Tiếp tục tạo đột phá về thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển
kinh tế
Một trong những nội dung đột phá chiến lược
được Đại hội XIII của Đảng xác định là phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo. Hiện nay, trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt,
kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19, cần tiếp tục đột phá về thể chế phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá về năng suất,
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng
trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế.
1- Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được khẳng định
nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị
quyết số 05-NQ/TW, ngày 1-11-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về một
số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng
cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế”
khẳng định quan điểm đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao chất lượng tăng
trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh
và bền vững toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường; không tăng trưởng
bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng,
an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái; chú trọng và
ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử
dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự
hào, tự tôn dân tộc, tinh thần sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu
khoa học, công nghệ của nhân loại, tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực,
các địa phương và cả nước. Tùy theo tình hình thực tế của từng ngành, lĩnh vực,
địa phương, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong
đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo; chuyển dần từ tăng trưởng
chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang tăng trưởng dựa đồng thời vào cả đầu
tư, xuất khẩu và thị trường trong nước; chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng
các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao
động, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khai thác và phát huy
tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực(1).
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định, đổi mới mô hình tăng trưởng là “chuyển
mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa
học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm,
hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của
nền kinh tế”(2).
Như vậy, khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo có vai trò rất quan trọng trong dịch chuyển từ mô hình tăng trưởng
theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở
rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững kết hợp
với dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao
và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực.
Quan điểm về đổi mới mô hình tăng trưởng
dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đặt ra một số yêu cầu trọng
tâm đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đó là, cần góp phần vào cơ
cấu lại nền kinh tế theo hướng chuyển dịch mạnh sang các lĩnh vực tiên tiến,
hiện đại; thúc đẩy tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh
tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; gắn phát triển kinh tế
với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh; thúc đẩy phát triển các sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao,
tham gia có hiệu quả vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Chủ trương phục hồi và phát triển kinh tế
ở nước ta trong bối cảnh thích ứng linh hoạt, an toàn và kiểm soát hiệu quả
dịch bệnh COVID-19 vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, thể hiện sự chủ
động, ứng phó linh hoạt với những biến động trong nước và thế giới, đồng thời
phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế trên toàn cầu. Thực chất phục hồi và phát triển
kinh tế chính là thúc đẩy nhanh hơn, mạnh mẽ hơn đổi mới mô hình tăng trưởng
trong giai đoạn hiện nay. Do đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần
tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước khác trên
thế giới trong bối cảnh khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, chuyển đổi
trạng thái hoạt động kinh tế phù hợp với yêu cầu sống chung với đại dịch... và
tham gia tích cực vào thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch
bệnh, nâng cao chất lượng và năng lực y tế dự phòng, bảo đảm đủ vắc-xin, thuốc
điều trị...
Kinh nghiệm thế giới cũng cho thấy vai trò
của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với phục hồi, phát triển kinh
tế và bảo đảm công bằng trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Điển hình là các nước
tiểu vùng sông Mê-kông đã phối hợp xây dựng “Kế hoạch ứng phó đại dịch COVID-19
và phục hồi của các nước tiểu vùng sông Mê-kông giai đoạn 2021 - 2023”, trong
đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được nhấn mạnh nhằm tận dụng thời
cơ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cao hiệu quả và tính bao
trùm của nền kinh tế, bảo đảm các nước tiếp cận được vắc-xin COVID-19 an toàn,
giá cả phải chăng, công bằng và hiệu quả.
2- Từ những yêu cầu đặt ra của đổi mới mô hình tăng
trưởng, phục hồi phát triển kinh tế, có thể định hình những nội dung cơ bản,
trọng tâm trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta
thời gian tới, đó là:
Thứ
nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
tập trung phục vụ một số định hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội,
như giữ vai trò quyết định việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và của nền kinh tế, đặc biệt là phát
triển sản phẩm, dịch vụ mới, sản phẩm chủ lực và thương hiệu quốc gia; làm chủ,
tiếp thu, hấp thụ, ứng dụng nhanh chóng thành tựu khoa học - công nghệ tiên
tiến của thế giới; thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá
trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, các ngành có năng suất và giá trị gia
tăng cao nhờ ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại; thúc đẩy phát triển công
nghiệp mũi nhọn, trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên nền tảng
công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; từng bước giảm tỷ trọng
các ngành có năng suất lao động, giá trị gia tăng thấp, sử dụng công nghệ lạc
hậu; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh từ tác động của cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, bối cảnh hội nhập quốc tế và các thách thức của an
ninh phi truyền thống; đề xuất giải pháp đổi mới phương thức quản lý xã hội
trong điều kiện chuyển đổi số...; góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường, ứng
phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...
