễn.

Từ năm 1977 đến 1990, ông là người giữ cương vị người đứng đầu dài nhất trong lịch sử Học viện Quân sự Cấp cao, ông rất tâm đắc, nhiệt huyết phương pháp vận dụng các quy luật của lịch sử và diễn biến thực tế trên chiến trường để vận dụng vào giảng dạy, kích thích sự khám phá, gợi mở, ham muốn, phát triển trong nghiên cứu khoa học của người học. Đồng thời, gián tiếp loại bỏ phương pháp "thuộc bài" lịch sử máy móc, đơn thuần, khô cứng cho người học.

Với nỗ lực trong giảng dạy và nghiên cứu cứu khoa học không biết mệt mỏi, ngày 12-9-1986, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định đặc cách phong GS cho Thượng tướng Hoàng Minh Thảo. Cuối năm 1988, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng Danh hiệu NGND, đây là danh hiệu cao quý, sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước về những cống hiến của ông đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo cán bộ của quân đội và đất nước.

BA CÔNG LỚN CỦA THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO

 


Cố Trung tướng Phạm Hồng Cư (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam) từng nêu rõ: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là người ba công lớn. Thứ nhất, ông là một vị tướng giỏi về trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất tin tưởng và quý trọng. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Thảo đã thay ông Nguyễn Bình làm Tư lệnh Chiến khu Ba, giải phóng được Móng Cái, Hà Khẩu, tổ chức chống Pháp ở Hải Phòng. Ông tổ chức huấn luyện du kích rất giỏi, sau ông được điều động về làm Tư lệnh Quân khu 4. Thứ hai, ông làm Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, là linh hồn trong Chiến dịch Tây Nguyên. Thứ ba, ông là một trong những người đặt nền móng cho Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng)...

BẬC THẦY NGHỆ THUẬT DỤNG BINH

 


Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên; đánh xuống đồng bằng ven biển; đánh vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Ý kiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức ủng hộ. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Quân giải phóng tăng cường hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân lực Việt Nam cộng hòa về phía bắc (Kon Tum), đánh trận “giả” ở Pleiku, phía Việt Nam cộng hòa mắc mưu, đưa Trung đoàn 45, đơn vị mạnh của Sư đoàn 23 bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Màn nghi binh kinh điển ở Pleiku chính là yếu tố then chốt giúp Quân giải phóng giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, làm bàn đạp để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau này nhận định: “Ta ghìm địch ở Bắc Tây Nguyên để phá vỡ địch ở đầu yếu là Nam Tây Nguyên. Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh lừa địch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là linh hồn với tài nghệ thuật dụng binh. Nguyên lý của ông là: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.

Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Hoàng Minh Thảo là vị tướng trẻ, được “cắm chốt nằm vùng” suốt 10 năm ở núi rừng Tây Nguyên. Ông là một vị tướng chiến lược văn võ song toàn. Ông hiểu rõ kẻ địch, có nhiều mưu cao, kế sâu, chủ động dùng chiến thuật nghi binh lừa địch khiến chúng kinh hồn bạt vía, hoang mang hoảng loạn, vội vàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Mỗi khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ người ta thường nhắc đến tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn chiến thắng Tây Nguyên vang dội không thể không nhắc đến danh tướng Hoàng Minh Thảo - một nhà cầm quân tài năng, nhà khoa học quân sự đầu ngành của quân đội ta. Tài năng và đức độ của ông được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam.

ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI 27 TUỔI

 


Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, Tạ Quang tham gia Việt Minh, rồi được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Khi ấy, Tạ Quang đã vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là Hoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời và sứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng trong quân đội này. Theo đó, họ Hoàng là lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm và tên là Minh Thảo, dành cho con người thông minh, có tấm lòng tình nghĩa, thảo thơm.

Tháng 10-1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đã được giao làm Khu trưởng Chiến khu 3, thay tướng Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo là đại tá trẻ nhất toàn quân được phong cấp hàm khi mới 27 tuổi. Từ Tư lệnh Chiến khu 3, Hoàng Minh Thảo được cử vào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn. Năm 1950, Đại tá Hoàng Minh Thảo được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 - đơn vị bộ đội chủ lực chiến đấu vừa được thành lập. Cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là một bản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang dội. Năm 1975, ông là Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đã giáng đòn điểm huyệt vào quân lực Việt Nam cộng hòa, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, tiếp nối là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).

CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG GÓP PHẦN ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 


Đáp lại niềm tin tưởng tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quốc dân, đồng bào, trong thời gian đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã chỉ đạo giải quyết đúng đắn nhiều công việc quan trọng về đối nội và đối ngoại của đất nước, làm thất bại những âm mưu chống phá của các lực lượng phản động, bảo vệ, giữ vững thành quả cách mạng. Khi được cử làm Đặc phái viên Chính phủ tại Trung Bộ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã hết sức chú trọng tuyên truyền, giải thích và động viên, kêu gọi toàn dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, kiến quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, để giải quyết những khó khăn, thách thức của cách mạng, yêu cầu khách quan là phải củng cố và phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, cùng với Mặt trận Việt Minh, cần phải có một hình thức tập hợp, tổ chức lực lượng mới. Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập tại Hà Nội nhằm tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân vào khối đại đoàn kết dân tộc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những người tham gia sáng lập và được tín nhiệm cử làm Hội trưởng Hội Liên Việt. Trên cương vị này, Cụ đã dốc hết nhiệt tâm của mình góp phần mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh những lực lượng phản động luôn tìm cách chống phá chính quyền cách mạng, ngày 16/7/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội nêu rõ đoàn kết là cần thiết để tập hợp lực lượng kiến thiết nước nhà, để ủng hộ ngoại giao, để xây dựng nền dân chủ cộng hòa; nhưng đoàn kết phải trên tinh thần chân thành, thật thà đoàn kết; không thể vin vào hai chữ đoàn kết mà làm những việc phi pháp, có hại đến đoàn kết toàn dân. Sự linh hoạt, khéo léo về sách lược, nhưng đầy cương trực, cứng rắn về nguyên tắc của Cụ đã góp phần giữ yên tình hình xã hội, đoàn kết nhân tâm trong nước.

CUỘC ĐỜI CÁCH MẠNH CỦA CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG

 


Những năm đầu thế kỷ XX, cụ Huỳnh Thúc Kháng - nhà chí sĩ yêu nước chân chính, nhiệt thành, đã có nhiều hoạt động thiết thực, góp phần mở ra một con đường cứu nước mới của dân tộc. Với những hoạt động không mệt mỏi, cụ Huỳnh Thúc Kháng - vị lãnh đạo nhà nước tài năng, là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt góp phần chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. 

Vào cuối năm 1945 sau hai lần nhận được điện mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Huế đã ra Thủ đô Hà Nội. Tại cuộc họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2-3-1946, khi giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp để Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày: Bộ Nội vụ: một người đạo đức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết: cụ Huỳnh Thúc Kháng. Tháng 5/1946, Cụ tham gia sáng lập và được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Tham gia Chính phủ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã dồn hết tâm lực và trí tuệ chỉ đạo giải quyết nhiều công việc nội chính quan trọng, góp phần xây dựng và giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội mới. Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp (31/5/1946 - 20/10/1946), Cụ được tin tưởng giao đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, điều hành mọi hoạt động của chính quyền cách mạng. Cuối năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Đặc phái viên của Chính phủ vào Trung Bộ để giải thích đường lối kháng chiến và vận động nhân dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ cách mạng.

