Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

Việt Nam-Ấn Độ: Cùng sẻ chia giá trị, hướng đến tương lai

 

Việt Nam-Ấn Độ: Cùng sẻ chia giá trị, hướng đến tương lai

Việt Nam, Ấn Độ ngày càng trở thành những đối tác chiến lược toàn diện rất quan trọng của nhau, nền tảng nào để hai bên có niềm tin vững chắc vào tương lai? Những cơ hội hợp tác song phương nào là tiềm năng vô tận có thể khai phá?

Những nhận định của Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Phạm Sanh Châu với TG&VN nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hạ viện Cộng hòa Ấn Độ Om Birla đã phần nào trả lời những câu hỏi đó.

Thưa Đại sứ, chuyến thăm lần này của Chủ tịch Hạ viện Cộng hòa Ấn Độ Om Birla có ý nghĩa như thế nào trong việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ nghị viện giữa hai nước nói riêng cũng như quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ nói chung trong thời gian tới?

Năm 2022 là năm Việt Nam và Ấn Độ kỷ niệm tròn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong bối cảnh đó, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla mang ý nghĩa biểu tượng cao đối với quan hệ hai nước. Đây là chuyến thăm cấp cao quan trọng trong năm 2022 của một lãnh đạo Ấn Độ tới Việt Nam, là sự tiếp nối chuyến thăm chính thức Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ tháng 12/2021.

Chuyến thăm diễn ra khi cả hai nước đã ứng phó thành công với đại dịch Covid-19, nền kinh tế hồi phục mạnh mẽ sau đại dịch.

Cả hai nước đang thực hiện mở cửa trở lại, thúc đẩy quan hệ song phương. Đảng Nhân dân Ấn Độ cầm quyền vừa giành nhiều thắng lợi quan trọng trong các cuộc bầu cử địa phương năm 2022. Việt Nam vừa tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đầu năm 2021 và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong năm đầu triển khai. Quan hệ giữa hai nước đang tiến triển năng động. Ngày 15/4, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Narendra Modi đã điện đàm, chia sẻ sâu rộng về tình hình phát triển và quan hệ hai nước cũng như các vấn đề khu vực, quốc tế mà hai bên cùng quan tâm.

Từ phía Ấn Độ, có thể thấy Thủ tướng Narendra Modi đã thăm chính thức Việt Nam vào tháng 9/2016, hai bên nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện. Tổng thống Ram Nath Kovind thăm cấp Nhà nước tháng 11/2018. Phó Tổng thống Venkaiah Naidu thăm Việt Nam, dự Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc tháng 5/2019, thúc đẩy mở đường bay thẳng giữa hai nước. Với chuyến thăm lần này của Chủ tịch Hạ viện Om Birla, bốn lãnh đạo đứng đầu Ấn Độ đều đã thăm Việt Nam trong hai nhiệm kỳ của Thủ tướng Narendra Modi.

Chuyến thăm là minh chứng rõ ràng cho thấy hai bên hết sức coi trọng lẫn nhau và mối quan hệ song phương. Chuyến thăm không chỉ thể hiện sự tiếp nối truyền thống trao đổi Đoàn cấp cao giữa hai nước và bề dày mối quan hệ truyền thống hữu nghị tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Nehru và các thế hệ lãnh đạo hai nước đã dày công vun đắp mà còn góp phần tích cực duy trì, củng cố đà phát triển toàn diện quan hệ Việt Nam-Ấn Độ.

Tôi tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần tạo bước tiến triển quan trọng cho quan hệ song phương trên toàn diện các lĩnh vực.

Ấn Độ đang tích cực thúc đẩy chính sách Hành động hướng Đông, Việt Nam cần phải làm gì để tối đa hóa được những cơ hội hợp tác, tạo ra những bước đột phá mới trong quan hệ song phương, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, thưa Đại sứ?

Nói đến chính sách Hành động hướng Đông thì đây là chính sách được đưa ra năm 2014 trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ thứ nhất của Thủ tướng Modi.

Chính sách đã tạo bước chuyển quan trọng trong quan hệ giữa Ấn Độ với các nước phía Đông của Ấn Độ. Xuất phát điểm là sáng kiến về kinh tế, hàm ý của chính sách này đã dần được mở rộng sang các lĩnh vực chính trị, chiến lược, văn hóa, trong đó có cả việc thiết lập các thiết chế đối thoại và hợp tác.

Nói về quan hệ giữa hai nước, nhất là quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư, thì đang phát triển tốt. Ấn Độ là đối tác thương mại lớn thứ tám của Việt Nam.

Việt Nam là đối tác thương mại toàn cầu lớn thứ 17 và đối tác ASEAN lớn thứ tư của Ấn Độ. Kim ngạch thương mại song phương năm 2021 đạt 13,2 tỷ USD, tiến gần tới mục tiêu 15 tỷ USD. Hai bên vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển trên cơ sở các thế mạnh và điểm tương đồng.

Có thể thấy, rất nhiều cơ hội hợp tác kinh tế và kết nối trên nhiều lĩnh vực đang mở ra giữa hai nước. Để có thể tận dụng tốt và phát huy các cơ hội này, tôi cho rằng Việt Nam cần chú trọng và thúc đẩy hơn những điểm chủ chốt sau:

Một là, cần chú ý, chủ động kết nối nhiều hơn với tám tỉnh Đông Bắc Ấn Độ. Đây là các tỉnh trọng tâm trong chính sách Hành động hướng Đông, là đầu cầu và đầu mối cho các kết nối giữa Ấn Độ với các nước phía “Đông”.

Hai là, mở rộng các kết nối thực tế, hay còn gọi là kết nối vật lý, giữa hai nước. Kết nối vật lý có nhiều hình thức, có thể là kết nối đường bộ, đường biển, đường không… Đây là yếu tố tối cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương.

Ba là, chú trọng tới kết nối số. Đây là lĩnh vực Ấn Độ có thế mạnh rất lớn, cả từ góc độ công nghệ, kinh nghiệm và hạ tầng. Ấn Độ cũng đã dành khoản tín dụng 1 tỷ USD để hỗ trợ các dự án kết nối số cho các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Chúng ta cần thu hút, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Ấn Độ tham gia vào các chương trình công nghệ của Việt Nam, đẩy mạnh trao đổi, học hỏi kinh nghiệm xây dựng chính sách, quy định pháp luật về quản lý số và ứng dụng số.

Bốn là, đẩy mạnh kết nối con người, thúc đẩy quan hệ giáo dục, phát triển du lịch giữa hai nước. Nền tảng cho kết nối trên lĩnh vực này đã được hai bên thiết lập. Mỗi năm Ấn Độ đều cấp nhiều học bổng cả trực tiếp và gián tiếp qua ASEAN cho Việt Nam. Bạn cũng giúp ta đào tạo kỹ thuật, nhân lực trong lĩnh vực quốc phòng.

Đồng thời, Ấn Độ cũng gửi chuyên gia một số lĩnh vực sang Việt Nam. Ta cần tận dụng tốt các cơ hội này, tăng cường thông tin về các nguồn học bổng để nhiều đối tượng học sinh, sinh viên Việt Nam biết và tiếp cận. Đồng thời, cũng cần nắm bắt các khoảng trống trong nền giáo dục Ấn Độ - dân số rất lớn, nhu cầu đào tạo rất cao, trong khi đáp ứng trong nước có hạn.

Năm là, kết nối du lịch. Hai mảng rất triển vọng nên được tập trung đẩy mạnh trong thời gian tới là du lịch tâm linh, đưa người Việt tới Ấn Độ và du lịch đám cưới đưa người Ấn Độ, nhất là giới siêu giàu tới Việt Nam.

Tôi thấy hai nước có nền tảng và cơ hội rất vững chắc cho sự phát triển này. Hai nước chia sẻ nhiều điểm tương đồng về các giá trị cơ bản, có nhiều kết nối về văn hóa, văn minh, lịch sử. Ấn Độ là một nền văn hóa rất lớn, có rất nhiều công trình văn hóa tâm linh, lịch sử nổi tiếng, có sức hút lớn với người Việt. Trong khi đó, Việt Nam có nhiều cảnh quan thiên nhiên, khu nghỉ dưỡng tuyệt đẹp, được giới trẻ và giới siêu giàu Ấn Độ quan tâm.

Sáu là, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực khác mà hai bên cùng quan tâm, chia sẻ. Tình hình thế giới, khu vực hiện nay đang biến động hết sức phức tạp, khó lường. Vượt trên những biến động đó, Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng về quan điểm, lập trường về các vấn đề quốc tế và khu vực cũng như vai trò trung tâm của ASEAN trong khu vực. Đây là một nền tảng tốt để duy trì, thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong bối cảnh hiện nay, giúp Việt Nam cũng như ASEAN củng cố mạnh mẽ hơn vai trò trung tâm đối với khu vực.

Đại sứ từng chia sẻ thật khó để đánh giá tầm vóc và chiều sâu của mối quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ trong suốt 50 năm qua! Tuy nhiên, theo Đại sứ, đâu là giá trị cốt lõi và quan trọng nhất được vun đắp suốt năm thập kỷ? Trong bối cảnh quan hệ quốc tế có nhiều điểm phức tạp như hiện nay, giá trị và nền tảng đó có ý nghĩa như thế nào với quan hệ song phương, thưa Đại sứ?

Với tôi, sự gắn bó và chia sẻ sâu sắc nhất giữa hai nước là sự giao lưu văn hóa và tôn giáo trong lịch sử. Ấn Độ là một xã hội đa tôn giáo với sáu tôn giáo lớn chung sống hòa bình với nhau. Việt Nam là một nền văn hóa tôn trọng các giá trị lịch sử, văn hóa, văn minh, tôn trọng tâm linh, gắn bó với tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên.

Sự chia sẻ quan trọng thứ hai là các giá trị cơ bản của nhân loại. Đó là phản đối bạo lực, yêu chuộng, bảo vệ hòa bình, bình đẳng, bác ái. Các giá trị này cùng với sức mạnh mềm to lớn là Phật giáo và Yoga mà người dân cả hai nước đều quan tâm đã tạo nền tảng cho sự cảm thông, chia sẻ lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, tạo điều kiện để nhân dân hai nước phát triển các mối quan hệ giao lưu đậm đà, thường xuyên thăm hỏi lẫn nhau.

Ngay cả khi số lượng kiều bào của nước này ở nước kia không hề lớn, cộng đồng kiều bào vẫn có nhiều quan tâm, chia sẻ với cộng đồng người dân sở tại ở nơi sinh sống.

Điểm quan trọng thứ ba là sự chia sẻ những giá trị trong ứng xử đối ngoại. Cả hai nước đều là thành viên Phong trào Không liên kết. Hai nước đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó và niềm tin chiến lược. Trong bối cảnh thế giới, khu vực hiện nay, Ấn Độ càng nổi lên là một đối tác chiến lược toàn diện rất quan trọng của Việt Nam.

Điểm quan trọng thứ tư là giá trị quan hệ hợp tác trên toàn diện các lĩnh vực, trong đó điểm nhấn tạo nên sự khác biệt so với các mối quan hệ khác là hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, nhất là về đào tạo, tập huấn, hiện đại hóa trang thiết bị.

Với sự chia sẻ các giá trị này, quan hệ truyền thống Việt Nam-Ấn Độ đã, đang và cần tiếp tục được củng cố, phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị-ngoại giao, quốc phòng, kinh tế-thương mại-đầu tư, văn hóa, giáo dục, khoa học-công nghệ. Tôi tin tưởng triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam-Ấn Độ rất tốt đẹp.

 

Bộ Chính trị tổ chức hội nghị về phát triển vùng ĐBSCL

 

Bộ Chính trị tổ chức hội nghị về phát triển vùng ĐBSCL

Hội nghị về thực hiện Nghị quyết phát triển vùng ĐBSCL diễn ra sau Hội nghị về thực hiện Nghị quyết phát triển vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

Hôm nay (22/4), dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đây là hội nghị thứ 2 về phát triển vùng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức. Hội nghị đầu tiên được tổ chức vào sáng 15/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhằm quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 11 ngày 10/2/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

ĐBSCL là vùng kinh tế quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước, có vị trí địa chính trị và an ninh quốc phòng hết sức quan trọng, là đồng bằng châu thổ lớn nhất của Đông Nam Á, vựa lúa của cả nước, có nền văn minh sông nước độc đáo, nơi sinh sống của hơn 17 triệu đồng bào dân tộc anh em như Kinh, Khmer, Chăm,...

Với ý nghĩa, vai trò quan trọng như vậy, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến vùng ĐBSCL. Nhiều nghị quyết, văn bản quan trọng về vấn đề này đã được Đảng ta ban hành, trong đó có Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2010.

Nghị quyết số 21-NQ/TW đã xác định những định hướng, mục tiêu, giải pháp quan trọng để đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững của Vùng, trong đó nêu rõ mục tiêu: “Xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hiệu quả, bền vững; gắn phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất mới, phù hợp; các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là với đồng bào Khmer và nhân dân vùng ngập lũ; phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc phòng vững chắc”.

Mục tiêu của Nghị quyết số 21 đã cơ bản được hoàn thành; tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL, phát huy được tiềm năng, lợi thế của vùng, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cả nước thời gian qua…

Sau gần 20 năm triển khai, Bộ Chính trị thống nhất ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 21 về "Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" với tư duy, quan điểm, tầm nhìn phù hợp bối cảnh mới, nhằm đưa ra các mục tiêu, chủ trương, giải pháp cụ thể khắc phục những hạn chế, yếu kém, tháo gỡ các khó khăn trong thực hiện Nghị quyết số 21, để tiếp tục tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới.

 

Tư tưởng của V.I.Lênin soi sáng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Tư tưởng của V.I.Lênin soi sáng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Ngày 22/4/1870, V.I.Lênin-nhà tư tưởng vĩ đại, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới chào đời tại Simbirsk (nay là Ulianovsk), nước Nga. 152 năm trôi qua nhưng đến nay, những quan điểm, tư tưởng của V.I.Lênin vẫn là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại tiến bộ hướng đến xây dựng một xã hội thật sự tốt đẹp mà ở đó con người được giải phóng triệt để, có cuộc sống tự do, hạnh phúc.

Với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của V.I.Lênin không chỉ mở ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà còn soi sáng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đặc biệt, nhiều quan điểm của V.I.Lênin còn cung cấp cho chúng ta những luận cứ khoa học để đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Một trong số đó phải đề cập đến quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của chính trị với kinh tế đã trở thành cơ sở để đấu tranh chống lại các luận điểm phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa-mô hình kinh tế tổng quát ở Việt Nam hiện nay.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đây là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới vừa phù hợp xu thế chung của nhân loại, vừa căn cứ trên tình hình thực tiễn của Việt Nam.

Xoay chung quanh mô hình kinh tế này, các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc, chẳng hạn như: Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa như nước với lửa về bản chất là không thể kết hợp được với nhau, do đó Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế này là sai lầm, ảo tưởng, trái quy luật; kinh tế thị trường ở Việt Nam về hình thức là chủ nghĩa xã hội nhưng thực chất đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, vì thế thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là thành công của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa…

Những quan điểm này hướng đến đích cuối cùng là phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thấy những quan điểm này là sự bịa đặt vô căn cứ.

Khi bàn đến mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”(1), chính trị nảy sinh trên cơ sở kinh tế, phản ánh kinh tế, do kinh tế quyết định; nhưng ngược lại chính trị cũng có thể tác động trở lại kinh tế, nhất là chính trị giữ vai trò lãnh đạo, định hướng cho sự phát triển kinh tế. V.I.Lênin chỉ rõ: các giai cấp đấu tranh chính trị với nhau (đấu tranh để giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước) trước hết là vì mục đích kinh tế, chỉ giai cấp nào nắm trong tay quyền lực chính trị mới có thể đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách bảo vệ tối đa cho quyền, lợi ích của giai cấp mình mà đầu tiên là lợi ích kinh tế.

Bởi vậy, khi chưa có chính quyền trong tay, các giai cấp sẽ đấu tranh để giành chính quyền, khi đã có chính quyền, các giai cấp sẽ tìm mọi cách giữ chính quyền lâu nhất có thể và sử dụng chính quyền đó một cách hiệu quả định hướng cho sự phát triển kinh tế-xã hội để nhằm bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình. Từ đây, V.I.Lênin cũng khẳng định rằng bản thân giai cấp vô sản và nhân dân lao động muốn đấu tranh để tự giải phóng mình về mặt kinh tế thì trước hết phải giành cho được một số quyền chính trị nhất định. Do đó, theo V.I.Lênin: “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế” (2).

Cũng chính vì thế mà trên thực tế, không có một mô hình kinh tế nào trong bất kỳ chế độ xã hội nào kể từ khi xuất hiện giai cấp, nhà nước lại không chịu sự định hướng bởi một nền chính trị của một giai cấp nhất định trong xã hội và kinh tế thị trường cũng không phải là một ngoại lệ. Mặt khác, bản thân kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường là thành tựu của nền văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, do đó dù là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản đều có thể sử dụng kinh tế thị trường để thúc đẩy kinh tế phát triển.

Tất nhiên, cùng là kinh tế thị trường nhưng do được lãnh đạo, định hướng bởi những nền chính trị của các giai cấp cầm quyền khác nhau, nên về bản chất và mục tiêu phát triển của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khác nhau. Đó là một sự thật không gì có thể phủ nhận được.

Thực tế cho thấy: Trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nhà nước tư sản can thiệp, điều tiết nền kinh tế chủ yếu là nhằm tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ theo những quy luật vốn có của nó, bảo đảm kinh tế tăng trưởng tối đa để phục vụ cho lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản thống trị trong xã hội, bảo vệ chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

Tiến bộ và công bằng xã hội không phải là đích đến của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cho nên vấn đề thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, bảo vệ lợi ích cho người lao động chỉ được nhà nước tư sản đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường làm cho xã hội phân hóa (giàu nghèo), mâu thuẫn xã hội (nhất là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động-biểu hiện xã hội của mâu thuẫn tất yếu về mặt kinh tế giữa lực lượng sản xuất đã đạt trình độ xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) trở nên sâu sắc, gay gắt đe dọa sự thống trị của giai cấp tư sản.

Cũng chính vì các chủ trương, chính sách đưa ra chỉ nhằm xoa dịu, điều hòa mâu thuẫn tạm thời, tạo cơ sở cho chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển mạnh mẽ chứ không giải quyết triệt để được mâu thuẫn, do đó nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa càng phát triển, càng phục vụ tốt hơn cho lợi ích của giai cấp tư sản thì lại càng chà đạp nhiều hơn lên lợi ích, quyền lợi của đa số nhân dân lao động, bởi thế nó lại càng không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có và tất yếu không thể tránh khỏi rơi vào các cuộc khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng.

Đây là hậu quả tất yếu “của một quá trình phát triển kinh tế-xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(3) như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã từng chỉ rõ.

Trái lại, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý, điều tiết nền kinh tế lại vì mục đích chính là nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường dễ làm nảy sinh các hiện tượng bất công, bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo…; quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội được chủ động giải quyết ngay từ đầu nhằm bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả các giai tầng trong xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân để không một ai bị bỏ lại phía sau.

“Gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(4) là một đặc trưng mang tính bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó khác biệt hoàn toàn so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Cũng bởi thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: chúng ta “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”.

Ngược lại, “mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(5).

Như vậy, về hình thức cùng là kinh tế thị trường nhưng khi nó được định hướng bởi những nền chính trị khác nhau thì bản chất và mục tiêu phát triển của nó cũng khác nhau. Rõ ràng, khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa chủ yếu phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản thống trị thì với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tăng trưởng kinh tế là nhằm hiện thực hóa những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vì mục tiêu này mà trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước có thể chủ động hy sinh những lợi ích kinh tế để bảo vệ quyền lợi cho nhân dân. Điều đó có thể rất rõ trong suốt hơn hai năm chống dịch Covid-19 vừa qua. Tại thời điểm dịch bùng phát, trong khi nhiều quốc gia còn đang băn khoăn giữa việc chọn lựa thực hiện các quy định giãn cách, phong tỏa, tạm thời đóng cửa… để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân hay tiếp tục những mục tiêu phát triển kinh tế mà bỏ lỡ thời cơ chống dịch thì ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ động xác định và quyết tâm thực hiện mục tiêu: đặt sức khỏe và tính mạng của người dân lên hàng đầu, không hy sinh sức khỏe và tính mạng của người dân vì những lợi ích kinh tế trước mắt.

Thậm chí, chúng ta chấp nhận đánh đổi những lợi ích kinh tế ngắn hạn, trước mắt để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân. Nhờ đó, Việt Nam đã trở thành một trong những nước đi đầu thế giới về kiểm soát dịch bệnh, sớm đưa người dân quay về cuộc sống bình thường mới.

Có thể thấy, chính quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của chính trị với kinh tế đã cung cấp cho chúng ta luận cứ khoa học để phản bác những quan điểm xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những thành tựu vượt bậc trong phát triển kinh tế-xã hội qua 35 năm đổi mới đất nước: kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 6%/năm), chính trị, xã hội ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt về mọi mặt (6); từ một nước có nền kinh tế kém phát triển, hiện nay Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong ASEAN… là minh chứng rõ nét nhất cho sự thành công và tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đó cũng là cơ sở để khẳng định mặc dù chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhưng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện là lựa chọn tất yếu của lịch sử, phù hợp xu hướng phát triển chung của nhân loại, phù hợp thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2006, tập 42, tr.349.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2006, tập 42, tr.349.

(3), (4), (5) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Báo Nhân Dân, https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam - 646305/, ngày 1/8/2021.

(6) xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, tập 1, tr.20-21.

 

Bộ Công an rà soát, xử lý nghiêm hành vi tung tin đồn thất thiệt

 

Bộ Công an rà soát, xử lý nghiêm hành vi tung tin đồn thất thiệt

Chánh Văn phòng Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô nhấn mạnh các lực lượng chức năng sẽ kiên quyết xử lý nghiêm mọi hoạt động tung tin đồn làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh.

Trước tình trạng xuất hiện những tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đến thị trường đầu tư, kinh doanh, Chánh văn phòng Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô cho biết Bộ Công an đang tiến hành triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn những đối tượng này.

Mới đây nhất, Facebooker có 318.000 người theo dõi là Đặng Như Quỳnh đã bị khởi tố, bắt tạm giam về tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".

Chỉ thị số 12 của Bộ Chính trị về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm An ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế xác định “Bảo vệ An ninh kinh tế là bảo vệ An ninh quốc gia”.

Chánh văn phòng Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô cho biết, quán triệt thực hiện nghiêm túc quan điểm chỉ đạo của Đảng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết liệt chỉ đạo tăng cường các biện pháp bảo vệ An ninh kinh tế với tinh thần mọi hoạt động vi phạm pháp luật, trong đó có hoạt động tung tin đồn thất thiệt làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Cũng theo Trung tướng Tô Ân Xô, hiện nay có việc đối tượng tung tin đồn thất thiệt, đưa tin thiếu kiểm chứng trên không gian mạng, như đối tượng Đặng Như Quỳnh vừa qua đã tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư kinh doanh. Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tập trung rà soát, phát hiện, có thể khẳng định, mọi tài khoản mạng xã hội. Mọi hành vi đưa tin thiếu kiểm chứng trên không gian mạng đều đang được lực lượng Công an rà soát, những đối tượng, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật sẽ có những hình thức xử lý nghiêm minh trong thời gian tới theo đúng quy định của pháp luật.

Để hạn chế tình trạng tung tin đồn thất thiệt làm ảnh hưởng môi trường đầu tư kinh doanh, Bộ Công an đã triển khai bài bản rất nhiều giải pháp: Tham mưu Đảng Nhà nước hoàn thiện chính sách pháp luật, trọng tâm là Luật An ninh mạng và các văn bản hướng dẫn thi hành, củng cố cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý những hành vi đưa tin thất thiệt, thiếu kiểm chứng, vi phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, lực lượng chức năng tiến hành tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến thực hiện pháp luật, để người dân hiểu, chấp hành pháp luật, không có các hành vi tung tin thất thiệt thiếu kiểm chứng, xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh. Tổ chức lực lượng, biện pháp, bao gồm cả biện pháp nghiệp vụ chuyên biệt để thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ về các hành vi đưa tin thiếu kiểm chứng, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng môi trường đầu tư kinh doanh; giáo dục, thuyết phục những đối tượng có hành vi đưa tin sai sự thật.

Trung tướng Tô Ân Xô nhấn mạnh: Bộ Công an sẽ kiên quyết xử lý theo quy định của pháp luật về hành chính và hình sự đối với những đối tượng có hành vi đưa tin thiếu kiểm chứng, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đến sự phát triển kinh tế - xã hội, môi trường đầu tư kinh doanh.

Bộ Công an khuyến nghị nhà đầu tư cần tỉnh táo, không bị tác động bởi các tin đồn thất thiệt, chưa được kiểm chứng, theo dõi sát thông tin từ các nguồn chính thống. Cảnh giác với thông tin lợi dụng việc cơ quan chức năng xử lý một số doanh nhân có hành vi vi phạm pháp luật vừa qua để tung tin thất thiệt, mục tiêu chống Đảng, Nhà nước, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư.

/.