Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022
THEO DẤU CHÂN NGƯỜI
MỘT SỐ SỰ THẬT VỀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX...
* Lượng bom Mỹ ném xuống Việt Nam trong cả cuộc chiến là 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ II và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản.
* Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg bom của Mỹ.
* Nếu tính cả bom, đạn dùng trên mặt đất (lựu đạn, mìn, đạn pháo, chất nổ...) thì Mỹ đã dùng tổng cộng trên 15,35 triệu tấn bom đạn ở Việt Nam. Kết cấu hạ tầng ở cả hai miền Việt Nam bị phá hủy nặng nề. Sau chiến tranh, Việt Nam là một trong những nước có tình trạng ô nhiễm bom, mìn nặng nề nhất trên thế giới. Gần 800.000 tấn bom mìn chưa phát nổ còn sót lại trong lòng đất vẫn tiếp tục gây tai nạn, làm hơn 42.000 người chết, 62.000 người bị thương từ 1975 đến 2014, gây ô nhiễm 6,6 triệu ha đất (chiếm gần 18% diện tích Việt Nam), khiến chính phủ Việt Nam phải chi mỗi năm khoảng 100 triệu USD để khắc phục hậu quả bom mìn.
* Chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một chiến tranh ác liệt với quy mô lớn kéo dài gần 20 năm. Đây cũng là lần đầu tiên, hậu quả tàn khốc của vũ khí chiến tranh được xuất hiện trên sóng TV trực tiếp của các nước tiên tiến.
* Chỉ tính riêng trong 81 ngày đêm ngắn ngủi giao tranh xảy ra ở Quảng Trị, báo chí nước ngoài đã thống kê, Thành cổ Quảng Trị đã hứng chịu 328.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hirosima và Nagasaki hồi Chiến tranh thế giới thứ II.
* Đế quốc Mỹ đã áp dụng hầu hết các vũ khí tân tiến nhất thời điểm đó (chỉ trừ vũ khí hạt nhân). Một loạt các loại vũ khí đã được sử dụng bởi các quân đội khác nhau hoạt động trong Chiến tranh ở Việt Nam, bao gồm quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam); tất cả các đơn vị của quân đội Mỹ; các đồng minh của mỹ là Quân lực ng.ụy Sài Gòn, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Thái Lan và Philippines...
* Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ít binh sĩ và vũ khí hơn, trong khi đó Quân đội Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới. Ở thời kỳ cao điểm năm 1968, quân Mỹ và đồng minh có số lượng quân sĩ gấp bốn lần và gấp hàng chục lần về thiết bị vũ khí. Ngay cả ở thời điểm cuối năm 1975, khi Mỹ đã rút quân về nước, họ vẫn trang bị cho quân ng.ụy Sài Gòn mạnh gấp 2 lần về quân số và gấp vài lần về trang bị so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến thắng chung cuộc lại thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bên yếu thế hơn nhiều về quân sự. Đây là điều để lại nhiều bài học về chiến lược chính trị và quân sự cho các nhà nghiên cứu, các tướng lĩnh quân sự sau này.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở Việt Nam của Đế quốc Mỹ, khả năng tác chiến công nghệ cao của không quân và hải quân là ưu thế chính của Mỹ, ở thời kỳ cao điểm Mỹ đã huy động 60% không quân và 40% hải quân để tham chiến ở Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô viện trợ cho một số vũ khí như MiG-21 và SAM-2 để chống lại, nhưng số lượng khá ít và đây cũng không phải là những vũ khí hiện đại nhất của Liên Xô khi đó. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáng tạo ra những chiến thuật mới, phát huy hiệu quả số lượng trang bị ít ỏi của mình. Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Conwell viết: “Lực lượng phòng không của Việt Nam là thứ đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những phi công Mỹ đã từng gặp” Đại tá James G. Zumwalt nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam, cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo để đáp trả”.
* Tổng cộng trong 20 năm, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này 6,6 triệu lượt quân nhân Mỹ (chiếm 15% nam thanh niên toàn nước Mỹ) – vào thời điểm cao nhất (năm 1968–1969) có tới 628.000 quân Mỹ hiện diện trên chiến trường – bằng tổng số lục quân của cả năm nước Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Canada, Australia và chiếm 70% tổng số lực lượng lục quân Mỹ lúc bấy giờ, với những sư đoàn thiện chiến nhất như Kỵ binh bay, Tia chớp nhiệt đới, Anh cả đỏ, Thuỷ quân lục chiến… Cùng với lục quân, Mỹ huy động 60% không quân chiến lược, chiến thuật với 2.300 máy bay, trong đó có 46% pháo đài bay B-52 với hơn 200 chiếc, 42% lực lượng hải quân với hàng trăm tàu chiến trong đó có 15/18 hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, 3.000 xe tăng - xe thiết giáp; 2.000 khẩu pháo hạng nặng từ 120 đến 175mm. Ngoài ra, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng Quân lực ng.ụy Sai Gòn với trang bị 1.800 máy bay, 2.000 xe tăng – thiết giáp, 1.500 khẩu pháo, 2 triệu khẩu súng các loại, 50.000 xe cơ giới quân sự, hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu.
* Các vụ hãm hiếp phụ nữ do lính Mỹ và đồng minh thực hiện diễn ra rất thường xuyên trong chiến tranh và ít khi bị trừng phạt, nếu bị xử thì cũng rất nhẹ, và đặc biệt Mỹ đã đem loại văn hóa hưởng thụ và trụy lạc thừa thải vào Việt Nam, tiếp tục phát triển cái gọi là "Hòn Ngọc Viễn Đông" giả tạo và lớp phụ nữ trẻ theo chế độ tay sai làm gái điếm lên tới hơn nửa triệu người, điều trơ trẽn, đáng xấu hổ nhất là phụ nữ theo chế độ ng.ụy Sài Gòn lúc ấy rất tự hào "Làm mẹ thế giới" với sản phẩm cho ra là gần 150.000 con lai !
Hiện nay có hơn hàng vạn nạn nhân chất độc hóa học tại Việt Nam. Một nửa diện tích rừng của Việt Nam bị phá hủy. Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam 45.260 tấn (khoảng 80 triệu lít) chất độc hóa học, sự tàn phá môi trường do Mỹ gây ra lớn đến mức đã khai sinh một từ tiếng Anh mới "Ecocide" - Thuốc hủy diệt sinh thái.
* Quân lực ng.ụy Sài Gòn là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ USD Mỹ mỗi năm. Nền kinh kế ng.ụy Sài Gòn không thể cáng đáng được kinh phí này, nên ng.ụy Sài Gòn đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ USD vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%, Quân lực ng.ụy không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động. Nguồn: Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing, tr. 80).
NHỮNG CHIẾN DỊCH THẦN KỲ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
1. Trận chiến trên sông Bạch Đằng (938)
Trước khi tử trận trên sông Bạch Đằng năm 938, Lưu Hoằng Tháo không thể tưởng tượng việc quân dân người Việt do Ngô Quyền lãnh đạo sẽ tận dụng quy luật thủy triều để biến những bãi cọc ngầm cắm dưới lòng sông thành thứ vũ khí hủy diệt có sức mạnh kinh hồn. Thảm bại trong trận Bạch Đằng, quân Nam Hán đã phải bỏ mộng xâm chiếm nước Việt.
2. Chiến thắng quân xâm lược nhà Tống (1075)
Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, vua quan nhà Lý đã đưa ra chủ trương "Tiên phát chế nhân", đem quân sang đất địch đánh trước để chặn thế mạnh của chúng. Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 40.000 quân đánh các châu Khâm, Liêm trên đất Tống, hạ hàng loạt thành lũy, hủy hoại nặng nề sinh lực của quân Tống, khiến kế hoạch xâm lược của chúng bị trì hoãn, tạo điều kiện cho quân ta củng cố lực lượng và giành thắng lợi trong cuộc quyết chiến sau này.
3. Đại thắng quân Nguyên Mông (1288)
Trên sông Bạch Đằng năm 1288, chiến thuật chôn cọc gỗ kinh điển mà Ngô Quyền sử dụng 350 năm trước lại được Trần Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn tái hiện. Trong trận thủy chiến được đánh giá là lớn nhất lịch sử dân tộc này, quân Đại Việt đã đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Nguyên Mông - đội quân thiện chiến nhất thế giới thời đó.
4. Trận chiến tiêu diệt chiến hạm của Công ty Đông Ấn Hà Lan (1643)
Mùa hè 1643, Công ty Đông Ấn Hà Lan - thế lực hải quân hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc đó - phái 3 pháo hạm mạnh hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình, hạm đội này đã bị gió thổi dạt vào gần cảng Eo ở Đàng Trong (Thừa Thiên - Huế). Dù có ý kiến can ngăn vì sợ người Hà Lan, chúa Nguyễn vẫn đưa 50 thuyền chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt chiến hạm lớn nhất của kẻ thù, khiến hai chiến hạm còn lại bỏ chạy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người Việt chiến thắng một hạm đội châu Âu, đồng thời cũng là một sự tổn thương nặng nề đối với thanh thế của Công ty Đông Ấn Hà Lan.
5. Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh (1788)
Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh do Hoàng đế Quang Trung tiến hành cuối năm 1788, đầu năm 1789 được coi là một cuộc hành quân thần tốc khó tin trong lịch sử dân tộc. Từ Phú Xuân (Huế), Hoàng đế Quang Trung chỉ mất 40 ngày (trong đó có 10 ngày dừng lại tại Nghệ An tuyển quân) đưa đại quân tiến về Thăng Long đánh đuổi quân Thanh. Do không thể tin quân Tây Sơn có thể tiến nhanh như vậy, quân xâm lược đã hoàn toàn mất cảnh giác và phải chịu sự thảm bại nặng nề.
6. Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại (1801)
Trong trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại diễn ra giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801, quân Nguyễn đã sử dụng lối đánh tập kích thọc sâu bất ngờ và đòn hỏa công tương tự trận Xích Bích diễn ra ở Trung Hoa 16 thế kỷ trước để hủy diệt hạm đội khổng lồ, tưởng như không thể nào bị đánh bại của quân Tây Sơn. Với thất bại này, thủy quân Tây Sơn hầu như đã sụp đổ hoàn toàn, nhường cho nhà Nguyễn nắm giữ quyền kiểm soát vùng biển.
7. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)
Người Pháp từng tin rằng căn cứ Điện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá. Tuy vậy, bằng tài năng quân sự tuyệt vời của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biến niềm tin của họ trở thành sự tuyệt vọng với chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
8. Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968)
Trước khi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, ngay cả những người Mỹ có trí tượng tượng phong phú nhất cũng không thể hình dung nổi cảnh các chiến sĩ Giải phóng đánh trực diện vào các địa điểm trọng yếu tại Sài Gòn như Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Chiến dịch quân sự này đã gây tiếng vang lớn, tạo bước đột phá buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
9. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972)
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, lực lượng phòng không - không quân của miền Bắc Việt Nam đã làm được điều mà người Mỹ không thể tin nổi: Bắn hạ 34 “siêu pháo đài bay” B-52, đập tan hoàn toàn mưu đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ và buộc họ phải quay trở lại bàn đàm phán tại Paris.
10. Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)
Cuối tháng 9/1974, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch chiến lược Chiến dịch mùa xuân 1975, dự định hoàn thành việc thống nhất 2 miền Bắc - Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy vậy, với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Mùa Xuân 1975 đã được tiến hành khẩn trương và quyết đoán, đem lại chiến thắng cuối cùng cho dân tộc vào ngày 30/4/1975.
Sưu tầm
MỘT SỐ TỔ CHỨC BÌNH PHONG CỦA CIA CHUYÊN VỀ CÁCH MẠNG MÀU VÀ BẠO LOẠN LẬT ĐỔ
1. USAID (United States Agency for International Development)
Mặc dù trên website của tổ chức này có những lời tự giới thiệu rất thiện chí là tiến bộ: thúc đẩy phồn vinh thịnh vượng chung; tăng cường dân chủ và quản trị tốt; bảo vệ nhân quyền; cải thiện y tế toàn cầu; theo đuổi an ninh lương thực và nông nghiệp; cải thiện ổn định bền vững môi trường; giáo dục đào tạo từ xa; giúp đỡ các tầng lớp xã hội ngăn chặn và khôi phục từ các cuộc xung đột…
Nhưng thực chất là công cụ của chính quyền Mỹ để can thiệp và gây rối vào công việc nội bộ các quốc gia Mỹ không ưa.
Là "tổ chức dân sự" dạy các đảng phái, phe đối lập muốn làm CM phương pháp quảng cáo, tiếp thị quần chúng, lập báo cáo tin tức, tìm chủ đề CM, tổ chức biểu tình, tổ chức nổi loạn quần chúng. Dưới vỏ bọc “hỗ trợ dân sự”, “trợ giúp phát triển” cho nước ngoài và hoạt động khắp thế giới. Tổ chức này vừa bị đóng cửa ở Nga vì tiền sử cung cấp tiền bạc và kích động phe đối lập. USAID do TT Kennedy lập năm 1961, mặc dù mang tiếng là tổ chức độc lập, nhưng không hề che đậy hoạt động dưới sự dẫn dắt của TT Mỹ, bộ ngoại giao và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ.
2. IRI (International Republican Institute)
Viện cộng hòa quốc tế, lãnh đạo là quí ông lướt sóng hồ Trúc Bạch, diều hâu John McCain. IRI do TT Reagan thành lập năm 1982 nhằm phổ biến dân chủ, được cấp vốn từ chính phủ Mỹ cho các chương trình chính trị, các dự án dân chủ hóa. Có bề dày thành tích gây bạo loạn và lật đổ, ví dụ như phế bỏ TT dân bầu Aristide của Haiti, lập bù nhìn thân Mỹ, hay bạo loạn “mùa xuân Arabia” vừa qua, lật đổ TT Mubarak. Phần lớn tiền tài trợ IRI đến từ USAID, bộ ngoại giao và NED.
