Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Tiếp tục tạo đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế.

 - Một trong những nội dung đột phá chiến lược được Đại hội XIII của Đảng xác định là phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hiện nay, trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19, cần tiếp tục đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan các mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia TECHFEST 2021 và Tuần lễ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh WHISE 2021, với chủ đề: “Đổi mới sáng tạo, kiến tạo tương lai và phát triển các giải pháp công nghệ, ứng phó với đại dịch COVID-19 và phục hồi kinh tế năm 2021” _Ảnh: TTXVN

1- Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được khẳng định nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 1-11-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế” khẳng định quan điểm đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường; không tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái; chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại, tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước. Tùy theo tình hình thực tế của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo; chuyển dần từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang tăng trưởng dựa đồng thời vào cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước; chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khai thác và phát huy tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực(1). Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định, đổi mới mô hình tăng trưởng là “chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”(2).

Như vậy, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò rất quan trọng trong dịch chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững kết hợp với dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực.

Quan điểm về đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đặt ra một số yêu cầu trọng tâm đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đó là, cần góp phần vào cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chuyển dịch mạnh sang các lĩnh vực tiên tiến, hiện đại; thúc đẩy tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh; thúc đẩy phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, tham gia có hiệu quả vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Chủ trương phục hồi và phát triển kinh tế ở nước ta trong bối cảnh thích ứng linh hoạt, an toàn và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19 vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, thể hiện sự chủ động, ứng phó linh hoạt với những biến động trong nước và thế giới, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế trên toàn cầu. Thực chất phục hồi và phát triển kinh tế chính là thúc đẩy nhanh hơn, mạnh mẽ hơn đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay. Do đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước khác trên thế giới trong bối cảnh khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, chuyển đổi trạng thái hoạt động kinh tế phù hợp với yêu cầu sống chung với đại dịch... và tham gia tích cực vào thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, nâng cao chất lượng và năng lực y tế dự phòng, bảo đảm đủ vắc-xin, thuốc điều trị...

Kinh nghiệm thế giới cũng cho thấy vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với phục hồi, phát triển kinh tế và bảo đảm công bằng trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Điển hình là các nước tiểu vùng sông Mê-kông đã phối hợp xây dựng “Kế hoạch ứng phó đại dịch COVID-19 và phục hồi của các nước tiểu vùng sông Mê-kông giai đoạn 2021 - 2023”, trong đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được nhấn mạnh nhằm tận dụng thời cơ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cao hiệu quả và tính bao trùm của nền kinh tế, bảo đảm các nước tiếp cận được vắc-xin COVID-19 an toàn, giá cả phải chăng, công bằng và hiệu quả.

Doanh nghiệp Việt Nam chế tạo thành công máy trợ thở trong ngành y tế _Ảnh: TTXVN

2- Từ những yêu cầu đặt ra của đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi phát triển kinh tế, có thể định hình những nội dung cơ bản, trọng tâm trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta thời gian tới, đó là:

Thứ nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tập trung phục vụ một số định hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội, như giữ vai trò quyết định việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và của nền kinh tế, đặc biệt là phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, sản phẩm chủ lực và thương hiệu quốc gia; làm chủ, tiếp thu, hấp thụ, ứng dụng nhanh chóng thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới; thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao nhờ ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại; thúc đẩy phát triển công nghiệp mũi nhọn, trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên nền tảng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; từng bước giảm tỷ trọng các ngành có năng suất lao động, giá trị gia tăng thấp, sử dụng công nghệ lạc hậu; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh từ tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bối cảnh hội nhập quốc tế và các thách thức của an ninh phi truyền thống; đề xuất giải pháp đổi mới phương thức quản lý xã hội trong điều kiện chuyển đổi số...; góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...

Thứ hai, hình thành một số dự án, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia lớn trong một số lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh và có tiềm năng nhằm giải quyết những vấn đề đặc biệt quan trọng trong dài hạn để phát triển đất nước. Cơ cấu lại các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ gắn với nhu cầu xã hội, chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo giá trị gia tăng.

Thứ ba, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đẩy nhanh thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển phong trào đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trên phạm vi toàn quốc, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước.

Thứ tư, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Tập trung chuyển giao, ứng dụng các công nghệ tiên tiến cùng với nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, trình độ, kỹ năng nguồn nhân lực, đổi mới quy trình sản xuất và kinh doanh, triển khai chuyển đổi số, áp dụng mô hình kinh doanh mới phù hợp với quá trình đổi mới công nghệ,... trong doanh nghiệp.

Thứ năm, đổi mới cơ cấu hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với định hướng ưu tiên phát triển quốc gia, ngành và lĩnh vực theo hướng tự chủ, liên kết, tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Phát triển mạnh mẽ hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vùng và địa phương. Thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo tại các vùng trọng điểm gắn với lợi thế kinh tế của vùng, địa phương. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tăng cường đầu tư về nhân lực, tài chính, kết cấu hạ tầng cho các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trực thuộc các sở khoa học và công nghệ trở thành đầu mối hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo tại các địa phương. Từng bước nâng cao tiêu chuẩn đối với các sản phẩm ngành, nghề truyền thống, sản phẩm OCOP để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong sản xuất.

Đại biểu tham quan khu trải nghiệm các thiết bị công nghệ sử dụng mạng 5G của VNPT tại Lễ công bố vùng phủ sóng VinaPhone 5G tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế. Nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước bám sát các xu hướng của thế giới, tiến tới đạt trình độ tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao.

Như vậy, có thể thấy, để đáp ứng được yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần phát triển nhanh, mạnh một số hướng mới và đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

3- Thời gian qua, thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế. Các cơ chế, chính sách được ban hành thể hiện sự nhất quán trong thực hiện chủ trương phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Hiện có 8 đạo luật chuyên ngành được ban hành liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, phát triển doanh nghiệp,... cũng từng bước được hoàn thiện, ngày càng đồng bộ hơn.

Tư duy quản lý nhà nước được đổi mới, pháp luật về khoa học, công nghệ ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới, dần đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta. Hành lang pháp lý trong lĩnh vực khoa học, công nghệ đồng bộ hơn đã tạo môi trường thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu sáng tạo, dần xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu. Đổi mới sáng tạo dần trở thành tư duy mới trong quản lý, điều hành; vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống sáng tạo quốc gia ngày càng được thể hiện rõ hơn. Việc thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học, công nghệ công lập được đẩy mạnh. Thị trường công nghệ, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ngày càng phát triển; hình thành doanh nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; các doanh nghiệp được khuyến khích thành lập viện nghiên cứu và đầu tư ngày càng nhiều cho các hoạt động khoa học, công nghệ; thí điểm mô hình thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học tài năng trong nước và trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang tích cực sửa đổi, bổ sung một số nội dung về đổi mới thể chế trong một số đạo luật và văn bản để trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành, như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Khoa học và công nghệ; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Năng lượng nguyên tử; Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030;... và nhiều văn bản dưới luật khác nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, có thể thấy, thời gian qua, thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Pháp luật về đầu tư, tài chính và doanh nghiệp chưa thực sự đồng bộ với một số quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ. Các chính sách về vốn, thuế, hỗ trợ phát triển chưa thực sự tạo điều kiện để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể tiếp cận để đầu tư đổi mới công nghệ và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước và nước ngoài được trao đổi, mua bán trên thị trường. Tiếp tục xác lập cơ chế, chính sách thực sự khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ, nhất là đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn để nhanh chóng ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao.

