Thứ Năm, 10 tháng 3, 2022

“Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự thật không thể bác bỏ

Xuyên tạc, nói xấu, hòng làm mất uy tín, thể diện, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một thủ đoạn chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thế nhưng, thực tiễn đã minh chứng rõ “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - sự thật không thể bác bỏ. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh/ Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no”. Điều đó, một mặt, nhằm khẳng định bản chất tốt đẹp, nhân văn và tiến bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam; mặt khác, nhằm khích lệ, giáo dục và yêu cầu mọi đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng, phấn đấu để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”. Những năm gần đây, trước sự đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới; sự thất thế của nhiều đảng cộng sản và công nhân tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, thì việc xuyên tạc, nói xấu chủ nghĩa cộng sản và đảng cộng sản cầm quyền ở những nước còn lại trở thành thủ đoạn phổ biến của các thế lực chống cộng, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của đảng cộng sản trong xã hội, tiến tới xóa bỏ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những quốc gia này. Đối với nước ta, các thế lực chống cộng, phản động ở nước ngoài câu kết với những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị, bất mãn ở trong nước cũng dùng mọi thủ đoạn để công kích sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, xuyên tạc sự thật lịch sử, nói xấu, bôi lem hình ảnh Đảng Cộng sản Việt Nam là thủ đoạn được họ tích cực sử dụng. Họ bỏ qua sự thật lịch sử những năm đầu thế kỷ XX để cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “tiếm quyền” lãnh đạo cách mạng của các lực lượng chính trị khác, nên “không thể là đạo đức”. Họ phớt lờ những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, cố tình khuếch đại một số sai lầm của Đảng trong thực tiễn để chứng minh đó là “hành động vô đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Trước thực trạng trong Đảng hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ lớn tiếng “Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là đạo đức, là văn minh”. Nhân sự thoái trào tạm thời của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, vẫn kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội là “lạc hậu, không còn là một đảng tiến bộ, văn minh”, v.v. Mục tiêu hướng tới của những luận điệu công kích này là làm mất uy tín, thể diện của Đảng Cộng sản Việt Nam trước quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân xa rời Đảng; đồng thời, gieo rắc sự hoài nghi, dao động trong đội ngũ đảng viên của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, tạo thời cơ để giành lấy chính quyền, đưa đất nước đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những luận điệu sai trái đó vô cùng nguy hiểm, phải kiên quyết vạch trần, bác bỏ. Trước hết, cần khẳng định dứt khoát: không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam “tiếm quyền” lãnh đạo cách mạng của các lực lượng chính trị khác. Nhìn lại lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy: các phong trào Cần Vương, Đông Du, Tây Du; các cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Yên Bái; các cuộc vận động Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục,… đều sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, nhưng rốt cuộc đều lâm vào bế tắc và thất bại. Các tổ chức, đảng phái chính trị ra đời trong thời kỳ này, như: Hội Phục Việt (năm 1925), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927),... với nhiều cương lĩnh chính trị khác nhau, nhằm chiếm vũ đài lịch sử, nhưng các ngọn cờ lãnh đạo của họ không vượt qua được sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Nguyên nhân khiến các phong trào và tổ chức đó không thể đi tới thành công bởi các ngọn cờ mà họ giương lên không giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, không phù hợp với xu thế của thời đại, nên không thể đoàn kết được toàn dân tộc. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với việc giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc để đấu tranh giành độc lập, tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước, đánh dấu kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Do vậy, không phải Đảng Cộng sản Việt Nam “tiếm quyền”, mà chính lịch sử đã trao trọng trách lãnh đạo cách mạng cho Đảng ta, sau khi đã khảo nghiệm một cách khắt khe những phương án chính trị của các lực lượng chính trị đương thời. Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, mà còn là nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, phù hợp với xu thế của thời đại; là ngọn cờ đưa nhân dân ta đến độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, nên điều đó chứng tỏ “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Để xem một đảng chính trị có “là đạo đức, là văn minh” hay không, người ta không chỉ nhìn vào mục tiêu, lý tưởng, mà còn phải nhìn vào hành động của đảng đó. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, 92 năm qua, kể từ khi bước lên vũ đài đấu tranh chính trị (02-1930), dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; “…nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và hội nhập quốc tế. Nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước, Đối tác toàn diện với 11 nước (gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc); là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và tiếp tục sứ mệnh này trong nhiệm kỳ 2020 - 2021. Trên lĩnh vực kinh tế, nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, dựa vào viện trợ để đứng vững, nay chúng ta đã đứng vào nhóm nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực và nhiều mặt hàng khác. Đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt; Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững; nước ta đã tham gia vào Lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, v.v. Những thành tựu đó gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng và là minh chứng thuyết phục về năng lực lãnh đạo của Đảng trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập; chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Nhìn lại thực tiễn lãnh đạo cách mạng, đúng là có thời điểm Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Song, đó chỉ là những nốt trầm lẻ loi trong bản trường ca hào hùng 90 năm lãnh đạo của Đảng. Quan trọng hơn, trước mỗi sai lầm, Đảng đã thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, nghiêm túc tự phê bình trước nhân dân, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tiếp tục lãnh đạo cách mạng tiến lên. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”2, tức là một Đảng “đạo đức, văn minh”. Hiện nay, nhận thấy thực trạng có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với một hệ thống giải pháp rất quyết liệt. Tại Đại hội XII, XIII Đảng ta đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang hàng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) được thực hiện một cách kiên trì, kiên quyết, làm thổi bùng ngọn lửa đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kết quả đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không có vùng cấm đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời, là minh chứng khẳng định việc làm đó của Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”. Mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng không phải là “sự bảo thủ, lạc hậu”. Bởi lẽ, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ không có nguyên nhân từ học thuyết này. Đây là điều mà nhiều nhà lãnh đạo Liên Xô thời kỳ đó thừa nhận qua hồi ký và phát biểu của họ. Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của sự sụp đổ bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều, xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Những thay đổi của thế giới ngày nay vẫn chưa vượt khỏi những quy luật mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khái quát, nên học thuyết này vẫn là lý luận khoa học, cách mạng, giá trị nhất trong việc giải thích và cải tạo thế giới. Trước sự bế tắc của chủ nghĩa tư bản trong việc giải quyết các mâu thuẫn nội tại của mình, nhất là trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ (năm 2008), nhiều người trong xã hội tư bản, kể cả một số nhà lãnh đạo các nước phương Tây, đã tìm đọc các di sản của C. Mác. Đối với cách mạng Việt Nam, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, có một nguyên nhân cơ bản là Đảng ta luôn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Sự kiên định đó luôn gắn với sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cũng không chỉ là quá trình xây dựng bản chất giai cấp công nhân như quân đội các nước xã hội chủ nghĩa khác, mà còn gắn liền với bồi dưỡng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, v.v. Chính vì thế, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Sự kiên định như thế “là đạo đức, là văn minh”. Để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”, chúng ta cần tạc ghi trong lòng Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng cần nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cùng Quy định 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; coi đó là việc làm tự giác, thường xuyên, gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” bằng những hình thức phong phú, sáng tạo.

Đấu tranh loại bỏ biểu hiện “lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn” làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: “lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống rất nghiêm trọng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Chính vì vậy, đấu tranh loại bỏ nó là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Hiện nay, trong bộ máy công quyền ở nước ta, đa phần cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với những thủ đoạn rất tinh vi. Có người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái nhằm chiếm đoạt tài sản (cá nhân, tổ chức, nhà nước), làm sai lệch kết quả hoặc thông tin nào đó,… để trục lợi cá nhân. Có người lại thao túng công tác cán bộ, lạm dụng quyền lực để cất nhắc, bổ nhiệm đề bạt người thân, người nhà, “cánh hẩu” vào các vị trí, chức vụ được cho là nhạy cảm, “dễ sinh lời”, v.v. Việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi của cán bộ, đảng viên do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất là do cơ chế kiểm soát quyền lực, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các tổ chức của Đảng, các cơ quan của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng như các tổ chức chính trị xã hội các cấp chưa thật sự đồng bộ, hiệu quả; còn có những kẽ hở để một số cán bộ, đảng viên lợi dụng, lạm dụng, cố ý làm trái. Trên thực tế, việc thực hiện quyết tâm phòng, chống tham nhũng và thực thi Luật Phòng chống tham nhũng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ sau Đại hội XIII đến nay đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng. Đã có nhiều cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý liên quan đến các biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, chuyên quyền, độc đoán trong công tác cán bộ,... dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát tiền, tài sản của nhà nước, nhân dân; làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, lợi dụng biểu hiện đó, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động xuyên tạc, quy kết, thổi phồng, thực hiện ý đồ xấu. Bởi vậy, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn là một trong những vấn đề cấp bách, giải pháp rất quan trọng nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh hiện nay. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ta cần tập trung làm tốt một số vấn đề chủ yếu sau: Một là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phòng, chống hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, làm cho mọi người thấy rõ việc đấu tranh xóa bỏ hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ là tất yếu khách quan, giải pháp quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân. Để đạt hiệu quả cao, các tổ chức đảng, nhất là chi bộ phải làm tốt công tác giáo dục, quán triệt cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức vụ trong hệ thống chính trị về tinh thần, ý thức phục vụ, chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền theo quy định; nâng cao tinh thần phê bình và tự phê bình; phân tích chất lượng cán bộ, đảng viên hằng năm phải lấy Luật Công chức, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, đảm bảo quá trình thực thi công vụ của công chức Nhà nước phải “suốt đời làm công bộc của nhân dân, không màng đến vòng danh lợi” làm căn cứ đánh giá. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa để thực hiện tốt Quy định 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên nêu gương “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống lợi dụng chức vụ, quyền hạn”; nguwoif có chức vụ càng cao thì sự gương mẫu, tinh thần “dĩ công vị thượng” càng phải được khẳng định; tuyệt đối “không để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi”. Hai là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ, chức trách, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện, hành vi vi phạm quy chế, quy định pháp luật,… của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của bộ máy công quyền. Vì thế, phải tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; duy trì nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, kiên quyết ngăn chặn tình trạng quan liêu, buông lỏng quản lý, xa rời thực tiễn, cơ sở. Đồng thời, tiếp tục kiện toàn, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, giúp việc các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở; xây dựng các cơ quan nội chính, kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải vững mạnh, thực sự là những “thanh bảo kiếm” sắc bén, có bản lĩnh bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng. Cùng với đó, phải phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, kịp thời phát hiện những biểu hiện sai trái, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân và gia đình; có quy định chặt chẽ để ngăn ngừa hiệu quả những sự tác động vào hoạt động của các cơ quan này; tránh tình trạng làm cho qua, hình thức, chiếu lệ, nể nang, thậm chí biểu hiện bao che, chống lưng, sân sau, lợi ích nhóm. Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị. Các cơ quan, đơn vị cần nhanh chóng hoàn thiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; quy định về việc ngăn chặn những người có chức, có quyền lợi dụng cương vị công tác để trục lợi; quy định về cho thôi, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định về điều chuyển, thay thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, lợi dụng chức, quyền, tham nhũng, uy tín thấp. Song song với đó, cần thực hiện tốt cơ chế kiểm soát, giám sát và phản biện từ trên xuống, từ dưới lên, từ bên ngoài (của nhân dân, các tổ chức xã hội,…) và từ trong nội bộ cơ quan, tổ chức, làm cho cán bộ, đảng viên “không thể” và “không dám” lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc cố ý làm trái trong khi thi hành công vụ. Trong đó, việc phát huy tai mắt nhân dân, vai trò của báo chí là một giải pháp rất quan trọng. Thực tế thời gian qua cho thấy, nhiều vụ án tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được phát giác từ quần chúng nhân dân và báo chí, dư luận xã hội. Bốn là, kịp thời xử lý đối với cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ. Đây là việc làm hết sức quan trọng, có tác dụng trực tiếp cảnh báo, phòng ngừa, răn đe đối với các tổ chức đảng và đảng viên, cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật; thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật của Đảng. Các cơ quan, đơn vị phải quán triệt và thực hiện đúng phương châm chỉ đạo của Đảng xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật nói chung, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn nói riêng một cách nghiêm minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; tạo môi trường làm việc văn hóa, thân thiện, đoàn kết , … để cán bộ, đảng viên được tôi luyện và trưởng thành. Đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn ra khỏi suy nghĩ, hành vi của cán bộ, đảng viên là việc làm mang tính cấp bách và là một trong những giải pháp rất cơ bản làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, uy tín, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng


Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư. 

Không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối chính trị của Đảng


Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”[ii].


Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của VN phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”[i].

Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

Sức sống của Cương lĩnh thể hiện sâu sắc ở những thành quả đổi mới đất nước

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.

Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung, phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết định của Cương lĩnh, đường lối.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt.


Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, chỉ ra rất rõ đó là: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...”.

Từ sự “vạch mặt chỉ tên” chủ nghĩa cá nhân đó, càng cho thấy, việc giữ gìn và phát huy truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn cần thiết, nó như “ngọc càng mài càng sáng”.

1. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo vốn trưởng thành từ người chiến sĩ cầm súng trên chiến trường rồi chuyển ngành, phát triển thành cán bộ cấp cao. Ông đã trải qua tất cả thăng trầm của sự nghiệp và cuộc sống cho đến lúc về hưu. Vậy nhưng mỗi khi nói điều gì đó về mình, ông luôn nhận rằng: “Tôi là người lính chiến”.

Đọc kỹ lý lịch của ông tôi biết, những năm tháng là người chiến sĩ cầm súng trên chiến trường của ông không dài, thậm chí rất ngắn so với quãng thời gian ông đã chuyển ngành cho đến lúc về hưu. Vì sao ông vẫn luôn hoài niệm, tự hào với những năm tháng trong quân ngũ? Điều gì làm nên giá trị đó?

 Huấn luyện khẩu đội cối tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3, Quân khu 1. Ảnh: MINH TRƯỜNG/qdnd.vn

Không khó lý giải, đó là phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, một nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Khi còn sống, Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho rằng, Bộ đội Cụ Hồ là một danh hiệu vinh dự mà nhân dân trao tặng.

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một giá trị văn hóa, là những giá trị cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của Quân đội ta được hun đúc qua nhiều thế hệ, trở thành bản chất, truyền thống của quân đội. Bộ đội Cụ Hồ là sự kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc và đây là thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị.

Trong khi đề cập rất sâu kỹ những giá trị tốt đẹp của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương cũng chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình...; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

2. Nhận định của Quân ủy Trung ương thể hiện trong Nghị quyết 847 là thẳng thắn, khách quan. Thời gian qua, hàng loạt cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ giữ các cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nước có vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý.

Trong quân đội, số cán bộ, chiến sĩ bị kỷ luật rất đáng suy nghĩ, trong đó có cả các đồng chí là cán bộ cấp cao. Qua nhiều vụ án, tìm hiểu về lai lịch chính trị của các cá nhân vướng vào vòng lao lý, mỗi chúng ta không khỏi xót xa, tiếc nuối.

Nhiều người trong số đó đã từng vào sinh ra tử trên chiến trường, cận kề giữa cái sống và cái chết. Có những người từng sẵn sàng nhường mạng sống cho đồng đội. Họ không bị gục ngã bởi bom đạn, không bị khuất phục bởi sức mạnh của kẻ thù, vậy mà giữa thời bình, họ đã gục ngã bởi “những viên đạn bọc đường”. 

Cơ chế thị trường, sự tác động của ngoại lai... khiến một số người không còn giữ được những phẩm chất của anh Bộ đội Cụ Hồ ngày nào. Chủ nghĩa cá nhân đã lấn át, đã ăn sâu vào họ. Các Mác vĩ đại có một câu kinh điển: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội".

Bản chất con người không phải trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, đồng thời biến đổi chính bản thân mình. Mọi thay đổi của mỗi con người thường bắt đầu từ những hành vi, thói quen, nhưng nếu là thói quen xấu, lại tự mình không nhận ra, không được người khác góp ý, phê bình sẽ dần dần tạo thành tính cách.

Khi có chức vụ, có địa vị, có tiền bạc, con người ta dễ dẫn đến tư tưởng hưởng thụ, thỏa mãn, coi thường. Đôi khi, một số người có được chức vụ, tiền bạc một cách dễ dàng, ít phải đổ mồ hôi, công sức dẫn đến tư tưởng tự mãn, quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Và chính họ đã sa vào chủ nghĩa cá nhân mà không nhận ra. Chủ nghĩa cá nhân vừa là nguyên nhân vừa là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Những cá nhân sai phạm sẽ bị pháp luật xử lý. Luật pháp là công bằng. Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước.

Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Nhưng rồi, sau mỗi vụ việc đều để lại bao điều trăn trở, giá như... Trách người vi phạm là lẽ thường, nhưng tổ chức đã ở đâu khiến cho các cá nhân đó lún sâu vào vi phạm? Vì sao các nguyên tắc, quy định của tổ chức, của Đảng lại bị xem nhẹ, bị bỏ qua trong các vụ việc đó?

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Điều đó cho thấy, quá trình tu dưỡng, rèn luyện của mỗi con người phải là quá trình thường xuyên, liên tục, nó như việc “rửa mặt” hằng ngày. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”.

Trong điều kiện hiện nay, việc gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là vô cùng cần thiết, nó vẫn còn nguyên tính thời sự, như Nghị quyết 847 đã đề cập. Phẩm chất, giá trị Bộ đội Cụ Hồ không phải là cái bất biến mà nó đòi hỏi cần luôn gìn giữ và phát huy cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.

Điều này cũng bác bỏ quan điểm của một số người còn băn khoăn, chần chừ khi cho rằng, phẩm chất, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ chỉ được thể hiện sâu sắc trong thời chiến, còn thời bình đã có phần phai nhạt. Cách suy nghĩ này là không thuyết phục. Cái đã trở thành văn hóa thì nó đã trở thành bản chất, thành cái thường xuyên ở trong mỗi con người.

Phẩm chất, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không đi ra ngoài quy luật đó. Tuy vậy, nó đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi con người nhận thức đúng về nó. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên hay quần chúng đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức người quân nhân cách mạng.

Giáo dục, rèn luyện, gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đi liền với chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm vừa cấp bách, vừa thường xuyên, là trách nhiệm của mọi người để xứng đáng với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng mà lớp lớp cha ông đã vun đắp. 

Covid hôm nay sáng 11-3: F0 cả nước vẫn “nóng”; TP Hồ Chí Minh ca mắc mới tăng trở lại

 

Bộ Y tế cho biết, bên cạnh các địa phương ở khu vực phía Bắc có số ca mắc mới ở mức cao, nhiều tỉnh, thành phố ở phía Nam, miền Trung cũng có số ca mắc mới cao (trên 2.000 người) như TP Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Quảng Bình... Đáng chú ý, trong ngày 10-3, Bình Dương tăng 1.309 ca, TP Hồ Chí Minh tăng 1.205 ca, Nghệ An tăng 845 ca.

Những giải pháp cơ bản đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

        Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình hiện nay vừa được xem là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn Đảng. Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả cần chú trọng những giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện nghiêm quy định những điều đảng viên không được làm. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tuyên truyền sâu rộng trong nội bộ Đảng, trong nhân dân về tác hại và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, để từ đó nhận diện rõ và có biện pháp ngăn chặn kịp thời; qua đó tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, thường xuyên thực hành dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, qua đó phát huy vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Kinh nghiệm cho thấy, ở đâu mở rộng dân chủi, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao, hạn chế được chủ nghĩa cá nhân. Hơn nữa, thực hành dân chủ trong Đảng là cơ sở để thực hành dân chủ rộng rãi trong toàn xã hội, phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Thứ ba, thường xuyên tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, trở thành nền nếp trong sinh hoạt của các cấp uỷ, tổ chức đảng, xem đây là một công cụ sắc bén trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Phải lôi cuốn, hoan nghênh, khuyến khích nhân dân phê bình cán bộ, đảng viên. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe, thật thà tiếp thu các ý kiến góp ý của nhân dân, tích cực, nghiêm túc tự khắc phục, sửa chữa những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm. Định kỳ lấy ‎ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Xử l‎ý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên.