Thứ
hai, hình thành một số dự án, chương trình khoa
học và công nghệ cấp quốc gia lớn trong một số lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh
và có tiềm năng nhằm giải quyết những vấn đề đặc biệt quan trọng trong dài hạn
để phát triển đất nước. Cơ cấu lại các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công
nghệ gắn với nhu cầu xã hội, chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo giá trị gia tăng.
Thứ
ba, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc
gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đẩy nhanh thành lập các trung
tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển phong trào đổi mới sáng
tạo và khởi nghiệp trên phạm vi toàn quốc, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Tăng
cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước.
Thứ
tư, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo trong doanh nghiệp. Tập trung chuyển giao, ứng dụng các công nghệ tiên
tiến cùng với nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực
quản trị, trình độ, kỹ năng nguồn nhân lực, đổi mới quy trình sản xuất và kinh
doanh, triển khai chuyển đổi số, áp dụng mô hình kinh doanh mới phù hợp với quá
trình đổi mới công nghệ,... trong doanh nghiệp.
Thứ
năm, đổi mới cơ cấu hệ thống tổ chức khoa học
và công nghệ gắn với định hướng ưu tiên phát triển quốc gia, ngành và lĩnh vực
theo hướng tự chủ, liên kết, tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Phát triển mạnh mẽ hệ
thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vùng và địa phương. Thúc đẩy hoạt
động đổi mới sáng tạo tại các vùng trọng điểm gắn với lợi thế kinh tế của vùng,
địa phương. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tăng cường đầu tư về nhân lực,
tài chính, kết cấu hạ tầng cho các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ trực thuộc các sở khoa học và công nghệ trở thành đầu mối hỗ trợ, thúc đẩy
hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo tại các địa phương. Từng bước
nâng cao tiêu chuẩn đối với các sản phẩm ngành, nghề truyền thống, sản phẩm
OCOP để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong sản xuất.
Thứ
sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ đổi mới
mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế. Nâng cao trình độ khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước bám sát các xu hướng của thế
giới, tiến tới đạt trình độ tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm
dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao.
Như vậy, có thể thấy, để đáp ứng được yêu
cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế, khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo cần phát triển nhanh, mạnh một số hướng mới và đột phá
về thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp
thiết hiện nay.
3- Thời gian qua, thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo ở nước ta đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần phục vụ đổi
mới mô hình tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế. Các cơ chế, chính sách
được ban hành thể hiện sự nhất quán trong thực hiện chủ trương phát triển khoa
học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Hiện có 8 đạo luật chuyên ngành được ban
hành liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hệ thống
các văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất
lượng, phát triển doanh nghiệp,... cũng từng bước được hoàn thiện, ngày càng
đồng bộ hơn.
Tư duy quản lý nhà nước được đổi mới, pháp
luật về khoa học, công nghệ ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với xu thế phát
triển trên thế giới, dần đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo ở nước ta. Hành lang pháp lý trong lĩnh vực khoa học, công
nghệ đồng bộ hơn đã tạo môi trường thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh trong
nghiên cứu sáng tạo, dần xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu. Đổi mới
sáng tạo dần trở thành tư duy mới trong quản lý, điều hành; vai trò trung tâm
của doanh nghiệp trong hệ thống sáng tạo quốc gia ngày càng được thể hiện rõ
hơn. Việc thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa
học, công nghệ công lập được đẩy mạnh. Thị trường công nghệ, đổi mới sáng tạo
và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ngày càng phát triển; hình thành doanh
nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; các doanh nghiệp
được khuyến khích thành lập viện nghiên cứu và đầu tư ngày càng nhiều cho các
hoạt động khoa học, công nghệ; thí điểm mô hình thu hút, trọng dụng cán bộ khoa
học tài năng trong nước và trí thức Việt Nam ở nước ngoài.
Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang
tích cực sửa đổi, bổ sung một số nội dung về đổi mới thể chế trong một số đạo
luật và văn bản để trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành, như Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Khoa học và công nghệ; Luật
Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Năng
lượng nguyên tử; Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
đến năm 2030;... và nhiều văn bản dưới luật khác nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, có thể
thấy, thời gian qua, thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở nước ta
vẫn còn nhiều hạn chế. Pháp luật về đầu tư, tài chính và doanh nghiệp chưa thực
sự đồng bộ với một số quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ. Các
chính sách về vốn, thuế, hỗ trợ phát triển chưa thực sự tạo điều kiện để các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể tiếp cận để đầu tư đổi mới
công nghệ và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; chưa tạo điều
kiện thuận lợi tối đa cho các sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
trong nước và nước ngoài được trao đổi, mua bán trên thị trường. Tiếp tục xác
lập cơ chế, chính sách thực sự khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ,
nhất là đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn để nhanh chóng ứng dụng
vào sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao.
Chính vì vậy, trong
bối cảnh nhiều thách thức hiện nay, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo là yêu cầu cấp thiết được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình
tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế, thích ứng linh hoạt, an toàn và
kiểm soát hiệu quả đại dịch COVID-19. Yêu cầu này đòi hỏi các đột phá về thể
chế như sau:
Một
là, cho phép triển khai các cơ chế thử nghiệm
có kiểm soát (sandbox) đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo trong một số dự án khoa học, công nghệ cụ thể hoặc một
số nhóm đối tượng đặc thù (doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong một số lĩnh
vực; viện nghiên cứu; trường đại học,...).
Hai
là, đổi mới cơ chế, chính sách pháp luật về
đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, sử dụng ngân sách nhà nước, sử dụng tài sản
công, thuế và pháp luật khác có liên quan để khuyến khích, phát triển hoạt động
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện cơ chế hợp tác công tư,
hành lang pháp lý cho “đầu tư thiên thần”, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ đầu
tư cộng đồng, các nền tảng công nghệ số huy động vốn đầu tư, cùng với đa dạng
hóa các loại hình truyền thống nhằm huy động thêm các nguồn lực đầu tư cho khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng các cơ chế, chính sách để tạo
thuận lợi thúc đẩy liên kết có hiệu quả giữa viện nghiên cứu, trường đại học và
doanh nghiệp.
Ba
là, rà soát, sửa đổi, hoàn thiện quy
định pháp luật về cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng cơ cấu tổ
chức, tuyển dụng, sử dụng nhân lực, sử dụng kinh phí, thực hiện nhiệm vụ khoa
học và công nghệ. Xây dựng tiêu chí đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các viện nghiên cứu, trường đại học
và doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế.
Bốn
là, đổi mới chế độ quản lý tài chính, thanh
quyết toán, chấp nhận nguyên tắc rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thực hiện nhiệm vụ
khoa học và công nghệ; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc chuyển giao tài
sản hình thành trong nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
Năm
là, rà soát, sửa đổi đồng bộ giữa các quy định
của pháp luật về thuế, tài chính, tín dụng với quy định pháp luật về khoa học
và công nghệ để triển khai có hiệu quả các cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp
cho đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ theo hướng: rút ngắn thời
gian khấu hao máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ; xây dựng và thực hiện cơ chế ưu đãi thuế hằng năm cho doanh
nghiệp theo doanh thu phát sinh thực tế từ các hoạt động trong danh mục hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ chế ưu đãi thuế thu nhập cho
cá nhân, doanh nghiệp đối với khoản tài trợ cho hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo của viện nghiên cứu, trường đại học. Tiếp tục rà soát, điều
chỉnh, triển khai các chính sách, giải pháp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp
khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo, đưa khởi nghiệp sáng tạo là một trong những động lực đột phá cho đổi
mới mô hình tăng trưởng.
Sáu
là, rà soát, đánh giá, hoàn thiện chính sách
về nhập khẩu công nghệ (ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ,...) để đẩy mạnh
chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các
chính sách về mua sắm công để tạo động lực khuyến khích cho việc sử dụng sản
phẩm, dịch vụ là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ trong nước.
Bảy
là, đổi mới toàn diện hoạt động quản lý,
triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp theo hướng: công khai,
minh bạch, khách quan, đơn giản hóa thủ tục hành chính; chuyển đổi số toàn bộ
quy trình quản lý, cơ sở dữ liệu các nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo.
Tám
là, thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo
gắn với khoa học và công nghệ, làm cơ sở cho việc phối hợp hiệu quả trong xây
dựng và thực thi các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo. Đổi mới hệ thống quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo theo hướng tinh gọn, tập trung vào việc hoạch định cơ chế,
chính sách và định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch./.
ST:nguồn TCCS
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét