Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022
Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Xây dựng các đơn vị báo chí Học viện phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
- Lời giới thiệu: Trong không khí toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng linh hoạt, an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, đồng thời, trong không khí toàn hệ thống Học viện đang nỗ lực triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm 2022 theo tinh thần “trọng tâm, trách nhiệm, kỷ cương, nêu gương, sáng tạo”, Liên Chi hội Nhà báo Học viện tổ chức Đại hội lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2021-2025. Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng đăng bài phát biểu của GS, TS NGUYỄN XUÂN THẮNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương tại Đại hội. Tiêu đề do Ban Biên tập đặt.
Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng tặng hoa chúc mừng Ban Chấp hành Liên Chi hội nhà báo Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khóa I - Ảnh: LLCT
Với vai trò là trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước; trung tâm quốc gia nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị, tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, Học viện có 12 cơ quan tạp chí, 06 bản tin và các cổng thông tin, trang tin điện tử. Đồng thời, Học viện Báo chí và Tuyên truyền là cơ sở đào tạo đại học trọng điểm quốc gia về chuyên ngành báo chí, truyền thông. Có thể nói, hệ thống cơ quan báo chí của Học viện khá hùng hậu, và có những đặc thù so với các Liên Chi hội Nhà báo khác trong cả nước.
Nhằm kiện toàn bộ máy và tổ chức hoạt động của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, bảo đảm yêu cầu quản lý hệ thống, sau nhiều năm chuẩn bị dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, Liên Chi hội Nhà báo Học viện đã được thành lập và ra mắt vào dịp Kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-2021). Sự ra đời của Liên Chi hội Nhà báo Học viện là một dấu mốc phát triển quan trọng của đội ngũ những người làm báo, tạp chí của hệ thống Học viện, tạo điều kiện cho các hội viên - cán bộ, biên tập viên các tạp chí, bản tin, giảng viên cơ sở đào tạo báo chí trong toàn hệ thống Học viện có môi trường và điều kiện được trao đổi chuyên môn, giao lưu, học hỏi, trau dồi đạo đức, phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Đồng thời, Liên Chi hội còn là cơ sở chính trị quan trọng để Đảng ủy Học viện thực hiện tốt Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 08-4-2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới.
Đại hội lần thứ nhất của Liên Chi hội Nhà báo Học viện là dịp để nhìn lại vai trò và kết quả hoạt động của Liên Chi hội kể từ sau khi thành lập và điều quan trọng hơn là dịp để nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò của Liên Chi hội nhà báo Học viện với công tác báo chí của Học viện và trong nền báo chí quốc gia; là dịp để chúng ta cùng nhìn nhận đúng đắn hơn về nhiệm vụ chính trị của các cơ quan báo chí; động viên và đề cao trách nhiệm của đội ngũ người làm báo Học viện thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần vào thắng lợi chung của đất nước trên các mặt trận, thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của Học viện được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Việc chỉ đạo thành lập Liên Chi hội Nhà báo Học viện, một nội dung nhiệm vụ quan trọng của Đề án sắp xếp, phát triển báo chí của Học viện đến năm 2025, tầm nhìn 2030, thể hiện sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Lãnh đạo Học viện, các cấp ủy đảng, lãnh đạo các đơn vị trong toàn Học viện đối với công tác báo chí và yêu cầu phát huy vai trò quan trọng của báo chí trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, tham mưu, tư vấn hoạch định đường lối, chính sách cho Đảng, Nhà nước.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, các tạp chí, bản tin, trang tin điện tử của hệ thống Học viện đã hoạt động trong điều kiện khó khăn. Tuy nhiên, với tinh thần trách nhiệm, sự chung sức đồng lòng của đội ngũ những người làm báo đối với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học của Học viện, công tác báo chí của Học viện đã đạt được nhiều kết quả nổi bật:
Thứ nhất, các tạp chí, bản tin, cổng thông tin, trang tin điện tử trong hệ thống Học viện luôn hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và định hướng của Học viện. Chú trọng nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; công bố các kết quả nghiên cứu phong phú của Học viện và của giới nghiên cứu lý luận chính trị trong cả nước, góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, đồng hành cùng quá trình xây dựng và phát triển của Học viện, diện mạo báo chí của Học viện đã có nhiều khởi sắc, nhiều nét mới mang tính tích cực. Một số tạp chí đã khẳng định vị trí, vai trò báo chí thuộc cơ quan lý luận của Đảng, giữ vững vị thế, uy tín khoa học quốc gia.
Một số tạp chí đã xuất bản tạp chí tiếng Anh, tạp chí điện tử, các số phụ trương, số chuyên đề đến với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Nhiều bài viết, nhiều chuyên mục chất lượng, phản ánh sinh động đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, thành tựu mọi mặt của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Các tạp chí, trang tin tích cực công bố, góp phần đưa những kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện vào thực tiễn, phục vụ hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tham mưu, tư vấn hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Học viện trong nước và quốc tế.
Thứ ba, trong năm qua, hầu hết các tạp chí đã xây dựng được các chuyên mục, chuyên đề nghiên cứu có ý nghĩa, như: đưa “Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống”, “Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, Học viện Trung tâm có trang vietnamthinhvuong.com trên môi trường mạng; Học viện Chính trị khu vực II có blog “Sáng mãi niềm tin”, Học viện Chính trị khu vực III có fanpage “Những ngọn lửa nhỏ”,...
Thứ tư, tổ chức - bộ máy và đội ngũ cán bộ các tạp chí, hội đồng biên tập đã cơ bản được kiện toàn. Đội ngũ cán bộ, hội viên các Chi hội Nhà báo phần lớn đều có học vị, học hàm, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn cao, luôn vững vàng trên trận địa tư tưởng - lý luận, yêu nghề, nhiệt tình trong công việc, nỗ lực khắc phục khó khăn để thực hiện nhiệm vụ.
Thứ năm, công tác đào tạo chuyên ngành báo chí, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác báo chí đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp; đã tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng gắn học với thực hành, chú trọng cả số lượng và chất lượng, đồng bộ kiến thức, kỹ năng và đạo đức làm báo; nghiêm túc thực hiện các quy chế, quy định theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tạo bước tiến trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực báo chí chất lượng cao.
Trong những kết quả đạt được đó, có sự đóng góp tích cực của các đồng chí hội viên Liên Chi hội Nhà báo Học viện.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, công tác báo chí và hoạt động của Liên Chi hội Nhà báo Học viện cũng còn nhiều hạn chế, tồn tại cần được thẳng thắn chỉ ra để tìm phương hướng và giải pháp khắc phục, trong đó có những vấn đề nổi bật cần quan tâm:
Một là, nhận thức về công tác tổ chức Liên Chi hội chưa đầy đủ và thống nhất. Có nơi, có lúc do dự, lừng chừng và chưa sẵn sàng. Theo đó, công tác chuẩn bị thành lập tổ chức hội và phát triển hội viên thời gian qua còn nhiều hạn chế. Hệ thống tạp chí, bản tin, cổng thông tin điện tử Học viện khá lớn, với 12 tạp chí, 06 bản tin nhưng mới có 06 chi hội ở cơ quan báo chí (và 02 chi hội ở đơn vị nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành báo chí). Hệ thống cơ quan báo chí, đội ngũ những người làm báo đông đảo nhưng chưa có Liên Chi hội. Sau nhiều năm chỉ đạo, phải đến tháng 6-2021 mới thành lập được Liên Chi hội và đến nay lần đầu tiên tổ chức Đại hội của những người làm báo toàn Học viện.
Các chi hội nhà báo trong hệ thống còn hoạt động rời rạc, thiếu tính thống nhất, gắn kết, phối hợp trong triển khai công tác chuyên môn, nghiệp vụ. Mối quan hệ giữa Chi hội và lãnh đạo chuyên môn các tạp chí chưa chặt chẽ, chưa có quy chế làm việc, vai trò của tổ chức hội còn mờ nhạt, chưa có nhiều đóng góp vào hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, chuyên môn báo chí, chia sẻ kinh nghiệm công tác phát hành và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác báo chí.
Hai là, nhiều hội viên của các chi hội còn chưa được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ báo chí, xuất bản, ít kinh nghiệm trong công tác biên tập, trị sự và quản lý tòa soạn, đặc biệt là tòa soạn trong thời đại số hiện nay. Cán bộ làm công tác báo chí, bản tin hầu hết là cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên, chuyên viên làm việc kiêm nhiệm, nên chưa dành thời gian thỏa đáng và công sức cần thiết để phát triển hoạt động nghiệp vụ báo chí.
Ba là, các đơn vị báo chí chưa xây dựng được các quy định về quy chuẩn biên tập; chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng và thực hiện các quy chuẩn tạp chí khoa học quốc tế, quy trình xuất bản trực tuyến, phản biện bài viết, thể thức trình bày bài báo khoa học,... Chưa có tạp chí nào tham gia được vào các hệ thống trích dẫn, danh mục trích dẫn khoa học quốc tế.
Việc thực hiện đa dạng loại hình và chuyển đổi số báo chí còn chậm. Hiện mới chỉ có 03 tạp chí thực hiện 02 loại hình cả tạp chí in và điện tử; 05 tạp chí xuất bản ấn phẩm tiếng Anh, trong đó có tạp chí tiếng Anh chưa xuất bản đều kỳ. Chưa có tạp chí được số hóa hoàn toàn, chưa có toà soạn số với việc áp dụng số hoá quản trị hệ thống, biên tập, duyệt bài, thiết kế trình bày, đo lường nhu cầu công chúng; chưa xây dựng được mô hình toà soạn hội tụ...
Bốn là, các tạp chí cũng như các Chi hội Nhà báo chưa tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và kết nối nhà báo do Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức, chưa quan tâm gửi bài dự các giải báo chí quốc gia, giải báo chí chuyên đề; chưa chú trọng phối hợp trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ,... Số bài đoạt giải trong các giải báo chí (Giải Búa liềm vàng, Giải báo chí quốc gia,...) còn rất khiêm tốn.
Năm là, hầu hết các tạp chí Học viện được phát hành theo phương thức cấp phát, biếu tặng trong hệ Học viện và một số chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các trường chính trị, một số trường đại học. Số lượng được đặt mua còn rất hạn chế.
Trong bối cảnh hiện nay, những công việc hệ trọng của đất nước đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với giới báo chí cả nước nói chung và đối với hoạt động của các đơn vị báo chí và công tác báo chí trên toàn hệ thống Học viện nói riêng. Đó là có giải pháp đột phá để vượt qua các thách thức chuyển đổi số quốc gia; xu hướng hội nhập quốc tế về báo chí đang diễn ra mạnh mẽ; những yêu cầu mới đối với quy trình, quy chuẩn xuất bản tạp chí khoa học cùng với sự thay đổi nhu cầu tiếp nhận của công chúng; báo chí trong thực thi nhiệm vụ chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng và của Đảng nói chung trên mặt trận chính trị, tư tưởng, lý luận. Nói cách khác, các cơ quan báo chí, những người làm báo Học viện phải có những bước chuyển mình và phát triển mạnh mẽ hơn.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Liên Chi hội Nhà báo và yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Học viện hiện nay, tại Đại hội này, tôi nhấn mạnh một số nội dung công tác trọng tâm, để các đồng chí cùng suy nghĩ và triển khai tốt hơn các hoạt động trong thời gian tới:
Một là, quán triệt chủ trương chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Hội Nhà báo Việt Nam đối với các cơ quan báo chí
Liên Chi hội Nhà báo Học viện là tổ chức trực thuộc Hội Nhà báo Việt Nam, trước hết, phải thực hiện thật tốt Điều lệ, tôn chỉ, mục đích hoạt động Hội. Theo đó, các Chi hội và Liên Chi hội Nhà báo Học viện cần nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của mình là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm báo; hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, thực hiện sứ mệnh phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Các Chi hội cần phải chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động bằng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo; quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, nêu cao đoàn kết, kỷ cương, trách nhiệm; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng lý luận, lập trường tư tưởng chính trị, nghiệp vụ, đặc biệt là về đạo đức của nhà báo, góp phần nâng cao trách nhiệm, sứ mệnh của người làm báo cách mạng.
Tổ chức Chi hội phải thực sự vững mạnh, đề cao tính tư tưởng, tính chuyên nghiệp, hiện đại, trở thành điểm tựa về nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp đối với người làm báo, đồng thời, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong các cơ quan báo chí, các cấp hội nhà báo theo nội dung Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII bằng những chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể, sát hợp với thực tế...
Hai là, bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, thực tiễn đổi mới đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Học viện
Chú trọng tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, đóng góp tích cực cho công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chính trị; chủ động thông tin, tuyên truyền một cách sinh động, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống nhất ý chí và hành động để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cùng với các chuyên mục Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chuyên mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các tạp chí cần xây dựng chuyên mục tuyên truyền, giới thiệu, lan tỏa nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách bài bản, có chất lượng và hiệu quả.
Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí của Học viện tiếp tục đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện, bám sát để thông tin và thực hiện kịp thời các chủ trương, kế hoạch, chương trình hành động do Đảng ủy, Ban Giám đốc ban hành; chú trọng tuyên truyền kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học của Học viện, các nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng biên tập để các sản phẩm báo chí của Học viện ngày càng có chất lượng cao hơn, trở thành nguồn học liệu chính thống, tin cậy không chỉ đối với cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên Học viện, mà còn đối với giới khoa học, những người quan tâm đến lý luận chính trị và báo chí truyền thông cả nước. Các ấn phẩm báo chí của Học viện phải trở thành tài liệu học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cung cấp cứ liệu khoa học cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật nói chung và trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận chính trị, báo chí truyền thông nói riêng.
Ba là, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo của Học viện.
Để phát huy được vai trò của báo chí, tạp chí khoa học nói riêng, đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức của đội ngũ người làm báo. Thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi những người làm báo khoa học phải tự mình học tập, đổi mới và hoàn thiện. Đó là có vai trò tích cực vào tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa xã hội con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về chiến lược đối ngoại, bảo vệ an ninh quốc gia, v.v..
Mỗi cán bộ làm công tác báo chí của Học viện phải là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, lý luận, có nhiệt huyết, dấn thân, trách nhiệm cao trong công việc; tuyệt đối tuân thủ Luật báo chí, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; góp phần bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; không để xảy ra những bài tạp chí vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, hoặc để hiểu sai chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước...
Các cơ quan chủ quản trực tiếp, các Chi hội Nhà báo và mỗi hội viên cần thẳng thắn đánh giá, nhìn nhận những thành công, hạn chế, khuyết điểm để tu dưỡng, rèn luyện. Ban Chấp hành Liên Chi hội và Ban Thư ký các Chi hội phải thể hiện rõ vị trí, vai trò của tổ chức hội trong phát triển, bồi dưỡng chính trị, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ cho hội viên, đẩy mạnh phong trào Học tập và noi gương tư tưởng, phong cách và đạo đức làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bốn là, tiếp tục kiện toàn tổ chức Chi hội, Liên Chi hội Nhà báo, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý hội viên
Cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức chi hội, phát triển tổ chức hội và hội viên, một mặt, khẳng định sự gắn kết, thống nhất khối báo chí toàn Học viện. Mặt khác, tạo bước chuyển để Liên Chi hội Nhà báo Học viện thực sự trở thành một tổ chức có dấu ấn, bản sắc riêng của báo chí Trường Đảng trong hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam.
Liên Chi hội Nhà báo Học viện chịu trách nhiệm tham mưu sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan báo chí nhằm bảo đảm thống nhất về mô hình tổ chức, bộ máy, quy mô nhân lực phù hợp trong toàn Học viện, bảo đảm tính hệ thống, khắc phục tình trạng khu biệt, hoạt động rời rạc giữa các đơn vị báo chí như hiện nay. Đồng thời, Liên Chi hội Nhà báo và các Chi hội Nhà báo phải làm tốt vai trò tham mưu, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác báo chí của Học viện; xây dựng cơ chế để thu hút cán bộ có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ quản lý làm công tác báo chí; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người làm báo trong Học viện.
Ban Chấp hành Liên Chi hội có trách nhiệm tham mưu cho Đảng ủy, Giám đốc Học viện xây dựng cơ chế, chính sách phát triển, giáo dục, bồi dưỡng hội viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tạp chí, bản tin, cổng thông tin, trang tin điện tử. Các Chi hội, Liên Chi hội cũng cần chú trọng nâng cao vai trò của mình trong giám sát việc tuân thủ pháp luật, quy định về đạo đức nghề nghiệp của hội viên; chú trọng tham gia đóng góp vào công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo các Chi hội.
Các Chi hội cũng cần chủ động tham mưu cho các cấp lãnh đạo mở các khóa đào tạo, bồi dưỡng hằng năm, đồng thời, tạo điều kiện để cán bộ, biên tập viên, nhân viên được tham gia các khoá bồi dưỡng nâng cao trình độ viết, biên tập tin, bài, ứng dụng công nghệ mới, trau dồi ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu báo chí hiện đại, hội nhập.
Năm là, đối với các Chi hội Nhà báo ở đơn vị nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo chuyên ngành báo chí
Cần tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận báo chí nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, đề xuất những luận cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về báo chí; thể hiện tốt hơn nữa vai trò trung tâm quốc gia nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành báo chí, chú trọng đào tạo toàn diện cả về chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nhà báo, đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực báo chí chất lượng cao của đất nước. Hoạt động của các Chi hội cần hướng vào xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có lý luận tốt, vừa am hiểu thực tiễn sâu sắc, có năng lực sáng tạo, kỹ năng sư phạm. Chú ý phát hiện, bồi dưỡng các tài năng trẻ, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ trẻ. Quan tâm mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu về báo chí, góp phần trực tiếp thúc đẩy xây dựng hệ thống báo chí Học viện hiện đại và hội nhập quốc tế.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là Trường Đảng Trung ương, là Trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chính trị, tham mưu chủ trương, chính sách cho Đảng, Nhà nước. Các đơn vị báo chí của Học viện phải khẳng định được uy tín, vị thế trong khu vực và quốc tế, trở thành địa chỉ tin cậy để các nhà khoa học trao đổi học thuật, công bố những kết quả nghiên cứu mới, mở rộng ảnh hưởng ra toàn xã hội.
Sự nghiệp cách mạng, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới đang đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang cho giới báo chí cả nước nói chung và báo chí Học viện nói riêng. Tin tưởng rằng, với những kết quả đã đạt được, với những nỗ lực, quyết tâm của các Chi hội, của đội ngũ hội viên, trong thời gian tới, báo chí và đội ngũ những người làm báo Học viện sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong thời kỳ mới
Nhận thức của Đảng ta về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta, phù hợp với xu thế vận động tiến bộ của thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Nhờ đó, đất nước ta đã giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đặc biệt là những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới. Bài viết góp phần làm rõ quan điểm của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH; nội dung và phương hướng đi lên CNXH; khái quát những bước chuyển căn bản trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam - Ảnh: dangcongsan.vn
Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Do đặc điểm về lịch sử, không gian và thời gian cụ thể, không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tất cả các hình thái kinh tế - xã hội có tính tuần tự từ thấp lên cao. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, có những nước do những điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối đã bỏ qua một hoặc hai hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong tiến trình phát triển.
1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và của Đảng ta về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Theo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, phát triển “tuần tự” hay “bỏ qua” một hình thái kinh tế - xã hội đều là quá trình lịch sử - tự nhiên. C.Mác đã viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(1). Căn cứ vào tiến trình liên tục, không ngừng của cách mạng vô sản thế kỷ XIX, C.Mác, Ph.Ăngghen đã khái quát lý luận về thời kỳ quá độ và coi đó là một nấc thang tất yếu phải trải qua để bước sang xã hội cộng sản. Các ông cho rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(2). Luận điểm của các nhà kinh điển thể hiện rõ tư tưởng về một hình thức quá độ “trực tiếp” sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền từ giai cấp tư sản. Đồng thời, các ông cũng chỉ rõ: “Một xã hội, ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó... cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó. Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ”(3).
Trung thành với học thuyết Mác, V.I.Lênin phát triển lý luận về sự phát triển “rút ngắn” và “không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, coi đó là hình thức quá độ “gián tiếp” đi lên CNXH, đồng thời chỉ ra những điều kiện và biện pháp để thực hiện bước quá độ ấy. V.I.Lênin cho rằng: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xôviết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(4). V.I.Lênin cũng viết rõ rằng: “cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”(5). Đồng thời, Người cũng nhắc nhở rằng: “Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta, lại chia ra thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó”(6).
