Thứ Năm, 31 tháng 3, 2022

Thủ tướng yêu cầu triển khai nhiệm vụ cấp bách phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội

 

Thủ tướng yêu cầu triển khai nhiệm vụ cấp bách phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký công điện số 290/CĐ-TTg đôn đốc các bộ, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ cấp bách triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Để bảo đảm triển khai quyết liệt, đồng bộ, phát huy ngay hiệu quả của chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có các công điện yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương triển khai quyết liệt, hiệu quả hơn nữa các nhiệm vụ, giải pháp đề ra. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện nhiều nhiệm vụ đến nay còn chậm, nhất là việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp đề ra tại chương trình.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ KH-ĐT, Bộ GD-ĐT và các bộ, cơ quan chậm hoàn thành các nhiệm vụ được giao nghiêm túc rút kinh nghiệm, không được để tiếp tục chậm trễ.

Để bảo đảm phát huy ngay hiệu quả của chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan khẩn trương hoàn thành các nhiệm vụ và văn bản thuộc lĩnh vực phụ trách để trình cấp có thẩm quyền chậm nhất trước ngày 10-4.

Cụ thể, Bộ KH-ĐT khẩn trương hoàn thiện danh mục nhiệm vụ, dự án và phương án bố trí vốn cho các nhiệm vụ, dự án thuộc chương trình theo đúng chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ; xây dựng phương án điều chỉnh linh hoạt nguồn vốn đầu tư công trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 và nguồn vốn đầu tư công của chương trình trong năm 2022-2023, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho vay từ ngân sách Nhà nước đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh theo đúng chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng giao Bộ GD-ĐT khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định về điều kiện, trình tự, thủ tục, mức lãi suất cho vay đối với các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học ngoài công lập. Bộ KH-CN khẩn trương sửa đổi Thông tư số 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC đối với các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

Bộ TT-TT triển khai việc trang bị máy tính bảng theo chương trình "Sóng và máy tính cho em" từ nguồn Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam. Bộ Tài chính khẩn trương xây dựng dự thảo Nghị định về việc gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và tiền thuê đất trong năm 2022, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15-4.

Thủ tướng nêu rõ, các bộ, cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm tiến độ, chất lượng theo đúng yêu cầu đề ra.

 

Từ hôm nay, 1-4, người lao động có thể làm thêm tối đa 60 giờ/tháng, không quá 300 giờ/năm

 

Đó là nội dung tại Nghị quyết 17/2022/UBTVQH15 vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tại Phiên họp thứ 9 và đã được Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ ký chứng thực ban hành.

 

Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và báo Người cùng khổ (Le Paria)

Ðầu tháng 2/1922, Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng Algeria, Tunisia, Maroc, Madagascar ở Paris họp bàn và cùng nhau lập ra Hội hợp tác người cùng khổ, đóng cổ phần để ra một ấn phẩm báo chí thật sự của các thuộc địa bằng tiếng Pháp. Như Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khẳng định: Ðây chính là “một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức”.

Ngày 19/2/1922, Hội liên hiệp thuộc địa họp, đã cho phép thành lập Hội hợp tác người cùng khổ và báo Le Paria theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc. Song do số người tham gia đóng cổ phần không đủ, nhóm đã xin phép và chuẩn bị mọi điều kiện để xuất bản ngay một tờ báo lấy tên là Người cùng khổ - Le Paria “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” (Tribune des populations des colonies), số đầu tiên ra mắt ngày 1/4/1922. Mặc dù bị hạn chế về tài chính, kinh nghiệm trị sự, bạn đọc xa xôi, phân tán… nhưng mỗi số, Le Paria in hàng nghìn bản cho thấy vai trò và sự cần thiết của báo trong việc xây đắp tình đoàn kết, hữu nghị, sự hiểu biết, đồng cảm giữa những người vô sản bản xứ trong cuộc đấu tranh chống xâm lược cai trị. Một thế kỷ trôi qua, Le Paria thật sự là “vật chứng” cho tinh thần quốc tế vô sản theo khẩu hiệu của V.I.Lênin: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại.

 

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiêu cực là để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; tiêu cực là trái với tích cực.

 

Tiêu cực thường được sử dụng dưới dạng: Hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh; nảy sinh tiêu cực; đấu tranh chống tiêu cực... Tiêu cực có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân. Để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng "là đạo đức, là văn minh", xứng đáng với vai trò tiền phong, thì phòng và chống các biểu hiện tiêu cực là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền.

Những lời cảnh báo của Bác Hồ

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền, như: “Óc bè phái. Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; “Óc hẹp hòi-Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng”; "Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp"; "Ích kỷ, hủ hóa...".

 

Đẩy lùi nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ

Sau gần 30 năm, vì sao Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Vậy nhận diện nguy cơ trong tình hình mới thế nào? Giải pháp nào để đẩy lùi, giữ vững sự trường tồn của dân tộc, giữ vững chế độ XHCN? Trong loạt bài này, chúng tôi chỉ góp một góc nhìn để nhận định, phân tích, làm rõ hơn vấn đề nêu trên để thêm vững tin vào con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Nguy cơ “chệch hướng” và “người thuyền trưởng” vững lái

Với sứ mệnh là "người thuyền trưởng", trong suốt 92 năm chèo lái “con thuyền cách mạng” nước ta, có lúc, có thời điểm Đảng ta cũng phạm những sai lầm, khuyết điểm. Nhưng với tinh thần thẳng thắn, Trung ương Đảng đã không hề che giấu khuyết điểm mà luôn nhìn thẳng vào sự thật, kịp thời điều chỉnh để vững lái đưa cách mạng Việt Nam liên tục phát triển, đạt nhiều thành tựu to lớn.

 

Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay

 

Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Âm mưu chia rẽ và thách thức bên trong

Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.

 

Nỗ lực của Việt Nam bảo vệ quyền con người được Liên Hợp Quốc đánh giá cao

 

Ngày 31/3, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao đã chủ trì công bố Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị UPR chu kỳ III Việt Nam đã chấp thuận và thông tin về ứng cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Sự kiện có sự tham dự của hơn 70 đại biểu là trưởng đại diện, đại diện nhiều tổ chức quốc tế, cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; cùng đại diện các Bộ, ngành Việt Nam được giao nhiệm vụ trực tiếp triển khai các khuyến nghị, các tổ chức phi chính phủ và giới nghiên cứu về quyền con người tại Việt Nam.

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ từ việc rèn giũa thực hành "nói đi đôi với làm"

Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý được Đảng và nhân dân dành tặng cho cán bộ, chiến sĩ. Với sứ mệnh, trách nhiệm cao cả là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần giữ gìn, phát huy phẩm chất: Nói đi đôi với làm, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Gần 8 thập kỷ trôi qua nhưng nội dung, ý nghĩa 10 lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam vang lên dưới lá cờ Tổ quốc luôn là kim chỉ nam trong lời nói và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên mọi mặt trận. Phẩm chất ấy được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, kiến quốc thời bình, tựa như “ngọc càng mài càng sáng”, qua thời gian ngày càng thêm sáng đẹp. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới bao hàm nhiều nội dung quan trọng, toàn diện. Một trong những đặc trưng cơ bản mang giá trị cốt lõi đó là: Nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Người xưa có câu: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa mà bị kẻ cười, người chê, điều đó cho thấy các cụ ta ngày xưa đã rất quan tâm đến chữ tín, đề cao hành vi “nói đi đôi với làm”. Tìm hiểu sâu hơn nội hàm thuật ngữ “nói đi đôi với làm” trong Nghị quyết 847 cho thấy: Đây không đơn thuần là vấn đề đạo đức thông thường, mà ở tầm cao hơn chính là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động trong thực tiễn để được tập thể, nhân dân tin tưởng, ủng hộ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần nói đi đôi với làm. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Hòa bình, đất nước không còn tiếng súng nhưng các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng. Đáng chú ý là chúng lôi kéo, dụ dỗ đồng bào tham gia các tà đạo, lập "vương quốc" riêng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Xác định là lực lượng nòng cốt, để “nói dân nghe, làm dân tin”, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã thực hiện “3 bám, 4 cùng” (bám dân, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) với dân bản. Bằng phương pháp tuyên truyền linh hoạt, kết hợp vừa nói vừa làm, vừa tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vừa cầm tay chỉ việc giúp dân xây dựng các mô hình kinh tế, Bộ đội Cụ Hồ trở thành điểm tựa của đồng bào, nhờ đó an ninh chính trị, trật tự địa bàn nơi phên giậu Tổ quốc được giữ vững. Hay, trong cuộc chiến chống "giặc Covid-19" vừa qua, hình ảnh bộ đội nhường lại doanh trại cho nhân dân cách ly, còn mình dựng lán ngủ ngoài rừng, ăn cơm bưng lá chuối đã làm lay động trái tim nhiều người. Hành động, nghĩa cử ấy càng làm tô thắm thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân, do dân, vì dân. Khẳng định phẩm chất nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết là đặc trưng cơ bản cần tiếp tục lan tỏa, nhân rộng, thế nhưng thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Không ít người cho mình quyền được nói, được đề cao người này, phê phán người kia mà thực tâm không phải để đóng góp xây dựng mà cốt là để hạ bệ người khác, nâng cao bản thân và những người cùng lợi ích. Không ít người trong hội nghị thì im lặng, dĩ hòa vi quý, "tránh voi không xấu mặt nào" nhưng sau hội nghị thì xì xèo, bàn tán, đả kích người khác. Một hiện tượng hay gặp ở những người có thói quen xu nịnh là tâng bốc cấp trên bằng lời lẽ hoa mỹ, sáo rỗng nhưng khi hết quyền lợi thì thờ ơ, vô cảm. Xót xa hơn, vừa qua, một số cán bộ bị đưa ra khởi tố mà trước đó chưa lâu họ còn phô trương, tô vẽ những việc mình làm là “cống hiến vì dân, vì nước”. Tình trạng trên được Nghị quyết 847 nhận diện là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi... Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội...”. Những biểu hiện trên không chỉ là sự suy thoái về tư tưởng đạo đức, lối sống mà còn là biểu hiện của “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, trở thành rào cản sự phát triển, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy phẩm chất, tài năng cống hiến cho đất nước, song cũng đặt ra thách thức lớn bởi lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng và những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội đang len lỏi. Bởi vậy, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân cho bộ đội là việc làm quan trọng và cần thiết. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết 847 nhấn mạnh là: “Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”. Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ, để nói đi đôi với làm, trước hết cần phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Bởi, có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Muốn vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, mơ hồ mất cảnh giác. Nói đi đôi với làm phải thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Việc gì làm được thì nói, chưa làm được thì không thể phô trương, tô vẽ. Các cơ quan, đơn vị cần có nhiều chủ trương, giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng, tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân. Đồng thời cần biểu dương, khen thưởng những gương cán bộ, đảng viên tận tụy, tâm huyết, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo, thật thà, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, quân nhân sẽ ngày càng khẳng định được tài năng, bản lĩnh, trí tuệ và được tập thể, quần chúng ghi nhận, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỶ LUẬT TRONG QUÂN ĐỘI

 


Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục giáo dục; phải chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu với một kẻ thù có âm mưu xảo quyệt và ưu thế về trang bị kỹ thuật. Con người, vũ khí trang bị phải thường xuyên ở tư thế sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt quân thù trong mọi điều kiện, mọi thời gian. Nếu kẻ thù phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thì đây sẽ là một thử thách khốc liệt đối với chính trị - tinh thần, tâm lý và phẩm chất chiến đấu của bộ đội.

Bởi vậy, cần phải chuẩn bị cho bộ đội vững vàng về tư tưởng, chịu đựng được mọi thử thách khốc liệt, căng thẳng, kéo dài của chiến tranh, giữ vững khả năng chiến đấu và bản lĩnh làm chủ vũ khí và trang bị kỹ thuật trong mọi tình huống, tuyệt đối chính xác trong hành động. Bởi lẽ, nếu chỉ có ý thức dân chủ và kỷ luật đơn thuần thì chưa đủ mà còn phải có năng lực làm chủ và chấp hành kỷ luật thì quân nhân mới hoàn thành nhiệm vụ.

 Hoàn thiện các quy định, cơ chế thực hiện dân chủ, hệ thống điều lệnh, chính sách và các điều kiện đảm bảo cần thiết chính là tạo ra môi trường thuận lợi để rèn luyện ý thức, năng lực làm chủ, tính tự giác chấp hành kỷ luật cho mỗi quân nhân. Vấn đề quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống điều lệ, điều lệnh, chế độ chính sách là phải xuất phát từ đặc điểm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phản ánh đúng quy luật của chiến tranh và quan điểm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị của Đảng. Hoàn thiện hệ thống chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội là một điều kiện quan trọng tạo động lực phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật trong quân đội. Xây dựng hệ thống chính sách đối với quân đội phải phù hợp.

 Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống điều lệnh, điều lệ, quy chế dân chủ, chế độ quy định phải dựa trên nguyên tắc pháp lý và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Nhưng do tính đặc thù của hoạt động quân sự, quân đội phải có hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định, chính sách cụ thể phù hợp.

YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

 Trong giai đoạn cách mạng hiện nay đặt ra yêu cầu bảo vệ tổ quốc và nhiệm vụ của quân đội có sự phát triển mới. Bảo vệ tổ quốc gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng bảo vệ không chỉ là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà còn là sự lãnh đạo của Đảng, là chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, là sự nghiệp đổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là lợi ích quốc gia dân tộc.

Tư duy về bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển toàn diện hơn, bao gồm các lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, xã hội, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân để chủ động đối phó với mọi tình huống, ngăn ngừa chiến tranh, tạo môi trường hoà bình xây dựng đất nước, giữ vững an ninh, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, chuẩn bị sẵn sàng tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc.

Trong giai đoạn cách mạng mới, quân đội không chỉ là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu, mà còn cùng toàn dân chiến đấu trên mặt trận chính trị tư tưởng, kiên định giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa cả trước mắt và lâu dài, nội dung của đội quân công tác ngày nay không chỉ là đội quân tuyên truyền vận động chính trị như trước đây mà còn là một đội quân tham gia vào công cuộc động viên và tổ chức toàn dân xây dựng và bảo vệ đất nước trên tất cả các mặt.

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, quân đội là một lực lượng quan trọng góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển các vùng kinh mới, tham gia xoá đói giảm nghèo, những sự phát triển đó đặt ra yêu cầu đòi hỏi các tổ chức cơ sở đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để có thể hoàn thành được nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

 

 

NÂNG CAO NHẬN THỨC ĐÚNG GIÁ TRỊ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA QUÂN ĐỘI TRONG GIA ĐOẠN HIỆN NAY

 


Trong điều kiện hiện nay, cần làm cho mỗi quân nhân nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và kỷ luật tự giác nghiêm minh. Cùng với giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ biết trân trọng giữ gìn, phát huy những giá trị dân chủ trong truyền thống văn hóa của dân tộc phải giáo dục truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta đã xây đắp trong những năm qua. Đó là lòng trung thành với Đảng, với nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Tinh thần kiên quyết, dũng cảm xả thân vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tình hữu ái giai cấp, bình đẳng về chính trị, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ; tính kỷ luật tự giác nghiêm minh, cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận; đoàn kết thống nhất toàn quân một ý chí; tinh thần tập thể và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Quân đội ta cần phải phát huy truyền thống cách mạng anh hùng và vẻ vang nâng cao chí khí phấn đấu, giữ vững kỷ luật, đoàn kết trên dưới, đoàn kết quân dân, nhằm làm tròn mọi nhiệm vụ do Đảng và Chính phủ giao cho".

Giáo dục ý thức, năng lực dân chủ phải gắn liền với giáo dục phát triển ý thức tự giác chấp hành kỷ luật của quân nhân, làm cho mọi quân nhân có niềm tin khoa học vào bản chất tốt đẹp của kỷ luật tự giác nghiêm minh. Truyền thống dân chủ và kỷ luật trong quân đội chỉ được nảy nở, phát triển khi mỗi quân nhân có nhận thức đúng, có thái độ trân trọng đối với các giá trị truyền thống tốt đẹp. Vì vậy, hoạt động giáo dục, phát triển ý thức dân chủ, năng lực làm chủ, ý thức kỷ luật cho quân nhân là một nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong sự kết hợp chặt chẽ với các hoạt động chính trị - xã hội, quân sự.

 

 

KẾT HỢP CHẶT CHẼ ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG VỚI TỰ BỒI DƯỠNG CỦA CÁN BỘ

 

Sự phát triển về yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chức năng và nhiệm vụ của quân đội cũng có sự phát triển. Từ hoạt động đấu tranh vũ trang trong chiến tranh, quân đội chuyển sang hoạt động phi vũ trang, chống “diễn biến hoà bình” là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, đồng thời chuẩn bị tiềm lực quốc phòng để sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô, cường độ khá nhau, các loại hình chiến tranh khác nhau.

Do vậy, vấn đề chất lư­ợng của cán bộ, có ý nghĩa trực tiếp quyết định và tạo tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện năng lực đáp ứng với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Do đó phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác đào tạo theo h­ướng kết hợp tự rèn luyện tự bồi du­ỡng của chính bản thân đội ngũ cán bộ. Bởi vì nếu như­ chúng ta không khuyến khích và phát triên đ­ược việc tự rèn luyện, tự bồi d­ưỡng sẽ không thể có chất lư­ợng và hiệu quả thật.

Nhận thức đúng đắn về mục đích, yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; vị trí vai trò, các mối quan hệ của từng nhân tố trong cơ chế; tính phù hợp với yêu cầu khách quan của việc thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên hiện nay. Trên cơ sở đó, đề cao trách nhiệm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 51/ NQ-TƯ của Bộ Chính trị, đồng thời đấu tranh kiên quyết với những nhận thức, t­ư tư­ởng, động cơ không đúng, khắc phục những biểu hiện giản đơn, thiếu quan tâm hoặc ngại nghiên cứu, học tập. Như vậy, mới xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tâm và tầm, đủ khả năng chống lại và chiến thắng những chống phá của kẻ thù.

Phải trên cơ sở không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế và kỷ luật tự giác nghiêm minh của quân đội mà củng cố niềm tin khoa học của quân nhân vào phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta trong giai đoạn mới của cách mạng.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHÁ DÂN CHỦ , KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI

 


Cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch phá dân chủ, kỷ luật Quân đội ta trong gai đoạn hiện nay; không chỉ phê phán tính chất phản động, phản khoa học trong các hội nghị, hội thảo, trên các phương tiện thông tin đại chúng mà phải được thực hiện trong các hoạt động hàng ngày của toàn quân. Phải tổ chức cho quân nhân tham gia rộng rãi trực tiếp vào cuộc đấu tranh này. Khẳng định những giá trị dân chủ và kỷ luật tự giác nghiêm minh trong quân đội ta, phê phán có tính thuyết phục những quan điểm, tư tưởng thù địch, những thói hư tật xấu cản trở việc phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật; làm cho mỗi quân nhân thật sự là chủ thể, có bản lĩnh chính trị và năng lực trong phê phán, đấu tranh với những quan điểm phản động, phản khoa học.

Phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật tự giác nghiêm minh đòi hỏi phải đấu tranh chống bệnh tham nhũng, quan liêu trong bộ máy lãnh đạo, chỉ huy, trong các tổ chức quần chúng. Quan liêu, tham nhũng là kẻ thù không thể dung hòa với truyền thống dân chủ và kỷ luật của quân đội ta hiện nay. Tham nhũng, quan liêu là bạn đồng minh của chiến lược "Diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ các giá trị dân chủ và kỷ luật trong truyền thống của quân đội ta.

Cuộc đấu tranh này rất gay go phức tạp, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải có bản lĩnh chính trị, giác ngộ chính trị cao. Chất lượng, hiệu quả của cuộc đấu tranh này là thước đo việc phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta hiện nay.

Truyền thống dân chủ và kỷ luật là một giá trị tinh thần to lớn, phản ánh bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta. Kế thừa, phát huy truyền thống dân chủ và kỷ luật là vấn đề có tính nguyên tắc trong phát triển bản chất giai cấp công nhân, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Cần phải biết trân trọng, giữ gìn truyền thống dân chủ và kỷ luật trong lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta, làm cho nó trở thành động lực tinh thần, niềm tự hào của các thế hệ quân nhân hiện nay và mai sau.

THỰC HIỆN “CẦN KIÊM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ” GẮN VỚI HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 


Hồ Chí Minh là người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Người không chỉ nêu ra và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và rèn luyện những phẩm chất “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, hướng lòng mình đến “chí công vô tư” để phụng sự Tổ quốc và nhân dân mà Người còn chính là hiện thân của những phẩm chất cao quý đó.

CẦN “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”; “cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được”, bởi “Cần chẳng những có nghĩa hẹp như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai” mà còn “có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần”. Hiểu đúng về Cần nghĩa là luôn chăm chỉ, cố gắng không phải một sớm một chiều mà thường xuyên và liên tục. Hiểu sâu sa hơn thì Cần cũng có nghĩa là làm để nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc lâu dài, để đạt được mục đích đề ra, bởi: “Nếu mỗi người, mỗi ngày làm thêm một tiếng đồng hồ thì: Mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ. Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ… Cứ tính một giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã có thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công”[4].

KIỆM “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” và không phải là bủn xỉn. Trong đó, Cần phải đi đôi với Kiệm “như hai chân của con người”; vì “KIỆM mà không CẦN thì không tăng thêm, không phát triển”. Tiết kiệm về vật chất phải đi đôi với tiết kiệm về thời giờ, bởi “của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được”[5]. Vì thế, thời giờ cần tiết kiệm và đó cũng là Cần; “tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người”, cũng giống như “khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”[6]. Đặc biệt, muốn tiết kiệm tốt thì phải khéo tổ chức, vì “không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm” và phải “kiên quyết không xa xỉ”. Từ đó, “một mặt, chúng ta thi đua KIỆM. Một mặt, chúng ta thi đua CẦN” thì cộng lại là “nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công”…

LIÊM “là trong sạch, không tham lam” và “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”[7]. Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM, cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN, vì “có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”. Tham lam sẽ dẫn đến BẤT LIÊM, cho nên, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Cũng theo Hồ Chí Minh, “trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”1) và “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM. Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM”[8]. Vì, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”, cho nên “cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”[9]

CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà. “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc của CHÍNH. Nhưng một cây cần phải có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”[10]. Tiếp đó, Hồ Chí Minh viết tiếp “trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC. Trong xã hội, có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc Chính là người Thiện. Làm việc Tà là người Ác. Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác”[11]

Để là CHÍNH, mỗi người, ĐỐI VỚI MÌNH, phải “chớ tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điêmmr, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”[12], vì “tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”. ĐỐI VỚI NGƯỜI, “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái”[13]. ĐỐI VỚI VIỆC, “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”; “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to. Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định nhiều hạnh phúc. Ai chẳng muốn cho tự mình thành một

Những điều Người nói, những việc Người làm và tấm gương đạo đức cách mạng “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của Người không chỉ được khẳng định trong thực tiễn mà còn mang ý nghĩa, giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại, dù thế giới đã đi qua bao thăng trầm, thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những gì Người nói, những việc Người đã làm với tâm hồn thanh cao là biểu hiện sự dung hợp hài hòa những phẩm chất tuyệt vời của một vị lãnh tụ của nhân dân, thuộc về nhân dân trong thời đại mới.