Hoạt động của IRI bao gồm cả đào tạo các “nhà dân chủ”, đặc biệt là Ai Cập và Tunisia. Trích wiki: "Một số các nhóm và các cá nhân trực tiếp tham gia vào các cuộc nổi dậy và những cải cách sâu rộng trong khu vực, trong đó có Phong trào thanh niên Ai Cập, Trung tâm Bahrain vì nhân quyền và các nhà hoạt động cơ sở như Entsar Qadhi, một thủ lĩnh trẻ ở Yemen, được đào tạo và cấp tiền từ IRI, NDI, FH… là các NGO có trụ sở tại Washington.”
Báo cáo của Bộ tư pháp về tài trợ nước ngoài của các tổ chức NGO ở Ai Cập đã tiết lộ rằng IRI ở Ai Cập đã nhận được tài trợ của khoảng 7 triệu đô la của USAID cho bầu cử Ai Cập 2011-2012. Các nhà lãnh đạo quân sự của Ai Cập coi tài trợ của IRI là can thiệp vào công việc nội của nước này.
3. NDI (National Democratic Insitute for International affairs)
Viện dân chủ quốc gia về quan hệ quốc tế có lãnh đạo là quí bà ngoại trưởng Medeleine Albright. Rõ ràng nhất là NDI cùng NED tài trợ phe đối lập Chavez cũng như bạo loạn hiện nay ở Venezuela. NDI từng đóng vai trò quan trọng trong việc Liên bang Nam Tư tan rã và bạo loạn Kosovo. NDI hoạt động ở cả Nga và Trung Quốc.
NGO này có trụ sở ở Washington và được thành lập bởi chính quyền Mỹ năm 1983 theo cùng 1 cách thức như NED để phổ biến dân chủ toàn cầu.
Theo sứ mệnh được tuyên, "NDI cung cấp hỗ trợ thực hành cho các lãnh đạo chính trị và dân sự để phát triển giá trị, thực hành và tổ chức dân chủ.” Nếu như IRI thuộc phe Cộng hòa thì NDI thuộc phe Dân chủ, mặc dù ranh giới nhiều khi không thật rõ ràng. Triển khai sứ mệnh, NDI bảo trợ hoạt động cho cả các tổ chức chính trị và dân sự ở 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm giám sát các cuộc bầu cử, cổ súy dân chúng các nước lập các đảng phái đối lập, các NGO thúc đẩy chính sách mở cửa, và chính phủ đa đảng phái. Sáu nhiệm vụ chính của NDI: sự can dự của công dân vào chính quyền, tiến bộ bầu cử, đảng phái chính trị, phụ nữ trong chính sách, dân chủ và công nghệ dân chủ, quản trị dân chủ.
Các nhà tài trợ rót tiền cho viện này là USAID và NED, là các đại gia dầu mỏ: Chevron, Exxon, Texaco and Enron. Dân chủ là công cụ để gây hỗn loạn và làm suy yếu các quốc gia độc lập để trục lợi, theo cách hiểu từ hoạt động của Viện dân chủ, không phải theo tuyên bố.
4. NED (National Endowment for Democracy)
Quĩ bảo trợ dân chủ quốc gia được Quốc hội Mỹ thành lập năm 1983 với sứ mệnh “phổ biến dân chủ”. Một trong những lãnh đạo NED là Vin Weber, cựu nghị sĩ tân diều hâu, người sáng lập "Empower America" với quan điểm chính trị đơn giản: Mỹ phải chiếm ưu thế tuyệt đối về sức mạnh quân sự để giải quyết các tranh chấp. NED cầm đầu các tổ chức khác như IRI, NDI, CIPE (Chamber of Commerce's Center for International Private Enterprise), ACLS (American Council of Learned Societies) hay AFL-CIO (American Center for International Labor Solidarity).
Tất cả số đó đều có quan hệ mật thiết với các tổ chức Phi chính phủ NGO khác. Chúng hoạt động trải rộng ở các nước thuộc thế giới thứ 3: Việt Nam, Myanmar, Cambodia, China, Nga… Năm 1980, bọn chúng can thiệp vào bầu cử Pháp, tài trợ nhóm cực hữu NIU và dùng chúng tấn công phe tả. Nhưng hoạt động của NED được biết rõ nhất là dưới sự điều khiển của CIA, người ta ví NED là con ngựa gỗ (Trojan Horse) của CIA. Allen Weinstein, một lãnh đạo NED phát biểu năm 1991: "Vô số những gì NED làm ngày hôm nay đã được CIA làm vụng trộm 25 năm qua." Bush tăng ngân sách gấp đôi cho NED năm 2004.
Phạm vi hoạt động của NED và các chi nhánh của nó rất rộng, gây ảnh hưởng đến các tiến trình chính trị các quốc gia, từ gây tác động xã hội dân sự, truyền thông, nuôi dưỡng các nhóm doanh nhân, nuôi ăn các nhóm nhân quyền, cấp tiền và thuê mướn các lực lượng ủng hộ các đảng phái chính trị, các chính khách, theo dõi và tung tin đồn bầu cử gian lận nếu không vừa lòng. Đặc biệt NED thường o bế bảo kê giới đầu sỏ, doanh nhân, những kẻ theo đường hướng tân tự do, mở cửa.
Tuy nhiên, NED hầu hết cấp tiền qua các tổ chức trung gian như kể trên. Từ xung đột Kosovo – Nam Tư, cho đến các cuộc cách mạng màu: Hoa hồng ở Gruzia, cách mạng Cam ở Ukraine, Hoa Tuy-lip ở Kyrgyzstan, bạo loạn Tân Cương – Trung Quốc... đều được NED cấp tiền hết sức dồi dào.
Thành viên Ban quản trị NED hầu hết là các nhân vật đứng đầu chính quyền Mỹ: Henry Kissinger, Madeleine Albright, Frank Carlucci, Zbigniew Brzezinski, Wesley Clark, cựu giám đốc WB Paul Wolfowitz, thượng nghị, đại diện thương mại Bill Brock…
5. Freedom House
Hội đoàn quyền tự do, lãnh đạo là cựu CIA James Woolsey, một tân diều hâu.
Freedom House tự tuyên truyền mình là “tiếng nói trong sạch vì tự do dân chủ khắp thế giới”. Là tổ chức già đời được thành lập cách đây hơn 60 năm bởi Wendell Willkie và Eleanor Roosevelt (vợ) , 2 thủ lĩnh liberals Mỹ. Hội đoàn tự do cổ vũ mạnh giá trị dân chủ và kiên quyết chống cả cực tả lẫn cực hữu. Nó bênh vực kế hoạch Marshall tái thiết châu Âu sau WW-II, các phong trào dân sự ở Mỹ thập kỷ 50 và thuyền nhân Việt Nam cuối thập kỷ 70, phong trào Đoàn kết ở Ba Lan và phe đối lập dân chủ ở Phillippines thập kỷ 80 cùng rất nhiều phong trào dân chủ khác. Đặc biệt Freedom House chống lại độc tài Pinoche, tay sai bù nhìn Mỹ ở Chile, chủ nghĩa apartheid ở Nam Phi, đàn áp Mùa xuân Praha, LX đưa quân vào Afghan, vi phạm nhân quyền ở Cuba, Burma, China, và Iraq.
Freedom House bênh vực mạnh cho các hoạt động dân chủ, tự do tôn giáo, tự do báo chí, các liên minh thương mại và tự do thị trường.
6. Open Society Institute
Viện xã hội Mở của tài phiệt George Soros. Hắn còn lập một số tổ chức để tài trợ các viện tự do, các nhà báo, sinh viên, các đoàn thể chuyên nghề biểu tình, các hội thảo "khoa học" xã hội... Viện xã hội mở của Soros đã chi tiêu và hoạt động mạnh ở Đông Âu thập kỷ 80-90. Ngoài ra, Soros còn cấp tiền và thao túng Human Right Watch, bản thân hắn là giám đốc điều hành HRW.
7. CMD (Center for Media and Democracy)
Trung tâm Truyền Thông và Dân Chủ thì lộ rõ là "Can thiệp dân chủ" như Ron Paul buộc tội, chúng tác động đến các kết quả và các tiến trình CT ở các quốc gia bằng con đường vừa công khai vừa vụng trộm. Trung tâm này và nhiều tổ chức kể trên lại không được phép hoạt động trên đất Mỹ.
Hầu hết các nhà thuyết giáo Dân Chủ, là cỗ máy tuyên truyền, cỗ máy ăn tiền được CIA cấp vốn, thường là trực tiếp từ quyền lực tối cao Washington. Chỉ có Viện xã hội Mở của George Soros là độc lập với Washington nhưng chức năng thì tương tự: tuyên truyền quảng cáo những cái dơ dáy bẩn thỉu đểu giả DÂN CHỦ MỸ được tô trát son phấn đẹp đẽ và xức nước hoa thơm lừng.
VẬY NÊN:
- Hãy cẩn trọng với các Tổ chức phi chính phủ hoạt động phi lợi nhuận vì các mục tiêu cộng đồng, xã hội, dân sự!
- Đừng thấy đỏ mà tưởng chín! Đừng thấy ngon ăn mà tưởng bở, đừng vì lợi ích trước mắt mà mờ mắt để rồi sập bẫy tai họa, hối không kịp!
- Nhớ rằng chiếc áo không làm nên thầy tu!
- Không có người dốt, chỉ có kẻ lười học, lười tư duy.
- Đừng a dua theo hội chứng đám đông một cách mù quáng và thiếu tư duy./.
Lợi ích dân tộc
- Khái niệm lợi ích dân tộc có nội hàm rộng, bao hàm trong đó tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn; cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia dân tộc. Các dân tộc trên thế giới đều coi lợi ích căn bản nhất của dân tộc là Tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh, lãnh thổ toàn vẹn (bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa), nhân dân làm chủ đối với Tổ quốc mình.
Dân tộc là cộng đồng xã hội - tộc người tương đối ổn định, bền vững, được thành lập trong lịch sử, bao gồm những cá nhân, nhóm, tập đoàn, cộng đồng người… có quan hệ cộng đồng thường xuyên, trực tiếp về các mặt: ngôn ngữ, lãnh thổ, không gian kinh tế và sinh hoạt kinh tế, nhà nước và pháp luật, bản sắc văn hóa, tâm lý tính cách, do đó có quan hệ cộng đồng về những lợi ích có tính lịch sử, những lợi ích dân tộc. Lợi ích dân tộc là một trong những yếu tố cơ bản nhất, là cơ sở và động lực của sự phát triển của các dân tộc.
VẠCH MẶT TRƯƠNG HUY SAN VÀ DANH HIỆU "AHLLVT" CỦA LÊ HỮU THẢO!
LỊCH SỬ KHÔNG THỂ LÀ MÔN HỌC TỰ CHỌN!
NGÀY NÀY 47 NĂM TRƯỚC!
BIÊN GIỚI GỌI LÊN!
XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CHÍNH LÀ PHÁ HOẠI TƯƠNG LAI!
Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản khỏi Việt Nam, sau này đã viết: “Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”.
Thế mà đáng tiếc, gần 47 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ chẳng những đi ngược tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai mà còn khoét sâu những vết thương bởi mù quáng và bạo tàn. Hành động của họ xét cho cùng cũng chính là sự phá hoại tương lai…
XUYÊN TẠC, ĐÁNH TRÁO, XÓA NHÒA LỊCH SỬ
Cứ đến dịp kỷ niệm 30/4 hằng năm, lại xuất hiện những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm. Gần đây, trên một trang xưng là của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn nhắc lại những từ ngữ như “tháng Tư là tháng "vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận-tháng tư đen”. Nhiều trang mạng viết coi cuộc kháng chiến thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào. Một số ít người tự cho mình là cấp tiến, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.
Cù Huy Hà Vũ, kẻ sinh ra trong một gia đình cách mạng, từng bị tòa án tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Gần đây, khi sang Mỹ, Vũ phát ngôn cho rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và "thua cuộc" mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải”.
Nguyễn Lân Thắng, "kẻ đốt đền" trong một gia đình khoa học thì lại muốn nổi tiếng bằng những lời xảo ngôn: "Mình mong ngày 30/4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc, đừng nói chuyện ai thắng, ai thua".
Lý Thái Hùng, kẻ tự xưng là "tổng bí thư" của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã hô hào biến ngày 30/4 từ "quốc hận" trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản.
Tháng 9/2018, tại Washington (Mỹ), cái gọi là “tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” đã tổ chức hội thảo có chủ đề “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam” và đưa ra một số luận điểm bịa đặt, biện hộ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ kêu gọi: “43 năm qua, Việt Nam vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ. Thành ra sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”.
Xung quanh bộ phim tài liệu 10 tập The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) được Mỹ công chiếu, một số người trong nhóm "Văn đoàn độc lập" đã xét lại lịch sử: “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của đất nước thì quý biết nhường nào?”. "Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?".
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN SỰ THẬT VÀ ĐẢO NGƯỢC CHÂN LÝ
Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 47 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ:
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".
Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30/4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù… để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt”.
Gần đây, trả lời báo chí về bộ phim tài liệu The Vietnam War, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước".
Trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết một trong những đặc điểm nổi bật về cuộc kháng chiến là: “Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc…”. Những kẻ ngày nay xuyên tạc cho rằng bên này, bên kia mới là thắng cuộc, bên này mới là giải phóng bên kia… chẳng những không hiểu cội nguồn lịch sử mà còn xúc phạm xương máu cha ông.
Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam; chỉ một bộ phận chống cộng, mang nặng hận thù và những kẻ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngày nay mới tin vào những luận điệu như chiến tranh ý thức hệ, nội chiến hay quan điểm lập lờ “bên nào thắng thì nhân dân đều bại”(!).
Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”.
Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ viết: "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.
Theo các tài liệu mới được giải mật của chính quyền Mỹ, ngày 27/9/1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ xác định mục tiêu lâu dài của Mỹ là “thủ tiêu ở mức tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ”. Ngày 30/12/1949, Tổng thống Mỹ S.Truman phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, trong đó nêu rõ: “Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương... Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ”. Điều này cũng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: "Bác Hồ đã sớm nhìn thấy âm mưu đen tối của Mỹ. Từ 1950, Bác đã chỉ ra sự dính líu và can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Ðông Dương. Ðể tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ S.Truman...” nhưng không có phản hồi.
Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”…
QÚA KHỨ - DÒNG MÁU LẠC HỒNG TẠO NÊN NHÂN CÁCH
Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn.
Không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi người dân yêu nước Việt Nam cũng cần phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ phải. Quá khứ không chỉ là lịch sử mà còn là hành trang, là sức mạnh tinh thần, là dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách của mỗi người dân đất Việt. Nếu quên tổ tiên, quên công lao của thế hệ đi trước, quên những hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc thì không thể là người Việt Nam chân chính.
Phẫn nộ với ý kiến cho rằng "không cần chiến tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh", nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.
Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc cũng như chiến công của những người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phóng vấn Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, nói: “Chiến thắng 30/4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại".
Cựu thủ tướng ngụy quyền Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận xét về việc gọi ngày 30/4 là "quốc hận" và đòi "phục quốc": "Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây... đâu mà phục quốc?".
BÀI HỌC CHO TƯƠNG LAI
Ngay cả những người Mỹ đương đại cũng luôn nhìn lịch sử với sự tôn trọng để rút ra bài học cho tương lai. Trong bài thuyết trình "Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử" trình bày tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh năm 2018, Giáo sư D.G.Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard nói: “Lịch sử soi rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình dung và đấu tranh cho hòa bình”.
Chúng ta cũng có thể tham khảo được nhiều bài học từ nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, đã xuất hiện nhiều tiếng nói phủ nhận những thành tựu thời Xô viết, xét lại Cách mạng Tháng Mười, coi đó như một cuộc đảo chính man rợ, coi chế độ Xô viết như chủ nghĩa phát xít… Thế nhưng sau đó, chính quyền từ thời Tổng thống Nga Putin đã nhanh chóng bác bỏ những quan điểm sai trái trên, tiếp tục đề cao các giá trị truyền thống tốt đẹp thời Xô viết, coi đó là niềm tự hào chung để cố kết dân tộc Nga, tăng thêm sức mạnh. Phê phán những quan điểm sai trái, một bài báo từ hãng thông tấn Sputnik của Nga khẳng định: Không có chính quyền dân chủ nào được lập nên trên đầu mũi súng và không có nền dân chủ nào lại xúi giục những người anh em trong cùng một đất nước bắn giết lẫn nhau, dối trá và phỉ báng lịch sử của mình.
Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở", "dập tắt chiến tranh muôn đời”./.
Hải Đăng ST
Nhà báo Hà Đăng: “Viết về Đảng là viết về người lãnh đạo cách mạng”.
Ở tuổi trên 90 nhưng nhà báo Hà Đăng (ảnh bên), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) vẫn nhanh nhẹn, minh mẫn. Không chỉ vậy, đồng chí vẫn viết báo, dự hội thảo, thường xuyên trả lời phỏng vấn báo chí về lĩnh vực xây dựng Đảng và vẫn tham gia chấm Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (mang tên Búa liềm vàng). Nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, phóng viên Tạp chí Xây dựng Đảng đã có cuộc trò chuyện cùng nhà báo Hà Đăng.
Phóng viên: Là người làm báo lâu năm, đồng chí đánh giá thế nào về công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng trên báo chí hiện nay?
Nhà báo Hà Đăng: Tuyên truyền về xây dựng Đảng cùng với tuyên truyền về phát triển kinh tế - xã hội trong hệ thống báo chí là một trong hai trọng điểm. Báo chí tuyên truyền về xây dựng Đảng gồm nhiều mặt, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Gần đây, bên cạnh việc tập trung tuyên truyền xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng còn nổi lên tuyên truyền về đạo đức. Mấy nhiệm kỳ vừa qua, đặc biệt là nhiệm kỳ Đại hội XII, chúng ta đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trong công tác xây dựng Đảng. Bên cạnh đó cũng còn một vấn đề nghiêm trọng, đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đi theo hiện tượng suy thoái này còn có biểu hiện của sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được coi là bước “ngắn” nhất dẫn tới đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong xây dựng Đảng, mặt “xây” là chủ yếu và cơ bản nhất, nhưng cũng phải “chống” lại sự suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Chống” là rất cấp bách, tất nhiên phương châm về xây dựng Đảng bao giờ cũng lấy cái “xây” là chính, là cơ bản, bởi có “xây” mới thành cái tốt được. “Chống” là cấp bách bởi sự suy thoái là rất nghiêm trọng, nếu sơ hở một chút là chúng ta đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng, dẫn đến Đảng mất lòng tin trong Nhân dân. Trong các nguyên nhân dẫn tới làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng thì mất lòng tin trong Nhân dân là nguy hiểm nhất. Như thế công tác xây dựng Đảng phải tạo nên nhân tố tích cực, khắc phục tiêu cực để lấy lại niềm tin của Nhân dân.
Nếu đánh giá về sự đóng góp của báo chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, bên cạnh tuyên truyền đường lối nói chung cũng phải nói đến vấn đề tuyên truyền về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong tuyên truyền về xây dựng Đảng, chúng ta phải đưa mặt tốt, mặt tích cực, cái chúng ta cần xây dựng lên, đồng thời phải đấu tranh với mặt suy thoái. Hiện nay trong hệ thống báo chí của Đảng có hai tờ báo lớn nhất, quan trọng nhất là Báo Nhân Dân và Tạp chí Cộng sản. Bên cạnh đó, tôi nghĩ Báo Quân đội nhân dân cũng có nhiều việc làm rất tốt, đặc biệt gần đây thể hiện rất rõ vai trò đấu tranh với các thế lực sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngoài ra cũng còn nhiều cơ quan báo chí khác nữa làm rất tốt công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng nhưng cũng tùy thuộc vào từng lĩnh vực của họ và cơ quan chủ quản, địa phương phụ trách. Khi đánh giá một cơ quan báo chí phải hiểu một cách toàn diện, đánh giá một cách khách quan. Mặc dù được biểu dương, nhưng cũng đừng nên nói ta đã làm tốt nhất mà cần cố gắng phát huy. Người làm báo phải trung thành, trung thực, nhất là “không ngủ quên trên vòng nguyệt quế”.
Gần đây, Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (mang tên Búa liềm vàng) do Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Truyền hình Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam đồng tổ chức đã mang đến “luồng sinh khí” mới cho công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng. Dù “sinh sau đẻ muộn” so với nhiều giải báo chí khác, song Giải Búa liềm vàng đã khẳng định được vị thế, uy tín của mình trong đời sống báo chí nước nhà, nhờ đó thu hút, động viên, khuyến khích nhiều cây bút chuyên và không chuyên đến từ khắp các cơ quan báo chí trong cả nước tham dự. Tất nhiên, người viết tác phẩm báo chí mà chỉ chăm chăm giải thưởng thì có thể sẽ có nhiều điều không hay, nhưng đó cũng là động lực để họ phấn đấu, nỗ lực. Cùng với Giải Báo chí quốc gia, có thể nói Giải Búa liềm vàng là giải báo chí được các nhà báo mong chờ và khát khao chinh phục nhất trong sự nghiệp làm báo của mình. Và nói đến Giải Búa liềm vàng, chúng ta cũng không thể không nói đến vai trò và những đóng góp xứng đáng của Tạp chí Xây dựng Đảng với tư cách là Cơ quan Thường trực của Giải.
Phóng viên: Để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng, theo đồng chí đâu là giải pháp?