Công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, tạo đà phát triển từ chuyển đổi số _Ảnh: TTXVN

Chính vì vậy, trong bối cảnh nhiều thách thức hiện nay, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế, thích ứng linh hoạt, an toàn và kiểm soát hiệu quả đại dịch COVID-19. Yêu cầu này đòi hỏi các đột phá về thể chế như sau:

Một là, cho phép triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một số dự án khoa học, công nghệ cụ thể hoặc một số nhóm đối tượng đặc thù (doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong một số lĩnh vực; viện nghiên cứu; trường đại học,...).

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách pháp luật về đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng tài sản công, thuế và pháp luật khác có liên quan để khuyến khích, phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện cơ chế hợp tác công tư, hành lang pháp lý cho “đầu tư thiên thần”, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ đầu tư cộng đồng, các nền tảng công nghệ số huy động vốn đầu tư, cùng với đa dạng hóa các loại hình truyền thống nhằm huy động thêm các nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng các cơ chế, chính sách để tạo thuận lợi thúc đẩy liên kết có hiệu quả giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Ba là, rà soát, sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng cơ cấu tổ chức, tuyển dụng, sử dụng nhân lực, sử dụng kinh phí, thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Xây dựng tiêu chí đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế.

Bốn là, đổi mới chế độ quản lý tài chính, thanh quyết toán, chấp nhận nguyên tắc rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc chuyển giao tài sản hình thành trong nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.

Năm là, rà soát, sửa đổi đồng bộ giữa các quy định của pháp luật về thuế, tài chính, tín dụng với quy định pháp luật về khoa học và công nghệ để triển khai có hiệu quả các cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp cho đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ theo hướng: rút ngắn thời gian khấu hao máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; xây dựng và thực hiện cơ chế ưu đãi thuế hằng năm cho doanh nghiệp theo doanh thu phát sinh thực tế từ các hoạt động trong danh mục hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ chế ưu đãi thuế thu nhập cho cá nhân, doanh nghiệp đối với khoản tài trợ cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của viện nghiên cứu, trường đại học. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, triển khai các chính sách, giải pháp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đưa khởi nghiệp sáng tạo là một trong những động lực đột phá cho đổi mới mô hình tăng trưởng.

Sáu là, rà soát, đánh giá, hoàn thiện chính sách về nhập khẩu công nghệ (ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ,...) để đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các chính sách về mua sắm công để tạo động lực khuyến khích cho việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước.

Bảy là, đổi mới toàn diện hoạt động quản lý, triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp theo hướng: công khai, minh bạch, khách quan, đơn giản hóa thủ tục hành chính; chuyển đổi số toàn bộ quy trình quản lý, cơ sở dữ liệu các nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tám là, thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo gắn với khoa học và công nghệ, làm cơ sở cho việc phối hợp hiệu quả trong xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đổi mới hệ thống quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng tinh gọn, tập trung vào việc hoạch định cơ chế, chính sách và định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch./.

 

Tiếp tục tạo đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế

 Một trong những nội dung đột phá chiến lược được Đại hội XIII của Đảng xác định là phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hiện nay, trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19, cần tiếp tục đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế.

1- Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được khẳng định nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 1-11-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế” khẳng định quan điểm đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường; không tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái; chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại, tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước. Tùy theo tình hình thực tế của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo; chuyển dần từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang tăng trưởng dựa đồng thời vào cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước; chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khai thác và phát huy tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực(1). Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định, đổi mới mô hình tăng trưởng là “chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”(2).

Như vậy, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có vai trò rất quan trọng trong dịch chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững kết hợp với dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực.

Quan điểm về đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đặt ra một số yêu cầu trọng tâm đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đó là, cần góp phần vào cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chuyển dịch mạnh sang các lĩnh vực tiên tiến, hiện đại; thúc đẩy tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh; thúc đẩy phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, tham gia có hiệu quả vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Chủ trương phục hồi và phát triển kinh tế ở nước ta trong bối cảnh thích ứng linh hoạt, an toàn và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19 vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, thể hiện sự chủ động, ứng phó linh hoạt với những biến động trong nước và thế giới, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế trên toàn cầu. Thực chất phục hồi và phát triển kinh tế chính là thúc đẩy nhanh hơn, mạnh mẽ hơn đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay. Do đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước khác trên thế giới trong bối cảnh khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, chuyển đổi trạng thái hoạt động kinh tế phù hợp với yêu cầu sống chung với đại dịch... và tham gia tích cực vào thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, nâng cao chất lượng và năng lực y tế dự phòng, bảo đảm đủ vắc-xin, thuốc điều trị...

Kinh nghiệm thế giới cũng cho thấy vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với phục hồi, phát triển kinh tế và bảo đảm công bằng trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Điển hình là các nước tiểu vùng sông Mê-kông đã phối hợp xây dựng “Kế hoạch ứng phó đại dịch COVID-19 và phục hồi của các nước tiểu vùng sông Mê-kông giai đoạn 2021 - 2023”, trong đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được nhấn mạnh nhằm tận dụng thời cơ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cao hiệu quả và tính bao trùm của nền kinh tế, bảo đảm các nước tiếp cận được vắc-xin COVID-19 an toàn, giá cả phải chăng, công bằng và hiệu quả.

2- Từ những yêu cầu đặt ra của đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi phát triển kinh tế, có thể định hình những nội dung cơ bản, trọng tâm trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta thời gian tới, đó là:

Thứ nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tập trung phục vụ một số định hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội, như giữ vai trò quyết định việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và của nền kinh tế, đặc biệt là phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, sản phẩm chủ lực và thương hiệu quốc gia; làm chủ, tiếp thu, hấp thụ, ứng dụng nhanh chóng thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới; thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao nhờ ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại; thúc đẩy phát triển công nghiệp mũi nhọn, trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên nền tảng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; từng bước giảm tỷ trọng các ngành có năng suất lao động, giá trị gia tăng thấp, sử dụng công nghệ lạc hậu; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh từ tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bối cảnh hội nhập quốc tế và các thách thức của an ninh phi truyền thống; đề xuất giải pháp đổi mới phương thức quản lý xã hội trong điều kiện chuyển đổi số...; góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...

Thứ hai, hình thành một số dự án, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia lớn trong một số lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh và có tiềm năng nhằm giải quyết những vấn đề đặc biệt quan trọng trong dài hạn để phát triển đất nước. Cơ cấu lại các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ gắn với nhu cầu xã hội, chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo giá trị gia tăng.

Thứ ba, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đẩy nhanh thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển phong trào đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trên phạm vi toàn quốc, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước.

Thứ tư, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Tập trung chuyển giao, ứng dụng các công nghệ tiên tiến cùng với nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, trình độ, kỹ năng nguồn nhân lực, đổi mới quy trình sản xuất và kinh doanh, triển khai chuyển đổi số, áp dụng mô hình kinh doanh mới phù hợp với quá trình đổi mới công nghệ,... trong doanh nghiệp.

Thứ năm, đổi mới cơ cấu hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ gắn với định hướng ưu tiên phát triển quốc gia, ngành và lĩnh vực theo hướng tự chủ, liên kết, tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Phát triển mạnh mẽ hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vùng và địa phương. Thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo tại các vùng trọng điểm gắn với lợi thế kinh tế của vùng, địa phương. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tăng cường đầu tư về nhân lực, tài chính, kết cấu hạ tầng cho các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trực thuộc các sở khoa học và công nghệ trở thành đầu mối hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo tại các địa phương. Từng bước nâng cao tiêu chuẩn đối với các sản phẩm ngành, nghề truyền thống, sản phẩm OCOP để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong sản xuất.

 

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế. Nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước bám sát các xu hướng của thế giới, tiến tới đạt trình độ tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao.

Như vậy, có thể thấy, để đáp ứng được yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần phát triển nhanh, mạnh một số hướng mới và đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

3- Thời gian qua, thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế. Các cơ chế, chính sách được ban hành thể hiện sự nhất quán trong thực hiện chủ trương phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Hiện có 8 đạo luật chuyên ngành được ban hành liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, phát triển doanh nghiệp,... cũng từng bước được hoàn thiện, ngày càng đồng bộ hơn.

Tư duy quản lý nhà nước được đổi mới, pháp luật về khoa học, công nghệ ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới, dần đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta. Hành lang pháp lý trong lĩnh vực khoa học, công nghệ đồng bộ hơn đã tạo môi trường thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu sáng tạo, dần xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu. Đổi mới sáng tạo dần trở thành tư duy mới trong quản lý, điều hành; vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống sáng tạo quốc gia ngày càng được thể hiện rõ hơn. Việc thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học, công nghệ công lập được đẩy mạnh. Thị trường công nghệ, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ngày càng phát triển; hình thành doanh nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; các doanh nghiệp được khuyến khích thành lập viện nghiên cứu và đầu tư ngày càng nhiều cho các hoạt động khoa học, công nghệ; thí điểm mô hình thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học tài năng trong nước và trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang tích cực sửa đổi, bổ sung một số nội dung về đổi mới thể chế trong một số đạo luật và văn bản để trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành, như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Khoa học và công nghệ; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Năng lượng nguyên tử; Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030;... và nhiều văn bản dưới luật khác nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, có thể thấy, thời gian qua, thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Pháp luật về đầu tư, tài chính và doanh nghiệp chưa thực sự đồng bộ với một số quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ. Các chính sách về vốn, thuế, hỗ trợ phát triển chưa thực sự tạo điều kiện để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể tiếp cận để đầu tư đổi mới công nghệ và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước và nước ngoài được trao đổi, mua bán trên thị trường. Tiếp tục xác lập cơ chế, chính sách thực sự khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ, nhất là đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn để nhanh chóng ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao.

Chính vì vậy, trong bối cảnh nhiều thách thức hiện nay, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế, thích ứng linh hoạt, an toàn và kiểm soát hiệu quả đại dịch COVID-19. Yêu cầu này đòi hỏi các đột phá về thể chế như sau:

Một là, cho phép triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một số dự án khoa học, công nghệ cụ thể hoặc một số nhóm đối tượng đặc thù (doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong một số lĩnh vực; viện nghiên cứu; trường đại học,...).

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách pháp luật về đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng tài sản công, thuế và pháp luật khác có liên quan để khuyến khích, phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện cơ chế hợp tác công tư, hành lang pháp lý cho “đầu tư thiên thần”, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ đầu tư cộng đồng, các nền tảng công nghệ số huy động vốn đầu tư, cùng với đa dạng hóa các loại hình truyền thống nhằm huy động thêm các nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng các cơ chế, chính sách để tạo thuận lợi thúc đẩy liên kết có hiệu quả giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Ba là, rà soát, sửa đổi, hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng cơ cấu tổ chức, tuyển dụng, sử dụng nhân lực, sử dụng kinh phí, thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Xây dựng tiêu chí đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế.

Bốn là, đổi mới chế độ quản lý tài chính, thanh quyết toán, chấp nhận nguyên tắc rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc chuyển giao tài sản hình thành trong nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.

Năm là, rà soát, sửa đổi đồng bộ giữa các quy định của pháp luật về thuế, tài chính, tín dụng với quy định pháp luật về khoa học và công nghệ để triển khai có hiệu quả các cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp cho đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ theo hướng: rút ngắn thời gian khấu hao máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; xây dựng và thực hiện cơ chế ưu đãi thuế hằng năm cho doanh nghiệp theo doanh thu phát sinh thực tế từ các hoạt động trong danh mục hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ chế ưu đãi thuế thu nhập cho cá nhân, doanh nghiệp đối với khoản tài trợ cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của viện nghiên cứu, trường đại học. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, triển khai các chính sách, giải pháp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đưa khởi nghiệp sáng tạo là một trong những động lực đột phá cho đổi mới mô hình tăng trưởng.

Sáu là, rà soát, đánh giá, hoàn thiện chính sách về nhập khẩu công nghệ (ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ,...) để đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các chính sách về mua sắm công để tạo động lực khuyến khích cho việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước.

Bảy là, đổi mới toàn diện hoạt động quản lý, triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp theo hướng: công khai, minh bạch, khách quan, đơn giản hóa thủ tục hành chính; chuyển đổi số toàn bộ quy trình quản lý, cơ sở dữ liệu các nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tám là, thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo gắn với khoa học và công nghệ, làm cơ sở cho việc phối hợp hiệu quả trong xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đổi mới hệ thống quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng tinh gọn, tập trung vào việc hoạch định cơ chế, chính sách và định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch./.

ST:nguồn TCCS

 

ĐỪNG SO SÁNH “CỎ DẠI” VỚI “HOA THƠM”

 

Mấy hôm nay, câu chuyện Trung úy Thái Ngô Hiếu, thuộc lực lượng PCCC ở Đồng Nai đi về Vũng Tàu tắm biển, cũng một nhóm đang tắm biển thì bị nước cuốn ra ngoài, may thay gặp anh Hiếu xả thân, kịp thời lao ra biển cứu được cả 4 người. Với nghiệp vụ cứu hộ, anh đã nhanh chóng thao tác nhanh chóng, giúp 4 nạn nhân thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG


Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

ĐỪNG DẠY KHÔN VIỆT NAM


        Mới đây đồng loạt các đại sứ EU, Na Uy, Thụy Sỹ, Anh Quốc … viết thư kêu gọi Việt Nam ủng hộ Ucraina, lên án Nga mà thấy quan ngại quá.


       Ô hay..! Các Ngài không chịu hiểu hay cố tình không hiểu? Quan điểm, lập trường của Việt Nam đã được thể hiện rõ ràng trong bài phát biểu của đại sứ Việt Nam tại Liên hợp quốc: Việt Nam lên án chiến tranh, chính trị cường quyền, mong muốn hoà bình, công bằng và lẽ phải. Việt Nam không chọn bên trong cuộc chiến mà chọn lẽ phải.


