Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

LỜI BÁC DẠY NGÀY 21/4

 

“Biết đồng sức, biết đồng lòng, việc gì khó, cũng làm xong”. Đoàn kết là yếu tổ hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến cấu kết với nhau hòng ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Người đã dùng hòn đá làm nên một hình tượng văn học rất gần gũi, giản dị khiến mọi người, từ già đến trẻ ai cũng hiểu “Hòn đá” ấy là những thế lực nào; bọn chúng dù có xảo quyệt, ngoan cố và tàn bạo đến đâu thì với sự đoàn kết, nhất trí, triệu người như một, đồng lòng hiệp lực nhất định cuối cùng nhân dân ta cũng sẽ giành được thắng lợi.

Đoàn kết luôn là yếu tố hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh; vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Thực tế lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết, chung sức, chung lòng, nhân dân Việt Nam đã luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược, dù đó là kẻ địch lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Do đó, trong bài thơ “Hòn đá”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định hòn đá dù to và nặng thế nào nhưng nếu nhiều người đoàn kết lại sẽ nhấc được nó một cách dễ dàng. Ngược lại, nếu không đoàn kết, chỉ thực hiện một cách đơn lẻ thì sẽ không bao giờ thực hiện được. Suy rộng ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói rằng, nếu chúng ta biết đoàn kết thì kẻ thù lớn như hòn đá nặng kia, sớm muộn cũng sẽ bị tiêu diệt. Đoàn kết chiến thắng giặc ngoại xâm, đồng thời đoàn kết cũng là cội nguồn thắng lợi của mọi việc. Đoàn kết thống nhất là một vấn đề thuộc về truyền thống, bản chất và nguyên tắc xây dựng của Quân đội ta. Vì vậy, việc quán triệt và vận dụng những quan điểm về đoàn kết, thống nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là một nhiệm vụ thường xuyên, là nền tảng quan trọng làm nên bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Thực tế đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và thắng lợi trong chiến đấu là bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo và quần chúng, giữa nhân dân và bộ đội, tiền tuyến và hậu phương, cán bộ và chiến sĩ. Quân đội ta là một quân đội cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta là những người cùng lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu và nhiệm vụ chiến đấu. Mối quan hệ trên dưới, quan hệ cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội ta được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí giữa những người bạn chiến đấu chung một lý tưởng.

Vì vậy, trong quan hệ hằng ngày đối với đồng chí, đồng đội thì phải thực sự thương yêu, lấy tập thể làm gia đình, đồng chí, đồng đội làm anh em, đơn vị là nhà; cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tin tưởng lẫn nhau, quan tâm giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh với bệnh thờ ơ, vô cảm, quân phiệt… làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong cán bộ, chiến sĩ, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

                                                                                             VHT.

CẨN THẬN TIẾP TAY CHO KẺ XẤU

 

Hiện nay cuộc tranh giữa Ukraine và Nga đang là một vấn đề rất nóng và được rất nhiều người quan tâm. Việt Nam đã đưa ra những ý kiến, cũng như những đường lối hợp lý về vấn đề đó. Chúng ta quyết chọn theo lẽ phải, chọn hòa bình chứ không chọn phe này nhằm chống lại nước khác. Tuy nhiên, có nhiều người do không tiếp cận đúng nguồn thông tin, cũng như chưa nhận thực được suy nghĩ của mình mà nóng vội đưa ra những ý kiến nhằm không tán thành với ý kiến của đất nước chúng ta.

Vai trò của V.I.Lênin đối với tiến trình phát triển lịch sử thế giới là không thể phủ nhận

 

V.I.Lênin là vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Lật tẩy chiêu trò bôi nhọ, kích động

 

Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

KHI SỬ LÀ MÔN HỌC TỰ CHỌN?, BÀI HỌC NHÃN TIỀN TỪ HÀN QUỐC

 

Từ năm 2005, Hàn Quốc cho phép các môn khoa học xã hội trong khối phổ thông là môn tự chọn và hệ lụy là tỷ lệ đăng ký học Lịch sử giảm dần đều theo thời gian. Kéo theo đó là hệ lụy về một thế hệ trẻ không biết Chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào thời gian nào, không biết gì về tướng Lý Thuấn Thuần - vị tướng nổi danh nhất lịch sử dân tộc Triều Tiên. 

