Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi quân nhân luôn không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Phải khẳng định, Quân đội ta là một trường học lớn, ở đó quân nhân được học tập toàn diện để nâng cao trình độ mọi mặt. Người xưa dạy rằng “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Trong môi trường quân sự, người chiến sĩ được chỉ dạy những điều nhỏ nhất như: Học sắp đặt nội vụ ngăn nắp, gọn gàng, học xưng hô, chào hỏi, đi đứng cho đúng lễ tiết, tác phong, học giao tiếp, ứng xử để giải quyết các mối quan hệ công tác... Khi vào huấn luyện, bộ đội được học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ...

Như vậy, có thể thấy rằng, quân nhân được quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện toàn diện cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, kỹ năng sống để có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Bất kể ở đâu, khi nào, việc học tập cũng được coi trọng dù trong sinh hoạt đời thường hay khi huấn luyện, công tác; dù trong chiến đấu hay giữa thời bình. Nhờ có học tập mà bộ đội ngày càng tiến bộ, trưởng thành.

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành

Nói chuyện truyền thống động viên bộ đội trên bãi tập.

Nhìn lại lịch sử có thể thấy rằng, Quân đội ta, tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ngày đầu thành lập đã hô vang 10 lời thề danh dự. Trong đó, lời thề thứ tư khẳng định: “Lúc nào cũng khẩn trương hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sĩ tiên phong giết giặc, cứu nước”. Thế nên, dù ngày đầu thành lập vô cùng khó khăn nhưng cán bộ, chiến sĩ đã hết sức coi trọng việc học tập, rèn luyện.

Bởi là người chiến sĩ tiên phong thì phải có trình độ nhận thức, có kiến thức để tuyên truyền vận động nhân dân đi theo cách mạng, để đấu tranh với kẻ thù gian ác, nguy hiểm. “Giặc dốt” cũng là kẻ thù của cách mạng. Người chiến sĩ phải đi đầu trong diệt “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ. Chính vì thế, học tập cũng là một nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cách mạng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội luôn tích cực học tập. Các lớp bồi dưỡng, tập huấn được mở ra ngay tại chiến khu. Các trường quân sự cũng được thành lập. Bộ đội từ chiến trường được về giảng đường học tập và từ nhà trường lại ra chiến trường chiến đấu. Nhờ vậy, cán bộ, chiến sĩ có điều kiện gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành để tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng.

Quân đội ta vinh dự được Bác Hồ quan tâm giáo dục, rèn luyện. Người căn dặn: “Toàn thể cán bộ và chiến sĩ phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, cần phải nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, cần phải nắm vững đường lối quân sự của Đảng, ra sức rèn luyện kỹ thuật và chiến thuật, cần phải luôn nêu cao cảnh giác, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”.

Lời căn dặn của Người chỉ rõ đối với bộ đội phải học tập toàn diện về chính trị, quân sự, văn hóa, phải rèn luyện cả về kỹ thuật và chiến thuật. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội học không chỉ để biết mà học để “làm việc, làm người, làm cán bộ” và mục đích cuối cùng đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Nhờ học tập, rèn luyện, nhiều thế hệ cán bộ trong quân đội đã trưởng thành, đóng góp trí tuệ vào sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trở về từ khói lửa chiến trường, nhiều người lính cầm súng ngày nào lại miệt mài cầm bút ngồi trên giảng đường. Cũng từ đây, nhiều đồng chí trở thành nhà khoa học, giảng viên, cán bộ, tiếp tục truyền thụ tri thức, đóng góp xây dựng quân đội, xây dựng các tổ chức dân, chính, đảng.

Hiện nay, cán bộ, chiến sĩ đều được học tập rất cơ bản. Hệ thống các nhà trường trong quân đội được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa, thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Cán bộ các cấp được bổ nhiệm chức vụ đều qua đào tạo các cấp học tương ứng. Quá trình học tập được tổ chức trong hệ thống nhà trường quân đội và ở các đơn vị. Giáo viên là những người thầy đứng trên bục giảng, là đội ngũ cán bộ quản lý ở đơn vị. Bộ đội học trên giảng đường, ngoài thao trường và trong thực tiễn công tác tạo thành phong trào học tập sôi nổi trong toàn quân.

Các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học theo hướng toàn diện, đổi mới. Hàng loạt công trình khoa học, sáng kiến được nghiệm thu và triển khai có hiệu quả. Với tinh thần thi đua học tập, nghiên cứu, tuổi trẻ quân đội đẩy mạnh Phong trào “Thanh niên quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”. Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội với nhiều công trình nghiên cứu đạt chất lượng tốt. Trong các hội thi, hội thao trong nước và quốc tế, quân đội luôn giành được thành tích cao. Mỗi công trình khoa học, giải thưởng là kết tinh trí tuệ, công sức, sự nỗ lực học tập, rèn luyện không ngừng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, mang lại lợi ích thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và dân sinh, đem vinh quang về cho Tổ quốc.

Tích cực học tập, rèn luyện vừa là nhu cầu tự thân vừa là đòi hỏi đối với mỗi quân nhân, bởi có học tập mới có tri thức, phương pháp tác phong công tác, không bị tụt hậu lỗi thời. Thế nhưng trong quá trình công tác vẫn còn quân nhân chưa thực sự ham học hỏi, cầu tiến bộ, có biểu hiện thỏa mãn, cầm chừng, ngại học, ngại rèn. Nghị quyết 847 đã thẳng thắn chỉ ra biểu hiện “Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật”. Vì không tích cực học tập, không cập nhật thông tin dẫn đến thiếu hiểu biết, có nhận thức lệch lạc, nảy sinh tư tưởng tiêu cực, hành động sai trái, vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Lười học tập, ngại rèn luyện là những căn nguyên dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đánh mất những giá trị phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Nhớ lời Bác Hồ căn dặn: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng thấy cần phải học thêm”. Trong các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ mà Nghị quyết 847 đề ra cũng chỉ rõ, bên cạnh xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, cần phải “có kiến thức, năng lực toàn diện”, thực sự là tấm gương mẫu mực trong phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Với bộ đội cần phải học tập toàn diện, học ở trường lớp, học trong sách vở, học từ đồng đội, học ngoài nhân dân.

Hoạt động quân sự mang tính đặc thù cao. Do vậy nhiệm vụ học tập để trang bị cho bộ đội có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với từng chức trách, nhiệm vụ nhất định, hình thành lý tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của quân nhân cách mạng, có thế giới quan khoa học, linh hoạt nhạy bén, năng động, sáng tạo thích ứng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào. Trước yêu cầu hiện đại hóa quân đội, bộ đội càng phải thi đua học tập để có đủ trình độ, tri thức tiên tiến. Hiện nay, quân nhân có điều kiện tiếp thu nhiều kiến thức mới với cách thức tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, khi internet phát triển, bộ đội dễ dàng tìm hiểu, nắm bắt được nhiều thông tin phong phú về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Đó là nguồn tri thức hỗ trợ tích cực cho cán bộ, chiến sĩ trong quá trình học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ toàn diện.

Để việc học trở thành nhu cầu tự thân của mỗi quân nhân, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho mỗi quân nhân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập, rèn luyện, khơi dậy tinh thần tự học, tự rèn, khả năng sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức và yêu cầu công tác. Quá trình học tập của bộ đội chịu tác động của cả hệ thống giáo dục-đào tạo từ nhà trường đến đơn vị, từ giảng viên đến cán bộ quản lý. Do đó, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới nội dung, hình thức học tập luôn được đặt ra đối với các học viện, nhà trường và đơn vị. Bên cạnh đó, công tác quản lý giáo dục, cơ sở vật chất bảo đảm cũng phải được cải tiến nhằm tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi, giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao.

Tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn vừa là đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi quân nhân phải luôn tự học, tự rèn để có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp trí tuệ, sức lực xây dựng quân đội vững mạnh, hiện đại.

Phú Quốc tổ chức Đại hội điểm cấp Chi bộ

 (- Sáng 15/4, Chi Bộ 1, Phòng Quản lý bảo vệ rừng, thuộc Đảng bộ Vườn quốc gia thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tổ chức Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2022-2025. Đây là 1 trong 2 Chi bộ được Đảng bộ Thành phố chọn làm đại hội điểm trong nhiệm kỳ lần này.

Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội.

Đến dự và chỉ đạo Đại hội, có đồng chí Đinh Khoa Toàn, Phó Bí thư Thành ủy; Đặng Thị Anh Đà, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy, tổ trưởng Tổ chỉ đạo Đại hội điểm chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở, nhiệm kỳ 2022-2025; Nguyễn Văn Tiệp, Bí thư Đảng ủy Vườn Quốc Gia.

Chi Bộ 1, Phòng Quản lý bảo vệ rừng hiện có 22 đảng viên, chi ủy có 5 đồng chí. Qua hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Vườn quốc gia Phú Quốc khóa XII và Nghị quyết Đại hội Chi bộ khóa V, nhiều chỉ tiêu đã đạt và vượt mức đề ra. Công tác chính trị, tư tưởng được giữ vững, cán bộ, đảng viên luôn nhận thức đúng và sâu sắc về chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nâng cao vai trò, trách nhiệm được phân công, thực hiện tốt công tác phê và tự phê trong Chi bộ, không ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm.

Công tác tổ chức cán bộ được thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình, đúng người, đúng việc.

Công tác phát triển đảng luôn được quan tâm chú trọng về số lượng, chất lượng. Tập thể chi bộ luôn phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Trong nhiệm kỳ, Chi bộ đã kết nạp 3 đảng viên mới, vượt 1 đồng chí so với chỉ tiêu đề ra. Trong nhiệm kỳ đã tiếp nhận 7 đảng viên chuyên đến và làm thủ tục chuyển đảng cho 08 đảng viên.

Chi bộ thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, XIII, thường xuyên tự phê bình và phê bình gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Công tác xây dựng chính quyền luôn được củng cố và kiện toàn, phân công, bố trí và sắp xếp hợp lý từ lãnh đạo đến cơ sở.


Đại hội biểu quyết thông qua phương án nhân sự nhiệm kỳ mới.

Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng được thực hiện nghiêm và quyết liệt. Các vụ vi phạm đều được lập hồ sơ ban đầu và bàn giao cơ quan có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định. Trong hơn 2 năm, đã tổ chức tuần tra, truy quét, quản lý bảo vệ rừng được 11.148 cuộc, có 29.521 lượt người tham gia. Hủy bỏ tại rừng 08 căn chòi, 3 nha tạm, 01 lán trại, 01 lò than, 02 đường bê tông, 03 tường rào, 01 bồn chứa nước, 01 giếng khoan công nghiệp; 1.255 trụ bê tông; 5.096 m kẽm gai; 1.573 cần bẫy động vật rừng và 8.248 cây trồng các loại do không phát hiện cá nhân, tổ chức vi phạm.

Công tác xử lý vi phạm được thực hiện nghiêm túc, đã áp dụng biện pháp ngăn chặn và lập hồ sơ ban đầu 789 vụ, chuyển Hạt Kiểm lâm thành phố Phú Quốc 505 vụ; đã xử lý 406 vụ và đang thẩm tra, xác minh để xử lý 99 vụ.

Cũng trong thời gian này, cán bộ, đảng viên trong Chi bộ đã tiếp nhận từ các cơ quan và người dân thả vào rừng nhiều cá thể động vật như: trăn, kỳ đà, mèo rừng, khỉ đuôi dài…Đồng thời, thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị nhận khoán bảo vệ rừng…

Tại đại hội lần này đã bầu đủ 5 đồng chí vào Chi ủy khóa mới.

Chi bộ đề ra mục tiêu phấn đấu nhiệm kỳ 2022-2025 hoàn thành tốt nhiệm vụ; Công đoàn, Đoàn thanh niên đạt xuất sắc; 100% đảng viên, cán bộ, viên chức tiếp thu, học tập nghị quyết; 100% gia đình đảng viên đạt chuẩn gia đình văn hóa; 85% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên…/.

 

NGUYỄN THÁI BÌNH, MỘT TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU CHO LỚP THANH NIÊN TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!

         Nguyễn Thái Bình là con thứ 2 trong 9 người con của bà Lê Thị Anh và ông Nguyễn Văn Hai một gia đình công chức nhỏ. Anh sinh ngày 14 tháng 1 năm 1948 tại thôn Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Lúc còn nhỏ Nguyễn Thái Bình học tiểu học tại Cần Giuộc, khi học xong tiểu học anh theo cha lên Sài Gòn và anh học tại trường Petrus Ký, Nguyễn Thái Bình rất thông minh, học giỏi. Những năm học ở trường Trung học, anh cần cù học tập tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Năm 1966, Nguyễn Thái Bình thi đỗ vào nhiều trường đại học, nhưng anh chọn vào học tại trường Cao đẳng Nông Lâm sản Ngư nghiệp. Tháng 3 năm 1968, sau khi đã tốt nghiệp, Nguyễn Thái Bình được cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cấp học bổng đặc biệt cho anh sang Mỹ để học. Ở trên nước Hoa Kỳ, Nguyễn Thái Bình theo học tại trường Đại học Cộng đồng ở Fresno Califorlia một năm rồi chuyển đến trường Đại học Washington. Trong thời gian học tập tại đây, Nguyễn Thái Bình đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống “chiến tranh Việt Nam”. Anh gửi thư cho Tổng thống Mỹ Nichxơn (Nixon) vạch trần những luận điệu hòa bình giả dối, xảo trá và tố cáo tội ác dã man của bọn Mỹ xâm lược trên đất nước Việt Nam. Nguyễn Thái Bình viết báo, làm thơ cổ vũ những người Việt Nam sống trên đất nước Hoa Kỳ hướng về tổ quốc, anh ra sức thuyết phục những người Hoa Kỳ yêu chuộng hòa bình và công lý để phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Ngày 10 tháng 2 năm 1972, Nguyễn Thái Bình cùng bạn học tại Hoa Kỳ đến Lãnh sự quán Ngụy quyền miền Nam ở Xan Phơranxixcô phản đối Mỹ - Thiệu đàn áp phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam, đòi trả tự do cho những người tham gia phong trào hòa bình ở Sài Gòn (Việt Nam), chồng bè lũ Mỹ - Thiệu, chống Việt Nam hóa chiến tranh. Sau đó, Nguyễn Thái Bình và sáu sinh viên khác bị trục xuất về nước.

Trước khi về nước, Nguyễn Thái Bình viết hai lá thư ngỏ, một cho “những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới” và một lá gửi cho tổng thống Rixchard Nixon, trong thư Nguyễn thái Bình chỉ trích các tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam.

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, anh đã bị bọn Mỹ bắn chết khi máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất.

Nguyễn Thái Bình, anh là một tấm gương tiêu biểu cho lớp thanh niên trí thức yêu nước. làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam (Việt Nam) và sinh viên Mỹ lúc bấy giờ. Cuộc đời và cái chết bi hùng của anh đã chấn động dư luận báo chí đương thời.
Sau này, Nguyễn Thái Bình được Nhà nước Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tên anh được đặt cho một con đường tại quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, tại tỉnh Long An. Đặc biệt, còn có Quỹ học bổng Nguyễn Thái Bình, nơi ươm mầm, tiếp sức cho những tài năng tương lai của đất nước./.
Yêu nước ST.

Kiểm tra, giám sát chặt chẽ giúp đồng đội tiến bộ

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (Nghị quyết 847) đề cập cụ thể nhiều nội dung có ý nghĩa sâu sắc trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Bàn về vấn đề này, Chuẩn đô đốc Chu Ngọc Sáng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Hải quân nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, không những chỉ ra khuyết điểm mà còn tạo cơ hội để đồng đội tiến bộ, trưởng thành.

Phóng viên (PV): Như đã đề cập, tại sao đồng chí lại cho rằng thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát là tạo cơ hội để giúp đỡ đồng đội tiến bộ, trưởng thành?

Chuẩn đô đốc Chu Ngọc Sáng: Như chúng ta đã biết, kiểm tra là một phương thức lãnh đạo của Đảng. Đã là cán bộ, đảng viên, đặc biệt cán bộ chủ trì thì đều phải ghi nhớ rất rõ điều này: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Theo Người, mục đích của công tác kiểm tra chính là phát hiện những hạn chế, bất cập, thiếu sót trên mọi phương diện trong quá trình tổ chức thực hiện để hoàn thành tốt nhất công việc đề ra. Thông qua kiểm soát, những khuyết điểm mới được phát hiện và khắc phục kịp thời; nhờ có kiểm tra mà biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu, mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan, của các mệnh lệnh và nghị quyết. 

Mục đích của công tác kiểm tra, giám sát không phải “vạch lá tìm sâu” mà cốt lõi phải giáo dục, làm cho cán bộ, đảng viên nhận ra cái chưa đúng để khắc phục. Hay nói cách khác, chúng ta phải “xây” tốt thì mới “chống” mạnh. Và quan điểm trong Nghị quyết 847 cũng chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Thực tế, có không ít cán bộ, đảng viên trong quá trình chiến đấu, công tác vi phạm, phải xử lý kỷ luật, nhưng sau đó được đồng đội, tổ chức chỉ ra, góp ý và với tinh thần cầu thị, tiến bộ đã khắc phục, phấn đấu vươn lên, trở thành cán bộ, đảng viên tốt, được nhân dân yêu quý, đồng đội mến phục. Như vậy, công tác kiểm tra, giám sát đã có vai trò quan trọng trong giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên tiến bộ, trưởng thành.

Kiểm tra, giám sát chặt chẽ giúp đồng đội tiến bộ
Chuẩn đô đốc Chu Ngọc Sáng. 

PV: Thời gian qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội vi phạm kỷ luật phải xử lý ở nhiều mức độ khác nhau, thậm chí cả những cán bộ cấp cao, nguyên nhân có phải là do phần “chống” trong công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng chưa thật hiệu quả, thưa đồng chí?