Trong thư Gửi toàn thể đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao.... Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

 

MỘT SỐ CĂN CỨ ĐỂ ĐÀO TẠO CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

“Độ bền của chuỗi xích phụ thuộc vào độ bền của mắt xích yếu nhất”. Từng chi tiết hoạt động tốt là điều kiện quan trọng bảo đảm cho cả hệ thống bộ máy hoạt động tốt. Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản bảo đảm cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít “bệnh tật”.

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt một cách cụ thể và thiết thực: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có vị trí rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền. Đào tạo huấn luyện luôn cần đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ. Muốn vậy “phải biết rõ cán bộ”, “phải cất nhắc cán bộ cho đúng”; “phải khéo dùng cán bộ”; “phải giúp cán bộ cho đúng”; “phải giữ gìn cán bộ”, v.v (1). Muốn lựa chọn cán bộ đúng, theo Người cần phải căn cứ vào:

“... Những người tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong đấu tranh.

- Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng...

- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn...

- Những người luôn giữ đúng kỷ luật.

... Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ” (2).

Để bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết những cách làm việc với đội ngũ cán bộ như sau:

- Chỉ đạo những phương hướng đường lối công tác cho cán bộ, để họ phát huy năng lực và tinh thần sáng tạo trong những công việc cụ thể.

- Nâng cao trình độ cho cán bộ bằng cách tạo điều kiện để họ học thêm lý luận và chuyên môn.

- Thường xuyên kiểm tra rút kinh nghiệm, sửa chữa những khuyết điểm, phát huy ưu điểm trong quá trình công tác.

- Khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục, cải tạo, giúp họ sửa chữa.

- Giúp đỡ họ bảo đảm những điều kiện sinh hoạt, chăm sóc họ khi đau ốm. Tùy theo điều kiện có thể giúp đỡ họ giải quyết những vấn đề gia đình”

Những “con rối” lưu vong chống phá đất nước

 

 

Thời gian gần đây, một số đối tượng là công dân Việt nhưng vì quyền lợi vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, tiếp tay cho kẻ xấu gây tâm lý hoang mang, ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm hại đất nước.

CUỘC CHIẾN CHỐNG COVID-19 - VỮNG VÀNG NIỀM TIN CHIẾN THẮNG


Việt Nam đang ở đợt bùng phát thứ tư của đại dịch Covid-19, căn bệnh mà cả thế giới đều khiếp đảm. Nhưng có lẽ, nếu nhìn theo khía cạnh tích cực, chúng ta đã chứng tỏ được vị thế, sức mạnh của mình nhờ truyền thống và sức mạnh đoàn kết toàn dân.

CẦN NGHIÊM TRỊ BỆNH “THỐI MỒM” TRÊN MẠNG INTERNET

 CẦN NGHIÊM TRỊ BỆNH “THỐI MỒM” TRÊN MẠNG INTERNET

Cũng như đa số quốc gia trên thế giới, Việt Nam luôn đề cao, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, một trong những quyền đó là quyền được bày tỏ tâm tư, nguyện vọng chính đáng để xây dựng gia đình, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Đảng phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin

 

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin

 


 

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng chỉ là một nhà yêu nước như bao nhà yêu nước khác ở Việt Nam đầu thế kỷ 20: Chung một khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn giành lấy tự do, độc lập nhờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài.

Nguyễn Ái Quốc người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin bén rễ vào cách mạng Việt Nam

 

Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, lại tận mắt chứng kiến cảnh thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành tuy rất khâm phục các bậc tiền bối, song anh quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới. Anh đã sang châu Âu, đến các nước Pháp, Anh, nơi chủ nghĩa tư bản tự cho mình là trung tâm kinh tế, văn hóa thế giới, có sứ mệnh “khai hóa cho các nước chậm phát triển”, để xem các nước ấy “làm ăn” như thế nào, cái gì ẩn chứa đằng sau khẩu hiệu “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào ta đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc, kích động

 

 

Thực ra thủ đoạn bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Thế nhưng lần này, họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế của chúng ta thì đó là một tội ác lớn. Xét về phía cạnh pháp lý là không đúng với luật pháp quốc tế. Xét về góc độ đạo lý lại càng sai.