 

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Quân đội Nhân dân Việt Nam có chức năng: đội quân chiến đấu; đội quân công tác; đội quân lao động sản xuất là thực tế khách quan; vậy mà thời gian gần đây, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch tiếp tục diễn biến phức tạp; chúng triệt để lợi dụng các Bộ đội giúp đỡ Nhân dân chống dịch Covid – 19 để xuyên tạc, công kích với đủ các luận điệu ấu trĩ, kém văn hóa.

Về “đội quân chiến đấu” đã được bàn nhiều, có lẽ không cần nói thêm. Trong việc thực hiện chức năng đội quân công tác, quân đội ta luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững chắc và tin cậy của Đảng và Nhà nước với nhân dân. Sống trong lòng dân, bộ đội ta luôn tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đoàn kết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, khám chữa bệnh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những ngày qua, hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm kề vai sát cánh với Nhân dân chống Dịch Covid - 19 củng cố mối quan hệ máu-thịt với nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, thêm một lần nữa in đậm trong trái tim đồng bào cả nước. Các anh luôn là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của người dân trong những lúc nguy nan nhất, quân đội luôn làm điểm tựa vững chắc trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.

Tiếp  tục phát huy vai trò Quân đội trong phòng chống dịch bệnh, ứng phó sự cố thiên tai, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

 

 

CHIẾC ÁO ẤM - BÀI HỌC VỀ SỰ CHĂM LO CỦA BÁC HỒ

 


Một đêm mùa đông năm 1951, gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa lâm thâm làm cho khí trời càng thêm lạnh giá. Thung lũng bản Ty co mình lại trong yên giấc, trừ một ngôi nhà sàn nhỏ còn phát ra ánh sáng. Ở đây, Bác vẫn thức, vẫn làm việc khuya như bao đêm bình thường khác. Bỗng cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Bác bước xuống cầu thang, đi thẳng về phía gốc cây, chỗ tôi đang đứng gác.

 Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không?

- Thưa Bác, vâng ạ!

- Chú không có áo mưa?

Tôi ngập ngừng nhưng mạnh dạn đáp:

- Dạ thưa Bác, cháu không có ạ!

Bác nhìn tôi từ đầu đến chân ái ngại:

- Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn...

Sau đó, Bác từ từ đi vào nhà, dáng suy nghĩ...

Một tuần sau, anh Bảy cùng mấy người nữa đem đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài chiến lợi phẩm. Anh nói:

- Bác bảo phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí. Được một chiếc áo như thế này là một điều quý, nhưng đối với chúng tôi còn quý giá và hạnh phúc hơn khi Bác trực tiếp chăm lo, săn sóc với cả tấm lòng yêu thương của một người cha.

Sáng hôm sau, tôi mặc chiếc áo mới nhận được đến gác nơi Bác làm việc. Thấy tôi, Bác cười và khen:

- Hôm nay chú có áo mới rồi.

- Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu mỗi người một chiếc ạ.

Nghe tôi thưa lại, Bác rất vui. Bác ân cần dặn dò thêm:

- Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác.

Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để làm việc. Lòng tôi xiết bao xúc động. Bác đã dành áo ấm cho chúng tôi trong lúc Bác chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Đáng lẽ chúng tôi phải chăm lo cho Bác nhiều hơn, còn Bác, Bác lại lo nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.

Từ đấy, chúng tôi cũng trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ lấy hơi ấm của Bác. Hơi ấm ấy đã truyền thêm cho chúng tôi sức mạnh trong mỗi chặng đường công tác.

Bài học kinh nghiệm:

- Câu chuyện này tả lại tình yêu thương ân cần của Bác dành cho những cán bộ phục vụ quanh mình. Dù bận trăm công nghìn việc, nhưng khi thấy người chiến sĩ cảnh vệ canh gác dưới chân lán bị ướt và lạnh, Bác đã đôn đốc quân nhu chóng tìm áo ấm cho các anh. Chỉ một chiếc áo nhưng đã làm ấm cơ thể, ấm lòng anh chiến sĩ và hàng triệu triệu con tim người Việt.

 

BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

 

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực, quốc tế và xu thế của thời đại, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Trong đó, Đảng đã xác định quan điểm nhất quán và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển, đảo hiện nay

Đại hội XIII đã khẳng định, chúng ta đã: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia – dân tộc trên biển, trên không và trên bộ; hợp tác quốc tế về biển, đảo được tăng cường, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy quan hệ với các nước”. Hiện nay, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thế và lực của ta trên các vùng biển, đảo đã tăng lên nhiều. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” trên biển, đảo không ngừng được củng cố, tăng cường. Các lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo từng bước được xây dựng, phát triển ngày càng vững mạnh hơn. Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển. Hiện nay, Hải quân nhân dân Việt Nam đã có đủ các lực lượng cơ bản, được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Trên mặt trận chính trị - đối ngoại, chính sách của Việt Nam ở Biển Đông đã vận dụng thành công chủ trương giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế. Chúng ta đã giữ vững các đảo, điểm đóng quân, các bãi cạn không người... Trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cơ bản chiến lược bảo đảm chủ quyền, an ninh; xử lý kịp thời các tình huống trên biển, bảo đảm giữ vững được chủ quyền, mối quan hệ và môi trường hòa bình trên biển.

Đảng đã xác định quan điểm nhất quán và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề

trên biển:

Thứ nhất là “thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển

đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Việt Nam là một quốc gia ven biển, vùng biển của nước ta có diện tích gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích biển Đông. Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương; giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Vùng biển của chúng ta còn là vùng biển “giàu có” với các tài nguyên, khoáng sản quan trọng như dầu khí, than, sắt, titan, muối..  và hàng triệu tấn thủy sản. Chúng ta có đường bờ biển dài và đẹp, sinh vật biển phong phú, đa dạng thuận lợi cho phát triển du lịch biển. Đối với hoạt động an ninh, quốc phòng, biển nước ta như mặt tiền, cửa ngõ quốc gia; biển làm tăng chiều sâu phòng thủ hướng ra biển, củng cố tuyến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai là "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước". Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Kiên quyết thể hiện quyết tâm dứt khoát, sự đồng thuận cao hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước; kiên quyết giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia - dân tộc, với quyết tâm cao nhất. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của ta, tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước, tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi”. Với mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, chúng ta thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Bên cạnh đó, chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.
Thứ tư, “Duy trì hòa bình, an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982”. Lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông là rõ ràng và nhất quán. Mọi hoạt động trên biển cần được tiến hành trên cơ sở Công ước của LHQ về Luật Biển 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển tại các vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước. Khẳng định Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử chủ quyền đối với cả Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như các quyền hợp pháp khác trên các vùng biển của Việt Nam được xác lập.
Thứ năm, “Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, nhất là tại địa bàn chiến lược, vùng đặc biện khó khăn, biên giới, hải đảo”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định kinh tế biển là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để đưa Việt Nam đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.  Chúng ta tập trung phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tư tưởng này được hình thành dựa trên kinh nghiệm quốc tế, dự báo tình hình trong nước và trên thế giới, thực tiễn Việt Nam và phù hợp với xu thế thời đại. Các thành tựu ta đạt được trong thời gian qua đã cho thấy sự vận dụng đúng đắn quan điểm, đường lối của Đảng trong phát triển bền vững kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

 

Kịp thời nhận biết luận điệu xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraine trong giai đoạn hiện nay

 


Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, ấy thế nhưng, trên Internet, mạng xã hội, một số người lại đang cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

          Cơ sở chủ yếu để khẳng định quan điểm của Việt Nam đối với các vấn đề chính trị trên thế giới là:

Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

             Chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.

             Kết luận rằng, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.