Nhà báo Hà Đăng: Cái cuối cùng nhất, then chốt nhất vẫn là vấn đề cán bộ. Muốn tuyên truyền tốt về xây dựng Đảng, mỗi cơ quan báo chí tùy chức năng, nhiệm vụ phải nắm vững đường lối chính trị của Đảng. Muốn làm tốt được điều đó thì phải tăng cường học tập, rèn luyện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về tư tưởng, đạo đức, phong cách, phải có nhận thức cho đúng, viết báo để phục vụ sự nghiệp cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong mỗi cơ quan báo chí có Ban Biên tập phụ trách, lãnh đạo, có đội ngũ người làm báo, viết báo, nhưng còn phải có đội ngũ cộng tác viên là những trợ thủ đắc lực, là “cánh tay” nối dài của cơ quan báo chí. Phải không ngừng vận động, khuyến khích đội ngũ cộng tác viên, nhất là những nhà nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng tham gia viết bài để tờ báo trở nên sinh động, nhiều màu sắc. Bác Hồ từng nói: “Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài mà không có đức là người vô dụng”. Rõ ràng, tài và đức đều quan trọng, nhưng đức phải là cái gốc của người làm báo.
Cơ quan báo chí cũng phải có nhiệm vụ đi sát thực tế để xem công tác tuyên truyền đưa vào đời sống nhân dân ra sao, đồng thời phát hiện ra khuyết điểm, để từ đó khắc phục, sửa chữa, làm cho Đảng ta ngày một tốt lên. Điều đó đặt ra cho nhà báo nhiệm vụ là phải đi sâu, đi sát vào thực tiễn cuộc sống và tuyệt đối không bao giờ được tự cao, tự mãn, viết được bài báo hay đã tưởng là mình giỏi hay mình hơn thiên hạ. Gần đây chúng ta thường nói: “Muốn đưa nghị quyết vào cuộc sống thì trong nghị quyết phải có cuộc sống”. Thực tế đời sống rất sinh động, đó sẽ là nơi nhà báo làm nên những tác phẩm báo chí gần gũi, chân thực, có sức lay động công chúng và cũng có thể nói thực tế là “thầy” của nhà báo. Tôi chợt nhớ đến lời dạy của đồng chí Tố Hữu từng căn dặn lớp nhà báo trẻ chúng tôi ngày trước: “Làm báo Đảng phải có 3 bằng đại học, đó là đại học chính trị, đại học văn hóa và đại học đường đời”. Kiểm nghiệm từ bản thân hơn 70 năm cầm bút, tôi có thể khẳng định bằng “đại học đường đời”, tức lăn lộn vào thực tế đời sống là rất quan trọng.
Đội ngũ nhà báo luôn tồn tại lớp trước và lớp sau. Cái suy nghĩ lớp trước chỉ muốn dạy dỗ lớp sau là không đúng. Lớp sau cũng phải thấy được ở lớp trước nhiều ưu điểm, mình cần phải học tập, nhưng đừng nghĩ cái gì người đi trước cũng giỏi nhất. Thế hệ trước đừng bao giờ cho rằng mình đã đạt đến đỉnh và lớp trẻ không bao giờ đạt tới rồi sinh ra coi thường, không tin tưởng vào lớp trẻ, tức là không tin tưởng vào sự phát triển của báo chí. “Tre già măng mọc”, đó là quy luật. Lớp trước tuổi cao sức yếu, có ai giỏi toàn diện đâu. Như tôi bây giờ viết bài báo khó lắm, trước đây ngồi “múa bút” mấy tiếng đồng hồ là được bài xã luận, bình luận chính trị, còn bây giờ leo vài bậc cầu thang đã mệt, huống chi vắt óc mấy tiếng viết bài?! Nhà báo phải mang trong mình khát vọng có những bài báo hay nhưng không phải làm báo để lưu danh. Phải nên nhớ tri thức của nghề báo là vô tận nên mỗi nhà báo phải ra sức học tập, rèn luyện, thế hệ trước và thế hệ sau, lớp già và lớp trẻ giúp đỡ lẫn nhau để tiếp nối truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam, một nền báo chí đã trải qua gần một thế kỷ.
Phóng viên: Thưa nhà báo Hà Đăng, người làm báo vẫn thường nói viết về Đảng là gắn liền với 3 chữ “k”: Khó, khô, khổ. Quan điểm của nhà báo về vấn đề này như thế nào?
Nhà báo Hà Đăng: Tôi nghĩ khổ và khó thì chắc chắn rồi, bởi để viết được một bài báo hay, dù ở thể loại nào cũng phải lao tâm khổ tứ nhiều lắm, chứ đâu phải chỉ “múa bút” mà ra bài. Còn khô hay không lại là chuyện khác. Khô khan hay tươi mát, nhạt nhẽo hay đậm đà tùy thuộc khá nhiều vào tình cảm của người viết. Viết về Đảng mà không có lòng tin yêu, không có sự đam mê, chỉ cốt viết cho xong bài được giao, hoàn thành kế hoạch, sao tránh khỏi lời chê “khô như ngói”, “lạnh như băng”. Ngược lại, viết với niềm thiết tha, tâm huyết với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, thấu hiểu tinh thần “cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén” thì ai có thể nói đó là khô?
Nói về việc này tôi lại nhớ đến một kỷ niệm cũng vào thời điểm này nhưng cách đây 20 năm về trước. Trong bài “Viết về Đảng, trách nhiệm và vinh dự của người làm báo” tham luận đọc tại Hội thảo “Báo chí viết về Đảng Cộng sản Việt Nam” do Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức, tôi có mấy dòng: “Viết về Đảng tức là viết về người lãnh đạo cách mạng, về công việc lãnh đạo mà cứ như là viết về chính bản thân cuộc sống - cuộc sống của cách mạng, của Nhân dân và của chính mình”. Tham luận này được đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 12 tháng 6-2001. Ngay sau đó, tòa soạn nhận được sự phản ứng dữ dội của một cộng tác viên, cũng là chuyên viên nghiên cứu về Đảng. Đồng chí ấy nói: “Viết vậy là sai quan điểm. Tại sao lại nói viết về Đảng là viết về người lãnh đạo? Thế có viết về cán bộ, đảng viên không?...”.
Đồng chí Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản hồi đó đã viết thư trả lời, phê phán bằng những lời lẽ gay gắt: “Lời phê phán của cộng tác viên là vô trách nhiệm, không đọc kỹ bài báo mà đã vội vàng chụp mũ”. Nghe nói, đồng chí cộng tác viên ấy về sau rất hoang mang. Tôi làm lành. Thôi mình viết mà để người ta hiểu lầm thì mình cũng có phần trách nhiệm. Toàn văn đoạn tôi viết như sau: “… Làm thế nào để mọi người làm báo chúng ta đều cảm thấy có vinh dự lớn lao được cầm bút viết về Đảng, và vì vinh dự ấy thấy trách nhiệm nặng nề khi cầm bút. Hơn thế nữa, khi trách nhiệm và vinh dự đã hòa quyện với nhau thành bản năng thì ngòi bút sẽ trở nên thanh thoát, phóng khoáng và sinh động. Viết về Đảng tức là viết về người lãnh đạo cách mạng…”.
Người lãnh đạo cách mạng nói ở đây không ai khác chính là Đảng Cộng sản Việt Nam!
Phóng viên: Xin cảm ơn nhà báo Hà Đăng về cuộc trò chuyện thân tình này. Xin kính chúc nhà báo thật nhiều sức khỏe, tiếp tục có những tham góp đầy trách nhiệm với những người làm báo, nhất là đội ngũ những nhà báo trẻ hôm nay.
Điểm tựa vùng biên.
Đảng bộ Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị có 24 TCCSĐ, hơn 900 đảng viên. Thời gian qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, coi trọng việc dựa vào dân, lấy dân làm gốc để xây dựng thế trận biên phòng toàn dân, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đơn vị là lá cờ đầu trong các phong trào thi đua và triển khai các mô hình đồng hành, hỗ trợ bà con biên giới.
Củng cố TCCSĐ vùng biên
Tỉnh Quảng Trị nằm ở phía bắc miền Trung, điểm khởi đầu trên con đường xuyên Á nối Việt Nam với các nước trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây, có tuyến biên giới cả trên biển lẫn đất liền. Với vị trí chiến lược, việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, biển đảo là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng và một phần trách nhiệm nặng nề ấy đặt lên vai lực lượng BĐBP. Trong đó, Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Trị luôn xác định xây dựng và củng cố TCCSĐ vùng biên là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa quyết định để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị.
5 năm qua, BĐBP tỉnh đã tổ chức 4.823 đợt, với 18.061 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia tuần tra đơn phương, phát hiện 710 lượt tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển, tổ chức tuần tra xua đuổi 668 lượt; chủ trì, phối hợp đấu tranh thành công 41 chuyên án, 167 vụ án, qua đó đã bắt giữ 334 đối tượng về buôn bán và tàng trữ ma túy. Ngoài ra, đơn vị cũng phát động 3 xã, 41 thôn, bản, với 4.672 người tham gia mô hình “Xã, thôn, bản không có tội phạm ma túy”. Đến nay, BĐBP tỉnh đã thành lập 35 tổ tàu, thuyền an toàn trên biển với 954 tàu và 2.384 thuyền viên tham gia; 976 hộ tham gia tổ tự quản đường biên, cột mốc; 193 tổ tự quản an ninh trật tự thôn, bản và biển đảo.
Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã cử cán bộ biên phòng là đảng viên về cơ sở, tạo “cầu nối” vững chắc giữa Đảng, Quân đội với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới. Nhiệm kỳ 2015-2020, BĐBP tỉnh đã cử 17 cán bộ tham gia cấp ủy cơ sở nơi biên giới giữ chức phó bí thư đảng ủy xã; 15 cán bộ tham gia HĐND xã; 42 đảng viên tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản; phân công 353 đảng viên thuộc 14 đồn biên phòng phụ trách 1.798 hộ gia đình với 8.747 khẩu ở khu vực biên giới.
Với tinh thần “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trên hai tuyến biên giới đã tự nguyện đóng góp lương, phụ cấp và kêu gọi sự ủng hộ của các tổ chức bên ngoài để hỗ trợ bà con biên giới xây nhà, làm đường. Nhiều dự án, công trình do BĐBP tỉnh triển khai và làm chủ đầu tư như đường Sa Trầm - Pa Tầng, Lao Bảo - Hướng Phùng; điện ở Hướng Phùng; nước sạch ở A Ngo; trồng và bảo vệ rừng theo Dự án 661 của Chính phủ... được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả, tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần cho đồng bào vùng biên giới.
Quán triệt phương châm “Bốn tại chỗ”, lực lượng BĐBP tỉnh đã làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai và khắc phục hậu quả lụt, bão. Năm qua, khi các tỉnh miền Trung chịu thiệt hại nặng nề do mưa lũ, BĐBP là lực lượng xung kích đi đầu trong việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, di dời dân đến nơi trú ẩn an toàn, cung cấp lương thực, nước uống và khám chữa bệnh cho nhân dân…
Trong phòng, chống COVID-19, BĐBP tỉnh đã triển khai 84 chốt cố định, 23 tổ cơ động với 531 cán bộ, chiến sĩ tham gia túc trực 24/24 giờ trên tuyến biên giới Việt - Lào từ khi có dịch đến nay.
Hiệu quả từ một mô hình
BĐBP tỉnh Quảng Trị là một trong những đơn vị đi đầu trong toàn quân về việc triển khai vận động quần chúng, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh với nhiều mô hình, chương trình đậm tính nhân văn, tạo sự lan tỏa trong xã hội cao như xây dựng “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”, “Ánh sáng vùng biên”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Xuân biên giới, ấm lòng dân bản”, “Ổ bánh mì nơi biên giới”, “Nâng bước em đến trường”… Đặc biệt trong số đó phải kể đến mô hình “Con nuôi Biên phòng”, BĐBP tỉnh đã nhận nuôi các em mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn...
Nói đến mô hình “Con nuôi Biên phòng”, từ tháng 10-2018, trước khi Bộ Tư lệnh BĐBP phát động mô hình này trong toàn lực lượng (tháng 5-2019), Đồn Biên phòng A Vao (Quảng Trị) đã nhận nuôi 9 anh em trong một gia đình người dân tộc Pa Kô ở bản Pa Lin; cháu lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 5 tuổi. Đích thân Thượng tá, Đồn trưởng Ngô Đức Tuyến tìm hiểu hoàn cảnh, đưa các em về nuôi và trở thành “bố nuôi”, nâng bước các em tới trường.
Hành trình đưa các em tới trường chẳng hề dễ dàng, bởi hầu hết người dân vùng biên là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn hạn hẹp. Để thuyết phục gia đình 9 cháu nhỏ, lãnh đạo Đồn Biên phòng A Vao cử một tổ công tác lên tận nhà “cùng ăn, cùng ở” để vận động, thuyết phục gia đình. Dẫu vậy, cha của những đứa trẻ vẫn chưa tin bộ đội. Tổ công tác đã mời cha các em đến thăm nơi ăn chốn ở của các em do đơn vị chuẩn bị. Tận mắt chứng kiến nơi sau này các con mình sẽ sinh hoạt có đầy đủ tiện nghi, bữa cơm có đủ chất dinh dưỡng, không phải độn sắn, độn củ rừng, cha của 9 đứa trẻ đã đồng ý cho các con mình làm “con nuôi” của Đồn. Những ngày đầu, 9 đứa trẻ thường xuyên khóc vì nhớ nhà, các chiến sỹ của Đồn đã luôn quan tâm, động viên để các cháu sớm hoà nhập với cuộc sống mới. Vậy là từ đó, những đứa trẻ ngây thơ, chưa biết tới con chữ đã được tới trường, được ăn uống đầy đủ, nơi ở sạch sẽ, thoáng mát, được trang bị đầy đủ đồ dùng cá nhân. Nhưng trên hết, các em đã có thêm nhiều người “bố nuôi” là các chiến sỹ biên phòng trực tiếp quản lý, hướng dẫn, chăm lo, dạy dỗ.