         Các Ngài thừa hiểu, chiến sự Nga-Ucraina không chỉ đơn thuần là cuộc đối đấu của hai quốc gia mà nó có quá nhiều vấn đề phía sau, thậm chí có cả "kẻ thứ 3" âm thầm và công khai tham chiến gián tiếp. Vì vậy mỗi một hành động, phát ngôn của Việt Nam đều phải được tính toán hết sức kỹ lưỡng trên cơ sở đảm bảo lợi ích quốc gia của Việt Nam chúng tôi.


          Cũng như EU, Anh… các Ngài lên án Nga, ủng hộ Ucraina đều dựa trên toan tính chính trị và lợi ích quốc gia của các vị cả. Sao các Ngài lại đi kêu gọi và "xúi" Việt Nam phải lên án bên này và ủng hộ bên kia..? Mà việc bỏ phiếu là quyền của mỗi quốc gia tại sao lại phải vận động phải kêu gọi. Thế nếu chúng tôi viết thư đề kêu gọi các ông ủng hộ cuộc tiễu trừ tư tưởng phát xít đang nổi lên tại quốc gia đông âu này thì các ông nghĩ sao?


        Lợi ích của Việt Nam trong vấn đề Nga-Ucraina khác với lợi của các Ngài nên sẽ thật là ấu trĩ nếu bảo Việt Nam vào hùa cùng với quan điểm ấy. Việt Nam có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, linh hoạt, sáng tạo, khéo léo "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Và đó là yếu tố quan trọng để Việt Nam trường tồn và phát triển. Nên một lần nữa mong các Ngài đừng có dạy khôn chúng tôi. Chúng tôi tự biết mình phải làm gì. Cảm ơn các Ngài Đại sứ...!


Nguồn: nghiên cứu, tìm hiểu

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân.

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ được coi là những điều quy định làm căn cứ để đánh giá phẩm chất, nhân cách của người đảng viên, để xem người đó có xứng đáng là thành viên trong đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân, xứng đáng đảm nhận trọng trách với sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng, những nhà tư tưởng quan tâm và bàn luận nhiều nhất vấn đề đạo đức, đặc biệt là đạo đức cách mạng. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, các lĩnh vực hoạt động của đời sống, trong các mối quan hệ và bản chất của con người, Hồ Chí Minh đã nêu lên chuẩn mực, những giá trị chung nhất, cơ bản nhất mang tính phổ quát của nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng.

Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”. Người nêu bật những phẩm chất của người cách mạng cần được bồi đắp là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Như vậy, chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh không nằm ngoài những yêu cầu trong các chuẩn mực, hành vi đạo đức thông thường, mà là sự đòi hỏi cao hơn, trách nhiệm hơn đối với cái chung và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng.

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, người đảng viên chịu không ít những tác động tiêu cực, trong đó tác động trực tiếp và mạnh nhất đối với cán bộ, đảng viên chính là mặt trái của quyền lực, mặt trái của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế. Cần đặc biệt lưu ý là mặt trái của quyền lực kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường, đã tạo thành một sự cộng hưởng gây nên những tiêu cực, suy thoái về đạo đức trong cán bộ, đảng viên hết sức nghiêm trọng. Tình hình đó đòi hỏi chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cần có sự phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Văn kiện XIII của Đảng nêu yêu cầu phải “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”.

Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân. Có thể đề xuất một số phẩm chất đạo đức tiêu biểu của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay: có bản lĩnh chính trị; ham học hỏi, cầu tiến bộ; giữ vững kỷ luật Đảng và nghiêm chỉnh thực thi pháp luật của Nhà nước; trọng dân, yêu dân, tin dân, gần dân, học dân; phòng chống chủ nghĩa cá nhân;

Ở bất kỳ giai đoạn nào, sự hoàn thiện đạo đức trong Đảng với những tấm gương sáng về đạo đức của cán bộ, đảng viên luôn có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến những giá trị đạo đức của toàn xã hội, của dân tộc. Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có một thực tế là, hệ thống thang giá trị chuẩn mực xã hội được hình thành trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã và đang biến đổi. Bởi vậy, để thực hiện nhiệm vụ cao cả, cần thiết nhưng hết sức khó khăn và phức tạp hiện nay là xây dựng Đảng về đạo đức, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải định hướng những chuẩn mực đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đạt được. Đạt được những chuẩn mực đó, sẽ làm trong sạch Đảng, giải quyết những bức xúc của nhân dân, củng cố lại niềm tin của dân với Đảng, nâng Đảng lên tầm cao mới, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. 

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI NÚP BÓNG XÃ HỘI DÂN SỰ, ĐỘI LỐT HỌC THUẬT, ĐÀO TẠO NHẰM CHỐNG PHÁ CHẾ ĐỘ Ở NƯỚC TA

 Thời gian qua, một số đối tượng, tổ chức phản động, hoạt động theo mô hình “xã hội dân sự” thường lợi dụng mạng xã hội, đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự” để kêu gọi, cấu kết lực lượng thực hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước. Hành vi của chúng đã gây tác động tiêu cực đến đời sống chính trị, xã hội nước ta, đe dọa an ninh và chủ quyền của dân tộc. Cách thức, chiêu bài mà những đối tượng này thực hiện như: móc nối, tuyển chọn một số thanh niên trong nước đưa ra nước ngoài đào tạo, nhưng thực chất là để tập hợp lực lượng, kích động bạo loạn, biểu tình trong nước; gây dựng các tổ chức chính trị đối lập…, không khác gì mô hình đã từng được áp dụng tại một số nước Bắc Phi-Trung Đông những năm trước đây.

Do vậy, trách nhiệm của các cơ quan công quyền, các lực an ninh, quốc phòng, và cả các cơ quan báo chi, truyền thông là phải đổi mới cách thức truyền thông, thay đổi cách tiếp cận, tăng cường sử dụng truyền thông số và mạng xã hội với mục tiêu thông tin nhanh, cập nhật và đến được mọi người dân. Chúng ta luôn khuyến khích mọi công dân tích cực học tập để nâng cao hiểu biết, đóng góp nhiều hơn cho xã hội, thông qua những tổ chức chính thống, những đơn vị giáo dục uy tín. Bên cạnh đó, cần phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, cảnh báo để người dân, đặc biệt là lực lượng thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ, hiểu rõ bản chất và tránh xa các khoản học bổng, các chương trình học dễ tiếp cận nhưng mang màu sắc chính trị, núp dưới danh nghĩa tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các tổ chức dân sự trá hình. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục có biện pháp đấu tranh vạch trần bản chất tiến tới ngăn chặn, xử lý nghiêm những tổ chức hoạt động trái với pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức cần cung cấp các dữ liệu, thông tin về cơ hội học tập, các nguồn học bổng đáng tin cậy để những người có nhu cầu đi học ở nước ngoài nghiên cứu lựa chọn, không phạm phải sai lầm đang tiếc. Phải truyền thông cho giới trẻ hiểu một điều rằng, đằng sau sự dễ dãi, miễn phí đó đều có những toan tính riêng. Các bạn trẻ cần phải đề cao trách nhiệm công dân, không vì món lợi ích nhỏ, trước mắt mà dẫn đến những hệ lụy khôn lường. Bởi khi xảy ra hậu quả thì không chỉ cá nhân phải chịu, mà cả gia đình, xã hội và đất nước cũng phải gánh chịu./.

BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ “MÙA XUÂN ARAB”

 Khởi đầu từ Tunisia, “Mùa xuân Arab” nhanh chóng lan tỏa sang nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông, dẫn tới sự sụp đổ các thể chế chính trị ở Tunisia, Egypt, Yemen, Libya và khiến Syria rơi vào cuộc chiến tranh khủng bố tàn khốc. Vậy đâu là nguyên nhân của những biến cố này?

Năm 2010, từ vụ tự thiêu của một người thất nghiệp, bán hàng rong ở Tunisia đã châm ngòi cho một cuộc biểu tình rộng lớn khiến Tổng thống Ben Ali phải chạy trốn sang Saudi Arabia chỉ sau hai tuần sau đó. Cuộc biểu tình ở Tunisia nhanh chóng lan sang một loạt nước khác trong khu vực Bắc Phi-Trung Đông như: Algeria, Jordan, Ai Cập, và Yemen, Lybia…, tạo thành một cơn “địa chấn” mang tên “Mùa xuân Arab”, lật đổ nhiều nhà lãnh đạo trong khu vực và để lại những hậu quả nặng nề cả về kinh tế, chính trị, xã hội cho nhiều nước.

Nhìn vào gần chục quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến cố “Mùa xuân Arab”, có thể thấy bạo loạn và lật đổ chủ yếu xảy ra ở các quốc gia có nền chính trị mang nặng dấu ấn độc tài, gia đình trị, tham nhũng, lũng đoạn. Người dân các quốc gia này đều đang hứng chịu cuộc khủng hoảng lương thực, thất nghiệp, đại đa số người dân không có cơ hội tiếp cận giáo dục và các phúc lợi an sinh xã hội khác… và sự đè nén, phẫn uất của người dân do hố sâu khoảng cách giàu nghèo, kèm theo đó là nạn phân biệt chủng tộc, tôn giáo…, đã tích tụ từ nhiều năm trước đó. Những vấn đề nội tại đó ở mỗi quốc gia, lại được “công hưởng” bởi sự can dự của các thế lực cả trong và ngoài nước dưới chiêu bài của “sứ mệnh” thực thi dân chủ, đã làm bùng phát cuộc “cách mạng đường phố” mang tên “Mùa xuân Arab” quét qua nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông.

Tuy nhiên, với những gì mà người dân nhận được và đang phải gánh chịu hiện nay, có thể nói đa phần các cuộc “cách mạng” đó đều thất bại. Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là sự nổi dậy của người dân không được dẫn dắt và lãnh đạo bởi một đảng phái chính trị chân chính, vì đất nước, dân tộc và vì tự do, hạnh phúc của người dân. Với các hình thức bạo loạn lật đổ mang tính manh động, thiếu kiểm soát, thì những mâu thuẫn về dân tộc và tôn giáo càng bị khoét sâu, trầm trọng hơn trong suốt 10 năm qua. Bên cạnh đó, sự can dự từ bên ngoài của các nước lớn với những mưu đồ chính trị riêng, điều mà tầng lớp dân nghèo và người lao động khó có thể tiếp cận để hiểu rõ, đã làm méo mó, biến dạng các mục tiêu ban đầu của các cuộc nổi dậy. Truyền thông và mạng xã hội cũng được cho là một tác nhân tiêu cực cả trước, trong và sau các vụ bạo loạn, lật đổ, khiến tình hình ngày càng trở nên mất kiểm soát, ngoài mong muốn của phần đa những người tham gia biểu tình.

xét về bản chất, “Mùa xuân Arab” mang hơi hướng của “Cách mạng màu”.  Đây cụm từ để chỉ các phong trào chính trị trong một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ hay thuộc vùng Balkan trong những năm đầu thập niên 2000. Các cuộc cách mạng này lấy tên một màu sắc, một lợi cây hay một bông hoa tiêu biểu. Các cuộc cách mạng màu nổi bật với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các nhà hoạt động sinh viên trong việc tổ chức các cuộc đấu tranh bất bạo động và sự can thiệp bất chấp quyền tự do, quyền tự quyết của các nước. Điển hình như: “Cách mạng Hoa Hồng” ở Gruzia năm 2003, “Cách mạng Cam” ở Ukraina năm 2004,  “Cách mạng hoa Tulip” ở Kyrgyzstan năm 2005. “Cách mạng cây Tuyết Tùng” ở Liban năm 2005, “Cách mạng xanh” ở Kuwait năm 2005….

Tháng 12 là tháng của mùa xuân ở các nước Bắc Phi - Trung Đông. Sau biến cố này, nhiều người đã chua chát thốt lên rằng, mọi thứ đã biến thành “Mùa đông ảm đạm và tang thương ngay trong các thàng mùa xuân của các nước Arab”.

THÁNG TƯ, NGHĨ VỀ NHỮNG “GIẤC MỘNG TAN VỠ” NƠI XỨ NGƯỜI

 Với mỗi người Việt Nam, tình yêu quê hương, đất nước từ lâu đã trở thành một giá trị cao quý, được truyền từ đời này sang đời khác, bằng những biểu hiện sinh động, cụ thể. Tháng tư về, người dân đất Việt càng tự hào, biết ơn các thế hệ ông cha đã hy sinh xương máu cho quê hương, đất nước, đồng thời cảnh báo những ai đang đi ngược dòng chảy thời cuộc, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Thực tế đã, đang và sẽ còn chứng minh lòng yêu nước đã trở thành một giá trị truyền thống và là tài sản vô giá, tạo sức sống bất khuất và trường tồn của dân tộc con Lạc cháu Hồng qua nghìn năm lịch sử trước mọi hiểm họa xâm lăng và đô  hộ, là mạch nguồn cho sự sinh sôi và phát triển ngày càng mạnh mẽ của đất nước, giống nòi. Không ai có thể phủ nhận được rằng, dù là người dân đang sinh sống trên xứ sở quê hương hay với cộng đồng người Việt đã định cư và hội nhập ổn định ở nước ngoài, mỗi khi thiên tai, địch họa đe dọa cuộc sống và vận mệnh của Tổ quốc, lập tức muôn người như một, kết thành khối vững chắc, sẵn sàng cống hiến công sức, xả thân vì lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, vì vận mệnh của Tổ quốc và cuộc sống của đồng bào mình.