Không thể xuyên tạc công tác an sinh xã hội tại Việt Nam

 

 

Tuần qua, báo cáo trước Quốc hội về công tác phòng, chống dịch Covid-19, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh đến những khó khăn trong nước: “Dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư ở nhiều địa phương với sự xuất hiện của biến chủng Delta có tốc độ lây lan rất nhanh, nguy hiểm hơn nhiều so với chủng gốc trước đây, lại xâm nhập sâu vào các trung tâm kinh tế, đô thị lớn... buộc chúng ta phải áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch chưa có tiền lệ, mạnh mẽ, quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu ưu tiên trước hết, trên hết là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân; từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh, sinh kế và đời sống nhân dân”.

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước

Trải qua hơn 91 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố và tăng cường. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. Dẫu vậy, các thế lực phản động, thù địch vẫn không ngừng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng. Đấu tranh với những luận điệu sai trái đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, không chỉ để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, mà còn là bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Một trong những thủ đoạn chống phá Đảng và chế độ ta mà các thế lực thù địch triệt để sử dụng trong bối cảnh, tình hình mới là tung tin xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vào những dịp như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác bổ nhiệm, luân chuyển sau Đại hội; những khó khăn, phức tạp liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19... là cơ hội để chúng ráo riết tìm mọi cách tấn công trực diện vào công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp cao. Thông qua Internet và mạng xã hội, với những kịch bản được chuẩn bị khá kỹ, chúng đã tổ chức các “cấp độ” chiến dịch vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ có thể nói là khá bài bản. Thể hiện ở một số khía cạnh sau: Một là, không chỉ bằng những thông tin, hình ảnh cắt ghép, sai lệch, lẫn lộn thật-giả, chúng còn sử dụng những phát ngôn, bình luận của một số “chuyên gia” và “học giả” bất mãn để “lập luận” quy chụp, biến không thành có, có “ít suýt ra nhiều”, gây hoài nghi trong dư luận, tạo hiệu ứng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân và cán bộ thiếu bản lĩnh. Hai là, chúng lợi dụng, kích động hoặc mua chuộc một số đối tượng bất mãn, bất hảo để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội; lan truyền những thông tin sai trái nhằm kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ trong nguồn quy hoạch; xuyên tạc quan điểm, ý kiến chỉ đạo, định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của đất nước và xã hội... Đồng thời tạo ra hàng loạt bình luận (comnent) tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoài nghi trong dư luận, khiến không ít người bị rơi vào “trận đồ bát quái” - không hiểu đúng sai thế nào! Ba là, chúng thêu dệt, bịa đặt về nguồn gốc xuất thân, gia đình cũng như bản thân cán bộ lãnh đạo cấp cao, trong đó hầu hết là những nội dung theo kiểu “thâm cung bí sử”, đen tối, tiêu cực... để rồi quy chụp rằng mọi bí ẩn, khuất tất, xấu xa đều liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng lu loa rằng dân chủ ở Việt Nam chỉ là “chiếc bánh vẽ”, đồng thời để hạ thấp uy tín đại biểu Quốc hội, chúng rêu rao “tất cả những người mà được gọi là đại biểu quốc hội đều được lựa chọn quyết định từ trước, bầu cử chỉ là hình thức”. Bốn là, các thế lực phản động, thù địch luôn “nhấn mạnh” cái gọi là “nguyên nhân của những tiêu cực” xuất phát từ công tác nhân sự. Chúng đưa ra các bài viết, phỏng vấn, trao đổi, bình luận với những luận điệu như: công tác nhân sự của Đảng, nhất là nhân sự cấp cao “là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”, “theo lợi ích nhóm”… công tác nhân sự trong Đảng chỉ là sự ngụy tạo, chỉ là hợp thức hóa, là dịp để hội hè, tốn kém tiền bạc của nhân dân, còn nhân sự đã được sắp đặt theo lợi ích nhóm!”(1). Cùng với đó, chúng cho rằng “cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền đặc lợi”, “tự cho mình cái quyền được ban phát quyền lực, bổng lộc, chức tước, biến quyền lực của nhân dân thành quyền lực của mình”(2)... Vẫn là “mô-típ” cũ, những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ nói chung, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng trong tình hình hiện nay chỉ là “phần nổi của tảng băng”, nguy hiểm và sâu xa hơn - điều mà các thế lực thù địch, phản động nhắm đến chính là “tung hỏa mù” để gây nghi ngờ, hoang mang trong dư luận, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Bằng tri thức lý luận và từ thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và luận cứ khoa học để đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch. Thứ nhất, không phải chỉ ở Việt Nam, mà mỗi đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, đều phải bầu ra bộ máy lãnh đạo của mình và phải tiến hành công tác lựa chọn, bầu cử ra đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu dưới hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là công việc quan trọng và được tiến hành theo quy định, quy trình chặt chẽ. Thứ hai, quán triệt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, công tác nhân sự của Đảng ta luôn được tiến hành theo đúng quy định, quy trình chặt chẽ, nghiêm túc, công tâm, khoa học, dựa trên các nguyên tắc xây dựng Đảng và sự đồng thuận của nhân dân. Thứ ba, những cán bộ được giới thiệu, bầu vào các vị trí chủ chốt của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII nhìn chung đều được đào tạo bài bản, trải nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm. Thứ tư, Đảng ta luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đáng. Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và “không có vùng cấm” của Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(3). Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thứ tư, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thứ năm, xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của đội ngũ lãnh đạo Đảng, Nhà nước - như những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch, phản động tung ra. Nguồn: Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương./.