VAI TRÒ CỦA V.I. LÊNIN ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ THẾ GIỚI LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN!

     V.I.Lênin là vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Người đã cùng với Đảng Bolshevik Nga lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười năm 1917, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại.

Kể từ sau sự kiện Cách mạng Tháng Mười với sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Xô viết đến nay, các thế lực phản động quốc tế vẫn không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận tư tưởng, lý luận và vai trò của Lênin đối với tiến trình phát triển của thế giới trong thế kỷ 20. Họ phê phán quan điểm của Lênin về thực hiện cách mạng bạo lực trong đấu tranh giành và giữ chính quyền của giai cấp vô sản, cho đó là “biện pháp cực đoan”, “xóa bỏ dân chủ”. Họ ra sức tán dương, cổ xúy cho các cuộc cách mạng xã hội bằng phương pháp hòa bình như đã diễn ra ở một số nước tư bản trong thế kỷ 19.

Trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 80 và 90 của thế kỷ 20, các thế lực thâm thù với cách mạng viện cớ vào “khúc quanh” này của lịch sử để tấn công nhằm hạ bệ vai trò lãnh tụ của Lênin đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH trong thế giới đương đại.

Vậy vì sao các loại kẻ thù lại điên cuồng chống đối quyết liệt nhằm xóa bỏ vai trò của Lênin đối với tiến trình phát triển của lịch sử thế giới hiện nay? Điều này thật dễ lý giải, đó là từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay, không có một nhà hoạt động chính trị nào trên thế giới mà tư tưởng, lý luận của họ lại được hàng triệu, hàng triệu người thấm nhuần, ủng hộ và vận dụng; không một nhân vật lịch sử nào có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng, xuất bản lưu hành ở nhiều nước với số lượng rất lớn như các tác phẩm kinh điển của Lênin.

Lênin không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà còn là một lãnh tụ cách mạng với hoạt động thực tiễn phong phú và đầy bản lĩnh. Trong cao trào cách mạng của giai cấp công nhân ở châu Âu, tháng 3-1919, Lênin đã cùng lãnh tụ cách mạng các nước lập nên Quốc tế Cộng sản III để lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới. Khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” của Mác đã được Lênin bổ sung thành: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Người chỉ rõ: “Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được”(1). Đoàn kết giai cấp công nhân thế giới, quan tâm giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa... là những cống hiến to lớn của Lênin trong việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Tư tưởng, lý luận cách mạng và vai trò của Lênin đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là vô cùng to lớn. Chính từ nguồn cổ vũ lớn lao của Cách mạng Tháng Mười, từ tính ưu việt của chế độ XHCN của Nhà nước Liên Xô, với sức mạnh về kinh tế và quốc phòng, đã trở thành nhân tố quan trọng gìn giữ hòa bình thế giới và cứu nhân loại khỏi thảm họa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy Nhà nước Liên Xô luôn ở trong vòng kiềm tỏa toàn diện của chủ nghĩa đế quốc nhưng trong nhiều thập kỷ của thế kỷ 20, Liên Xô vẫn là trụ cột của hệ thống XHCN, là điểm tựa cho phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới.

Đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng và lý luận của Lênin về cách mạng vô sản đã mở ra chân trời mới, soi đường cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xây dựng CNXH. Trong hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã vô cùng cảm động và hạnh phúc khi đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề thuộc địa” của Lênin. Người nói: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản”(2). Từ đó, Người đi theo lãnh tụ Lênin, theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, xây dựng lý luận cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc theo khuynh hướng vô sản, giải quyết thành công mối quan hệ giữa đất nước và thời đại, giữa dân tộc và quốc tế. Những luận điểm đó có giá trị lâu dài chỉ đạo đường lối cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta được dẫn đường bởi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây vừa là bài học lớn, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn 92 năm qua, vừa là cội nguồn dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH, đổi mới đất nước. Đó là những đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ và phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta trong thời đại mới.

Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh của lãnh tụ Lênin, chúng ta tiếp tục khẳng định, cho dù hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức chống phá điên cuồng Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH, song, với bản chất cách mạng, khoa học và thực tiễn lịch sử không thể phủ nhận, những di sản tư tưởng, lý luận cách mạng của Lênin vẫn đang hiện hữu và có sức sống mãnh liệt trong trái tim, khối óc của hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới. Hình ảnh và vai trò của Lênin vẫn luôn đồng hành trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới đương đại, không một thế lực nào có thể “đổi trắng thay đen” và bác bỏ được./.
(1) V.I. Lênin, Toàn tập, Nhà xuất bản Tiến bộ, Moscow, 1980, tập 41, tr.206.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.563.
Yêu nước ST.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”.

Đó là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, tháng 4- 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định giai cấp công nhân là giai cấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất, là hạt nhân của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức; bởi họ là giai cấp kiên quyết, triệt để, có tổ chức, có kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ. Do đó, khi phân tích đặc điểm của các giai cấp trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có giai cấp công nhân mới gánh vác được sứ mệnh lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc để xây dựng một xã hội mới. Để hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang đó, giai cấp công nhân phải có chính Đảng cách mạng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nòng cốt.

Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân và là đội quân chủ lực của cách mạng. Tuy vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không gắn liền với một phương thức sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập, họ cũng không có khả năng tự xây dựng một chế độ xã hội mới. Đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng giai cấp và các tầng lớp trong xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin và thành công trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến với việc bổ sung phong trào yêu nước cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Người đã nhận rõ sức mạnh to lớn từ phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, mà lực lượng đông đảo, nòng cốt là giai cấp nông dân.

Trong tình hình mới, Đảng ta khẳng định rõ: Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Tuy thành phần xuất thân, thành phần giai cấp của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đa dạng, song cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác giáo dục, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị, thực hiện toàn quân một ý chí; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh.

HAIVAN

 

Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên

 

- Thường xuyên chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Góp phần phát huy vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hiện nay “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”(3). Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những vấn đề toàn cầu của thời đại, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được Đại hội XIII tổng kết là “... kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(4). Điều đó đã củng cố niềm tin của thanh niên vào lý tưởng cách mạng, khơi dậy sức mạnh và khát vọng cống hiến của thanh niên vào sự nghiệp chung.

Tuy nhiên, những tác động khó tránh khỏi từ mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch với cách mạng nước ta cũng đang tác động đến nhận thức, tư tưởng, lối sống, niềm tin, lý tưởng của thanh niên. Mặt khác, giai đoạn phát triển mới của đất nước cũng đang làm nảy sinh trong thanh niên những nhu cầu, định hướng giá trị mới phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có chính sách và giải pháp giáo dục phù hợp, tạo điều kiện để thanh niên củng cố niềm tin, lý tưởng cách mạng và định hướng giá trị đúng đắn.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay, cần lưu ý các giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị các cấp và toàn xã hội về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược lâu dài của việc giáo dục lý tưởng cách mạng đối với thanh niên.

Với tư cách là đối tượng giáo dục, quá trình hình thành lý tưởng cách mạng chịu tác động bởi các chủ thể chính là sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia của các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có vai trò trực tiếp của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam... Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cơ bản, bao trùm, chi phối các giá trị định hướng khác trong hoạt động của thanh niên. Vì vậy, trong công tác giáo dục thanh niên, cần nhận thức vai trò đặc biệt của giáo dục lý tưởng cách mạng, gắn giáo dục lý tưởng cách mạng với giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên.

Mặt khác, lứa tuổi thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi) là tiếp tục của tuổi thiếu nhi. Do đó, gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm từ sớm, từ đầu việc định hướng lý tưởng cách mạng cho thanh niên thông qua việc giáo dục những phẩm chất cần thiết cho thiếu nhi theo “Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng” để tạo tiền đề cho bước chuyển tiếp trong quá trình giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào mà việc giáo dục nói chung, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên nói riêng được quan tâm thì tính tích cực chính trị - xã hội của họ sẽ được phát huy.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng đối với thanh niên.

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần đổi mới nội dung, hình thức giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của tuổi trẻ thông qua việc trang bị những tri thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước; làm cho thanh niên nhận thức đúng đắn tính cách mạng, khoa học và nhân văn của lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc và cũng là lý tưởng của thanh niên. Chú trọng giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc, ý thức phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, lợi ích của nhân dân. Kết hợp giữa nâng cao giác ngộ về lý tưởng cách mạng với tăng cường ý thức cảnh giác, đấu tranh chống âm mưu và hành động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. 

Ba là, quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của thanh niên, tổ chức thanh niên tham gia tích cực vào phong trào thi đua yêu nước, phong trào hành động cách mạng.

Nhu cầu, lợi ích là động lực trực tiếp trong hoạt động của con người. Việc bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay đòi hỏi phải đáp ứng các nhu cầu, lợi ích hợp lý, chính đáng, thiết thực của thanh niên về nhiều mặt, nhất là vấn đề việc làm, thu nhập; việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa.

Phong trào thi đua yêu nước là một hình thức đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, là môi trường thực tiễn để giáo dục lý tưởng cách mạng, phát huy tài năng, phẩm chất của thanh niên. Các phong trào thi đua “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”; “Tuổi trẻ tham gia xây dựng văn minh đô thị”; “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”; “Cán bộ công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” và các phong trào khác do Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam phát động đã thu hút đông đảo thanh niên hăng hái tham gia, góp phần vào thành tựu chung của cả nước trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những trải nghiệm từ cuộc sống, từ quá trình tham gia các phong trào hành động cách mạng là cơ sở để biến nhận thức về lý tưởng cách mạng trở thành tình cảm, ý chí, niềm tin vững chắc của thanh niên vào lý tưởng cách mạng vì: “Đa số người ta đều tin tưởng vào những điều họ rút ra được từ đời sống thực tế”.

 

Nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thanh niên

 


Thanh niên là mùa xuân của xã hội, là bình minh của cuộc đời. Quan niệm của Hồ Chí Minh về thanh niên Hồ Chí Minh cho rằng, thanh niên là lớp người trẻ tuổi, có hoài bão, ước mơ, giàu nghị lực và rất khát khao với lý tưởng cao đẹp, có đức xả thân vì nghĩa lớn và lòng vị tha sâu sắc. Đó là lứa tuổi có tính nhạy cảm cao với những cái mới, đẹp và tiến bộ. Do vậy, nếu được giáo dục tốt, phù hợp với tâm lý và tính cách, giáo dục tiến hành trên cơ sở tạo ra những điều kiện vật chất, tinh thần cho sự phát triển của tâm lý, tính cách đó và biết định hướng, động viên đúng mức, thanh niên sẽ say sưa với lý tưởng sống cao đẹp, phát huy tài năng, tính sáng tạo, sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa.

Trong thư “Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc” (năm 1946), Hồ Chí Minh viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(1). Ở đây, Người đã chỉ ra thanh niên là thời kỳ đẹp nhất, sống động nhất, như mùa xuân trăm hoa đua nở, tràn đầy nhựa sống. Đó là hình ảnh nói lên sức trẻ có thể dời núi, lấp biển, cả dân tộc luôn kỳ vọng, tin yêu. Trong nhiều bài nói, bài viết, mỗi khi đề cập tới thanh niên, Hồ Chí Minh cho rằng thanh niên là lớp người trẻ tuổi, có sức khỏe, năng động, sáng tạo, nhưng còn thiếu kinh nghiệm do chưa từng trải, cần phải được xã hội quan tâm, chăm sóc, vun trồng để họ trở thành người công dân hữu ích cho đất nước. Khi nói về thanh niên với tính chất là một lực lượng xã hội, Hồ Chí Minh đã xác định, thanh niên là công dân của nước Việt Nam. Đó là lực lượng đông đảo, luôn hăng hái xung phong đi đầu trong mọi nhiệm vụ khó khăn, gian khổ và có khả năng hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.