Ðặc biệt, đối với chủ quyền quốc gia và nền độc lập dân tộc, lòng yêu nước mãnh liệt chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giang sơn cha ông để lại. Giá trị đó không thể là điểm tựa để dung túng, kích động tinh thần dân tộc cực đoan, đề cao bá quyền, đe dọa sử dụng bạo lực và bất chấp thủ đoạn gian dối, hèn hạ, bất chấp đạo lý và luật pháp của văn minh nhân loại, cốt tranh đoạt trắng trợn và phi pháp lãnh thổ của người khác. Ðiều này đã và phải tiếp tục trở thành yêu cầu của lương tri, của đạo đức không chỉ với Việt Nam mà với mọi quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta không chỉ trui rèn truyền thống giữ nước, chống xâm lăng, mà còn cho thấy người bán nước như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống,... luôn bị dân tộc phê phán, danh xấu nghìn năm khôn rửa. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam cho thấy, khi Pháp, Mỹ can thiệp vào Việt Nam đã có một số người lầm lạc, chĩa súng vào đồng bào, gây nên nhiều tội ác. Chỉ đến khi thua trận, những kẻ xâm lược phải rút khỏi Việt Nam thì những người trên lại chọn cho mình con đường rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình để tiếp tục mưu lợi cá nhân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Chiến tranh đã đi qua, vết thương đã "liền da" khi quê hương hòa làm một, đất nước được vẹn tròn. Nhưng nỗi thù, sự ích kỷ và mưu lợi cá nhân vẫn còn tồn tại trong lòng những con người đó, họ chấp nhận đời tha hương mà không chịu thừa nhận thất bại, vẫn luyến tiếc cuộc sống dựa dẫm hưởng lợi từ ngoại bang, vẫn cay cú, vẫn cố tìm mọi cách thực hiện giấc mơ được ngoại bang giúp sức để trở về "phục quốc".

Ðể đạt mục đích xấu xa đó, họ tiến hành rất nhiều thủ đoạn, từ sử dụng lá phiếu cử tri buộc một số vị dân biểu nơi họ cư trú lên tiếng tạo sức ép với chính quyền các nước vu cáo, đồng thời thành lập, tham gia các tổ chức tiến hành hoạt động khủng bố, phá hoại; lợi dụng mạng Internet để lập ra nhiều trang mạng, diễn đàn lấy danh nghĩa “yêu nước” để bóp méo sự thật, tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, đường lối chính sách, đối ngoại của Đảng và nhà nước ta, thậm chí họ còn ủng hộ, tiếp tay cho tư tưởng chia cắt với những luận điệu như “thành lâp nhà nước Mông ở Tây Bắc”, đuổi người Kinh khỏi Tây Nguyên để thành lập “nhà nước Degar độc lập”...

Không dừng lại ở đó, để hiện thực hóa những mưu đồ trên, các tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại. Hằng năm, các tổ chức trên đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các tổ  chức khủng bố ở nước ngoài nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, vứt bỏ gốc gác người Việt của mình như Lê Thu Hà bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 20/11/2018.

Sau một thời gian đấu tranh, ghi dấu ấn của mình cộng với sự tác động của Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà được bảo lãnh theo diện tị nạn. Hà được sắp xếp, bố trí chỗ ở tại thị trấn Bad Naheim, bang Hawai, Đức; được chu cấp tiền để học tiếng Đức, thuê nhà, sinh hoạt và đào tạo nghề. Số tiền này chỉ đủ để phục vụ các hoạt động nói trên, chưa kể Hà phải tự lo cho cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, do không có trình độ, tiền không có, nhà ở thuê, bạn bè cô quạnh, bản thân không thể đáp ứng yêu cầu, điều kiện lao động và mức sống tại đây, Hà vỡ mộng với cuộc sống tại “xứ thiên đường”, nơi mà khi còn ở Việt Nam, Hà từng ao ước rồi phản bội lại đất nước, dân tộc để đạt được mục đích. Chỉ trong 6 tháng, Lê Thu Hà bắt đầu thấm thía và từ đó, viện cớ rằng “nhớ quê hương, đất mẹ” để tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam.

Trường hợp tương tự là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (blogger Mẹ Nấm) được bảo lãnh “xuất khẩu miễn phí”. Cầm tấm thẻ xanh trên tay một thời gian, Quỳnh vừa mừng vừa lo. Mừng vì chỉ sau 2 năm ăn cơm tù đã đạt được mục đích sang Mỹ; lo vì nhận ra rằng mức sống ở nơi đây cao hơn rất nhiều so với ở Việt Nam, việc sinh tồn tại nơi đây là một vấn đề khó khăn. Mặc dù được chính phủ Mỹ tài trợ 6 tháng tiền trợ cấp (mức trợ cấp dành cho người thất nghiệp là 5.000 USD/năm) nhưng số tiền đó chỉ đủ để trả tiền thuê nhà, ăn uống, học nghề, chưa kể mẹ già, con thơ.

 Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau một thời gian hai người này lại quay ra bới móc lẫn nhau.

Việc trang trải cuộc sống cho bản thân còn chưa xong, liệu Quỳnh có dám nghĩ việc ăn chơi, kiếm tiền từ nước ngoài một cách dễ dàng khi còn ở Việt Nam? Xa hơn, có thể kể đến những kẻ từng một thời được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau khi đến Mỹ mới té ngửa, ca thán như Tạ Phong Tần quay ra bới móc, kể tội Nguyễn Văn Hải (điếu cày), Nguyễn Văn Hải cũng lập tức tố cáo lại Tạ Phong Tần…

Có lẽ, đây mới chỉ là những đoạn đầu của con đường không tương lai của những người trên, những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu vinh. Chỉ khi ra nước ngoài, bản chất thật sự của số gọi là “nhà dân chủ, người yêu nước, nhà đấu tranh nhân quyền” mới bộc lộ, để rồi chìm dần vào sự quên lãng khi đã không còn giá trị sử dụng đối với các tổ chức chống phá ở nước ngoài. Cha ông ta thường dạy “không ai cho không thứ gì”. Những kẻ phản bội đất nước thì đa phần đều đã làm cha làm mẹ, luôn nói rằng được sống trong môi trường giáo dục nhưng bản thân lại không làm theo điều cha ông đã dạy “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Con đường phạm pháp do họ chọn và chính họ chấp nhận rời bỏ quê hương, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đến khi nhận ra bị chính những tổ chức phản động lợi dụng “vắt chanh, bỏ vỏ”, sức tàn lực kiệt, hối cải, nghĩ đường về quê hương thì mọi thứ đã muộn. Đây cũng là bài học cho những kẻ trong nước lựa chọn con đường phản bội lại đất nước, dân tộc, tiếp tay cho các tổ chức thù địch, phản động, nuôi mộng định cư ở nước ngoài hay “đổi đời”.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, vị thế đất nước đang dần được khẳng định trên thế giới. Trong quá trình phát triển đó, không thể tránh khỏi những bất cập, tồn tại cần phải khắc phục nên chưa thể đáp ứng được hết những trông đợi của mọi người. Nhưng nếu dựa vào đó để phủ nhận các thành tựu phát triển, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình đất nước, chối bỏ gốc gác, làm những việc đi ngược lợi ích của dân tộc mình thì những cá nhân đó phải tự vấn lương tâm. Hãy tự thấy xấu hổ khi nghĩ tới không ít kiều bào, dù xa quê, mưu sinh xứ người vẫn coi quê hương là đất Việt, vẫn đang từng ngày đóng góp tài trí, sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hơn bao giờ hết, trên bất kỳ phương diện nào, lòng yêu nước và hướng về quê hương luôn là một giá trị phù hợp với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chỉ có lòng yêu nước chân chính mới có thể giúp quê hương, đất nước giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời làm cho quê hương, đất nước ngày càng hưng thịnh, trường tồn.

Xin nhắc lại câu nói của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 6/2007): “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi, nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”./.

HIỂU ĐÚNG VÀ ĐỦ VỀ VIỆC VIỆT NAM BỎ PHIẾU CHỐNG NGHỊ QUYẾT ĐÌNH CHỈ NGA RA KHỎI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN CỦA LIÊN HỢP QUỐC

 Cuộc chiến Nga – Ukraine hiện tại đang kéo mọi quốc gia trên thế giới vào vòng xoáy của những chiêu bài mà phe này chống phá phe kia. Nhiều quốc gia không liên quan đến cuộc chiến, lại có quan hệ tốt đẹp với cả Nga và Ukraine như Việt Nam cũng bị bắt buộc phải tham gia các hoạt động bỏ phiếu vì mục tiêu triệt hạ chính trị giữa các cường quốc. Với sức ép căng thẳng hàng ngày như vậy, phải nói Việt Nam đã phải hết sức kiên định, khéo léo, chọn đúng chính nghĩa là lẽ phải của thời đại và lợi ích dân tộc để đưa ra những quyết định đúng đắn.

Khi đứng trước lựa chọn phải trừng phạt, “cắt đứt” với nước Nga, nội bộ các nước phương Tây trở nên chia rẽ vì lợi ích của chính họ. Hungary tuyên bố không trừng phạt Nga, không cho vận chuyển vũ khí vào Ukraine vì lý do họ cần khí đốt Nga. Serbia thì tuyên bố không bao giờ trừng phạt Nga vì Nga từng ủng hộ họ khi bị NATO ném bom. Nước Đức vẫn mua dầu và khí đốt của Nga đều đều từ đầu cuộc chiến, bất chấp bị các nước như Ba Lan chỉ trích. Pháp thì tuyên bố duy trì đối thoại với Nga để mong trở thành một bên “kiến tạo hòa bình”, bất chấp bị Ba Lan chỉ trích. Những ví dụ này cho thấy ngay cả khi có lý do rõ rệt để “chống Nga” thì các nước phương Tây cũng đều phải đặt lợi ích của mình lên trên hết, thứ mà họ quen gọi bằng thuật ngữ “lằn ranh đỏ”.

Việt Nam luôn kiên định con đường của mình là một người bạn đáng tin cậy của mọi quốc gia trên thế giới bằng chính sách ngoại giao đa phương hóa. Khi là người bạn đáng tin cậy thì phải lắng nghe bạn trong mọi hoàn cảnh. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về tình hình xung đột ở Ukraine là hết sức khách quan và rất rõ ràng. Đó là kêu gọi Nga và Ukraine chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng, tính đến lợi ích của các bên. Chính vì vậy, Việt Nam đã bỏ phiếu trắng về nghị quyết của Liên Hợp Quốc chống Nga để “bảo đảm lợi ích của các bên” trong đó có Nga. Và mới đây nhất Việt Nam bỏ phiếu chống cho nghị quyết đòi loại Nga ra khỏi Hội đồng nhân quyền bởi Nghị quyết này được xây dựng từ những thông tin chưa được “kiểm chứng khách quan, minh bạch, với sự hợp tác của các bên liên quan”.

Nhưng những quyết định bỏ phiếu này luôn bị Việt Tân và một số đối tượng ra sức rêu rao, chống phá, chửi rủa. Thế nhưng nếu có ai hỏi những đối tượng này lý do vì sao họ muốn bỏ phiếu khác thì chắc hẳn họ cũng chỉ biết nói như con vẹt: là vì Mỹ và phương Tây bỏ phiếu như thế, “cả thế giới” bỏ phiếu như thế. Trên thực tế thì toàn thế giới có vài chục quốc gia bỏ phiếu giống Việt Nam và nhiều chục quốc gia khác bỏ phiếu trắng, ý là không muốn tham gia. Việt Tân còn giả vờ “bức xúc” bằng luận điệu: “chính quyền bỏ phiếu trái ý 98 triệu dân Việt Nam”. Nhưng thực tế thì Việt Tân là một tổ chức khủng bố, luôn tìm cách đánh bom, chống phá Việt Nam thì cớ gì dám coi mình là một trong gần 100 triệu người dân Việt Nam.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Bản lĩnh Việt Nam luôn kiên cường và kiên định trong mọi hoàn cảnh. Trong lịch sử, chúng ta từng đối mặt và đánh bại hàng triệu quân giặc xâm lược để giữ gìn hòa bình của đất nước. Và ngày nay, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có của thời đại, trong thời điểm mà giữ vững được bản lĩnh và những quyết định của mình luôn là một việc khó khăn, nhưng chúng ta đã và đang làm được. Đó là bản lĩnh của một đất nước hùng cường, có vị thế và chiếm được lòng tin của bạn bè trên thế giới. Đó cũng là lý do mà những kẻ chống phá, cơ hội và thù ghét Việt Nam như Việt Tân cùng các đối tượng khác luôn phải cảm thấy “bức xúc”, “khó chịu”./.

GIỮ GÌN, PHÁT HUY TÍNH THỐNG NHẤT TRONG QUÂN ĐỘI!

     Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.
Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.
Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể.
Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội
Bộ đội giúp nhân dân gánh lúa về nhà.
Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.
Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.
Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.
Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.
 Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...
Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung
xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.
Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...
Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.

Môi Trường ST.

SỰ CAY CÚ CỦA NHỮNG KẺ BÁN NƯỚC!

     Trong 47 năm qua, 30-4 trở thành Ngày Chiến thắng, Ngày Thống nhất, Ngày Hội lớn non sông, Ngày quốc lễ của Việt Nam.

Thế nhưng, những kẻ tay sai bán nước năm xưa trốn chạy ra nước ngoài, sống lưu vong ở các nước cấu kết, hô hào dựng lên hội này, nhóm nọ, tổ chức kia rêu rao, gào thét rằng 30-4 là “Ngày quốc hận”, “Tháng Tư đen”. Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu phát triển đất nước, kích động lòng hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Chúng đã lập ra các tổ chức phản động: “Việt Tân” (còn gọi Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng), “Triều Đại Việt”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”…do một số sĩ quan chế độ VNCH cầm đầu, chống phá hết sức phức tạp. Những tổ chức này Bộ Công an đã liệt vào danh sách tổ chức khủng bố, chống phá Nhà nước Việt Nam. Số đối tượng cực đoan trong nước móc nối với các phần tử lưu vong lập ra cái gọi “diễn đàn dân chủ” với các “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội Tù nhân lương tâm”… tán phát thông tin bịa đặt, xuyên tạc rất phản động hòng đánh tráo bản chất của cuộc chiến tranh chống xâm lược, giành độc lập dân tộc của Nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”, chiến tranh mang tính ý thức hệ”....

Dân gian có câu “cà cuống chết đến đít còn cay”. Bọn chúng đã có tình phớt lờ ô nhục của những kẻ bán nước, làm tay sai cho đế quốc, cam phận làm“lính đánh thuê” để nhận những đồng đô-la thấm máu Nhân dân ta là tội ác! Đã không biết “quay đầu là bờ” mà tiếp tục tru tréo những luận điệu cũ mèn, phi lý. Đã có những kẻ nuối tiếc may cờ “Ba que”- cờ 3 sọc vàng (biểu tượng của VNCH), cố níu giữ ảo mộng về “những năm tháng vàng son”(!)… Bọn chúng hận ai? Ai là kẻ đáng hận ?!...

Môi Trường ST.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2022

HÃY GỌI ĐÚNG TÊN VÀ HIỂU ĐÚNG Ý NGHĨA CỦA NÓ: "CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC"!

         Còn nhớ, cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã từng trả lời đanh thép với Clinton rằng: "Thưa ngài, cái mà ngài gọi là "chiến tranh Việt Nam" thì nhân dân Việt Nam chúng tôi gọi đó là "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước..."

Một phát ngôn thể hiện chất "thép" của cố Tổng Bí thư vì ông không những là nguyên thủ Quốc gia, mà còn là một người lính đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường...

Thế mà thời đại của Internet 5G và cuộc sống hiện đại hôm nay, thế hệ trẻ đang bị nhồi sọ lập lờ bản chất của khái niệm "Chiến tranh Việt Nam" hay "KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ" của nhân dân ta dưới chiêu bài nguy hiểm trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", chủ nghĩa xét lại của bọn ngụy sử, mấy tay nhà báo rởm ất ơ được sinh ra trong hòa bình, mấy tay làm phim không có lập trường chính trị.

"Chiến tranh Việt Nam"? Vậy Mỹ đem bom đạn dội lên đầu dải đất hình chữ S này thì sao? Mỗi tấc đất ngọn cỏ đều thấm đẫm máu xương đồng bào tôi trong mấy chục năm ròng, những cuộc thảm sát đẫm máu mà nhân chứng sống đang còn đó. Chẳng lẽ bây giờ Mỹ vô can? Chúng ta cầm súng ra trận "đánh cho Mỹ cút", vậy có phải KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ hay không? 

Lịch sử phải công bằng, gọi và hiểu cho đúng bản chất. Đau thương mất mát đã quá nhiều, chúng ta hãy suy nghĩ vì đâu mà có được thành quả đó? Hãy gọi đúng tên và hiểu đúng ý nghĩa của nó: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. 

Tháng tư đang về, hãy lắng lòng lại một chút để tưởng nhớ đến 1,2 triệu liệt sĩ đang yên nghỉ trên khắp lãnh thổ đất nước Việt Nam./.
Yêu nước ST.

NGA BAN HÀNH LUẬT PHẠT NGƯỜI PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA LIÊN XÔ TRONG THẾ CHIẾN THỨ HAI!

         Ngày 16/4, trên cổng thông tin pháp lý chính thức của Liên bang Nga đã đăng tải đạo luật mới được Tổng thống Nga Vladimir Putin ký thông qua quy định hình phạt đối với việc đánh đồng vai trò của Liên Xô và Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Cụ thể, luật mới quy định các hình phạt đối với việc vi phạm luật liên bang cấm đánh đồng hành động của lãnh đạo, chỉ huy và quân nhân Liên Xô với các hành động của tướng lĩnh và binh lính Đức Quốc xã và các quốc gia châu Âu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, cũng như phủ nhận vai trò quyết định của nhân dân Liên Xô trong việc đánh bại Đức Quốc xã và sứ mệnh nhân đạo của Liên Xô trong việc giải phóng các nước châu Âu.

Luật mới quy định việc phạt tiền từ 1.000-2.000 ruble (khoảng 12-24 USD) hoặc bắt giam lên tới 15 ngày đối với công dân vi phạm; phạt từ tiền 2.000-4.000 ruble đối với các quan chức vi phạm, và từ 10.000-50.000 ruble đối với các pháp nhân vi phạm.

Mức xử phạt sẽ tăng nặng đối với việc tái phạm. Cụ thể, đối với công dân tái phạm có thể bị phạt tiền từ 2.500-5.000 ruble hoặc bắt giữ 15 ngày; đối với quan chức tái phạm bị phạt tiền từ 5.000-20.000 ruble và đối với pháp nhân tái phạm bị phạt tiền từ 50.000-100.000 ruble hoặc đình chỉ hoạt động trong tối đa 90 ngày.

Trước đó, tháng 7/2021, Tổng thống Putin cũng đã ký đạo luật cấm đánh đồng các mục tiêu và hành động của Liên Xô và Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, cũng như phủ nhận vai trò quyết định của nhân dân Liên Xô trong chiến thắng chủ nghĩa phátxít./.
Yêu nước ST.

CẦN RÀ SOÁT, XỬ LÝ TẬN GỐC VIỆC BÔI NHỌ HÌNH ẢNH ĐỒNG BÀO DÂN TỘC!

         Thời gian gần đây, nhiều thông tin, hình ảnh về đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng trong các bộ phim hài, video với nội dung phản cảm, sai lệch đã gây bức xúc mạnh mẽ trong xã hội. 

Điểm mặt đầu danh sách cho hành vi trên là kênh youtube A HY TV. Tính đến thời điểm ngày 15/4/2022, kênh A HY TV có 988.000 lượt người đăng ký theo dõi, đã đăng tải 573 video. Không biết vô tình hay cố ý, chủ kênh lấy từ "hy" để đặt tên kênh. Mà từ "hy" trong tiếng Tày - Nùng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Nhân vật chính của kênh này là A Hy - một người dân tộc hay có hành vi, lời nói ngây ngô ám chỉ chuyện tình dục để gây cười. Kênh này đã từng bị Ủy ban Dân tộc có văn bản đề nghị Bộ Thông tin truyền thông xử lý vào năm 2020. 

Không chỉ có kênh A HY TV, nhiều diễn viên hài chuyên nghiệp (như Trung Ruồi, Đỗ Duy Nam,...) làm clip, tiểu phẩm hài có sử dụng hình ảnh người dân tộc thiểu số với xu hướng mô tả người dân tộc thiểu số đói nghèo, ngây thơ, lạc hậu, xa lạ với văn minh, có những clip gây hiểu lầm về văn hóa, phong tục của các dân tộc thiểu số; một số trang phục không đúng với trang phục truyền thống của dân tộc, thậm chí có sự “pha tạp” quần áo giữa các dân tộc. 

Đáng lo ngại, các clip hài nói trên không những chứa đựng những nội dung độc hại, phản văn hóa mà chúng còn truyền bá cái nhìn lệch lạc về bản sắc văn hóa và phẩm chất nhân cách của đồng bào các dân tộc thiểu số. Từ đó, tạo ra những hiểu lầm, đánh giá sai lệch và cả những định kiến xã hội, tạo ra hình ảnh dân tộc thiểu số là những người bị động, đối tượng bên lề, đáng thương, yếu ớt. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bình đẳng của các dân tộc, sự thịnh vượng chung, đi ngược lại với chủ trương, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Nhà nước và những kết quả đã đạt được trong thời gian qua. 

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nhất quán quan điểm thực hiện chủ trương các dân tộc bình đẳng và cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị và định kiến, gây chia rẽ dân tộc. Do đó, các cơ quan quản lý, trực tiếp là Bộ Thông tin và Truyền thông cần sớm vào cuộc xử lý quyết liệt, dứt điểm việc đưa thông tin, hình ảnh sai lệch, không đúng với thuần phong, mỹ tục của đồng bào dân tộc thiểu số./.

Yêu nước ST.