Thứ tư, coi trọng xây dựng quy chế làm việc và thực hiện đúng quy chế, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cá nhân trong tổ chức, nhất là thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc; kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, về hành vi đạo đức, lối sống, giữa nói và làm.

Thứ năm, có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng với mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, truyền thông đại chúng để kiên quyết trong đấu tranh với mọi biệu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh thường xuyên và lâu dài, phức tạp, thậm chí có cả mất mát, hy sinh, đòi hỏi phải thực hiện một cách quyết liệt, triệt để với nhiều giải pháp đồng bộ, kiên trì và liên tục. Thực hiện tốt những giải pháp này kết hợp tốt với đề cao kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và thực thi luật pháp sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa chủ nghĩa cá nhân nảy sinh trong cán bộ, đảng viên.

“Bệnh giấu khuyết điểm” - chữa từ căn nguyên mới triệt để, hiệu quả!

 

“Bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Chủ nghĩa cá nhân và tác hại của chủ nghĩa cá nhân

 

Chủ nghĩa cá nhân là lối sống tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tự do cá nhân, hướng tới thỏa mãn những nhu cầu bản năng; đề cao những mục đích vụ lợi, hưởng lạc, hạ thấp hoặc hy sinh lợi ích tập thể, cộng đồng và xã hội để bảo vệ lợi ích cá nhân của họ.

Chủ nghĩa cá nhân có nhiều biểu hiện khác nhau từ việc chỉ biết mình, lợi ích của mình mà không quan tâm, vô cảm, bàng quan trước những mất mát, khó khăn của đồng loại, trước lợi ích của người, của tập thể; ngại làm việc khó, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, “dĩ hòa vi qu‎ý”… đến kéo bè kéo cánh, cục bộ, tùy tiện, vô nguyên tắc…

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân vô cùng lớn, là nguyên nhân sinh ra đủ thứ bệnh nguy hiểm. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân cần nhận diện và phòng chống, đó là các chứng bệnh: Quan liêu; tham lam; lười biếng; kiêu ngạo; hiếu danh; “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh. Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, là giặc nội xâm, kẻ địch ở bên trong, là thứ vi trùng rất độc, là bệnh chính, bệnh mẹ sinh ra trăm thứ bệnh khác. Và như vậy, suy cho cùng khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân đồng nghĩa với sự suy thoái về tư tưởng chính trị và cả về đạo đức, lối sống, sẽ làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng.

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân vô cùng to lớn, hiện nay trong Đảng vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên chưa thấy hết được tác hại của chủ nghĩa cá nhân, của lối sống cá nhân chủ nghĩa và như vậy chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên thì khi đó sẽ còn là một trở ngại lớn đối với tổ chức đảng và ngay chính bản thân của người cán bộ, đảng viên trong quá trình phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.


 

Cảnh giác với chiêu trò trên mạng xã hội để của các tà đạo, tôn giáo lạ

 

Trong bối cảnh dịch bệnh covid-19 đang bùng phát mạnh trên phạm vị cả nước, Đảng nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm hạn chế dịch lây lan, những hiệu quả của công tác phòng chống dịch là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh, một số tôn giáo, tà đạo trái phép vẫn tìm mọi cách để hoạt động và tuyên truyền trái pháp luật.