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta nhận thức về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một thời kỳ lâu dài với nhiều chặng đường. Thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1954 khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH với những đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(7). Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Từ đó cho đến khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới năm 1986 là tròn một thập kỷ. Đây là thời kỳ xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội, khắc phục hậu quả nặng nề sau chiến tranh, khó khăn chồng chất khó khăn. Mặt khác, do chưa nhận thức đầy đủ về thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết, nên Đại hội IV (năm 1976) của Đảng chưa xác định những mục tiêu của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Trong những năm 1976-1980, trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh CNH trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời. Đến Đại hội V (năm 1981), cùng với việc khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã cụ thể hóa một bước đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đề ra những mục tiêu tổng quát, các chính sách lớn về kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong chỉ đạo thực hiện đã không quán triệt những kết luận quan trọng nói trên, chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội và duy ý chí, thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và cơ chế quản lý, nên dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Thấu hiểu tình hình đất nước, với tư duy nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và quyết tâm đổi mới, tại Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta xác định: “Thời kỳ quá độ ở nước ta do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn. Đó là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng”(8), đồng thời nhận thức rõ, chặng đường đầu tiên là bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn. Đại hội còn chỉ ra rằng, sau Đại hội này, với tinh thần cách mạng và khoa học, tiếp tục phát triển đường lối đã được xác định, Đảng ta cần xúc tiến xây dựng một Cương lĩnh hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng XHCN trong thời kỳ quá độ. Trên cơ sở cương lĩnh đó, sẽ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển khoa học - kỹ thuật, phát triển đất nước.
Năm 1991, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ và đáng tiếc là ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có hiện tượng dao động về lập trường, xuất hiện những khuynh hướng phủ định các thành tựu, từ đó dẫn đến phủ định con đường XHCN. Trong bối cảnh phức tạp như vậy, tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta đã đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định: “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau”(9).
Đến Đại hội IX (năm 2001), Đảng đã nhận định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(10), trong đó, xác định chặng đường đầu tiên là chuẩn bị tiền đề cho chặng sau, tạo ra sự ổn định vững chắc của xã hội thông qua đổi mới, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau. Chặng đường tiếp theo là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2011), tại Đại hội XI, Đảng ta đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định rõ hơn: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức kinh tế, xã hội đan xen”(11).
Có thể nói, nếu trước đây nhận thức của Đảng ta về thời kỳ quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam còn giản đơn, thì đến thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về vấn đề này ngày càng sáng rõ hơn. Đó là, quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là một tất yếu khách quan, là một thời kỳ lâu dài với nhiều chặng đường. Đồng thời, Đảng ta cũng nhấn mạnh rằng, một số vấn đề trong Cương lĩnh vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
2. Đảng ta xác định mục tiêu, nội dung và phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của thời kỳ quá độ ở nước ta trong công cuộc đổi mới
Về mục tiêu, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung Đảng ta đều xác định rõ được mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Cụ thể là: Đại hội VI xác định: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo. Đại hội VII (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định: Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh. Đại hội XI thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại.
Về nội dung, Đại hội VI của Đảng năm 1986 xác định nội dung với nhiệm vụ của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu quốc phòng và an ninh. Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta xác định nội dung cơ bản là: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ. Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Đến Đại hội XI của Đảng năm 2011, Đảng ta nêu nội dung xây dựng CNXH gọn và rõ hơn: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Về phương hướng, Đại hội VI (năm 1986) nêu tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực cản đối với công cuộc xây dựng CNXH. Vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta xác định phương hướng cơ bản là xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân, vì dân; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại; không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN; tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh; thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.
Những thành tựu đạt được trong 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thực hiện thành công chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ XHCN được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, quá độ lên CNXH ở nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến phức tạp, không thể xem thường. Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định phương hướng cơ bản là: Một là, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Rõ ràng, mục tiêu, nội dung và phương hướng của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam được Đảng ta xác định ngày càng rõ hơn và khác về nguyên tắc với kiểu quá độ “trực tiếp” từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH, mà là quá độ “gián tiếp” từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên CNXH. Đó là tính đặc thù của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam.