Chuẩn đô đốc Chu Ngọc Sáng: Theo tôi, đánh giá như thế là chưa đầy đủ, toàn diện. Theo thống kê, tính từ năm 2016 đến cuối năm 2021, toàn ngành thanh tra quốc phòng đã tiến hành hơn 2.400 cuộc thanh tra, kiểm tra, xác minh; riêng Thanh tra Bộ Quốc phòng đã thực hiện hàng trăm cuộc thanh tra, kiểm tra, xác minh đơn khiếu nại, tố cáo... phát hiện nhiều sai phạm chuyển các cơ quan pháp luật điều tra, xử lý. Những con số đó càng khẳng định, công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật Đảng trong quân đội đã có sự phát triển mạnh mẽ, quyết liệt, làm đến nơi đến chốn và không có vùng cấm.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai phạm, trong đó có một phần công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, song tôi cho rằng nguyên nhân chính là một số cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình còn hình thức; đặc biệt là chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, nghĩa là phần “chống” đã bị coi nhẹ. Thực tế cho thấy, ở đâu, khi nào người đứng đầu cấp ủy, chỉ huy gương mẫu, sâu sát, chỉ đạo quyết liệt công tác kiểm tra, giám sát thì đạt được hiệu quả cao. Ngược lại, nơi nào buông lỏng, thiếu công tác kiểm tra, giám sát, thiếu trách nhiệm thì ở đó rất dễ rơi vào tình trạng kiểm tra mang tính hình thức, đối phó, chiếu lệ, làm theo kiểu phong trào, “đánh trống bỏ dùi”...

PV: Có ý kiến cho rằng những vụ việc vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội gần đây đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất, hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?

Chuẩn đô đốc Chu Ngọc Sáng: Cần phải khẳng định, việc vi phạm kỷ luật, pháp luật của một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên là điều đáng trách, phải xử lý nghiêm minh, song không vì thế mà đánh đồng uy tín, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ bị giảm sút, đó chỉ là hiện tượng cá biệt, riêng lẻ. Chúng ta biết rằng, uy tín, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải có được một sớm một chiều mà xuyên suốt quá trình hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội. Trong đó, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong quân đội luôn giữ vững phẩm chất quân nhân cách mạng, phát huy truyền thống, bản chất Bộ đội Cụ Hồ, tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, những hành vi tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch nội bộ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy, yêu mến.

Dịch Covid-19 bùng phát lại càng chứng minh quân đội luôn xung kích đi đầu cùng với toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị tích cực tham gia phòng, chống đại dịch với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “tính mạng và sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết”, góp phần giúp các địa phương vượt qua những thời điểm vô cùng khó khăn để trở về trạng thái bình thường mới. Ngay tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa, Học viện Hải quân cũng đã huy động hàng nghìn lượt cán bộ, học viên hỗ trợ địa phương tham gia phòng, chống dịch. Điều đó càng làm ngời sáng hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ-Người chiến sĩ Hải quân” thời kỳ mới.

Kiểm tra, giám sát chặt chẽ giúp đồng đội tiến bộ
 Học viên Học viện Hải quân trao đổi kiến thức/Ảnh minh họa/ Ảnh: hocvienhaiquan.edu.vn

 

PV: Với kinh nghiệm nhiều năm công tác, trải qua các cương vị lãnh đạo, chủ trì ở những đơn vị chiến đấu, nhà trường, theo đồng chí, cần phải làm gì để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, góp phần phát huy, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời gian tới?

Chuẩn Đô đốc Chu Ngọc Sáng: Theo tôi, cần thực hiện tốt những quy định, kết luận của Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đã ban hành cùng các quan điểm, nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết 847 đề cập. Để thực hiện được những vấn đề này, trước hết phải thống nhất về nhận thức và trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát. Cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải nắm vững quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác xây dựng Đảng và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Kiểm tra, giám sát phải dựa vào những quy định, không thể dựa vào cảm tính để thực hiện; có đầy đủ quy chế, quy định, thực hiện đúng quy trình; kỹ năng, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kiểm tra phải tốt, phải tinh thông về mặt nghiệp vụ; có sự phối hợp của cấp ủy, của cơ quan thanh tra, bảo vệ và đặc biệt là sự giám sát của cán bộ, chiến sĩ trong cùng cơ quan, đơn vị.

Bên cạnh đó, tập trung kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, chức trách, quyền hạn được giao, những vấn đề liên quan đến công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, cơ sở vật chất, tài chính, đất đai... Phải coi trọng khâu nắm tình hình để chủ động ngăn ngừa, phát hiện, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm từ khi mới manh nha, chớm phát sinh vi phạm, không để vi phạm từ một người thành nhiều người, từ ít nghiêm trọng trở thành nghiêm trọng. Kỷ luật của quân đội là kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đòi hỏi phải được duy trì nghiêm túc, do đó, nếu có sai phạm phải xử lý quyết liệt, dứt điểm. Ngoài ra, thường xuyên nâng cao chất lượng sinh hoạt tự phê bình và phê bình ở chi bộ, vì chi bộ là nơi đảng viên thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc, làm việc và hiểu rõ đảng viên nhất. Đó chính là cách giúp đồng đội khắc phục, sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ, trưởng thành.

Nguồn: QĐND.

Đồng chí Lê Đức Thọ - Nhà lãnh đạo tài năng của cách mạng Việt Nam, kiến trúc sư của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng .

 Đồng chí Lê Đức Thọ là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên trung thuộc lớp đảng viên đầu tiên, nhà lãnh đạo tiền bối có tài năng chính trị, quân sự, ngoại giao và là kiến trúc sư của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng. Cuộc đời 64 năm hoạt động vẻ vang với những “công trạng to lớn vì Đảng, vì Dân”(1) của đồng chí luôn là tấm gương sáng ngời về lòng trung thành, tận tụy với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân, tinh thần cách mạng dũng cảm, kiên cường, bất khuất, đức tính cần, kiệm, liêm, chính và tình thương yêu đồng chí sâu sắc.

Nhà lãnh đạo cách mạng tài năng, người đặt nền móng cho công tác xây dựng TCCSĐ

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho tại Mỹ Lộc, Nam Định - miền quê giàu truyền thống cách mạng và hiếu học, đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào học sinh yêu nước khi mới 15 tuổi, được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng khi 18 tuổi, làm Bí thư Chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên học sinh. Với tài năng, phẩm chất nổi bật, người chiến sĩ cộng sản Lê Đức Thọ đã sớm trở thành một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, có nhiều cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, người đặt nền móng cho công tác xây dựng TCCSĐ và luôn gắn công tác xây dựng Đảng với việc thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử.

Suốt những năm tháng dấn thân hoạt động kiên cường, sôi nổi, dù công khai hay bí mật, ngay cả khi ở trong lao tù, đồng chí luôn quan tâm gây dựng TCCSĐ gắn với nâng cao chất lượng đảng viên, coi đây là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Trong 6 năm bị lưu đày khổ sai ở Côn Đảo (1930-1936), với vai trò là Bí thư Chi bộ, Thường vụ Chi ủy nhà tù, đồng chí đã góp phần biến Chi bộ nhà tù thành trường học để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tôi luyện ý chí cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng. Những năm 1936-1939, đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt phong trào cách mạng ở Nam Định, được giao phụ trách công tác báo chí công khai của Đảng bộ, tích cực gây dựng một số cơ sở bí mật của Đảng, cùng tập thể cấp ủy Nam Định lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của nhân dân. Trong 5 năm (1939-1944) bị giam cầm khắc nghiệt trong lao tù từ Hỏa Lò (Hà Nội) đến Sơn La, Hòa Bình, cuối năm 1943, với vai trò Bí thư Chi bộ nhà tù Hòa Bình, đồng chí đã lãnh đạo thực hiện thành công chủ trương của Thường vụ Trung ương Đảng tổ chức vượt ngục cho nhiều cán bộ đang bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc để tăng cường cán bộ cho phong trào cách mạng, củng cố các cấp ủy đảng(2). Khi ra tù, tháng 9-1944, đồng chí được giao phụ trách công tác tổ chức, huấn luyện cán bộ và công tác bảo đảm bí mật cho An toàn khu của Trung ương. Tháng 10-1944, đồng chí được chỉ định là Ủy viên Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc kỳ, góp phần chuẩn bị điều kiện để mùa thu lịch sử năm 1945 Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Sau Cách mạng Tháng Tám, được phân công phụ trách công tác tổ chức của Đảng, đồng chí cùng với một số đồng chí lãnh đạo đã giúp Trung ương bố trí, phát triển tổ chức đảng, đoàn thể, xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, kịp thời chuẩn bị cho đất nước bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược.

Năm 1948, đồng chí tham gia Đoàn đại biểu của Đảng và Chính phủ vào miền Nam công tác, được phân công là Trưởng Ban Đảng vụ kiêm Trưởng Ban Dân vận Xứ ủy Nam Bộ, năm 1949 làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí đã dành nhiều tâm huyết trong việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng từ Xứ ủy, Trung ương Cục miền Nam đến chi bộ cơ sở, xây dựng các cơ quan chuyên môn của Đảng bộ Nam Bộ. Với quan điểm “Phải xây dựng, củng cố Đảng trong lực lượng vũ trang, trong công an, trong vùng bị địch tạm chiếm, phát triển Đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố Đảng, phải dìu dắt đảng viên mới trong công tác thực tế, phải mở lớp huấn luyện ngắn ngày cho họ. Phải luôn luôn chăm lo củng cố chi bộ, đề phòng bọn địch chui vào trong Đảng, phá hoại Đảng từ bên trong”(3), đồng chí cùng Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ rà soát đội ngũ cán bộ các khu ủy, tỉnh ủy, Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, nắm tình hình xây dựng, củng cố tổ chức đảng; đồng thời, đề xuất một số biện pháp khẩn cấp để chấn chỉnh, kiện toàn ngay lập tức một số cấp ủy đảng vì xác định cấp ủy đảng chính là đầu não của phong trào cách mạng.

Năm 1955, đồng chí tập kết ra Bắc, được bổ sung vào Bộ Chính trị phụ trách công tác sửa sai cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Cuối năm 1956, đồng chí được giao nhiệm vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trong bối cảnh tổ chức đảng gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở đảng ở nông thôn bị nghi ngờ, nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp bị bắt, bị tù đày, nghi oan... Thực hiện chủ trương kiên quyết sửa sai của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương cử cán bộ của Trung ương về địa phương, xuống cơ sở để xin lỗi nhân dân và minh oan cho cán bộ, đảng viên; qua đó từng bước củng cố lại TCCSĐ, khôi phục được lòng tin của Nhân dân đối với Đảng.

Năm 1963, Đảng phát động cuộc vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “Bốn tốt”. Trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng từ việc tham gia xây dựng nội dung đến việc chỉ đạo tổ chức thực hiện cuộc vận động, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ. Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí đã ký Nghị quyết số 122-NQ/TW ngày 6-7-1965 của Ban Bí thư về “Tăng cường lãnh đạo, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở Bốn tốt”. Đây là văn kiện đặt cơ sở lý luận, quan điểm chỉ đạo và các nội dung cơ bản cho việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “Bốn tốt”. Thông qua cuộc vận động, nhiều cấp ủy đảng đã khắc phục việc xem nhẹ công tác xây dựng TCCSĐ, nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của TCCSĐ, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, toàn diện đối với mọi hoạt động ở cơ sở. Ðó là một kinh nghiệm quý còn nguyên ý nghĩa trong chỉ đạo thực tiễn cho đến hôm nay.

Kiến trúc sư của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Đức Thọ đã dành trọn tâm sức, tài năng, trí tuệ cho công tác tổ chức xây dựng Đảng. Những đóng góp quan trọng của đồng chí có ý nghĩa to lớn, mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Dù ở đâu, giữ cương vị nào, đồng chí đều được Đảng và Bác Hồ tín nhiệm giao phụ trách công tác tổ chức của Đảng, đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam (1949-1954), Trưởng Ban Tổ chức Trung ương giai đoạn 1956-1973 và 1976-1982, Trưởng Tiểu ban nhân sự Đại hội VI của Đảng… Bằng sự nhạy bén chính trị và kinh nghiệm thực tiễn, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoạch định đường lối, chính sách về công tác tổ chức - cán bộ của Ðảng. Đánh giá về những đóng góp của đồng chí trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Trong các kỳ Đại hội III, IV, V, VI của Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công giữ cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí đã có công lớn trong việc tham gia soạn thảo xây dựng Điều lệ Đảng, xây dựng quan điểm tư tưởng cách mạng, đấu tranh kiên quyết chống các quan điểm sai trái, đặc biệt là công tác tổ chức - cán bộ. Có thể đánh giá đồng chí Sáu Thọ như một “kiến trúc sư” về lĩnh vực này”(4).

Từ Đại hội III đến Đại hội VI của Đảng, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo công tác nghiên cứu, biên soạn dự thảo các văn kiện Đại hội. Những quan điểm, chủ trương, giải pháp và kinh nghiệm của đồng chí trong công tác tổ chức - cán bộ thể hiện trong các văn kiện đại hội Đảng cho tới nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Đồng chí đã đề xuất việc nâng cao, kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc, phương pháp công tác để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới: “Bảo đảm cho tổ chức Đảng có tính năng động cao, có cơ cấu tổ chức phù hợp, có kỷ luật nghiêm minh và có tác phong chỉ đạo sâu sát”(5). Qua đó, tham mưu cho Trung ương tư tưởng, đường lối chỉ đạo đổi mới tổ chức gắn với đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, thể hiện rõ nét trong các văn kiện về xây dựng Đảng được thông qua tại các Đại hội V, VI.

Trong công tác cán bộ, đồng chí cho rằng, cần tiến hành đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bố trí đúng và bảo đảm tính kế thừa trong việc xây dựng đội ngũ cốt cán…, bảo đảm sự vững vàng của Đảng trong mọi tình thế, điều quan trọng nhất khi chuẩn bị nhân sự của Ðảng là phải biết lắng nghe nhiều ý kiến của cán bộ các cấp, không nghe một chiều hoặc ý kiến của một, hai cá nhân. Khi quyết định lựa chọn cán bộ tham gia cấp ủy, tham gia hệ thống chính trị, yêu cầu về chất lượng cán bộ, nhất là tiêu chuẩn đức - tài phải được đặt lên hàng đầu và nhấn mạnh: “Một người cán bộ tốt không thể chỉ có đức hoặc chỉ có tài. Nếu không có đức thì không thể có tài thật sự, hoặc không có tài thì khó mà có đức trọn vẹn. Có đức mà không có tài thì khó mà hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao cho. Có tài mà không có đức thì không thể phục vụ được giai cấp công nhân và nhân dân lao động”(6). Đối với cán bộ trẻ và cán bộ công tác lâu năm, khi đề bạt và sử dụng, đều phải xuất phát từ tiêu chuẩn đức - tài. Đánh giá đúng là cơ sở để đề bạt, bố trí cán bộ vào vị trí phù hợp, có lợi cho công tác của Đảng, Nhà nước, có lợi cho việc rèn luyện, phát triển của cán bộ. Phải biết kết hợp giữa cán bộ công tác lâu năm và cán bộ trẻ để bổ khuyết cho nhau, đồng thời bảo đảm sự chuyển tiếp, kế thừa liên tục, vững vàng của đội ngũ cán bộ. Quan tâm đến công tác cán bộ nữ, đồng chí cho rằng chưa chú ý đầy đủ, chưa thấy hết vai trò, vị trí của cán bộ nữ, nên chưa tích cực bồi dưỡng, mạnh dạn đề bạt, tạo điều kiện cho chị em tiến bộ và: “Muốn giải quyết tốt vấn đề đề bạt và sử dụng cán bộ nữ, chúng ta phải giải quyết tốt những quan điểm sai lệch trên đây và bản thân chị em cũng phải cố gắng nhiều hơn nữa”(7). Đối với việc đề bạt, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, đồng chí nhấn mạnh, phải quan tâm đào tạo, mạnh dạn đề bạt, sử dụng cán bộ người dân tộc trong mọi mặt công tác; đấu tranh chống lại các quan điểm lệch lạc, phiến diện, cầu toàn, thiếu tin tưởng ở khả năng của cán bộ. Về cán bộ ngoài Đảng, đồng chí yêu cầu: “Phải phát huy đầy đủ tác dụng của cán bộ ngoài Đảng và mạnh dạn đề bạt, sử dụng những người có đủ đức tài”(8).

Những tư tưởng đó được thể hiện sinh động, nhất quán trong thực tiễn hoạt động của đồng chí, nhất là trong công tác tuyển chọn, đào tạo, điều động, bố trí nhiều lớp cán bộ từ Trung ương tới địa phương. Trong những năm tháng hoạt động tại Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí là người đề xuất xây dựng Trường Trường Chinh, mở lớp và trực tiếp huấn luyện, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ Nam Bộ vừa có trình độ lý luận chính trị, vừa có thực tiễn đấu tranh cách mạng. Sau Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, đồng chí đã đề xuất và được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị chấp thuận, cho triển khai kế hoạch đưa hàng vạn con em cán bộ miền Nam ra miền Bắc học tập để sau này trở lại miền Nam phục vụ cách mạng. Trong những thập kỷ 60 - 80 của thế kỷ XX, nhiều cán bộ ưu tú ở các ngành, địa phương đã được phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, đề bạt và trưởng thành, góp phần bảo đảm thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp giải phóng đất nước và hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, từ Đại hội III đến Đại hội VI của Đảng, với vai trò Trưởng Tiểu ban nhân sự, đồng chí đã đến từng cơ sở xem xét, cân nhắc thận trọng trước khi giới thiệu cán bộ vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, giúp Bộ Chính trị chuẩn bị tốt nhân sự để lựa chọn, bầu cử Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong các kỳ đại hội Đảng.

Những bài học quý đối với Ngành Tổ chức xây dựng Đảng

Đại hội XIII của Đảng đặt ra nhiệm vụ trọng tâm “Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(9). Nhìn lại sự nghiệp 64 năm hoạt động cách mạng, hơn 20 năm cống hiến cho công tác tổ chức - cán bộ của đồng chí Lê Đức Thọ, những bài học kinh nghiệm đồng chí để lại phải được tiếp tục kế thừa, nghiên cứu sâu sắc đối với mỗi cán bộ Ngành Tổ chức xây dựng Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu trong tình hình mới.

Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu của công tác tổ chức xây dựng Đảng.

Trong suốt quá trình đảm nhiệm công tác tổ chức xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng, đồng chí Lê Đức Thọ luôn thể hiện nhất quán quan điểm: mục tiêu, nhiệm vụ của công tác tổ chức xây dựng Đảng là kiên định phục vụ đường lối chính trị của Đảng; xem công tác xây dựng Đảng là then chốt. Trong công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ là trọng tâm, trong đó cán bộ cấp chiến lược là quyết định, đồng chí nhấn mạnh: “Công tác tổ chức cán bộ đòi hỏi chúng ta phải theo sát tình hình và nhiệm vụ chính trị của Đảng, của mỗi ngành, mỗi địa phương, xem xét phân tích tình hình trên nhiều mặt. Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng nhưng lại phải đi sâu, cụ thể, nhất là khi tìm hiểu cán bộ. Nhận xét đánh giá từng người cán bộ không thể chung chung, đại khái, nhưng cũng tránh sa đà vào những việc vụn vặt mà bỏ sót những việc lớn, nhất là đối với cán bộ giữ cương vị phụ trách”(10).

Phải coi trọng kiện toàn cơ quan tham mưu về tổ chức xây dựng Đảng: “Cấp ủy lãnh đạo nhưng hàng ngày theo dõi cán bộ là do bộ phận tham mưu; nếu tham mưu mà làm sai cũng rất nguy hiểm. Bởi vậy, cấp ủy, đảng đoàn phải rất coi trọng kiện toàn cơ quan tổ chức để nó thực sự là cơ quan tham mưu đắc lực cho lãnh đạo”(11). Đồng thời, đồng chí khẳng định, công tác tổ chức rất khó khăn, phức tạp vì liên quan tới con người: “Làm công tác cán bộ đã khó nhưng hiểu cán bộ lại là điều khó hơn, “thức lâu mới biết đêm dài”, nói chung đánh giá cán bộ đúng 70 - 80% cũng là tốt rồi. Bởi vì: trong thực tế đã diễn ra có cán bộ khi chưa có quyền lực thì khác, khi đã có quyền lực rồi thì mới bộc lộ hết khuyết tật; có cán bộ trong điều kiện thuận buồm xuôi gió thì không sao, song khi không được thỏa mãn tham muốn của mình thì lại buồn phiền, bất mãn, oán trách tổ chức”(12).

Thứ hai, người làm công tác tổ chức phải gắn nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn.

Đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: “Cần tăng cường công tác nghiên cứu tổng kết để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao dần trình độ lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ tổ chức, khắc phục tình trạng sự vụ, kinh nghiệm chủ nghĩa trong công tác tổ chức”(13). Người làm công tác cán bộ phải sâu sát, đánh giá đúng từng cán bộ thuộc trách nhiệm quản lý, nắm rõ quá trình, kết quả thực hiện nhiệm vụ, ưu điểm, khuyết điểm và triển vọng để đề xuất, kiến nghị chính sách đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí phù hợp; tránh quản lý hời hợt, chỉ đánh giá cán bộ trên hồ sơ, qua những báo cáo chung chung, không nắm chắc phẩm chất, năng lực của cán bộ thông qua kết quả thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước.

Bên cạnh yêu cầu phải bám sát thực tiễn, người làm công tác tổ chức phải chủ động nghiên cứu lý luận dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là lý luận về công tác tổ chức xây dựng Đảng, những văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan; nhằm không ngừng bổ sung, hoàn thiện phương pháp làm việc đúng đắn, khoa học, tránh chủ quan, duy ý chí, áp đặt, phiến diện; đồng thời phải nghiên cứu các vấn đề về khoa học tổ chức, quản lý nhân lực, lãnh đạo học, tâm lý học,… để hiểu sâu sắc, toàn diện và có giải pháp đúng đắn về công tác tổ chức - cán bộ.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ Ngành Tổ chức xây dựng Đảng công bằng, vô tư.

Trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Lê Đức Thọ nhiều lần nhắc nhở: “Làm cán bộ tổ chức có hai điều phải chú ý, đó là công bằng, vô tư; đó là điều quan trọng nhất”(14); “nếu cán bộ tổ chức mà lệch lạc sẽ làm cho nội bộ xáo trộn, lủng củng”(15). Cán bộ tổ chức phải là những người có phẩm chất, tư cách tốt, trung thực, khách quan, vô tư, có tinh thần trách nhiệm và phải có trình độ, năng lực, phương pháp xem xét, đánh giá con người một cách đúng đắn. Trong bài viết “Thực hiện tốt việc đề bạt và sử dụng cán bộ” đăng trên Tạp chí Học tập, số tháng 11-1960, đồng chí chia sẻ tâm huyết với cán bộ tổ chức: “Thấu suốt yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và đánh giá đúng đội ngũ cán bộ của Đảng, thấu suốt đường lối công tác cán bộ trong việc đề bạt và sử dụng cán bộ là vấn đề cần thiết, nhưng chúng ta còn phải giải quyết tốt một số vấn đề khác về nhận thức tư tưởng và phương pháp công tác thì việc đề bạt và sử dụng cán bộ mới có thể mạnh dạn và chính xác được”(16). Theo đó, đồng chí yêu cầu khi xem xét cán bộ phải tìm hiểu một cách toàn diện, bởi ai cũng có khuyết điểm, cần phải xem khuyết điểm nào là căn bản, khuyết điểm nào là phụ; phải biết xét ưu điểm của người cán bộ đó là căn bản hay khuyết điểm là căn bản; cán bộ tổ chức phải luôn nghiêm khắc với bản thân, cơ quan tổ chức phải biết lắng nghe ý kiến, nếu có sai thì phải kiên quyết sửa chữa.

Với những đóng góp quan trọng của mình, đồng chí Lê Đức Thọ đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương, danh hiệu vinh dự cao quý khác; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Đảng và Nhà nước Căm-pu-chia tặng Huân chương Ăng-co. Ghi nhận công lao to lớn của đồng chí, thay mặt BCH Trung ương Đảng, thay mặt BCH Trung ương khóa VI, nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khẳng định: “Trong nhiều năm phụ trách công tác tổ chức cán bộ của Đảng, là lĩnh vực công tác rất khó khăn, phức tạp, đồng chí đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích đối với công cuộc đổi mới hiện nay”(17). Sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Đức Thọ luôn là tấm gương tiêu biểu cho các thế hệ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng noi theo, luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó.

Triết lý nguồn gốc sức mạnh Việt Nam.

 Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân Việt Nam đánh bại kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp bội để làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiếp sau là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bọn bành trướng phương Bắc.

Triết lý của sức mạnh Việt Nam là gì? Câu trả lời ngắn gọn của Hồ Chí Minh, lãnh tụ cuộc cách mạng, kháng chiến là: Đem sức ta mà giải phóng cho ta! Nhưng sức dân ta lúc đầu yếu ớt, mỏng manh. Bí quyết để vụt đứng lên như Phù Đổng Thiên Vương, có sức mạnh thần kỳ chính là: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Mẫu số chung của khối đại đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, vùng miền, dân tộc trong toàn lãnh thổ Việt Nam là: Độc lập, tự do. Độc lập dân tộc là nội dung cơ bản về quyền của các quốc gia - dân tộc, của từng thành viên, từng con người trong quốc gia - dân tộc đó.

Quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là quyền thiêng liêng của con người không ai có thể xâm phạm được. Song, con người không thể sống riêng lẻ mà phải sống với xã hội, sống trong cộng đồng quốc gia - dân tộc. Vì vậy, quyền của con người, của bộ phận… phải dựa trên cơ sở quyền của cộng đồng, quyền của dân tộc. Từ thực tiễn khách quan của các quốc gia - dân tộc bị nô dịch trên thế giới, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của cha ông ta và tiếp thu sáng tạo tư tưởng nhân quyền và dân quyền của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, đặc biệt là tư tưởng“trước hết phải trở thành dân tộc” của Chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã phát triển thành quyền của dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập... Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Độc lập gắn với tự do có sức mạnh thu phục lòng người và là chất keo gắn kết toàn dân tộc. Nó là nguồn gốc của niềm tin và ý chí chiến đấu kiên cường của dân tộc, là nhiệm vụ cơ bản lâu dài và cũng là nhiệm vụ cấp bách, nóng bỏng nhất của cả dân tộc Việt Nam trong những năm tháng đang phải sống trong cảnh nước nhà bị đế quốc, thực dân thống trị. Độc lập dân tộc là để giành lấy tự do và hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nước độc lập mà dân không có tự do, hạnh phúc thì độc lập không có nghĩa gì”.

 Hồ Chí Minh đã kế thừa chủ nghĩa yêu nước truyền thống và phát triển lên đạt tới mục tiêu đại nghĩa của dân tộc, hạnh phúc của toàn dân trong xu thế phát triển khách quan về dân tộc, xã hội và con người của thời đại, đúc kết thành chân lý: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Tư tưởng cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh vừa có bệ đỡ của quá khứ, phản ánh được khát vọng của hiện tại và soi sáng tương lai của cả dân tộc, vừa hợp với chính nghĩa của các quốc gia - dân tộc trên thế giới. Đó chính là chìa khóa vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

 Độc lập, tự do là quy luật tồn tại và phát triển xuyên suốt trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng độc lập, tự do hàm chứa nội dung tổng hòa biện chứng độc đáo về ba cuộc cách mạng giải phóng của dân tộc ta và của cả loài người: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Các cuộc cách mạng đó được thể hiện bằng các chiến lược cách mạng lâu dài và chủ trương, sách lược cụ thể phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, đất nước, xã hội và xu thế phát triển của thời đại.

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ cốt lõi lợi ích giữa dân tộc và giai cấp là cơ sở để giải quyết một cách khoa học về lợi ích của các mối quan hệ khác. Trong tư duy của Hồ Chí Minh, giai cấp - dân tộc là một thể thống nhất biện chứng. Nói dân tộc là nói tổng thể. Không có tổng thể chung chung, trừu tượng, chỉ có tổng thể là tổng hòa các mối quan hệ, liên kết giữa các giai tầng, các bộ phận, cấu thành dân tộc. Không có bộ phận nào nằm ngoài tổng thể, không có giai cấp nào nằm ngoài dân tộc. Như vậy, việc nhấn mạnh, đề cao một mặt dân tộc hay giai cấp đều là siêu hình. Nói cái này là chiến lược, cái kia là sách lược là không đúng. Trong tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh, giai cấp - dân tộc là một cấu trúc hữu cơ, thống nhất, không thể cắt rời.

Với Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp không đồng nhất một cách giản đơn, một chiều với vấn đề lợi ích và quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Nói đến giai cấp còn phải nói đến quan hệ giữa các giai cấp và đây là vấn đề trọng yếu. Vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, lợi ích của giai cấp công nhân chỉ có thể được bảo đảm khi nào giai cấp công nhân trở thành trung tâm liên kết các giai cấp, đại diện cho những lợi ích chung nhất của các giai cấp. Các nhà kinh điển Mác - Lênin nói: Giai cấp công nhân phải tự mình trở thành dân tộc, phải giương cao ngọn cờ dân tộc... là với ý nghĩa như vậy.

 Hồ Chí Minh sớm có tư duy triết học độc lập nên Người không mắc vào quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Đó là sự khác biệt của Người so với một số nhà mác-xit cùng thời trong Quốc tế III. Điều này cho thấy vì sao đường lối cách mạng Việt Nam trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt do Người soạn thảo được Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 thông qua đã bị Quốc tế cộng sản phê phán và 7 tháng sau bị thủ tiêu, thay thế bằng Cương lĩnh tháng 10-1930 do Trần Phú soạn thảo và tên Đảng Cộng sản Việt Nam đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Chân lý thường đơn giản nhưng nhận thức lại khó khăn, nhiều khi tư duy con người phải đi một đường vòng rồi thực tiễn mới giúp người ta nhận ra chân lý. Những tư tưởng về mối quan hệ giai cấp và dân tộc do Người khởi xướng tháng 2-1930 phải qua một quá trình, qua thực tiễn kiểm nghiệm, tới Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa I) năm 1941 mới trở thành tư tưởng thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, đưa tới cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 thành công, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Tư tưởng lớn mà Nghị quyết Trung ương 8 (khóa I) của Đảng nêu ra: “Trong lúc này quyền lợi của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” đã chứng minh chân lý vĩnh hằng: Không có gì quý hơn độc lập, tự do.

Để có khối đại đoàn kết dân tộc thì phải có đảng chân chính cách mạng làm nhiệm vụ tiên phong lãnh đạo, có lý luận tiên phong và đường lối đúng đắn dẫn đường thể hiện ở Cương lĩnh chính trị. Đảng phải là một khối thống nhất, chung một ý chí, chung một quyết tâm, đồng chí, đồng tâm, hiệp lực đấu tranh theo Cương lĩnh ấy. Do vậy đoàn kết trong Đảng mới bảo đảm cho khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc.

Đảng cách mạng chân chính còn phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Cũng như việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc, mục tiêu đoàn kết quốc tế trước hết và trên hết phải nhằm phục vụ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Hồ Chí Minh đặt Việt Nam trong bối cảnh chung của tình hình thế giới và cuộc cách mạng Việt Nam vận động trong quy luật phát triển chung của cách mạng thế giới. Ngay từ những ngày đầu tiên hoạt động cách mạng, từ các diễn đàn và báo chí quốc tế, Hồ Chí Minh đã không ngừng kêu gọi sự đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức, giữa nhân dân thuộc địa với phong trào công nhân thế giới. Người đã tổ chức Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo “Người cùng khổ” và tham gia Quốc tế cộng sản. Vượt qua những thiên kiến hẹp hòi về dân tộc, chủng tộc, Hồ Chí Minh đã tìm thấy những nét chung của các dân tộc thuộc địa và lên tiếng kêu gọi “Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: Sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: Giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta. Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc, vì chúng ta có tất cả dân tộc của chúng ta ủng hộ và vì những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính đứng bên cạnh chúng ta”(1). Trong giai đoạn này, khẩu hiệu “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!” của Người đã vang lên giữa Pa-ri - trung tâm thông tin của thế giới đương đại - có ý nghĩa như là sự tiếp nối và phát triển nâng lên một tầm cao mới hai khẩu hiệu chiến lược của hai lãnh tụ kiệt xuất, tiền bối của giai cấp vô sản: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” (Các Mác) và “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” (V.I.Lê-nin).

Từ cách nhìn nhận cơ bản ấy, chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã thiết lập được Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam. Trong suốt tiến trình lịch sử, đặc biệt là vào những giờ phút thử thách gay go, ngọn cờ độc lập, tự do luôn luôn được giương cao, tính chất chính nghĩa ngày càng sáng tỏ, phù hợp với xu thế chung của cách mạng, với nguyện vọng chung của đại đa số nhân dân thế giới. Chính vì vậy mà mục tiêu độc lập, tự do ngày càng được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ và sự đồng tình ủng hộ đó đã góp phần đưa cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do đến thắng lợi hoàn toàn.

Xác định đối tượng đoàn kết chủ yếu là các lực lượng, các phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình thế giới và phong trào cộng sản quốc tế, trước hết là phong trào chống chiến tranh của nhân dân các nước đang xâm lược nước ta. Từ năm 1920, Hồ Chí Minh đã lên tiếng: “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi!”.

Tiếp nhận học thuyết V.I.Lê-nin, Hồ Chí Minh tìm thấy phương hướng của cuộc đấu tranh giải phóng, “cẩm nang thần kỳ” của sự nghiệp cứu nước của các dân tộc bị nô dịch. Đồng thời, Người cũng tìm thấy một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đấu tranh ở thuộc địa. Nhân dân các thuộc địa hướng về cuộc cách mạng Việt Nam trước hết vì mục tiêu của cách mạng Việt Nam phù hợp với nguyện vọng thiết tha của các dân tộc bị áp bức là độc lập, tự do và thắng lợi của Việt Nam đã góp phần vào thắng lợi chung của phong trào chống đế quốc, có ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh trong nhiều nước. Hồ Chí Minh được ngưỡng mộ như biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc.

Cuộc đấu tranh vì nền độc lập ở Việt Nam gắn liền với mục tiêu bảo vệ hòa bình, công lý và bình đẳng. Điều đó khơi gợi lương tri của loài người tiến bộ, tạo nên những tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ từ các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và của nhiều người trên hành tinh. Điều đặc biệt là trong phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, sự ủng hộ của nhân dân Pháp trong cuộc kháng chiến chống Pháp, sự ủng hộ của nhân dân Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có vai trò và ý nghĩa rất tích cực đối với thắng lợi của nhân dân ta. Sở dĩ như vậy là do cuộc kháng chiến của Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa, hành động gây chiến của giới cầm quyền Pháp và Mỹ là phi nghĩa. Những người có lương tri ở Pháp và Mỹ đều thấy sự vô lý khi con em họ phải chết cho một cuộc chiến tranh xâm lược, họ mong muốn chấm dứt cuộc chiến để trước hết đưa những người thân của họ trở về, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác. Hồ Chí Minh đã nói rõ: “Nhân dân chúng tôi được giáo dục theo tinh thần quốc tế chân chính. Trước đây chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp và nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do với bọn can thiệp Mỹ và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn...”(2).

Rất hiếm có những cuộc đấu tranh trên thế giới lại giành được sự ủng hộ rộng rãi và lớn lao đến như vậy. Sự đồng tình và ủng hộ đó thực sự trở thành một trong những yếu tố cơ bản làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đã nhiều lần, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(3).

Trong khi đoàn kết cùng các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh luôn nhắc đến nguyên tắc tôn trọng quyền tự chủ và nền độc lập của các quốc gia khác. Đặc biệt, trong quan hệ mật thiết giữa ba nước Đông Dương, sự đoàn kết chặt chẽ chống kẻ thù chung là điều hết sức cần thiết, đồng thời tôn trọng nền độc lập của mỗi nước là điều không thể xem thường.

Trong mối quan hệ đối ngoại, Hồ Chí Minh kết hợp chặt chẽ giữa việc giữ vững độc lập, tự chủ, lấy sức ta mà giải phóng cho ta với tăng cường đoàn kết quốc tế. Ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng, Người đã sớm xác định “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(4). Trước mọi tình huống phức tạp của thế giới, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đề ra một cách chính xác đường lối cách mạng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam. Năm 1945, khi thời cơ đến, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(5). Khẳng định quyết tâm tự giải phóng, Cách mạng Tháng Tám đã thành công trước bao âm mưu của các thế lực đế quốc cùng bọn tay sai, phản động.

ĐOÀN KẾT và sức mạnh của đoàn kết: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đã được Hồ Chí Minh khái quát thành:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”.

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định triết lý sức mạnh của Việt Nam trong tình hình hiện nay là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng: “…bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đó là “Vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

-----

Tại sao có nhiều tập thể, cán bộ lãnh đạo, quản lý vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ?

Trong những năm gần đây, sau mỗi kỳ họp, Ủy ban Kiểm tra Trung ương công khai các kết luận làm việc trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có kết luận kỷ luật, kiến nghị BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm.

 Đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân rất hoan nghênh việc công khai, minh bạch các hoạt động của Đảng, trong đó có thông báo đích danh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật. Cùng với việc vi phạm kỷ luật do tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mấy năm gần đây nổi lên tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ (TTDC) của không ít BTV, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trực thuộc Trung ương, thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là tình trạng báo động vì cấp ủy, người đứng đầu vi phạm một trong những nguyên tắc rất cơ bản, rất quan trọng của Đảng.

Trong thông báo mới nhất sau kỳ họp lần thứ 4 (từ ngày 14 đến ngày 16-6-2021) của Ủy ban kiểm tra Trung ương, BTV Tỉnh ủy Bình Dương nhiệm kỳ 2015-2020 và Ban cán sự đảng UBND tỉnh này nhiệm kỳ 2016-2021 đã “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để một số tổ chức đảng, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất đai, vốn, tài sản tại Tổng Công ty Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bình Dương (Tổng Công ty 3-2), gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn tiền và tài sản của Nhà nước, nhiều cán bộ, đảng viên bị xử lý hình sự, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương”. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ đã xảy ra ngay tại ban cán sự đảng các bộ, ngành, tỉnh, thành phố như: Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (giai đoạn 2011-2016), Công an tỉnh Đồng Nai…

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), BCH Trung ương Đảng đã chỉ rõ sự hạn chế, yếu kém trong thực hiện nguyên tắc này. Đó là: “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm”(1). Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục chỉ đúng thực trạng, tình hình thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua: “Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm, thậm chí vi phạm”(2). Từ những vi phạm trong việc thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua, cán bộ, đảng viên, nhân dân đặt ra vấn đề: Tại sao ngày càng nhiều BTV cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý vi phạm nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong hoạt động của Đảng?

 Trước hết, nguyên tắc TTDC được ví như rường cột của Đảng mà trên đó hình thành cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động, xử lý, giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng, nhất là công tác cán bộ, với quần chúng, nhân dân và công tác đối ngoại. Chính vì tầm quan trọng của nguyên tắc này, từ năm 1948 Bác Hồ đã có bài giải thích rất rõ về nguyên tắc TTDC. Khi đó, Người gọi nguyên tắc này là “Cách làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách”. Đây là nội dung trong bài báo của Bác ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật số 100 ra ngày 23-9-1948. Bác giải thích rõ ràng, dễ hiểu rằng: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung”. Đồng thời Bác cũng quy rõ trách nhiệm rằng: “Người nào phụ trách thi hành, mà không làm đúng kế hoạch do đa số đã quyết định, là làm trái với nhiệm vụ của mình, và cũng không xứng đáng là một người lãnh đạo”(3).

 Như vậy, nói một cách nôm na, dễ hiểu và cũng rất đúng với bản chất của nguyên tắc TTDC là: Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Hiện nay, tất cả các tập thể BTV cấp ủy đảng, những đảng viên là ủy viên BTV và người đứng đầu cấp ủy trực thuộc Trung ương hầu hết có học vấn cao, quá trình công tác trải qua nhiều môi trường, được học tập, nghiên cứu, trải nghiệm qua nhiều trường lớp cũng như thực tiễn cuộc sống... nên  không thể nói không biết, không nhớ, không hiểu, không rõ nội dung, yêu cầu... của nguyên tắc TTDC. Việc vi phạm nguyên tắc TTDC trong thời gian qua là do một số nguyên nhân chủ quan chính sau:

Thứ nhất, tập thể cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu thiếu trách nhiệm, tự tiện, không gương mẫu trong thực hiện nguyên tắc hoạt động của Đảng. Chúng ta không thiếu tài liệu, văn bản hướng dẫn thực hiện nguyên tắc TTDC, mà chỉ thiếu tinh thần trách nhiệm, sự nêu gương trong quá trình thực hiện nguyên tắc của Đảng. Những sai phạm của không ít BTV cấp ủy, của người đứng đầu trong thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua thường ở một số lĩnh vực như đất đai, tài nguyên, việc phê duyệt và thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, công tác đánh giá, quy hoạch, đề bạt, sử dụng cán bộ... Trong mỗi lĩnh vực này đều có các văn bản quy định, hướng dẫn khá đầy đủ, chặt chẽ và kín kẽ... Thế nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, quan hệ thân hữu, gia đình, vợ, chồng, con cái và cũng do nể nang, dĩ hòa vi quý, có đi có lại mà “quên” đi việc thực hiện nguyên tắc quan trọng của Đảng. Nhiều sai phạm, khuyết điểm quá rõ ràng, đến người dân cũng thấy vô lý và dễ dàng nhận ra đúng - sai.

Thứ hai, thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Trong hầu hết các Thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khi nói đến việc vi phạm nguyên tắc TTDC thì thường gắn liền với khuyết điểm “thiếu lãnh đạo, chỉ đạo”, “thiếu” hoặc “buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát”. Lãnh đạo và kiểm tra, giám sát là hai mặt thống nhất, liên quan mật thiết với nhau. Từ lâu, Đảng ta đã đúc kết: “Lãnh đạo thì phải kiểm tra, không kiểm tra coi như không lãnh đạo”(4). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút chân lý: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”(5). Việc buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát ở đây có trách nhiệm chính thuộc về người đứng đầu cấp ủy, trực tiếp lãnh đạo công tác kiểm tra và đồng chí ủy viên BTV, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, thấy sai nhưng không dám nói, không làm tròn trách nhiệm của mình.

Thứ ba, tập thể BTV, các cấp ủy viên, người đứng đầu không thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Do không thật thà, thẳng thắn, công tâm và không có tình đồng chí trong phê bình, thậm chí vì nể nang, né tránh, lợi ích nhóm... cho nên khi tập thể cấp ủy họp trước khi ra quyết định, có đồng chí biết mà không nói hoặc nói không hết, không chỉ ra những cái sai của đồng chí mình, có khi “ngậm miệng ăn tiền” và biểu quyết thông qua nghị quyết. Về phía người đứng đầu, có người lợi dụng chức quyền, nhiều khi dùng “bình phong” tập thể để che đậy ý đồ, lợi ích cá nhân của mình. Trong thực tế, có những người đứng đầu cấp ủy biết là trái nguyên tắc của Đảng nhưng vẫn cố làm bằng được. Đến khi bị phát hiện ra thì vụ việc đã quá nghiêm trọng, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tập thể và cá nhân. Nói như Bác Hồ thì những người như thế “không xứng đáng là một người lãnh đạo”.

Thứ tư, chưa thực sự công khai, dân chủ trong quá trình thực hiện nguyên tắc TTDC. Ngày nay, công khai được coi là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình thực hiện nguyên tắc của Đảng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc TTDC. Tất nhiên có những vấn đề thuộc nội bộ của Đảng cần phải giữ bí mật theo quy định. Nhưng có những vấn đề không có trong quy định giữ bí mật, kể cả trong công tác cán bộ cần được công khai để nhân dân giám sát quá trình thực hiện. Thực tế cho thấy việc công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật trong thời gian qua không làm cho Đảng yếu đi, ngược lại, tăng niềm tin của đảng viên và nhân dân, làm cho Đảng ta mạnh hơn lên.

Thứ năm, chúng ta chưa thật sự có cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng. Tuy Đảng đã ban hành một số quy chế, quy định về việc các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý với cấp ủy, chính quyền, giám sát cán bộ, đảng viên, nhưng những quy định này chưa được thể chế hóa. Vì vậy, việc góp ý, giám sát của nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả. Việc thực hiện nguyên tắc TTDC trong các tổ chức đảng lại càng chưa có cơ chế để nhân dân giám sát, cho nên không được phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, dứt điểm khi mới phát sinh. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho một số vi phạm nghiêm trọng rất lâu mới bị phát hiện, xử lý, gây hậu quả nghiêm trọng.

Tìm ra nguyên nhân vi phạm nguyên tắc TTDC và đề ra giải pháp khắc phục chính là góp phần làm cho nguyên tắc của Đảng được giữ vững, thực sự nghiêm minh, dân chủ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

 Những năm qua, các tỉnh, thành trong cả nước luôn luôn quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) cả về số lượng và chất lượng bởi cán bộ người DTTS chiếm một vị trí quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng. Việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS luôn được Đảng xác định là yêu cầu bức thiết trong điều kiện một quốc gia có nhiều dân tộc nhằm góp phần tạo sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc; xóa đói giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, khó khăn; tạo động lực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở từng vùng, miền trong cả nước; ổn định chính trị và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Không thể cứ “thiếu và yếu”

Việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người DTTS dù đã được quan tâm, có những đổi mới, thu được nhiều kết quả song vẫn còn những khó khăn cần có hướng giải quyết phù hợp. Tại Hội thảo “Xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS” do Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội Vụ phối hợp tổ chức năm 2019, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, khi đó là Trưởng Ban Dân vận Trung ương đã chỉ ra rằng: Hiện nay, cả nước có 53 DTTS sinh sống thành cộng đồng tại 51 tỉnh, thành phố. Nhà nước đã ban hành 118 chính sách đối với đồng bào DTTS, bao gồm 54 chính sách trực tiếp, 64 chính sách gián tiếp. Tuy nhiên, chính sách này vẫn dàn trải và cần có giải pháp giải quyết tốt hơn.

Để có được đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ không dễ. Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cả nước hiện có 5.468 xã vùng DTTS và miền núi, chiếm 49% tổng số xã toàn quốc. Khoảng 87% xã DTTS phân bố ở khu vực nông thôn. Tính đến ngày 1-4-2019, 53 DTTS có khoảng 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tổng dân số cả nước. Đội ngũ cán bộ người DTTS vẫn luôn được đánh giá “thiếu và yếu” nhưng họ lại là những người có vai trò hạt nhân trong việc vận động quần chúng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền và nhân dân. Trước tình trạng đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người DTTS là yêu cầu bức thiết, có vai trò quyết định đến việc triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước. Nhận thức rõ vấn đề này, nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã có nhiều đổi mới từ khâu đào tạo, bồi dưỡng tới sử dụng đội ngũ cán bộ này đạt hiệu quả nhất.

Lạng Sơn có gần 18.000 cán bộ là người DTTS, chiếm gần 80% tổng số cán bộ toàn tỉnh. Đội ngũ cán bộ người DTTS của Lạng Sơn chủ yếu là người dân tộc Nùng, Tày, số còn lại là dân tộc Dao, Sán Chay, Hoa… Những năm qua, Tỉnh ủy đã luôn quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ này. Ngay từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020, BTV Tỉnh ủy đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt Đề án: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ là người DTTS tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh đã ban hành chương trình, đề án, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo từng năm, từng giai đoạn cụ thể. Từ đó rà soát, lựa chọn, cử cán bộ người DTTS tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn và dài hạn về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn, các kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ theo vị trí việc làm. Trung bình mỗi năm, toàn tỉnh có khoảng 7.000 lượt cán bộ là người DTTS được cử đi đào tạo, bồi dưỡng. Giai đoạn 2016-2019, tổng số cán bộ người DTTS của tỉnh được đào tạo, bồi dưỡng là 23.245 lượt người. Sau đào tạo, bồi dưỡng, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ này, nhất là cán bộ làm công tác quản lý đã được nâng lên. Tỉnh ủy vận dụng linh hoạt: Không ấn định tỷ lệ cán bộ là người DTTS tham gia BCH, BTV, các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở các cấp mà quy định số lượng phù hợp với cơ cấu dân cư và đặc điểm của địa phương, đơn vị. Trên thực tế, tỷ lệ cán bộ là người DTTS tham gia cấp ủy và giữ vị trí chủ chốt ở các ngành, các cấp trong tỉnh đều cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước, phù hợp với cơ cấu dân cư các địa phương trong tỉnh.

Lào Cai là tỉnh miền núi, biên giới có 25 dân tộc chung sống, chiếm 66% số dân toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc Mông (25%), dân tộc Tày (15%), dân tộc Dao (14%). Để xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS có chất lượng, Tỉnh ủy Lào Cai đã xây dựng Đề án quy hoạch và đào tạo cán bộ DTTS, UBND tỉnh có quy định ưu tiên tuyển dụng người DTTS vào các cơ quan của Đảng, Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Hằng năm, UBND tỉnh giao chỉ tiêu bồi dưỡng cán bộ DTTS cho các đơn vị theo ngạch và theo tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý; định hướng nội dung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành. 5 năm qua, tỉnh đã bồi dưỡng được hơn 8.500 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh và huyện là người DTTS. Tỉnh đã lựa chọn, cử gần 100 sinh viên đến các trường đại học: Y - Dược Thái Nguyên, Thủy lợi, Giao thông vận tải, Mỏ - Địa chất, Luật Hà Nội để đào tạo chuyên môn. Thực hiện chính sách ưu tiên tuyển dụng cán bộ, công chức là người DTTS, hướng mạnh về cấp xã, 5 năm qua (2015-2020), Lào Cai đã tuyển dụng 1.881 công chức, viên chức là người DTTS, chiếm 54,4% số công chức, viên chức được tuyển dụng.

Giai đoạn 2017-2019, tỉnh Tuyên Quang đã đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, các kỹ năng chuyên ngành theo vị trí việc làm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho 3.133 lượt cán bộ, công chức là người DTTS. 6 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh có 127 cán bộ, công chức là người DTTS được cử đi đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước và nghiệp vụ chuyên ngành. Huyện Yên Sơn hiện có 265 cán bộ, công chức là người DTTS, chiếm trên 39% tổng số cán bộ, công chức toàn huyện. Năm 2020, huyện có 128 cán bộ, công chức được cử đi học trung cấp và cao cấp lý luận chính trị, trong đó 44 cán bộ, công chức là người DTTS; 127 cán bộ, công chức đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn, trong đó 53 cán bộ, công chức là người DTTS. Hiện nay, nhiều xã có 100% cán bộ giữ vị trí chủ chốt là người DTTS như Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh, Kim Quan… Đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức người DTTS cấp cơ sở được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, trình độ ngày càng được chuẩn hóa. Không chỉ được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cán bộ là người DTTS ở Tuyên Quang còn thường xuyên được tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn ngày do tỉnh, huyện tổ chức về kỹ năng giải quyết các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, người có công với cách mạng..., góp phần tham mưu với chính quyền nhiều giải pháp hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Là địa phương có nhiều người DTTS sinh sống, Gia Lai luôn quan tâm đến công tác dân tộc nói chung và công tác cán bộ DTTS nói riêng. Hằng năm, tỉnh đều rà soát, lập danh sách, đánh giá đội ngũ cán bộ người DTTS để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, ngạch công chức; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cách mạng. Trong giai đoạn 2014-2018, tỉnh đã tiến hành đào tạo, bồi dưỡng được 2.580 lượt cán bộ, công chức người DTTS. Để bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho cơ sở, tỉnh cũng tuyên truyền, vận động con em đồng bào DTTS đến trường; ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút con em đồng bào DTTS sau khi tốt nghiệp đại học về công tác tại địa phương. Từ năm 2014 đến năm 2019, tỉnh đã cử tuyển 1.176 học sinh con em đồng bào DTTS đi học tại các trường đại học, cao đẳng, sau khi tốt nghiệp phần lớn các em đều được bố trí, sắp xếp việc làm phù hợp tại địa phương.

Kết quả nhiều mặt

Không chỉ quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ là người DTTS, các tỉnh, thành phố cũng chú trọng thực hiện chính sách ưu tiên đối với cán bộ DTTS (trong tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ). Để có đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, cấp uỷ các cấp ở Lạng Sơn chú trọng thu hút đội ngũ có trình độ, năng lực chuyên môn giỏi về công tác tại địa bàn khó khăn, có đông đồng bào DTTS; luân chuyển, tăng cường cán bộ lãnh đạo, quản lý là người DTTS hoặc cán bộ đến công tác tại vùng khó khăn có đông đồng bào DTTS; bố trí, sử dụng cán bộ là người DTTS vào cấp ủy, chính quyền, cơ quan nhà nước các cấp… Từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã thực hiện tuyển dụng không qua thi tuyển và bố trí phân công công tác đối với 84 sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường vào các cơ quan nhà nước; trung bình mỗi năm thu hút, luân chuyển, điều động khoảng 2.000 lượt cán bộ đến công tác ở vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống.

Với nhiều giải pháp đồng bộ, huyện Đakrông xây dựng được đội ngũ cán bộ người DTTS đủ năng lực, phẩm chất và chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận công việc. Trong tuyển dụng, sử dụng cán bộ, huyện luôn ưu tiên đưa người DTTS vào biên chế công chức, viên chức cấp huyện, cấp xã. Trong lĩnh vực giáo dục, huyện luôn quan tâm đến chính sách cử tuyển và tuyển dụng theo vị trí việc làm sau khi sinh viên tốt nghiệp ra trường. Từ năm 2013 đến đầu năm 2021, huyện đã tuyển dụng, bố trí việc làm cho 40 đối tượng cử tuyển tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng (công chức cấp xã 19, trí thức trẻ 1, viên chức sự nghiệp 19, không chuyên trách cấp xã 1 người). Nhờ vậy, những đối tượng mới ra trường có việc làm, được trải nghiệm thực tế, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc.

Có thể thấy, trong nhiệm kỳ 2015-2020, công tác cán bộ người DTTS được các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương hết sức quan tâm. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 cũng thể hiện nhất quán việc thực hiện chủ trương về công tác cán bộ người DTTS của Đảng và Nhà nước. Kết quả bầu cử tại 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương cho thấy, tổng số cấp ủy viên khóa mới được bầu là 3.330, trong đó có 389 cấp ủy viên người DTTS, đạt tỷ lệ 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%; ủy viên BTV là người DTTS có 113 đồng chí (11,86%), cao hơn nhiệm kỳ trước 0,51%; bí thư cấp ủy là người DTTS 6 đồng chí (9,23%), cao hơn nhiệm kỳ trước 1,54%.

Nhiều giải pháp đồng bộ nêu trên đã góp phần nâng cao chất lượng, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ DTTS. Cán bộ người DTTS là những người trưởng thành từ cơ sở, nắm rõ nhất đặc điểm vùng miền, được cộng đồng tín nhiệm, chính vì vậy Đảng và Nhà nước cần trao cho họ cơ hội được phát triển thông qua các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, quy hoạch, sử dụng cán bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Có như thế, họ sẽ thực sự phát huy được vai trò, có nhiều đóng góp, tạo dựng niềm tin trong nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ người DTTS thông qua mối quan hệ họ hàng, làng xóm, đặc biệt là bám sát cơ sở nên thuận lợi trong nắm bắt thực tiễn, kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Do đó, nhiều vụ việc bức xúc về đất đai, xây dựng, môi trường và các vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự xã hội… đã được giải quyết thấu đáo, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào DTTS sinh sống.

Việc tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để có những cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS có đủ năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới đang là đòi hỏi khách quan và là yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng Đảng và công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.