Bắt đầu từ A Vao, đến nay mô hình này đã được nhân rộng tại 8 đồn biên phòng trên toàn tỉnh, nuôi dưỡng 21 em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn (trong đó nuôi tại đồn, trạm biên phòng 15 em, nuôi tại nhà 6 em). Văn phòng Bộ Chỉ huy và các phòng, đơn vị còn lại giúp đỡ nuôi dưỡng 33 em với mức hỗ trợ mỗi em 200.000 đồng/tháng. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã hướng dẫn các đơn vị phối hợp với nhà trường, chính quyền địa phương lựa chọn những em thuộc gia đình chính sách, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để giúp các em có điều kiện ăn ở, học tập. Toàn bộ chi phí ăn, ở, học tập, sinh sống của các em đều do các cán bộ, chiến sĩ của lực lượng BĐBP tỉnh Quảng Trị đóng góp. Các em được lo cho chỗ ăn ở, được nuôi dạy đến khi tốt nghiệp THCS. Khi các cháu vào THPT thì sẽ thực hiện theo mô hình “Nâng bước em đến trường” để các cháu trở về sinh sống với gia đình. Đến nay, các đơn vị cơ sở trong BĐBP tỉnh đã “Nâng bước em tới trường” 92 học sinh có hoàn cảnh khó khăn, vượt khó (trong đó có 9 em người nước bạn Lào). Hằng tháng, đồn biên phòng hỗ trợ mỗi học sinh 500 ngàn đồng và cử những người “bố nuôi” kèm cặp, giúp đỡ, hướng dẫn các em học tập, định hướng nghề nghiệp phù hợp với điều kiện của mỗi em. Nhiều đồn biên phòng bố trí cho các em tham gia hoạt động tập thể, vui chơi giải trí để bồi dưỡng kỹ năng sống, khuyến khích các em phát huy năng khiếu, sở trường để phát triển tốt hơn. Các đồn biên phòng cũng cử cán bộ giữ mối liên hệ chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, gia đình và nhà trường nơi các em theo học, thường xuyên trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của từng em.
Những tấm gương tiêu biểu
Một tập thể vững mạnh luôn phát huy truyền thống của lực lượng, của quê hương Quảng Trị anh hùng đã xuất hiện nhiều cán bộ, chiến sĩ BĐBP như những tấm gương sáng vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, nhận được sự tin yêu của chính quyền và nhân dân trong tỉnh.
Tiêu biểu trong đó có Đại úy Lê Thừa Văn, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế (CKQT) Lao Bảo, người đã 3 lần hoãn cưới để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19. Anh là 1 trong 10 Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2020 và Gương mặt trẻ Việt Nam triển vọng năm 2020.
Lần hoãn cưới đầu tiên của anh là khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi tình hình dịch tạm thời lắng xuống thì tình hình xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới nước ta ở các cửa khẩu thuộc địa bàn tỉnh Quảng Trị vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan, người lính trẻ này lại quyết định hoãn cưới lần 2 vào tháng 9-2020. Khi anh dự kiến tổ chức đám cưới vào tháng 3-2021 thì đợt dịch COVID-19 thứ ba tại Việt Nam chưa kết thúc. Các đơn vị biên phòng tiếp tục duy trì 100% quân số tại đơn vị để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch, đồng nghĩa với việc đám cưới của cặp đôi này lại thêm một lần trì hoãn.
Đại úy Lê Thừa Văn chia sẻ: “Tôi xác định mình là cán bộ biên phòng làm công tác dân vận, nếu không gương mẫu thì làm sao tuyên truyền cho nhân dân nghe và làm theo được. Vậy nên, tôi quyết định thêm một lần nữa hoãn ngày vui của mình để cùng đồng đội bám trụ biên giới”.
Theo Đại úy Lê Thừa Văn, mặc dù chỉ cách nhau gần 5km, nhưng nhiều tháng qua, anh và vợ chưa cưới hiếm có dịp gặp nhau. Tập trung thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19, từ tháng 2-2020 đến nay, Đại úy Lê Thừa Văn và đồng đội ngày đêm tuần tra, kiểm soát chặt chẽ các đường mòn, lối mở tại khu vực biên giới, trực tiếp phát hiện, ngăn chặn kịp thời 105 công dân nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Bên cạnh đó, anh trực tiếp đến từng bản, từng gia đình để tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các quy định về phòng, chống dịch bệnh; vận động nhân dân không tiếp tay cho hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới. Năm 2020, anh cùng đơn vị phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị trấn Lao Bảo (huyện Hướng Hóa) hỗ trợ sửa chữa 9 nhà, cùng các gia đình xây mới 15 nhà, tổng giá trị 800 triệu đồng; kêu gọi, vận động các doanh nghiệp, các Mạnh Thường Quân hỗ trợ kinh phí thực hiện các mô hình “Bò giống cho người nghèo”, “Nuôi dê chuồng” cho hơn 100 hộ dân trong huyện.
Có một Gương mặt trẻ tiêu biểu BĐBP năm 2017, đó là Thượng úy Nguyễn Văn Bằng, Đội trưởng Tham mưu Hành chính, Đồn Biên phòng CKQT La Lay. Anh cùng đồng đội đã có nhiều chương trình giúp đỡ bà con các xã A Bung và A Ngo của huyện Đakrông lao động sản xuất, bảo vệ biên giới, xây dựng thôn, bản, cho con em đến trường. Đến nay Thượng úy Nguyễn Văn Bằng cùng đồng đội đã xây dựng thành công nhiều mô hình, phong trào mang đậm tính nhân văn, được chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao như: “Ánh sáng đường biên”, “Ổ bánh mì nơi biên giới”, “Nồi cháo nghĩa tình”, “Tiết học biên giới”...
Cũng tại Đồn Biên phòng CKQT La Lay, còn có tấm gương Thượng úy Nguyễn Thanh Sơn, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, tấm gương đảng viên trẻ tiêu biểu của toàn lực lượng biên phòng tỉnh. Thượng úy Sơn được phân công phụ trách 9 hộ gia đình thôn La Lay, xã A Ngo, huyện Đakrông. Bằng tình cảm và trách nhiệm của mình, anh đã thực hiện “3 cùng, 4 bám”, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hỗ trợ người dân thay đổi tập quán canh tác, mạnh dạn xóa bỏ những tập tục lạc hậu, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi. Mới đây anh đã để lại dấu ấn khi tham mưu với Đảng ủy, Ban Chỉ huy đơn vị phối hợp với Đoàn cơ sở Trung tâm Y tế huyện Đakrông triển khai thí điểm chương trình “Nồi cháo nghĩa tình” đến các bệnh nhân nghèo trên địa bàn. Chương trình như “liều thuốc vật chất và tinh thần” kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ người bệnh nghèo, khó khăn vượt qua những thử thách bởi bệnh tật.
Đó chỉ là ba trong số hàng trăm gương sáng chiến sỹ vùng biên của lực lượng BĐBP tỉnh Quảng Trị đóng góp vào thành tích chung của tập thể vững mạnh. Với những chiến công đã lập được, BĐBP tỉnh Quảng Trị đã nhận được nhiều phần thưởng của các cấp, các ngành, nhưng cao quý hơn cả là sự tin yêu của Nhân dân vùng biên đối với các chiến sĩ mang quân hàm xanh.
Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng
định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa
quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.
Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ
trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục
có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và
nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...