3. Khái quát những bước chuyển căn bản trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình lịch sử lâu dài với những bước đi và giải pháp phù hợp với điều kiện và trình độ của xã hội nước ta từ sản xuất nhỏ là phổ biến đi lên CNXH. Từ năm 1986 đến nay, quá độ đi lên CNXH ở nước ta có những bước chuyển căn bản, thể hiện rõ ở những vấn đề nổi bật sau đây:
Một là, từ mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hóa sở hữu xã hội (nhà nước và tập thể) và với sự phát triển vượt trước của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất sang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự thống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, phân phối, lấy phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếu, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đây là bước chuyển căn bản mà ý nghĩa sâu xa là tôn trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; dựa vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà từng bước thiết lập quan hệ sản xuất tương ứng. Nhờ đó, đã mở đường giải phóng sức sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng xã hội. Nhân tố quan trọng bậc nhất được thúc đẩy là lợi ích, trong đó lợi ích của người lao động được coi trọng và là động lực trực tiếp để thực hiện, phát triển lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Bước chuyển này có ý nghĩa cách mạng, đã đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của cái tất yếu kinh tế trong sự phát triển quá độ lên CNXH theo con đường phát triển “rút ngắn”, loại hình quá độ “gián tiếp” mà quy luật của lịch sử đã đặt ra.
Hai là, từ quản lý nền kinh tế dựa trên mô hình kế hoạch hóa tập trung tuyệt đối với cơ chế bao cấp, bình quân, cào bằng sang mô hình quản lý mới thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự điều tiết ở tầm vĩ mô, thông qua quản lý, kiểm soát bằng pháp luật của Nhà nước. Nền kinh tế vận hành trong cơ chế thị trường đã dẫn đến sự tác động, thâm nhập lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế, tạo thành sự đan xen các hình thức sở hữu, các phương thức quản lý và phân phối lợi ích phù hợp với quan hệ sản xuất, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Trong cơ chế thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanh, vừa là chủ thể tiêu dùng sản phẩm hàng hóa được đặt vào những cơ hội như nhau để phát triển, được thể hiện ở tài năng, được thử thách về trình độ, năng lực, phẩm chất và sự sáng tạo trong hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh đòi hỏi chấp nhận cạnh tranh. Cơ chế thị trường có mặt trái của nó là cạnh tranh, dẫn đến sự chênh lệch thu nhập, bất bình đẳng và phân hóa giàu nghèo. Vấn đề đặt ra là phải có chính sách đúng đắn để hạn chế tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, hướng tới mục tiêu công bằng xã hội, theo định hướng XHCN.
Ba là, đã tiến hành đổi mới hệ thống chính trị. Từ chế độ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp và phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh chuyển sang dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện dân chủ gắn với tôn trọng pháp luật, kỷ cương xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ XHCN. Ngay từ đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chủ trương giữ vững ổn định chính trị, coi đó là tiền đề, điều kiện cơ bản để thực hiện đổi mới toàn diện đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Thực hiện đổi mới hệ thống chính trị sau đổi mới kinh tế đã tạo ra sự ổn định xã hội, đồng thời xác nhận tầm quan trọng của những nguyên tắc, biện pháp, bước đi trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Bước chuyển này góp phần quan trọng vào việc tháo gỡ khó khăn, tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, làm nảy sinh những nhân tố mới, động lực mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo để tìm cách giải quyết phù hợp và có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đó là quan niệm về sự hình thành và phát triển CNXH ở nước ta. CNXH với tư cách là một chế độ xã hội và là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH. Song, không có một mô hình duy nhất, không có mẫu hình duy nhất giống hệt nhau được áp dụng ở tất cả các nước, mà đòi hỏi phải sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Vấn đề đặt ra là phải kết hợp dân tộc và quốc tế, truyền thống với hiện đại, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Đồng thời, phải vừa hợp tác, vừa đấu tranh để bảo vệ những lợi ích chính đáng của quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, để giữ vững định hướng XHCN phải không ngừng sáng tạo, phải khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn, máy móc, sao chép mô hình của nước ngoài, đồng thời phải đấu tranh với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
Năm là, khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết về mô hình xây dựng CNXH kiểu cũ có liên quan đến vấn đề con người trong thời kỳ quá độ, Đảng và Nhà nước ta đã làm sáng tỏ hơn tư tưởng nhân đạo, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, thừa nhận và bảo vệ những lợi ích chính đáng của người lao động là một trong những động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở thực hiện lợi ích chung của tập thể và của xã hội. Con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, là nguồn nội sinh quan trọng của mọi chính sách kinh tế - xã hội, của phát triển đất nước bền vững. Do đó, Đảng ta chủ trương đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là đầu tư theo chiều sâu, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.
Quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta đã được thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng khẳng định là đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong hơn 35 năm đổi mới là to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trong những thập niên tới, như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(12).