Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

 KHÔNG THỂ VÔ ƠN. HÃY TỰ HÀO VỀ NHỮNG TRANG VÀNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC. 


- 541. 933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã tham chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam. 

- 849.018 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ bảo vệ tổ quốc vĩnh viễn nằm lại ở 10.000 nghĩa trang liệt sĩ trên khắp cả nước, Lào và Campuchia. Nhiều Liệt sỹ hy sinh đến nay vẫn chưa xác định được tên tuổi, quê quán, vẫn chưa tìm thấy mộ.

- 15,4 triệu tấn bom đạn Mỹ và đồng minh đã dội xuống Việt Nam gấp 6 lần tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2; tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Việt Nam là quốc gia bị Mỹ ném bom nhiều nhất thế giới. 

- 839 tỷ USD mà Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam. 

- 75.000.000 lít chất độc hoá học chủ yếu là chất độc da cam mà Mỹ đã huỷ diệt môi trường sống của Việt Nam khiến 5 triệu người Việt Nam và hàng trăm ngàn người Mỹ đến nay vẫn quằn quại vì chất độc hoá học này.

- 05 năm là khoảng thời gian Việt Nam đàm phán với Mỹ để ký Hiệp định PARI để chấm dứt chiến tranh, một hiệp định có thời gian đàm phán dài nhất thế giới.

- Trước khi ký hiệp định, Mỹ thực hiện dã tâm đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá; dùng pháo đài bay B52 rải thảm, huỷ diệt Miền Bắc, đây là cuộc tập kích bằng đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, số bom Mỹ thả trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng bằng 5 quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống Nhật Bản năm 1945.

- Để có được chiến thắng 30/4/1975, Việt Nam đã chiến đấu quả cảm trong cuộc chiến 10.000 ngày. Lần đầu tiên trên thế giới, một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại Đế quốc Mỹ một tên đầu sỏ hiếu chiến và hùng mạnh nhất thế giới. 


47 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là dấu son chói lọi, niềm tự hào muôn đời của mỗi người con đất Việt. Chúng ta không được phép lãng quên lịch sử và không được phép vô ơn với xương máu của các thế hệ cha ông mình đã đổ xuống để chúng ta có ngày hôm nay. Dù đứng ở góc độ nào đi nữa cũng không thể phủ nhận một cuộc chiến tranh thần thánh, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã ghi vào lịch sử thế giới một trang sử vàng chói lọi nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí thống nhất, độc lập, tự chủ và khát vọng của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, biểu tượng của hòa bình; cổ vũ các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới tiến lên đánh bại chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới dành độc lập, tự do./.



Những người góp sức giữ gìn ngôn ngữ Việt

 

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của người Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc từ thuở dựng nước. Trải qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử, tiếng Việt không ngừng được làm giàu và phát triển, giúp đất nước ta định hình bản sắc, định hình nền văn hiến của dân tộc. Vì thế, việc giữ gìn và lan tỏa tiếng Việt của nhóm tác giả bộ sách "Tiếng Việt của em" thật đáng trân trọng, tự hào.

Sức sống mới nơi “vùng đất lửa”

 

Những ngày này, bầu trời Quảng Trị dường như cao xanh hơn, trên khuôn mặt mỗi người dân nơi đây đều rạng ngời hạnh phúc, ngập tràn niềm vui về thành quả đạt được của quê hương sau 50 năm giải phóng. Quảng Trị, “vùng đất lửa”, vùng quê cách mạng ngày nào chất chứa đau thương bởi sự chia cắt hai miền, chìm trong khói lửa chiến tranh, giờ đây đang khởi sắc từng ngày.

Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân

 

Thời gian qua, với chức năng nhiệm vụ được giao, Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và ngành dân vận toàn quân luôn đề cao trách nhiệm, tâm huyết, sáng tạo làm tốt việc tham mưu, chỉ đạo, tiến hành hiệu quả công tác dân vận;

Không ngại khó khăn, làm tròn chức trách

 

Câu chuyện mà cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Bá Sáu kể lại tại Tọa đàm “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân” do Tiểu đoàn 55, Lữ đoàn 972 (Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần) tổ chức mới đây, khiến nhiều người thán phục. Ông từng là lái xe Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Học sinh không tham của rơi

 

Bốn học sinh lớp 10 Trường THPT Đồng Đậu, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc đang đi trên đường thì phát hiện một chiếc ví màu đen...

Khoảng 14 giờ ngày 29-4, trên đường liên thôn từ Nhân Trai đến Trung Hậu, xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc (Vĩnh Phúc), các em học sinh gồm: Nguyễn Thị Hòa, Vũ Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Trang và Bùi Thị Lan Hương, đều là học sinh lớp 10A4, Trường THPT Đồng Đậu, huyện Yên Lạc đang đi trên đường thì phát hiện một chiếc ví màu đen ai đó làm rơi, tiền trong ví văng ra nhiều nơi, bay cả xuống ruộng lúa.

Học sinh không tham của rơi
 Các em học sinh bàn giao tài sản nhặt được cho Công an xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc (Vĩnh Phúc).

Sau khi thu nhặt tài sản trên đường, các em học sinh đã nhanh chóng mang đến trụ sở Công an xã Tề Lỗ trình báo và giao nộp. Ngay sau đó, cán bộ Công an xã Tề Lỗ đã cùng với các em học sinh quay lại khu vực phát hiện chiếc ví để tiếp tục tìm kiếm, thu hồi được tổng cộng 11.011.000 đồng.

Cùng ngày, Công an xã Tề Lỗ đã tiến hành xác minh và xác định được chủ sở hữu chiếc ví cùng toàn bộ số tiền nêu trên là anh Nguyễn Văn Ba, sinh năm 1980, ở thôn Trung Hậu, xã Tề Lỗ đồng thời trao trả lại toàn bộ tài sản cho anh Nguyễn Văn Ba.

“Tôi rất xúc động khi nhận lại tài sản và cảm phục hành động đẹp của các em học sinh cũng như của lực lượng Công an xã Tề Lỗ”, anh Nguyễn Văn Ba nói. Thượng úy Vũ Chí Công, Trưởng Công an xã Tề Lỗ cho biết, Công an xã Tề Lỗ đã có công văn trao đổi với nhà trường và đề nghị nhà trường biểu dương, khen thưởng các em học sinh nói trên.

Bài và ảnh: LAN HƯƠNG

NGUỒN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Sức cuốn hút của văn chương phi hư cấu về người lính

 

Trong dòng chảy văn học Việt Nam qua các thời kỳ, người lính luôn là hình ảnh trung tâm chiếm giữ một vị trí quan trọng trong sáng tác của các nhà văn nhiều thế hệ. Họ là nguồn cảm hứng bất tận, là đối tượng để người nghệ sĩ hướng tới. Văn chương nghệ thuật đã khắc họa đậm nét hình ảnh người lính, góp phần xây dựng bản lĩnh và nhân cách anh Bộ đội Cụ Hồ.

Với chức năng chân-thiện-mỹ, văn học đã giáo dục, bồi đắp cho người lính những giá trị tinh thần cao quý, góp phần hình thành phẩm chất người lính cách mạng. Phẩm chất ấy được vun đắp từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với lý tưởng tiên tiến của thời đại mới.

 Bộ đội Sư đoàn 330, Quân khu 9 cứu hộ đê giúp dân tại xã Vĩnh Gia, Tịnh Biên, An Giang. Ảnh: HÀ QUỐC THÁI 

Thực tế những năm kháng chiến chống thực dân Pháp có một ý nghĩa thử thách rèn luyện về tư tưởng và tình cảm để tạo nên những đổi thay có ý nghĩa quyết định. Tấm gương tiêu biểu là người chiến sĩ trưởng thành trong phong trào quần chúng, trong chiến đấu và sản xuất. Họ là những người chiến sĩ làm thơ và là nhà thơ-chiến sĩ như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Lộc, Hồng Nguyên... Hình bóng người chiến sĩ, một hình ảnh nổi bật nhất đã được sáng tạo nên qua hình thức tự biểu hiện. Nguyễn Đình Thi qua tập "Người chiến sĩ" đã miêu tả nhiều hình ảnh và tâm trạng của người chiến sĩ trong chiến đấu, qua những tình cảm thiết tha với đất nước và những niềm vui, nỗi nhớ trong sinh hoạt hằng ngày. Thơ ca kháng chiến trên từng mặt đã khắc họa vẻ đẹp của người chiến sĩ. Có thể nói, nhiều tình cảm rất đẹp đã được diễn tả chủ yếu thông qua quan hệ với người chiến sĩ như: Tình đồng đội, tình quân dân, tình yêu đôi lứa, tình cảm kính yêu lãnh tụ, tình yêu quê hương, đất nước... Người chiến sĩ vệ quốc là kiểu người mới hấp dẫn, mang nhiều tính chất lý tưởng và nổi lên hàng đầu trên bình diện những con người mới trong quần chúng công-nông-binh thời kỳ này. Mọi người nhắc đến anh Vệ quốc quân với bao tình thương mến: Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh Vệ quốc quân ơi/ Sao mà yêu anh thế ("Cá nước", Tố Hữu). Nổi bật lên là tấm lòng yêu nước, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh tất cả cho thắng lợi của Tổ quốc.

Đi sâu vào cuộc đời người chiến sĩ càng thấy thấm thía, yêu thương và cảm phục. Chính Hữu đã diễn tả chân thực và thắm thiết tình đồng chí, đồng đội trong chiến đấu. Đây là một tình cảm rất đẹp, rất mới của một tập thể sống có lý tưởng, có tổ chức kỷ luật, yêu thương sống chết có nhau, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ ("Đồng chí"). Điều đáng quý là thơ chống Pháp khai thác được nhiều quan hệ tình cảm rất chân thực, đẹp đẽ ở người chiến sĩ và từ đó mở ra những quan hệ, bồi đắp tình cảm rất tiêu biểu của con người kháng chiến. Nhiều bài thơ đặc sắc đã gợi lên biết bao cảm mến với những cuộc đời chiến sĩ, những người con trung với nước, hiếu với dân, giàu tình yêu thương và tình nghĩa thật vẹn toàn. Những con người chân chất, giản dị, hiền lành nhưng lại vô cùng dũng cảm, quyết liệt trước kẻ thù. Các anh là hình ảnh của lá cờ vẫy gọi, là Tổ quốc trong ý nghĩa cụ thể mà sâu xa...

Đến thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, các nhà thơ trẻ trong quân đội đã có một "mùa thơ" đẹp về Trường Sơn. Phạm Tiến Duật rất trữ tình với cảm hứng “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Hoàng Nhuận Cầm với tâm hồn tươi vui, lãng mạn của người lính trẻ “Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn”... Thơ chống Mỹ cũng khắc họa rõ nét hình ảnh tuyệt đẹp của người chiến sĩ Giải phóng quân. Con người ấy mang theo dòng máu và cội nguồn dân tộc, là “Thạch Sanh của thế kỷ 20”. Thật khó để nói cho hết phẩm chất cao đẹp của anh với những hành động dũng cảm trên khắp các mặt trận. Đó là niềm tự hào, có ý nghĩa giáo dục rất lớn cho các thế hệ sau này. Các nhà thơ đều cố gắng để nói lên được hình ảnh người chiến sĩ trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước. Và không chỉ riêng ở chiến trường, chúng ta có thể bắt gặp khí thế chiến đấu và tâm hồn cao đẹp của các anh ở khắp mọi nơi. Trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, hình ảnh được miêu tả nhiều nhất và cũng quen thuộc nhất trong văn học là người chiến sĩ đánh giặc. Dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu, người chiến sĩ vừa mang ý chí sắt thép tiến công kẻ thù nhưng gần gũi là anh Bộ đội Cụ Hồ được nhân dân yêu mến. Người chiến sĩ gang thép ấy cũng rất giàu cảm xúc yêu thương.

Những phẩm chất và nhân cách cao đẹp của người lính đã được miêu tả thật phong phú, nhiều màu sắc ở các thể loại văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết. Tác phẩm văn học tôn vinh người lính, khiến hình ảnh của họ được nhân lên và không ngừng tỏa sáng qua thời gian. Tiểu thuyết "Dấu chân người lính" (Nguyễn Minh Châu), "Đất trắng" (Nguyễn Trọng Oánh) là những tác phẩm tiêu biểu viết về người lính mang dấu ấn ở từng thời kỳ lịch sử văn học, in đậm phong cách cá nhân của mỗi tác giả. Ở đó, tinh thần yêu nước, dũng cảm hy sinh vì Tổ quốc của các thế hệ người lính nối tiếp nhau được nhà văn mô tả khá đặc sắc. Bao trùm lên toàn bộ đời sống tình cảm của mỗi nhân vật là lòng yêu nước, là ý thức về độc lập cho Tổ quốc. Còn "Đất trắng" là cuốn sách đầu tiên sau chiến tranh viết theo cảm hứng sự thật: Tính khốc liệt của cuộc chiến đấu với sự hy sinh của rất nhiều cán bộ, chiến sĩ được mô tả trần trụi không né tránh...

Tác phẩm "Hồi ức lính" của Vũ Công Chiến mới đây được trao giải “Tiểu thuyết đầu tay xuất sắc” của Hội Nhà văn Hà Nội khiến tôi muốn tập trung sự quan sát vào tác phẩm phi hư cấu về người lính của một cây bút “tay ngang”. Tác phẩm dài hơn 700 trang, hoàn toàn viết bằng ký ức và trải nghiệm trong 6 năm ở chiến trường của Vũ Công Chiến. Tác giả nhập ngũ tháng 9-1971, là bộ đội Trường Sơn chiến đấu tại chiến trường Nam Lào và Mặt trận B3 Tây Nguyên. Sách kể lại cuộc đời lính theo thời gian tuyến tính, từ khi quyết định rời nhà trường đến những ngày hành quân ở Trường Sơn, từ trận chiến đầu tiên ở chiến trường Nam Lào tới nhiều trận đánh ác liệt khác, những lần bổ sung quân, chuyển hậu cứ mới... Tác giả chú trọng chi tiết và các sự kiện lịch sử cụ thể đã diễn ra, các sự kiện nối tiếp nhau theo thời gian tuyến tính. Đây là một cấu trúc hồi ức sáng rõ. Tác giả đã tái hiện không gian chiến trận gắn liền với thời gian của các sự kiện. Chi tiết là phần đem lại giá trị của văn xuôi phi hư cấu. May thay, Vũ Công Chiến có trí nhớ tốt, một “bộ lọc” tinh kỹ nên đã cho ra những bức tranh hiện thực sống động. Tác giả không ngần ngại khi cho người đọc thấy sự sống và cái chết quá mong manh. Cái chết rình rập, bám theo từng bước chân người lính, ẩn nấp trong từng gốc cây, ngọn cỏ, nhiều cái chết thật bất ngờ, vô nghĩa...

Đề tài chiến tranh vốn bị cho là khô khan, lại của một cây viết “tay ngang”, nhưng ngay lần đầu ra mắt đã bán chạy. Điều đặc biệt là rất nhiều độc giả trẻ tìm mua cuốn sách với đề tài tưởng chừng chỉ có những bậc cha chú của họ-những người từng sống qua chiến tranh mới quan tâm. Một cuốn sách dày vì biên tập viên “cắt chỗ nào cũng thấy tiếc”, được chính một người lính trong cuộc viết ra với lượng thông tin dồi dào, trải nghiệm chân thực và cảm xúc không tô vẽ có lẽ đã thỏa mãn nhiều thế hệ bạn đọc: Cho người đã đi qua chiến tranh hồi tưởng những tháng ngày khốc liệt và cho người trẻ hôm nay hiểu thêm về thử thách chiến tranh. Sự đón nhận của bạn đọc trẻ cho thấy thế hệ ngày nay không hề thờ ơ, xoay lưng lại với quá khứ chiến trận của thế hệ cha anh.

 Tác giả của "Hồi ức lính" không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Anh viết tác phẩm của mình với suy nghĩ đơn giản: “Nếu những người trong cuộc không viết ra thì làm sao để mọi người biết, trong chiến tranh, chúng tôi đã sống và chiến đấu thực sự như thế nào. Bởi vậy, với tư cách cá nhân, với con mắt nhìn của một người lính bình thường, tôi viết lại "Hồi ức lính" này để kể lại những điều mình đã thấy, đã nghe, đã làm, cùng những suy nghĩ và cảm nhận khi đó...”. Không có gì khiến người ta tin và xúc động bằng suy nghĩ trách nhiệm, giàu tính nhân văn như thế.

Có thể với kho tư liệu đầy ắp vốn sống thực tế này khi “vào tay” một nhà văn có nghề nó sẽ trở thành bộ tiểu thuyết đồ sộ, hấp dẫn người đọc với rất nhiều thủ pháp nghệ thuật này khác. Nhưng ở đây, với những câu chuyện và chi tiết tươi ròng sự sống, được nhìn với cự ly sát gần của người trong cuộc, nó lại có sức lôi cuốn riêng. Nó chinh phục chúng ta bằng sức mạnh của sự chân thực, bằng những trải nghiệm cá nhân, rất riêng tư nhưng lại gắn liền với cả một thế hệ thanh niên mà bước chân đầu tiên của họ khi vào đời là cuộc sống quân ngũ. Họ đã trở thành người lính trước khi đủ tuổi công dân. Họ bước vào cuộc chiến như một sự lựa chọn không thể khác trước hiện tình nước sôi lửa bỏng của đất nước. Những người lính các anh đã hăm hở đi vào chiến trường, không tính toán băn khoăn. Có chăng chỉ là nỗi nhớ Hà Nội và những kỷ niệm của tuổi học trò. Nỗi buồn đau lớn nhất khi lên đường vào mặt trận là những giọt nước mắt của mẹ ngày chia ly. Người lính trẻ chỉ day dứt với suy nghĩ anh “ra đi đã mang theo cả cuộc đời của mẹ”...

So sánh "Hồi ức lính" với cuốn "Quân khu Nam Đồng" đình đám khi ra mắt năm 2015, nhà báo Hữu Việt đã chỉ ra điểm chung của hai cuốn sách này, đó là đều của những người chưa viết lách bao giờ, nhưng tác phẩm của họ lại rất hấp dẫn và thu hút bạn đọc bởi những câu chuyện hết sức chân thực, phi hư cấu.

 Thời gian gần đây, hàng loạt cuốn hồi ức về chiến tranh và người lính kế tiếp nhau ra mắt người đọc, được đón chào nồng nhiệt: "Lính Hà" (Nguyễn Ngọc Tiến), "Mùa chinh chiến ấy" (Đoàn Tuấn), "Chuyện lính Tây Nam" (Trung Sỹ-Xuân Tùng)... càng thêm khẳng định giá trị và sức cuốn hút của văn chương phi hư cấu về đề tài chiến tranh và người lính-một chủ đề quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Nguồn: QĐND.

TRÂN QUÝ GIÁ TRỊ ĐỘC LẬP TỰ DO

 


“Là người đã từng sống trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chứng kiến vô vàn nỗi đau thương, tủi nhục của người dân mất nước, tôi không thể chấp nhận quan điểm của một số người không coi trọng giá trị của độc lập tự do” - Bố  tôi, một lão nông gần 90 năm tuổi đời, gần 70 năm tuổi Đảng đã gọi điện nhắc tôi như vậy trong dịp kỷ niệm 76 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9.

Sở dĩ bố tôi tức tốc gọi điện cho tôi bởi ông nghe được lời của mấy thanh niên “từ thành phố về quê tránh dịch Covid-19” nói rằng “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu từ lâu, không phải chật vật đối phó với dịch Covid-19 như bây giờ”...

Từ hồi tôi còn bé xíu cho đến nay, năm nào cũng vậy, cứ đến rằm tháng bảy, bố tôi lại chuẩn bị một mâm cỗ cúng giỗ ông nội, bà nội và bác của tôi với nghi thức rất đơn giản, chỉ có 3 bát cháo to với 3 quả trứng gà luộc. Bố tôi bảo do cả ông, bà và bác bị chết đói vào năm 1945 nên chỉ cúng như vậy mọi người mới thụ hưởng được. Khi ông, bà và bác tôi qua đời, bố tôi không được chứng kiến vì đang đi ở cho một địa chủ làng bên cạnh. Vào một đêm tháng bảy mưa tầm tã, nóng ruột nhớ đến thầy (bố), bu (mẹ) và anh ở làng, bố tôi lấy trộm mấy củ khoai mang về thì thấy cả 3 người đã lạnh ngắt, không biết chết từ khi nào. Ở quê tôi (xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) đã có nhiều gia đình rơi vào cảnh tang thương như thế. Sau khi bó manh chiếu đưa bố, mẹ và anh đi chôn, bố tôi trở lại nhà địa chủ lại bị thêm một trận roi thậm tệ vì trộm khoai, vì trốn việc, đến nay vẫn còn dị tật ở chân. Cũng vì lẽ đó mà khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, bố tôi cùng với dân nghèo trong làng đã hăng hái tham gia và cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao của người dân tự do trong một đất nước độc lập... Giá trị của độc lập tự do theo cách hiểu của người nông dân như bố tôi đơn giản là không còn bị đói, không còn bị đánh đập...

Tôi sinh ra sau Cách mạng Tháng Tám, không được tận mắt chứng kiến nỗi nhục mất nước. Thế nhưng, mỗi khi nghe người già kể lại, xem bộ phim “Sao tháng Tám”, đọc các tác phẩm văn học của các nhà văn: Kim Lân, Tô Hoài... tôi lại rùng mình khi nhớ đến trận đói lịch sử năm Ất Dậu 1945. Trong “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân viết: “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người...”.

Cách đây 5 năm, khi đào móng để xây dựng một khu đô thị lớn ở phố Minh Khai (Hà Nội), chủ đầu tư phát hoảng khi phát hiện ra hàng nghìn bộ hài cốt của người chết đói. Khu đô thị mới này ở gần Nghĩa trang Hợp Thiện là nơi an nghỉ của các nạn nhân trong nạn đói năm Ất Dậu 1945. Nghĩa trang có tấm bia đá khắc bài tế của giáo sư Vũ Khiêu với những lời ai oán: “Có cơn gió bụi vừa tan/ Hai triệu sinh linh đã mất/ Khí oan tối cả mây trời/ Thây lạnh phơi đầy cỏ đất”. Tại đây còn có bể chứa xương người lớn nhất Việt Nam.Đặc biệt khi đọc cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam-những chứng tích lịch sử” của GS Nguyễn Văn Tạo và GS Furuta Moto (công bố năm 1995), nước mắt tôi tuôn chảy khi thấy tác giả miêu tả hình ảnh những trẻ em nhay vú mẹ đã chết, người đi lĩnh chẩn bế đứa con trên tay nhưng con đã chết... Hàng nghìn hộ chết cả nhà, nhiều dòng họ chết cả họ, hàng chục xóm làng chết cả xóm, cả làng...

Nếu như nạn đói diễn ra chỉ một vài tháng trong năm thì nỗi nhục mất nước, mất tự do lại triền miên suốt năm, suốt tháng. Tính từ năm 1858 (năm thực dân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược tại Đà Nẵng) đến ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, đất nước ta đã trải qua 87 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Đó là quãng thời gian nước ta bị đô hộ dài nhất kể từ năm 938, khi Ngô Quyền đánh thắng quân xâm lược Nam Hán, khôi phục nền độc lập. Nước Việt đã không còn trên bản đồ thế giới, đã bị chia làm 3 miền, đã bị lẫn vào địa danh “xứ Đông Dương thuộc Pháp”. Người dân một cổ hai tròng, sống đời nô lệ, đói rách lầm than, oằn lưng, tối mặt với sưu cao, thuế nặng, lao dịch, phu phen...

Cách mạng Tháng Tám thành công đã trả lại tên cho nước Việt Nam, trả lại nền tự do, độc lập mà dân tộc ta có quyền được hưởng. Bảo Đại-vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến, cũng đã phải thốt lên rằng: “Làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”.

Ngay sau khi tuyên bố độc lập, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó cứu đói là nhiệm vụ hàng đầu và phong trào “diệt giặc đói” được triển khai ngay. Bằng nhiều giải pháp như: Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, san sẻ lương thực, thực phẩm... chỉ trong một thời gian ngắn, nạn đói được đẩy lùi. Chiến thắng giặc đói là một trong những thành tựu lớn đầu tiên của Nhà nước cách mạng, đã thể hiện tính ưu việt của chế độ mới.

Cùng với “diệt giặc đói” là phong trào “diệt giặc dốt”. Từ chỗ 95% dân số không biết viết, không biết đọc, chỉ trong vài tháng, nhiều người đã xóa được mù chữ, tự mình đọc được lá phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa I-Quốc hội đầu tiên của đất nước Việt Nam vào ngày 6-1-1946.

Có thể nói, Cách mạng Tháng Tám đã mang lại sự hồi sinh cho đất nước Việt Nam, mở ra thời kỳ rực rỡ huy hoàng nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Kể từ cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dân tộc Việt Nam ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đã lập nên biết bao kỳ tích có tính lịch sử, từ một vong quốc nô bước lên vũ đài của những dân tộc có quyền tự quyết, là tấm gương soi sáng, cổ vũ các dân tộc bị áp bức, đô hộ vùng lên giành quyền độc lập, tự do và ngày nay đang nỗ lực khống chế đại dịch Covid-19.

Có lẽ linh hồn của những người chết đói năm 1945 cũng được an ủi khi được chứng kiến những chiến công vang dội của Việt Nam chống giặc ngoại xâm, chống đói nghèo và lạc hậu từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám. Cách đây gần 80 năm, chắc chắn những người lạc quan nhất vẫn không thể tin rằng Việt Nam là Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Năm 2020, trong dịp kỷ niệm 75 năm Quốc khánh nước ta, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonnio Guterres đã gửi lời chúc mừng Việt Nam và nhấn mạnh: “Việt Nam là hình mẫu của các nước đang phát triển, các nước vươn lên từ đói nghèo, từ đổ nát chiến tranh và ngày nay đã trở thành một nước có thu nhập trung bình”.

Nếu không có Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam không thể có cơ đồ, vị thế, uy tín và tiềm lực như hiện nay. Ấy vậy mà vẫn còn có những người dám phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận thành quả của độc lập, tự do mà cả dân tộc Việt Nam chúng ta phải đổ không biết bao máu xương mới có được.

Những thanh niên “về quê tránh dịch Covid-19” kêu than “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu từ lâu, không phải chật vật đối phó với dịch Covid-19 như bây giờ” như câu chuyện của bố tôi kể thật đáng trách. Thế nhưng đáng trách hơn lại là những người giáo dục, đào tạo những thanh niên này. Phải chăng đó là do hậu quả của một giai đoạn khá dài ngành giáo dục chưa thực sự coi trọng môn lịch sử, chưa chú trọng đúng mức đến việc tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đó cũng là một dạng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Cách đây gần 5 năm, ngày 30-10-2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và đề ra các giải pháp khắc phục. Trong Nghị quyết số 04-NQ/TW, Trung ương chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng-chính trị, đạo đức-lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. 3 biểu hiện suy thoái đầu tiên là: Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Năm nay chúng ta đón Tết Độc lập của dân tộc trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang chung sức đồng lòng chống "giặc Covid-19". Thực tế, đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi một số quan điểm kinh tế cũng như hành vi tiêu dùng của nhân loại, và trong gian khó càng làm tăng thêm ý nghĩa giá trị của độc lập, tự do. Nếu như trước đây, quan điểm tuyệt đối hóa lợi thế về chi phí, giá cả đã dẫn đến xu thế không cần bảo đảm cơ cấu kinh tế tự chủ về những sản phẩm thiết yếu như: Dược phẩm, khẩu trang, máy thở... có thể dựa vào nhập khẩu với giá rẻ hơn từ nước ngoài; thì nay, các nước đã chuyển sang xây dựng một cơ cấu kinh tế độc lập tự chủ về những sản phẩm sống còn này. Duy trì độc lập trong thế giới phát triển rất năng động và đa dạng hiện nay đòi hỏi các dân tộc phải đoàn kết, đồng lòng xây dựng đất nước. Sự tự do của cá nhân cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật và các quy định trong cộng đồng để bảo đảm phòng, chống dịch.

Giá trị đích thực của độc lập, tự do mà Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đem lại là thiêng liêng và cao quý. Thời gian càng lùi xa thì tầm vóc và giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 ngày càng tỏa sáng. Bất cứ người Việt Nam yêu nước chân chính nào cũng đều cảm nhận được điều đó. Nếu ai đó còn có tư tưởng bóp méo, xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị tinh thần, niềm tự hào lớn lao của dân tộc, phủ nhận ý nghĩa thiêng liêng của hòa bình, độc lập, tự do đối với nhân dân ta, hướng lái làm cho giới trẻ mơ hồ nhận thức thì cần xem xét lại bản thân mình. Nếu không xem lại được thì chắc chắn sẽ bị lịch sử phán xét và đào thải.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước

 

Trong huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18 đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 4-5-1951, Người khẳng định: “Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

Chuyên mục Ngày này năm xưa số ra ngày 4-5-2022 còn được Báo Quân đội nhân dân Điện tử thực hiện dưới hình thức các tác phẩm phát thanh podcast và video clip trên Chuyên trang Media Báo Quân đội nhân dân Điện tử, trân trọng mời bạn đọc xem thêm. 

Một số sự kiện trong nước và quốc tế ngày 4-5

Sự kiện trong nước

- Ngày 4-5-1954: Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng làm Trưởng phái đoàn đã đến Geneve (Thụy Sĩ) tham dự Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương theo lời mời của hai Chính phủ Liên Xô và Trung Quốc.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh treo tại trụ sở Đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Geneve. Ảnh: Baotanghochiminh.vn 
Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Ngày 4-5-1954, Phái đoàn ngoại giao Việt Nam Dân chủ cộng hòa, do Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, đã đến Geneve tham dự Hội nghị Geneve về Đông Dương. Ảnh: TTXVN 

- Ngày 4-5-1962: Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ III diễn ra tại Hà Nội từ ngày 4 đến 6-5-1962. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu tại đại hội. 

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Quang cảnh Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III (Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ III). Ảnh: Tư liệu TTXVN 

Đại hội tuyên dương 45 Anh hùng Lao động, 985 Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 267 đơn vị tiên tiến, tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, đề nghị Nhà nước tặng thưởng 594 Huân chương Lao động, 27 Huân chương Chiến công các hạng. Đây là đại hội đánh dấu những thắng lợi quan trọng, góp phần hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tạo sức mạnh chi viện cho chiến trường miền Nam, đánh thắng giặc Mỹ, thống nhất đất nước.

Sự kiện quốc tế

- Ngày 4-5-1814: Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte sau khi thoái vị bị đày ra đảo Elba. Napoleon ở đây cho đến ngày 26-2-1815, sau đó đổ bộ lên đất Pháp, bắt đầu thời kỳ trị vì ngắn ngủi trong 100 ngày, cho đến khi ông và quân đội thất bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm đó.

- Ngày 4-5-1869: Thomas Fitch Rowland (người Mỹ) nhận được bằng sáng chế cho “thiết bị khoan dưới biển” để tìm dầu khí và khí đốt đầu tiên trên thế giới.

Theo dấu chân người

- Ngày 4-5-1945, Lãnh tụ Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình từ Pác Bó về Tân Trào. Cùng hành quân với Tiểu đội tự vệ theo Bác còn có hai báo vụ viên Mc Shin và F. Tan đều gốc Hoa, biên chế của đơn vị Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) từ Côn Minh theo Bác về Việt Nam. Đoàn bắt đầu từ Khuổi Nậm, dọc theo suối Lênin qua các bản thuộc địa phận Cao Bằng rồi về Tân Trào (Tuyên Quang), tức là xa dần vùng biên giới Việt-Trung để mở rộng khu căn cứ địa Việt Bắc.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
 Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi bộ đến thăm Pác Bó và Hà Quảng (20-2-1961). Ảnh: Hochiminh.vn

- Ngày 4-5-1946, Bác viết thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ thể hiện rõ quan điểm của chế độ mới: “Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học. Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là: 1. Tăng gia sản xuất. 2. Chống nạn mù chữ.

Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em... Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Hồ Chủ tịch thăm lớp bổ túc văn hóa khu lao động Lương Yên, Hà Nội (1956). Ảnh: TTXVN 

- Ngày 4-5-1953, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí MinhDân chủ tập trung, ký bút danh Đ.X, đăng Báo Cứu quốc, số 2329. Tác giả giải thích về dân chủ tập trung: Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các đại biểu thay mặt mình vào các hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, Quốc hội cùng Chính phủ trung ương để thi hành chính quyền. Thế là dân chủ. Mặt khác, các cơ quan chính quyền là thống nhất tập trung. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

- Ngày 4-5-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị bàn về công tác tổ chức Đảng năm 1959. Phát biểu tại hội nghị, Người lưu ý phải đẩy mạnh sửa đổi về tổ chức, đẩy mạnh đào tạo cán bộ cho 5, 10, 15 năm sau này và phải chú ý giúp cho sự phát triển của thanh niên.

Cùng ngày, Người dự họp Bộ Chính trị thảo luận việc giúp đỡ cách mạng Lào.

- Ngày 4-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) để kiểm điểm sự lãnh đạo của Trung ương trong ba năm qua. Người nêu nhận xét: “Cán bộ quản lý tốt thì tư tưởng tốt. Không phải tư tưởng bay ở trên trời”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 24-LCT, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho ông Cố Bân Hoa, kỹ sư trong đoàn chuyên gia Trung Quốc sang giúp Bộ Kiến trúc.

- Ngày 4-5-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu của Người cho 4 cá nhân có thành tích trong lao động, học tập và tặng lụa cho 3 cháu gái sinh 3 ở Nam Định.

- Ngày 4-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 19-LCT, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn cán bộ đo đạc của Trung Quốc vì những đóng góp trong thời gian công tác tại Việt Nam.

- Ngày 4-5-1965, Bác tiếp tục tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuyển hướng sản xuất công nghiệp trong bối cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ đã lan ra miền Bắc. Phát biểu tại hội nghị (theo biên bản của phiên họp), Bác chỉ rõ một mặt phải chuẩn bị những khả năng xấu nhất nhưng cũng phải chuẩn bị khả năng để xây dựng tương lai. Khẩu hiệu trước mắt là tất cả để thắng Mỹ. Chúng ta quyết tâm không sợ tổn thất. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thắng được Mỹ sẽ làm được tất cả. Bác phê bình tác phong làm việc luộm thuộm, thưởng phạt thiếu nghiêm minh và đề nghị phải chú trọng vấn đề con người, nhất là thanh niên. Phải thấy hết khó khăn và dự báo mùa mưa tới, địch có thể phá đê...

(Theo Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ngày này năm xưa”, “Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử” và “Hồ Chí Minh toàn tập-2011”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật) 

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 15 ra ngày 4-5-1951 đăng trang trọng huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18. Trong bài Người khẳng định: “Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
 Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 15 ra ngày 4-5-1951. 

Là người trực tiếp tổ chức sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội ta tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Người đặc biệt quan tâm, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đoàn kết quân dân.      

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Thực hiện lời dạy của Người, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn giữ vững và phát huy tốt mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân như cá với nước.

Quân đội ta luôn được nhân dân tin yêu. Tình đoàn kết quân dân là nguồn sức mạnh to lớn của quân đội ta. Nguồn sức mạnh đó thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc, nhân dân không chỉ là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho bộ đội, mà còn là lực lượng luôn che chở, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ, giúp quân đội ta chiến thắng mọi kẻ thù.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước

Thắm tình quân dân. Ảnh: qdnd.vn

Vì vậy, dù ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đều phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, hoàn thiện bản thân, tăng cường mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt giữa quân đội và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của nhân dân.

Dấu ấn Bác Hồ trên Báo Quân đội nhân dân

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Trang 3 Báo Quân đội nhân dân số 2132 ra ngày 4-5-1967. 

Trang 3 Báo Quân đội nhân dân số 2132 ra ngày 4-5-1967 trích đăng một số bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một tập thơ được Nhà xuất bản Văn học xuất bản nhân dịp mừng thọ Người 77 tuổi.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 3126 ra ngày 4-5-1970. 

Trang nhất Báo Quân đội nhân dân số 3126 ra ngày 4-5-1970 đăng trang trọng bức ảnh “Hồ Chủ tịch trong buổi mít tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1968)” cùng dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!”.

Ngày 4-5-1951: Bác Hồ khẳng định tình cảm quân với dân như cá với nước
 
Nguồn: QĐND.