Cụ thể, sau khi bị phát giác và xóa bỏ các tụ điểm sinh hoạt tập trung của “Hội thánh Đức chúa trời mẹ” ở một số tỉnh thành trong cả nước, các đối tượng này đã chuyền hướng sang truyền giáo trực tuyến trên mạng xã hội, sử dụng một số ứng dụng như: Zoom, Skype, Tik Tok, Youtube,… Trong thời điểm dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, đối tượng được chúng hướng đến là học sinh, sinh viên, những người thường xuyên học online, có nhiều thời gian sử dụng các ứng dụng mạng xã hội. Chính vì vậy, các em dễ bị dụ dỗ, lôi kéo vào các hội, nhóm do các tổ chức tôn giáo này lập ra. Ngoài học sinh, sinh viên, các đối tượng còn còn hướng tới người già, người mắc bệnh nan y, dễ bị dụ dỗ tin theo.

Cách thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng rất tinh vi. Chúng thường xuyên tổ chức sinh hoạt tôn giáo trá hình trên mạng xã hội. Các đối tượng dùng những thuật ngữ khoa học, triết lý nhân sinh, những câu chuyện hay, có logic để dụ dỗ, mê hoặc người dùng mạng xã hội, những người nhẹ dạ, cả tin, thiếu kiến thức khoa học và kinh nghiệm xã hội. Đáng lo ngại hơn, ngày càng có nhiều người tin vào những lời dụ dỗ sáo rỗng về tinh thần lạc quan, đánh thức tiềm năng bản thân, giá trị sống, năng lượng cộng hưởng từ trời đất, vũ trụ khác, nhất là chữa bệnh bằng năng lượng vô hình, không cần dùng thuốc...

Hình thức tồ chức hoạt động của các hội nhóm này tương đối giống nhau. Khởi đầu là những dòng trạng thái câu “like" đơn giản trên Facebook, Zalo... có khi sử dụng các video trên TikTok, Youtube, những buổi livestream với những lý lẽ nhân văn cao đẹp, mời gọi “con mồi” tham gia các buổi hội thảo trực tuyến trên nhiều nền tảng mạng xã hội. Các buổi livestream hay hội thảo trực tuyến có vô số các nick ảo lẫn nick thật là những “con mồi” đã “dính câu”, hoặc được thuê tham gia đề được trả công đề tạo ra uy tín ảo. Đây cũng chính là chiêu trò mà các hội bán hàng đa cấp vẫn thường sử dụng. Một khi đã tham gia và tin theo, “con mồi” sẽ được chúng hướng dẫn tham gia các nhóm kín, group không công khai, chỉ có những người tin theo mới được đăng ký thành viên đề tham gia sâu hơn vào các hoạt động khác. Sau đó, dần dần tham gia tích cực vào hoạt động của hội, nhóm, hết mình cống hiến cho tà đạo, như đóng góp quỹ từ thiện, mua sách, tài liệu, thực phẩm dưỡng sinh... thậm chí là đóng góp phần nhiều thu nhập cá nhân từ lao động. Thực tế đã có rất nhiều người mù quáng tin theo các tà đạo này, khi có bệnh không chịu đi khám, không sử dụng thuốc theo đơn của bác sĩ. Không ít người mắc bệnh mãn tính nguy hiềm, như bị ung thư đã bỏ qua “giai đoạn vàng” điều trị theo y học hiện đại, phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Thậm chí, chúng còn tuyên truyền rằng, sinh hoạt theo các “bí pháp" tà đạo của chúng sẽ được các thế lực siêu nhiên bảo vệ khỏi việc nhiễm Covid-19 mà không cần tiêm vắc-xin phòng bệnh.

Mạng xã hội luôn là con dao hai lưỡi, bên cạnh những lợi ích luôn tiềm ẩn những nguy cơ và tác động không tốt đến người dùng. Chính vì vậy, hãy là những người dùng thông minh, tránh để bị lôi kéo vào những hội nhóm được tạo bởi những kẻ xấu như các nhóm tôn giáo, tà đạo trái phép nêu trên, để biến mình thành một kẻ ngốc.

 

 

 

Không thể xuyên tạc, bác bỏ phẩm chất “Trung với Đảng” của Quân đội nhân dân Việt Nam

"Trung với Đảng” là bản chất, truyền thống cách mạng - phẩm chất không thể xuyên tạc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Tuy nhiên, với mưu đồ nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam ra sức xuyên tạc phẩm chất “Trung với Đảng” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để xuyên tạc phẩm chất “Trung với Đảng” của Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi. Họ khẳng định rằng “quân đội không cần trung thành với Đảng có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử”. Ở góc độ lý luận, họ cắt xén nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về nguồn gốc ra đời và bản chất giai cấp của quân đội, khi dẫn ra luận điểm “Quân đội chỉ xuất hiện khi có nhà nước, là một thành phần của nhà nước, do nhà nước nuôi dưỡng để bảo vệ Tổ quốc”. Từ đó, họ suy diễn ra: “quân đội chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng bất cứ đảng phái nào trong xã hội”. Để tăng sức thuyết phục cho lập luận trên và minh chứng cho luận điểm “quân đội chỉ có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc mà không có nghĩa vụ trung thành với bất cứ chính đảng nào”, họ viện dẫn các thể chế chính trị phương Tây, với chế độ đa đảng, quân đội ở đó không do đảng nào lãnh đạo. Về cơ sở thực tiễn, họ thường bỏ qua hoàn cảnh lịch sử cụ thể, dẫn ra sự kiện ngày 26-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I) lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân” để cho rằng: “Hồ Chí Minh không yêu cầu Quân đội phải trung thành với Đảng”. Dựa vào đó, họ ra sức công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi bỏ quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65, Chương IV Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Họ cho rằng: “yêu cầu Quân đội phải trung thành với Đảng là không đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh; không phù hợp với mô hình xây dựng Nhà nước pháp quyền”. Những thủ đoạn nói trên thật là thâm hiểm, vì nghe thoáng qua có vẻ như đủ cả cơ sở lý luận và thực tiễn, nên đã mê hoặc được một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một số cán bộ, đảng viên. Không ít người cả tin, mất cảnh giác, dao động về lập trường, đã phụ họa với các thế lực thù địch, “tích cực” share (chia sẻ) những luận điệu sai trái đó trên mạng xã hội. Những người này không tỉnh táo để tự hỏi mình rằng: tại sao những luận điệu đó lại được các cơ quan truyền thông quốc tế vốn không có thiện cảm với Việt Nam, cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại lại ra sức tung hô, cổ súy? Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu của các thủ đoạn đó chỉ nhằm loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam - nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội cách mạng. Qua đó, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang lập trường chính trị tư sản; không giữ được bản chất cách mạng, là công cụ bạo lực sắc bén để “bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa” như Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác định. Những thủ đoạn đó không có cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn, cần phải được vạch trần, bác bỏ. Thực tiễn lịch sử hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam chứng minh rằng: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu hết mực trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó được thể hiện: ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được đặt dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Bằng công tác tư tưởng, Quân đội ta lấy nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của mình; lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chiến đấu của Quân đội. Bằng công tác tổ chức, hệ thống tổ chức Đảng từ Quân ủy Trung ương đến chi bộ trong Quân đội, cùng hệ thống cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng của Đảng cũng được thiết lập, đảm bảo cho sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội luôn được giữ vững. Thông qua công tác cán bộ, công tác đảng, công tác chính trị đã xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Cùng với đó, thông qua các mặt công tác: chính sách, dân vận, địch vận, bảo vệ,… công tác đảng, công tác chính trị đã đảm bảo cho Quân đội luôn thực hiện nghiêm túc mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Nhờ thế mà mọi hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ đúng “con đường chính trị” của Đảng, nhiệm vụ quân sự luôn “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng; đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nghĩa vụ quốc tế trước đây, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen. Để Quân đội ta tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất “Trung với Đảng” gắn liền với giữ vững và phát huy phẩm chất “Trung với nước, hiếu với dân” của Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời, gắn liền với cuộc đấu tranh chống mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với những phẩm chất cao quý đó. Đây là trách nhiệm trước hết của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và cũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.