Tiền lương đóng bảo hiểm của người lao động đạt ngưỡng 5,7 triệu đồng/tháng

 Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung nêu con số, tiền lương bình quân làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động tăng trong năm 2020, đạt xấp xỉ 5,7 triệu đồng/tháng...

Thông tin được Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nêu tại Báo cáo tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm xã hội năm 2020 trình bày trước Quốc hội chiều 22/10, theo ủy quyền của Thủ tướng. 

Tiền lương đóng bảo hiểm của người lao động đạt ngưỡng 5,7 triệu đồng/tháng - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trình bày báo cáo trước Quốc hội (Ảnh: Quốc Chính).

Về tình hình hướng dẫn thi hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo quy định của Luật Việc làm, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, đến hết ngày 31/3/2021, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ đã ban hành 68 văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện (27 nghị định, 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 35 thông tư).

Việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH đối với người tham gia BHXH tự nguyện, theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, trong năm 2020, tổng số tiền Ngân sách nhà nước (NSNN) hỗ trợ cho người tham gia BHXH tự nguyện là hơn 137,6 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2019.

Về triển khai thực hiện chính sách khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, hiện nay, đã có 3 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện. Trong đó, có một công ty đã thành lập 3 quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và thu hút được gần 200 lao động và 2 doanh nghiệp tham gia đóng góp; tổng tài sản của 3 quỹ này là 71,4 tỷ đồng.

Trong năm 2020, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật BHXH, BHTN tại 5 cơ quan BHXH cấp tỉnh, 20 cơ quan BHXH cấp huyện trên địa bàn 5 tỉnh, thành phố và 20 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Qua thanh tra, ban hành 52 kiến nghị đối với các cơ quan bảo hiểm xã hội; 70 kiến nghị đối với các doanh nghiệp, 2 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền là 169,7 triệu đồng, kiến nghị truy đóng vào quỹ BHXH số tiền 221,2 triệu đồng do người sử dụng lao động trích nộp BHXH, BHTN, của người lao động không đúng mức theo quy định.

Quy mô các quỹ BHXH, BHTN tiếp tục tăng hàng năm

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, đến cuối tháng 12/2020, có hơn 15 triệu người tham gia BHXH bắt buộc giảm 153.092 người (tương ứng với 1%) so với năm 2019. Đây là năm đầu tiên số người tham gia BHXH bắt buộc bị giảm so với năm trước, nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 dẫn đến người lao động tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh bị mất việc làm, không còn thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. 

Hiện nay, có trên 151.000 tổ chức, cá nhân có trả thu nhập nhưng chưa tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động; có trên 213.000 tổ chức, cá nhân chưa tham gia đầy đủ. Cơ quan BHXH đã tiến hành rà soát trên 196.000 doanh nghiệp và xác định được gần 388.000 lao động thuộc đối tượng tham gia nhưng chưa tham gia BHXH bắt buộc.

Tiền lương đóng bảo hiểm của người lao động đạt ngưỡng 5,7 triệu đồng/tháng - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, quy mô các quỹ BHXH, BHTN tiếp tục tăng hàng năm (Ảnh: Quốc Chính).

Năm 2020, có 622.020 đơn vị tham gia BHXH bắt buộc, tăng gần 17% so với cùng kỳ năm 2019. Số tiền thu BHXH bắt buộc năm 2020 là trên 261,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,28% so với cùng kỳ năm 2019.

Tiền lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc năm 2020 của người lao động là 5.687.180 đồng/tháng, tăng 6,05% so với năm 2019. Tính đến ngày 31/12/2020 tổng số tiền chậm đóng BHXH bắt buộc là 12.113 tỷ đồng, tăng 2.013 tỷ đồng (tương ứng 19,9%) so với năm 2019, chiếm 4,4% số phải thu.

Tổng số chi các chế độ BHXH từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2020 là 47.146 tỷ đồng, giảm 115 tỷ đồng (tương ứng 0,2%) so với năm 2019. Tổng số chi chế độ từ nguồn quỹ BHXH là 193.619 tỷ đồng, tăng 15.124 tỷ đồng (8,47%) so với năm 2019. Số người hưởng BHXH một lần năm 2020 là 860.741 người, tăng 6,65% so với năm 2019.

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, quy mô các quỹ BHXH, BHTN tiếp tục tăng hàng năm. Tổng số dư các quỹ BHXH, BHTN đến năm 2020 là 953 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3% so với năm 2019.

Năm 2020, tổng số người tham gia BHXH tự nguyện hơn 1.125.000 người, tăng gấp 2 lần so với năm 2019. Tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện so với lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2020 là 2,33%. Tổng số tiền thu BHXH tự nguyện năm 2020 là 3.969 tỷ đồng. Tổng số tiền NSNN hỗ trợ người tham gia BHXH tự nguyện năm 2020 là 137,6 tỷ đồng. 

Số người được hưởng các chế độ BHTN tăng

Báo cáo trước Quốc hội, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, năm 2020, có hơn 13.337.000 người tham gia BHTN, giảm 54.401 người (tương ứng với 0,4%) so với năm 2019. Số tiền thu BHTN là 18.693 tỷ đồng, tăng 1.254 tỷ đồng (tương ứng với 7,2%) so với năm 2019. Năm 2020, tổng số tiền chậm đóng BHTN là 399 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2019. 

Trong năm 2020, có trên 2,2 triệu lượt người tư vấn, giới thiệu việc làm (tăng 33,89% so với năm 2019); có 26.507 người được hỗ trợ học nghề, bằng 2,44% so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; số tiền chi trả hỗ trợ học nghề tính theo quyết định hỗ trợ học nghề là 94,8 tỷ đồng; có 1.087.480 người được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 30,09% so với năm 2019. 

Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, số người được hưởng các chế độ BHTN tăng dẫn đến tổng tiền chi cho các chế độ BHTN tăng. Cụ thể, năm 2020, tổng số tiền chi các chế độ BHTN là 17.149 tỷ đồng, tăng 4.514 tỷ đồng (tương ứng với 35,7%) so với năm 2019.

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, đối tượng tham gia BHXH, BHTN tiếp tục giữ được đà tăng, đặc biệt phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, đạt 1,1 triệu người, chiếm 2,33% lực lượng lao động trong độ tuổi, vượt chỉ tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 28-NQ/TW.

Thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung kiến nghị với Quốc hội tiếp tục tăng cường hoạt động giám sát thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Trung ương và địa phương, đặc biệt là vấn đề về phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; vấn đề về quản lý và sử dụng quỹ BHXH.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội theo định hướng cải cách chính sách BHXH tại Nghị quyết số 28-NQ/TW về mở rộng đối tượng tham gia tiến tới thực hiện BHXH toàn dân; hoàn thiện các quy định về đóng - hưởng BHXH; nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ; chặt chẽ hơn trong quy định hưởng chế độ BHXH một lần; sửa đổi các quy định về mức đóng, căn cứ đóng BHXH; sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội về các hình thức đầu tư để phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng.

Sửa đổi, bổ sung Luật Việc làm theo định hướng cải cách chính sách BHTN tại Nghị quyết số 28-NQ/TW nhằm phát huy đầy đủ các chức năng của BHTN, bảo đảm BHTN thực sự là công cụ quản lý thị trường lao động.

Quang Phong

Chế độ hỗ trợ người lao động nghỉ do giãn cách xã hội

 Bà Dương Thị Trúc Ly làm việc tại công ty dịch vụ ăn uống tỉnh Bình Dương. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 cửa hàng đóng cửa nên bà Ly bị thất nghiệp, đến nay chưa nhận được lương từ công ty.

Bà Ly có hỏi nhưng công ty trả lời do địa phương áp dụng giãn cách xã hội nên chưa thể giải quyết được lương.

Bà Ly hỏi, bà có được đăng ký để nhận gói trợ cấp an sinh do ảnh hưởng của dịch Covid-19 không? Nếu được thì phải làm thủ tục như thế nào?

Về vấn đề này, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương trả lời như sau:

Trong nội dung phản ánh bà Ly không nêu rõ tên công ty dịch vụ ăn uống tại Bình Dương và việc bà với công ty có giao kết hợp đồng lao động hay không. Do đó Sở hướng dẫn bà như sau:

Trường hợp bà và doanh nghiệp có giao kết hợp đồng lao động bà Ly sẽ được hưởng một trong các chế độ như sau:

- Chế độ hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương với mức 855.000 đồng/người đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 1 tháng (30 ngày); mức 3.710.000 đồng/người đối với người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 1 tháng (30 ngày) trở lên khi thỏa điều kiện quy định tại Điều 13 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 7/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ.

- Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc với mức 1.000.000 đồng/người khi thỏa điều kiện quy định tại Điều 17 Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Trong trường hợp này bà Ly liên hệ bộ phận hành chính, nhân sự, bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp để lập hồ sơ nhận hỗ trợ theo quy định tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg.

Trường hợp bà Ly không giao kết hợp động lao động: Nếu công việc của bà phù hợp tại Điểm e Điều 1 Quyết định số 09/2021/QĐ-UBND ngày 16/7/2021 của UBND tỉnh Bình Dương thì bà Ly sẽ được hỗ trợ mức 1.500.000 đồng/người/lần (chỉ áp dụng 1 lần duy nhất). Trường hợp này bà Ly liên hệ xã phường nơi cư trú để được hỗ trợ trực tiếp.

Trong quá trình thực hiện, nếu có phát sinh vướng mắc, đề nghị bà liên hệ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương thông qua số điện thoại 0274.3872067 (Phòng Chính sách lao động) để được hướng dẫn cụ thể.

Theo Chinhphu.vn