Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Triết lý nguồn gốc sức mạnh Việt Nam.

 Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân Việt Nam đánh bại kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp bội để làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiếp sau là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bọn bành trướng phương Bắc.

Triết lý của sức mạnh Việt Nam là gì? Câu trả lời ngắn gọn của Hồ Chí Minh, lãnh tụ cuộc cách mạng, kháng chiến là: Đem sức ta mà giải phóng cho ta! Nhưng sức dân ta lúc đầu yếu ớt, mỏng manh. Bí quyết để vụt đứng lên như Phù Đổng Thiên Vương, có sức mạnh thần kỳ chính là: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Mẫu số chung của khối đại đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, vùng miền, dân tộc trong toàn lãnh thổ Việt Nam là: Độc lập, tự do. Độc lập dân tộc là nội dung cơ bản về quyền của các quốc gia - dân tộc, của từng thành viên, từng con người trong quốc gia - dân tộc đó.

Quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là quyền thiêng liêng của con người không ai có thể xâm phạm được. Song, con người không thể sống riêng lẻ mà phải sống với xã hội, sống trong cộng đồng quốc gia - dân tộc. Vì vậy, quyền của con người, của bộ phận… phải dựa trên cơ sở quyền của cộng đồng, quyền của dân tộc. Từ thực tiễn khách quan của các quốc gia - dân tộc bị nô dịch trên thế giới, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của cha ông ta và tiếp thu sáng tạo tư tưởng nhân quyền và dân quyền của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, đặc biệt là tư tưởng“trước hết phải trở thành dân tộc” của Chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã phát triển thành quyền của dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập... Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Độc lập gắn với tự do có sức mạnh thu phục lòng người và là chất keo gắn kết toàn dân tộc. Nó là nguồn gốc của niềm tin và ý chí chiến đấu kiên cường của dân tộc, là nhiệm vụ cơ bản lâu dài và cũng là nhiệm vụ cấp bách, nóng bỏng nhất của cả dân tộc Việt Nam trong những năm tháng đang phải sống trong cảnh nước nhà bị đế quốc, thực dân thống trị. Độc lập dân tộc là để giành lấy tự do và hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nước độc lập mà dân không có tự do, hạnh phúc thì độc lập không có nghĩa gì”.

 Hồ Chí Minh đã kế thừa chủ nghĩa yêu nước truyền thống và phát triển lên đạt tới mục tiêu đại nghĩa của dân tộc, hạnh phúc của toàn dân trong xu thế phát triển khách quan về dân tộc, xã hội và con người của thời đại, đúc kết thành chân lý: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Tư tưởng cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh vừa có bệ đỡ của quá khứ, phản ánh được khát vọng của hiện tại và soi sáng tương lai của cả dân tộc, vừa hợp với chính nghĩa của các quốc gia - dân tộc trên thế giới. Đó chính là chìa khóa vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

 Độc lập, tự do là quy luật tồn tại và phát triển xuyên suốt trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng độc lập, tự do hàm chứa nội dung tổng hòa biện chứng độc đáo về ba cuộc cách mạng giải phóng của dân tộc ta và của cả loài người: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Các cuộc cách mạng đó được thể hiện bằng các chiến lược cách mạng lâu dài và chủ trương, sách lược cụ thể phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, đất nước, xã hội và xu thế phát triển của thời đại.

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ cốt lõi lợi ích giữa dân tộc và giai cấp là cơ sở để giải quyết một cách khoa học về lợi ích của các mối quan hệ khác. Trong tư duy của Hồ Chí Minh, giai cấp - dân tộc là một thể thống nhất biện chứng. Nói dân tộc là nói tổng thể. Không có tổng thể chung chung, trừu tượng, chỉ có tổng thể là tổng hòa các mối quan hệ, liên kết giữa các giai tầng, các bộ phận, cấu thành dân tộc. Không có bộ phận nào nằm ngoài tổng thể, không có giai cấp nào nằm ngoài dân tộc. Như vậy, việc nhấn mạnh, đề cao một mặt dân tộc hay giai cấp đều là siêu hình. Nói cái này là chiến lược, cái kia là sách lược là không đúng. Trong tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh, giai cấp - dân tộc là một cấu trúc hữu cơ, thống nhất, không thể cắt rời.

Với Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp không đồng nhất một cách giản đơn, một chiều với vấn đề lợi ích và quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Nói đến giai cấp còn phải nói đến quan hệ giữa các giai cấp và đây là vấn đề trọng yếu. Vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, lợi ích của giai cấp công nhân chỉ có thể được bảo đảm khi nào giai cấp công nhân trở thành trung tâm liên kết các giai cấp, đại diện cho những lợi ích chung nhất của các giai cấp. Các nhà kinh điển Mác - Lênin nói: Giai cấp công nhân phải tự mình trở thành dân tộc, phải giương cao ngọn cờ dân tộc... là với ý nghĩa như vậy.

 Hồ Chí Minh sớm có tư duy triết học độc lập nên Người không mắc vào quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Đó là sự khác biệt của Người so với một số nhà mác-xit cùng thời trong Quốc tế III. Điều này cho thấy vì sao đường lối cách mạng Việt Nam trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt do Người soạn thảo được Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 thông qua đã bị Quốc tế cộng sản phê phán và 7 tháng sau bị thủ tiêu, thay thế bằng Cương lĩnh tháng 10-1930 do Trần Phú soạn thảo và tên Đảng Cộng sản Việt Nam đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Chân lý thường đơn giản nhưng nhận thức lại khó khăn, nhiều khi tư duy con người phải đi một đường vòng rồi thực tiễn mới giúp người ta nhận ra chân lý. Những tư tưởng về mối quan hệ giai cấp và dân tộc do Người khởi xướng tháng 2-1930 phải qua một quá trình, qua thực tiễn kiểm nghiệm, tới Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa I) năm 1941 mới trở thành tư tưởng thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, đưa tới cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 thành công, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Tư tưởng lớn mà Nghị quyết Trung ương 8 (khóa I) của Đảng nêu ra: “Trong lúc này quyền lợi của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” đã chứng minh chân lý vĩnh hằng: Không có gì quý hơn độc lập, tự do.

Để có khối đại đoàn kết dân tộc thì phải có đảng chân chính cách mạng làm nhiệm vụ tiên phong lãnh đạo, có lý luận tiên phong và đường lối đúng đắn dẫn đường thể hiện ở Cương lĩnh chính trị. Đảng phải là một khối thống nhất, chung một ý chí, chung một quyết tâm, đồng chí, đồng tâm, hiệp lực đấu tranh theo Cương lĩnh ấy. Do vậy đoàn kết trong Đảng mới bảo đảm cho khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc.

Đảng cách mạng chân chính còn phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Cũng như việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc, mục tiêu đoàn kết quốc tế trước hết và trên hết phải nhằm phục vụ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Hồ Chí Minh đặt Việt Nam trong bối cảnh chung của tình hình thế giới và cuộc cách mạng Việt Nam vận động trong quy luật phát triển chung của cách mạng thế giới. Ngay từ những ngày đầu tiên hoạt động cách mạng, từ các diễn đàn và báo chí quốc tế, Hồ Chí Minh đã không ngừng kêu gọi sự đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức, giữa nhân dân thuộc địa với phong trào công nhân thế giới. Người đã tổ chức Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo “Người cùng khổ” và tham gia Quốc tế cộng sản. Vượt qua những thiên kiến hẹp hòi về dân tộc, chủng tộc, Hồ Chí Minh đã tìm thấy những nét chung của các dân tộc thuộc địa và lên tiếng kêu gọi “Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: Sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: Giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta. Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc, vì chúng ta có tất cả dân tộc của chúng ta ủng hộ và vì những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính đứng bên cạnh chúng ta”(1). Trong giai đoạn này, khẩu hiệu “Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!” của Người đã vang lên giữa Pa-ri - trung tâm thông tin của thế giới đương đại - có ý nghĩa như là sự tiếp nối và phát triển nâng lên một tầm cao mới hai khẩu hiệu chiến lược của hai lãnh tụ kiệt xuất, tiền bối của giai cấp vô sản: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” (Các Mác) và “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” (V.I.Lê-nin).