Ở một số bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thanh niên là nguồn xung lực mạnh mẽ của đất nước, là lực lượng quan trọng của cách mạng. Như vậy, khi nói về thanh niên, Hồ Chí Minh đều cho rằng thanh niên là một lực lượng năng động, sáng tạo, giàu nghị lực, có lý tưởng cao đẹp, có thể đảm trách và hoàn thành tốt các nhiệm vụ khó khăn, gian khổ khi cách mạng giao phó. Bồi dưỡng thanh niên một cách toàn diện Trước hết, cần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Đây là một trong những định hướng giáo dục XHCN cơ bản và quan trọng. Bồi dưỡng thanh niên có nhận thức đúng đắn về CNXH, nâng cao ý chí phấn đấu vì lý tưởng cao cả là độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta. Lý tưởng cao đẹp mà chúng ta đang phấn đấu thực hiện đã được Hồ Chí Minh xác định khi gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, khi kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với CNXH. Lý tưởng độc lập dân tộc, tự do và CNXH trở thành niềm tin, lẽ sống của nhiều thế hệ tiếp nối. Có giác ngộ lý tưởng cách mạng, thanh niên mới đảm đương được sứ mệnh đưa lá cờ bách chiến, bách thắng của Đảng và của dân tộc đến thắng lợi cuối cùng. Giáo dục thanh niên thấm nhuần sâu sắc lý tưởng giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, công bằng và hạnh phúc. Lý tưởng hướng tới của Hồ Chí Minh mang tư tưởng nhân văn, lấy hạnh phúc của con người làm nguyên tắc cao nhất. Người khẳng định: Học “để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh”(2). Đây chính là lý tưởng phấn đấu của thanh niên trong điều kiện mới. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong mối quan hệ đức - tài, Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa quyết định của việc xây dựng con người mới. Người yêu cầu thanh niên phải học tập, trau dồi đạo đức cách mạng.

Người cho rằng người thầy giáo phải làm kiểu mẫu cho học trò. Đồng thời, Người còn nhắc nhở thanh niên luôn luôn trân trọng, lắng nghe, tìm hiểu, suy ngẫm các gương tốt, ý hay của nhân dân. Phát huy ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi thanh niên Người thường xuyên nhắc nhở thanh niên phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện mình thành những người vừa có đạo đức tốt, vừa có trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên môn để có thể nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Người nói: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình”(8). Người quan niệm, về cách học phải lấy tự học làm cốt. Tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thanh niên là những quan điểm vừa mang tính cách mạng, tính khoa học và thấm đượm triết lý nhân văn sâu sắc. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược giáo dục, bồi dưỡng thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XXI nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhận thức quan niệm của Hồ Chí Minh về suy thoái đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 


 

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn khá nhiều về suy thoái đạo đức, lối sống. Người thẳng thắn đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Người gọi đó là các căn bệnh: “Óc hẹp hòi - Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ra uất ức và mình thành ra cô độc”23; và “Bệnh tham lam - Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”24. “Còn có những đồng chí chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công làm của tư, đạo đức cách mệnh thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”25.

Ngay từ đầu năm 1948, khi nhà nước cách mạng còn hết sức non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn, Người đã chỉ ra cần phải đấu tranh với những vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em” ngăn cản quần chúng phê bình. Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”26.

Người kiên quyết chống “Bệnh hẹp hòi”, vì “Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, .v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”27. Người giải thích về “Địa phương chủ nghĩa”, đó là: “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”28.

Sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù những biểu hiện “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” chưa phổ biến, nhưng biểu hiện của bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi, đã bị Người chỉ ra và phê phán, như các bệnh: “Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”29. “Bệnh “hữu danh, vô thực” - Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyên, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”30. “Bệnh kiêu ngạo - Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”31.

Người cũng đấu tranh với các biểu hiện che giấu khuyết điểm: “Báo cáo thì chậm trễ, làm lấy lệ. Báo cáo dối, giấu cái dở cái xấu, chỉ nêu cái tốt cái hay. Báo cáo bề bộn – chỉ góp báo cáo các ngành, các cấp dưới, rồi cứ nguyên văn chép lại gửi lên, v.v.”32.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm chỉ ra các bệnh có các biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình:

- “Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân”33.

- “Làm việc lối bàn giấy. Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành chỉ thị, nghị quyết của đoàn thể cho chu đáo… Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được hình tình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn”34.

- “Bệnh mệnh lệnh tỏ ra ở chỗ hay dựa vào chính quyền mà bắt dân làm, ít tuyên truyền giải thích cho dân tự giác, tự động”35.

Người yêu cầu chống các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân: “Phải chống sự mong muốn làm cho được lòng cấp trên còn ở dưới nhân dân thế nào cũng mặc, không thể vì lợi ích của Đảng mà chống nhân dân mà quan liêu, hạ mệnh lệnh”36.

Những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên… cũng được Người chỉ ra từ rất sớm trong một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, như: “Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần, họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”37.

Người cũng kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với các đối tượng khác để trục lợi. Người chỉ rõ: “Bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”38.

Ngay từ đầu năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu và kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện thao túng trong công tác cán bộ, mà Người gọi là: “Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”39 và “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ”40.

“Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế”41.

Nguyên nhân của những biểu hiện suy thoái có nhiều, nhưng chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Theo Hồ Chí Minh “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”.

 

Giải pháp chủ yếu thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị

 

 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trên cơ sở quán triệt Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chủ đề toàn khóa “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, các cấp công đoàn trong toàn hệ thống cần triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, coi trọng việc tổ chức tuyên truyền, học tập nội dung chuyên đề toàn khóa đảm bảo nghiêm túc, sâu rộng đến cán bộ, đoàn viên trong toàn hệ thống. Phải đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành hoạt động thường xuyên, hành động tự giác trong các cấp Công đoàn; tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của các cấp công đoàn, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên công đoàn và người lao động; các cấp công đoàn coi đây là giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, các văn bản chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, của BTV Liên đoàn Lao động tỉnh hàng năm.

Hai là, làm tốt việc lựa chọn nội dung cụ thể để đăng ký việc làm theo Bác của các tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo với chủ đề “Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào Nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn các cấp nhiệm kỳ 2018 - 2023 và gắn với các phong trào thi đua của tổ chức Công đoàn. Hướng dẫn các cấp công đoàn tổ chức học tập, sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt chuyên đề bằng các hình thức phù hợp, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị để tổ chức làm theo; lựa chọn những vấn đề trọng tâm, những vấn đề đoàn viên, người lao động quan tâm để tập trung giải quyết có hiệu quả giúp cho việc làm theo Bác mang tính thiết thực, dễ nhớ, dễ làm, hết sức tránh hình thức.

Ba là, coi trọng việc phát huy việc làm gương của người đứng đầu các đơn vị trong toàn hệ thống công đoàn toàn tỉnh đối với những nội dung đăng ký làm theo Bác gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Tiếp tục chỉ đạo duy trì việc viết tin, bài đăng tải trên chuyên mục “Học tập và làm theo Bác” trang thông tin điện tử (WEBSITE) của Liên đoàn Lao động tỉnh đảm bảo kịp thời, thiết thực, hiệu quả. Qua đó, tạo sự lan tỏa và hiệu ứng tích cực cổ vũ toàn thể cán bộ, đoàn viên, công nhân viên chức, người lao động trên toàn địa bàn khắc phục mọi khó khăn, thách thức để cùng với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Bốn là, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cấp CĐCS và cán bộ, đoàn viên CNVCLĐ. Kịp thời phát hiện nhân diện những tập thể, cá nhân tiêu biểu có cách làm sáng tạo, hiệu quả đồng thời có biện pháp uốn nắn, xử lý những đơn vị thực hiện không nghiêm túc, vi phạm khuyết điểm.

Năm là, định kỳ tiến hành đánh giá sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm gắn với việc tổ chức tôn vinh khen thưởng các điển hình tiến tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn hệ thống nhân dịp chào mừng kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu (19/5) hàng năm đảm bảo theo đúng quy định.

 

Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong tiến trình lịch sử cách mạng: Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử và cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh của nhân dân là rất to lớn, tuy nhiên nếu được khéo léo tổ chức, tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì sức mạnh đó sẽ là sức mạnh vô địch: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”

Chính vì vậy, để thực hiện tốt và hiệu quả hơn chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn đảng, cần thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

Một là, thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Hai là, xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định dân là gốc, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế, đồng thời luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước hết Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình trong việc xây dựng, triển khai thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là trong công tác cán bộ và thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân. Nhân dân có thể tham gia đóng góp ý kiến ở những khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. 

Ba là, tiếp tục chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Muốn phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ đó vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ ngày càng được khẳng định và hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân cũng được nâng cao hơn.

Khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

 


Sau hơn 35 năm Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Kết quả đó là nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho sự nghiệp đổi mới của Đảng

2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp khó lường, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện và bằng nhiều biện pháp, đã đặt ra cho Đảng, Nhà nước những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết cần phải tiếp tục khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Muốn vậy, cần nhận thức đúng và chú trọng một số vấn đề cụ thể sau:

 

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp lý luận mác xít với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu có tính nguyên tắc, giữ vai trò nền tảng, then chốt đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

 

Hai là, tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để vận dụng phù hợp vào tình hình thực tiễn đất nước. Tiếp tục nghiên cứu các học thuyết xã hội hiện đại, những vấn đề lý luận và thực tiễn mới của thời đại để tiếp thu tinh hoa văn hóa, trí tuệ của nhân loại, bổ sung và làm giàu thêm hệ giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, đấu tranh không khoan nhượng với mọi quan điểm thù địch, bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần thúc đẩy khoa học và thực tiễn phát triển đúng hướng.

 

Ba  là, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Cần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội, bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ. Việc học tập lý luận chính trị phải được tiến hành thường xuyên, trở thành nhu cầu, nguyện vọng của mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình công tác.

 

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, bằng nhiều hình thức và biện pháp phù hợp, sáng tạo; đấu tranh trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, tính lý luận và giàu sức thuyết phục. Muốn vậy, phải đào tạo, rèn luyện đội ngũ chuyên gia, cán bộ có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

 

 

Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, công tác tuyên truyền chính là một vũ khí sắc bén trong đấu tranh, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

          Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác tư tưởng. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này như: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17/4/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõTăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

          Để đổi mới công tác tuyên truyền nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, trong thời gian tới các cấp ủy đảng, từng cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng về ý nghĩa, vai trò tầm quan trọng của công tác tư tưởng đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đồng thời, phải luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng và thường xuyên tuyên truyền đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta. Phải kịp thời nắm bắt, xử lý và định hướng thông tin, phát hiện và ngăn chặn những thông tin xấu; thường xuyên nghe báo cáo tình hình, kết quả và định hướng tuyên truyền.

Thứ hai, mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền; thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên. Gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Thứ ba, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp, đảm bảo tính định hướng, phong phú hấp dẫn. Cần làm tốt công tác lựa chọn thông tin và cập nhật những thông tin mới trong công tác tuyên truyền. Kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

 

HỌC BÁC VỀ QUÝ TRỌNG THỜI GIAN

 

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được. 

Bác bảo: 

- Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. 

Bác hỏi: 

- Chú đến muộn mấy phút?

- Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ!

- Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: 

- Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!.

Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập.

Bài học kinh nghiệm

Quỹ thời gian của con người là có hạn. Người ta có thể làm lại một cái nhà, một con đường,… nhưng không thể lấy lại được một tích tắc thời gian đã mất đi. Chính vì lẽ đó mà thời gian còn quý hơn vàng, bạc. Tiết kiệm thời gian là tiết kiệm thông minh và văn minh nhất. Mỗi người đều có thể tiết kiệm được thời gian của mình. Tuy nhiên, để thực hiện điều đó chúng ta cần phải làm việc phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết; làm việc ngăn nắp, gọn gàng; thầy cô chuẩn bị bài chu đáo trước khi lên lớp, lên lớp đúng giờ, sử dụng hiệu quả giờ học; cán bộ cần chuẩn bị nội dung tốt trước khi tiến hành tổ chức hội họp, tiếp dân,... Đó chính là tiết kiệm thời gian của mình và của mọi người.

 

Nhận thức mới trong 5 bài học kinh nghiệm (ĐHXIII)

 


- Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Đại hội XIII đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, và trong mỗi bài học kinh nghiệm, đại hội đều có những nhận thức mới. 

Bài học thứ nhất về xây dựng Đảng, Đại hội xác định: Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Điểm mới của bài học này so với các đại hội trước là xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nhấn mạnh xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; nhấn mạnh hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Bài học thứ hai về dân, Đại hội xác định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điểm mới của bài học này là phải thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; nhấn mạnh lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Bài học thứ ba về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, Đại hội xác định: Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn; đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; thực hiện tốt sự phối, kết hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển.

Điểm mới của bài học này là trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, có bước đi phù hợp; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế.

Bài học thứ tư về thể chế và giải quyết các mối quan hệ: tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hòa giữa kế thừa và đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa độc lập, tự chủ với tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực sự coi trọng, phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong phát triển đất nước.

Điểm mới của bài học này là nhấn mạnh tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển (cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại).

Bài học thứ năm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Đại hội xác định: chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ; phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Nhận thức quan niệm của Hồ Chí Minh về suy thoái tư tưởng chính trị

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng. Ngay từ tháng 10/1947, hai năm sau khi giành được chính quyền, Người đã yêu cầu cán bộ, đảng viên sửa đổi lối làm việc, chỉ rõ phải đấu tranh với những hiện tượng thờ ơ trước những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái: “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”1.

Người phê phán những đảng viên dao động, thiếu lý tưởng cách mạng: “Nếu chỉ có công tác thực tế, mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt. Như thế, chỉ là người sự vụ chủ nghĩa tầm thường”2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”3.

Người kiên quyết chống những nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Người nói: “Trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập”4. “Có một số đồng chí không chịu nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của cách mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy, họ chỉ học thuộc ít câu của Mác-Lênin, để lòe người ta. Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng”5. Người kiên quyết chống những biểu hiện không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác: “Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”6.

Trong tự phê bình, phê bình, Người kiên quyết chỉ ra và đấu tranh với những biểu hiện không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyến điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật: “Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đứng đắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hòa”. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình-nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình… Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mác xít”, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do”7.

Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh: “Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh báo qua loa cho xong chuyện. Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thể. Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sữa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật. Tai hại hơn nữa nếu kỷ luật của đoàn thể  lỏng lẻo, những phần tử phản động sẽ có cơ hội chui vào hàng ngũ ta để phá hoại đoàn thể ta”8.

Người lấy ví dụ: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người… Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”9. “Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”10!

Người cũng chỉ ra nhiều biểu hiện lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”11. “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””12.

Hồ Chí Minh chỉ ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác: “Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”13.

Người phê phán những biểu hiện duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác: “Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết”14. “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”15. Người chỉ ra: “Trong Đảng ta có một số không ít đồng chí mắc bệnh công thần, cho rằng mình đã tham gia cách mạng lâu năm mà tự kiêu, tự mãn. Hoạt động cách mạng lâu năm là tốt, nhưng phải khiêm tốn học tập để tiến bộ mãi”16.

Kiên quyết chống những biểu hiện tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác, mà Hồ Chí Minh gọi là: “Bệnh hiếu danh - Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Nhưng người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”17.

Người yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau. Bệnh cá nhân còn dẫn đến tệ bảo thủ, quan liêu, tham ô, lãng phí, sợ khó, sợ khổ, thấy khó khăn thì đâm ra tiêu cực, bi quan”18, từ đó dẫn đến những biểu hiện chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. “Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình”19.

Những biểu hiện chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình Người gọi là “Bệnh cận thị - Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”20.

Người đấu tranh với những biểu hiện tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích và gọi đó là: “Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”21. Người phê bình thẳng thắn: “Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm nên cả họ được nhờ”, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”22.