Từ cách nhìn nhận cơ bản ấy, chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã thiết lập được Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam. Trong suốt tiến trình lịch sử, đặc biệt là vào những giờ phút thử thách gay go, ngọn cờ độc lập, tự do luôn luôn được giương cao, tính chất chính nghĩa ngày càng sáng tỏ, phù hợp với xu thế chung của cách mạng, với nguyện vọng chung của đại đa số nhân dân thế giới. Chính vì vậy mà mục tiêu độc lập, tự do ngày càng được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ và sự đồng tình ủng hộ đó đã góp phần đưa cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do đến thắng lợi hoàn toàn.

Xác định đối tượng đoàn kết chủ yếu là các lực lượng, các phong trào giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình thế giới và phong trào cộng sản quốc tế, trước hết là phong trào chống chiến tranh của nhân dân các nước đang xâm lược nước ta. Từ năm 1920, Hồ Chí Minh đã lên tiếng: “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi!”.

Tiếp nhận học thuyết V.I.Lê-nin, Hồ Chí Minh tìm thấy phương hướng của cuộc đấu tranh giải phóng, “cẩm nang thần kỳ” của sự nghiệp cứu nước của các dân tộc bị nô dịch. Đồng thời, Người cũng tìm thấy một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đấu tranh ở thuộc địa. Nhân dân các thuộc địa hướng về cuộc cách mạng Việt Nam trước hết vì mục tiêu của cách mạng Việt Nam phù hợp với nguyện vọng thiết tha của các dân tộc bị áp bức là độc lập, tự do và thắng lợi của Việt Nam đã góp phần vào thắng lợi chung của phong trào chống đế quốc, có ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh trong nhiều nước. Hồ Chí Minh được ngưỡng mộ như biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc.

Cuộc đấu tranh vì nền độc lập ở Việt Nam gắn liền với mục tiêu bảo vệ hòa bình, công lý và bình đẳng. Điều đó khơi gợi lương tri của loài người tiến bộ, tạo nên những tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ từ các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và của nhiều người trên hành tinh. Điều đặc biệt là trong phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, sự ủng hộ của nhân dân Pháp trong cuộc kháng chiến chống Pháp, sự ủng hộ của nhân dân Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có vai trò và ý nghĩa rất tích cực đối với thắng lợi của nhân dân ta. Sở dĩ như vậy là do cuộc kháng chiến của Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa, hành động gây chiến của giới cầm quyền Pháp và Mỹ là phi nghĩa. Những người có lương tri ở Pháp và Mỹ đều thấy sự vô lý khi con em họ phải chết cho một cuộc chiến tranh xâm lược, họ mong muốn chấm dứt cuộc chiến để trước hết đưa những người thân của họ trở về, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác. Hồ Chí Minh đã nói rõ: “Nhân dân chúng tôi được giáo dục theo tinh thần quốc tế chân chính. Trước đây chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp và nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do với bọn can thiệp Mỹ và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn...”(2).

Rất hiếm có những cuộc đấu tranh trên thế giới lại giành được sự ủng hộ rộng rãi và lớn lao đến như vậy. Sự đồng tình và ủng hộ đó thực sự trở thành một trong những yếu tố cơ bản làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đã nhiều lần, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(3).

Trong khi đoàn kết cùng các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh luôn nhắc đến nguyên tắc tôn trọng quyền tự chủ và nền độc lập của các quốc gia khác. Đặc biệt, trong quan hệ mật thiết giữa ba nước Đông Dương, sự đoàn kết chặt chẽ chống kẻ thù chung là điều hết sức cần thiết, đồng thời tôn trọng nền độc lập của mỗi nước là điều không thể xem thường.

Trong mối quan hệ đối ngoại, Hồ Chí Minh kết hợp chặt chẽ giữa việc giữ vững độc lập, tự chủ, lấy sức ta mà giải phóng cho ta với tăng cường đoàn kết quốc tế. Ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng, Người đã sớm xác định “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(4). Trước mọi tình huống phức tạp của thế giới, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đề ra một cách chính xác đường lối cách mạng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam. Năm 1945, khi thời cơ đến, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(5). Khẳng định quyết tâm tự giải phóng, Cách mạng Tháng Tám đã thành công trước bao âm mưu của các thế lực đế quốc cùng bọn tay sai, phản động.

ĐOÀN KẾT và sức mạnh của đoàn kết: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đã được Hồ Chí Minh khái quát thành:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”.

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định triết lý sức mạnh của Việt Nam trong tình hình hiện nay là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng: “…bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đó là “Vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

-----

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét