Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

Tìm hiểu về “Tự chuyển hóa”

 

Tìm hiểu về “Tự chuyển hóa”

Tự chuyển hóa” là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “chuyển hóa” là “biến đổi sang dạng hoặc hình thái khác”, do đó “tự chuyển hóa” là quá trình bản thân chủ thể (sự vật, hiện tượng, cá nhân, tổ chức…) tự biến đổi sang dạng hoặc hình thái khác biệt với chính nó ở giai đoạn trước.

Đối với các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, “tự chuyển hóa” là quá trình tự biến đổi từ những thay đổi về lượng đến đến những thay đổi về chất… và ngược lại của chủ thể theo các quy luật của tự nhiên. Nguyên nhân “tự chuyển hóa” chủ yếu là do tự biến đổi từ bên trong của sự vật, hiện tượng. Các tác động từ bên ngoài không giữ vai trò quyết định nhưng có thể thúc đẩy nhanh hơn hoặc kìm hãm, làm chậm lại quá trình tự biến đổi của sự vật, hiện tượng.

Như vậy, trong tự nhiên “tự chuyển hóa” của các sự vật, hiện tượng là quá trình tự biến đổi của chủ thể theo các quy luật của tự nhiên, không mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực.

Trong lĩnh vực xã hội, đối với chủ thể là con người (cá nhân, tổ chức…), “tự chuyển hóa” cũng là quá trình bản thân chủ thể tự biến đổi, dẫn đến chủ thể ở giai đoạn sau trở thành khác biệt với chính nó ở giai đoạn trước. Nguyên nhân “tự chuyển hóa” chủ yếu là do tự biến đổi từ bên trong của cá nhân, tổ chức…; các tác động từ bên ngoài có thể thúc đẩy nhanh hơn hoặc kìm hãm, làm chậm lại quá trình tự biến đổi của cá nhân, tổ chức... Quá trình tự biến đổi của chủ thể diễn ra theo các quy luật của nhận thức, tư tưởng, tâm lý, các quy luật của xã hội, do đó “tự chuyển hóa” của cá nhân, tổ chức… có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực.

Tìm hiểu về “Tự diễn biến”

 

Tìm hiểu về “Tự diễn biến”

Tự diễn biến” là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “diễn biến” là “diễn ra sự biến đổi”, do đó “tự diễn biến” là quá trình bản thân chủ thể (sự vật, hiện tượng, cá nhân, tổ chức…) đang có sự tự biến đổi; xu hướng của sự tự biến đổi này sẽ dẫn đến chủ thể ở giai đoạn sau ngày càng trở thành khác biệt với chính nó ở giai đoạn trước.

Đối với các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, “tự diễn biến” là quá trình tự biến đổi từ hình thức đến nội dung, từ hiện tượng đến bản chất… của chủ thể theo các quy luật của tự nhiên. Nguyên nhân “tự diễn biến” chủ yếu là do tự biến đổi từ bên trong của sự vật, hiện tượng. Các tác động từ bên ngoài không giữ vai trò quyết định nhưng có thể thúc đẩy nhanh hơn hoặc kìm hãm, làm chậm lại quá trình tự biến đổi của sự vật, hiện tượng.

Như vậy trong tự nhiên, “tự diễn biến” của các sự vật, hiện tượng là quá trình tự biến đổi của chủ thể theo các quy luật của tự nhiên, không mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực.

 Trong lĩnh vực xã hội, đối với chủ thể là con người (cá nhân, tổ chức…), “tự diễn biến” cũng là quá trình bản thân chủ thể tự biến đổi, dẫn đến chủ thể ở giai đoạn sau trở thành khác biệt với chính nó ở giai đoạn trước. Nguyên nhân “tự diễn biến” chủ yếu là do tự biến đổi từ bên trong của cá nhân, tổ chức…; các tác động từ bên ngoài có thể thúc đẩy nhanh hơn hoặc kìm hãm, làm chậm lại quá trình tự biến đổi của cá nhân, tổ chức... Quá trình tự biến đổi của chủ thể diễn ra theo các quy luật của nhận thức, tư tưởng, tâm lý, các quy luật của xã hội, do đó “tự diễn biến” của cá nhân, tổ chức… có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực.

 

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực pháp lý

Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân.

 

Lợi dụng dân chủ chống phá trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo

Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

CẦN CẢNH GIÁC VỚI CÁC “THẦN DƯỢC” CỦA DƯỢC PHẨM GIẢ

Trong thời gian vừa qua, khi dịch bệnh covid - 19 hoành hành khắp thế giới, đây cũng là dịp có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội thị trường mở cửa đưa ra tràn lan sản phẩm kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái… thậm chí được quảng cáo quá mức như “thần dược” để chiếm đoạt tài sản cá nhân của người khác. Mới đây viên uống bổ phổi, thanh lọc cơ thể hậu COVID - 19; vitamin tổng hợp bổ sung đề

 

Chiêu trò chống phá trong lĩnh vực văn hóa

 

Các thế lực thù địch đang cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

 

 

ĐỪNG NGHĨ SAI THẾ!

          

 Ông Hùng là công nhân nông trường về hưu. Gần nhà ông, có công ty sản xuất linh kiện điện tử do nước ngoài đầu tư.

Nắm bắt cơ hội, ông xây dãy phòng trọ cho công nhân thuê. Dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (1-5), đại diện công đoàn công ty đến tận phòng trọ thăm hỏi công nhân có hoàn cảnh khó khăn, ông thấy mừng.

 

Hiện thực sinh động phủ định những luận điệu sai trái, xuyên tạc về tự do báo chí

Ngày nay, ngành truyền thông nói chung, báo chí nói riêng phản ánh bộ mặt xã hội, là sự thể hiện trình độ văn hóa, văn minh và bản chất của một dân tộc, một chế độ chính trị. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác báo chí.

Ngày 3-4-2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 362/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí (QHBC) toàn quốc đến năm 2025. Nội dung QHBC theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo đồng thuận trong xã hội, định hướng tư tưởng và thẩm mỹ, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa và con người Việt Nam. 

 

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”, đồng thời xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược, trong đó “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045”.

Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng được Đảng ta chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, tạo cơ sở hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

 

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

 

Những trò lừa của tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”

Ngày 18-4, TAND TP Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt  12 bị cáo phạm tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” khi tham gia tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (CPQGVNLT).

Các đối tượng trong vụ án hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, các bị cáo là thành viên của tổ chức khủng bố “CPQGVNLT” thực hiện tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Phú Yên và Kon Tum.

Học thuyết lợi nhuận của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng và tính thời đại.

 - Học thuyết lợi nhuận được C.Mác trình bày trong bộ “Tư bản” là sự kết tinh giá trị khoa học và cách mạng cốt lõi nhất trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường và khẳng định giá trị khoa học, cách mạng và tính thời đại của học thuyết lợi nhuận của C.Mác, góp phần khẳng định và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường CNXH.

Học thuyết lợi nhuận của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng và tính thời đại

Học thuyết lợi nhuận được C.Mác trình bày trong bộ “Tư bản” là sự kết tinh giá trị khoa học và cách mạng cốt lõi nhất trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường - Ảnh: Internet

Tập III bộ “Tư bản” của C.Mác nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất TBCN, chỉ ra các hình thái biểu hiện khác nhau của giá trị thặng dư dưới hình thái lợi nhuận, đồng thời, phân tích một cách sâu sắc những vấn đề phức tạp nhất của việc phân phối giá trị thặng dư giữa các loại hình tư bản gồm: Lợi nhuận của tư bản công nghiệp; lợi nhuận của tư bản thương nghiệp; lợi tức của tư bản cho vay và địa tô TBCN. Trải qua bao thăng trầm lịch sử của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT), những lý luận về lợi nhuận của C.Mác vẫn còn nguyên giá trị.

1. Giá trị khoa học và cách mạng khi C.Mác kế thừa có phê phán lý luận lợi nhuận của các trường phái kinh tế trước C.Mác

Trước hết, phải khẳng định rằng, C.Mác không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm về lợi nhuận mà là các nhà kinh tế trước C.Mác, tiêu biểu là kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh. Trong đó, tính khoa học được C.Mác đánh giá là chỉ ra bản chất của lợi nhuận được xây dựng trên cơ sở nền tảng bất biến là lý thuyết giá trị lao động. Đồng thời, đã nhìn thấy xu hướng bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận; manh nha chỉ ra rằng, tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống. Tính cách mạng, được thể hiện khi khẳng định chắc chắn nguồn gốc của lợi nhuận là lao động của giai cấp công nhân làm thuê tạo ra, là bóc lột lao động làm thuê. Đồng thời, chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lợi nhuận và tiền công là nguyên nhân kinh tế của mâu thuẫn giai cấp. 

Tuy nhiên, C.Mác cũng thẳng thắn phê phán những hạn chế do giới hạn lịch sử trong lý luận về lợi nhuận của các nhà kinh tế tư sản cổ điển. Tính cách mạng còn được biểu hiện sâu sắc hơn khi C.Mác đấu tranh không khoan nhượng chống lại luận điểm của những kẻ cơ hội, tầm thường (như J.B.Say và Manthus) khi dựa vào mặt hạn chế trong lý luận lợi nhuận của phái tư sản cổ điển nhằm xoa dịu đấu tranh giai cấp, bênh vực lợi ích của giai cấp tư sản. Những dấu mốc cơ bản là: 

Thứ nhất, A.Smith đã trình bày về lợi nhuận khi phân tích nguồn thu nhập từ sự phân chia xã hội thành giai cấp. Ông đã dựa trên sở hữu để chia xã hội thành 3 giai cấp: những người chiếm hữu ruộng đất; các nhà tư bản công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp; giai cấp công nhân làm thuê. Mỗi giai cấp nhận được một bộ phận thu nhập tương ứng từ tổng thu nhập xã hội: địa tô, lợi nhuận, tiền lương. Cơ sở của lý luận này dựa trên lý luận giá trị lao động. Theo ông, trong giá trị của hàng hóa do người công nhân tạo ra thì anh ta chỉ nhận được một phần gọi là tiền lương, phần còn lại là địa tô và lợi nhuận. Ông cho rằng, lợi nhuận là “khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động, nguồn gốc của lợi nhuận là bóc lột lao động làm thê. Ông còn chỉ ra lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận, sinh ra từ lợi nhuận. Ông còn nhìn thấy xu hướng bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận khi khối lượng tư bản đầu tư tăng lên. Tuy nhiên, ông chưa thấy sự khác nhau giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư, chưa hiểu sự chuyển hóa của giá trị thành giá cả sản xuất.

Thứ hai, D.Ricardo thông qua một số luận điểm của ông về giá trị, về mối quan hệ giữa các loại thu nhập, “tiền công thấp chỉ là một tên gọi khác đi với các lợi nhuận cao”. Điều đó chứng tỏ D.Ricardo xem lợi nhuận là kết quả lao động của công nhân, phần giá trị lao động do công nhân tạo ra không được trả công, bị nhà tư bản tước đoạt. Ông cho rằng, lợi nhuận có khuynh hướng tự nhiên giảm xuống, vì cùng với sự tiến bộ của xã hội và sự tăng của cải, người ta sẽ chi phí một lượng lao động ngày càng lớn hơn để sản xuất ra số lượng lương thực phụ thêm. Điều đó sẽ làm cho tiền công tăng lên và lợi nhuận giảm xuống, và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tích luỹ. Theo ông, bản thân sự tích lũy tư bản không thể làm giảm lợi nhuận một cách lâu dài, vì tư bản cuối cùng sẽ tìm được những bàn tay cần thiết của nó. 

Khi tư bản tăng lên thì công việc do tư bản thực hiện cũng tăng lên cùng một tỷ lệ. Chỉ có nguyên nhân duy nhất làm cho lợi nhuận giảm xuống là do tiền công tăng lên. D.Ricardo cũng đã biết đến tỷ suất lợi nhuận bình quân khi ông cho rằng, trong cùng một mức lợi nhuận bao giờ cũng giống nhau, thậm chí quy luật mức lợi nhuận ngang nhau còn tác động trên quy mô quốc tế, vì tư bản và lao động không chỉ di chuyển trong phạm vi một nước mà còn di chuyển từ nước này sang nước khác có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. 

2. Giá trị cơ bản có tính nền tảng, toàn diện và bao quát về lý luận lợi nhuận của C.Mác trong lịch sử phát triển nền KTTT

Trên cơ sở kế thừa có phê phán, C.Mác đã bổ sung để hoàn thiện học thuyết về lợi nhuận, một nội dung quan trọng trong bộ “Tư bản”. Những lý luận về lợi nhuận của C.Mác có tính nền tảng, toàn diện và bao quát, có giá trị trong suốt lịch sử phát triển nền KTTT, trong các chế độ chính trị và các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. 

Thứ nhất, bằng phương pháp trừu tượng hóa có tính khái quát cao, với các giả định phù hợp để phân tích sự giống và khác nhau giữa chi phí thực tế để sản xuất hàng hóa với chi phí sản xuất tư TBCN, C.Mác đã kết luận: Lợi nhuận (P) là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư (m), do lao động sống tạo ra, được quan niệm là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra. Xét về bản chất thì giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ra trong quá trình sản xuất, còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện ra bên ngoài thông qua trao đổi.

Thứ hai, tỷ suất lợi nhuận (p’): Là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư với chi phí sản xuất TBCN. Tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư khác nhau về chất và về lượng. Trong đó, tỷ suất giá trị thặng dư là chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời của tiền công. Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của việc đầu tư tư bản. C.Mác đã chỉ ra năm nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận theo chiều hướng khác nhau gồm: tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ thuận với tỷ suất giá trị thặng dư; tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ nghịch với cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v); tốc độ chu chuyển của tư bản; tiết kiệm trong việc sử dụng tư bản bất biến; giá cả nguyên vật liệu. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là động lực kinh tế của KTTT mà bất cứ chủ thể sản xuất - kinh doanh nào cũng quan tâm.

Thứ ba, sự biểu hiện quy luật giá trị thành quy luật giá trị thị trường của hàng hóa thông qua sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản sản xuất - kinh doanh trong cùng một ngành. Sự biểu hiện quy luật giá trị thị trường của hàng hóa thành quy luật giá cả sản xuất của hàng hóa thông qua sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản sản xuất - kinh doanh khác ngành. Các quy luật này càng biểu hiện rõ nét trong cạnh tranh của các công ty toàn cầu ngày nay.

Thứ tư, quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là mục đích và động cơ của các nhà sản xuất - kinh doanh. Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận, C.Mác đã chỉ ra rẳng, cùng với sự phát triển của CNTB thì tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống. Phân tích quá trình sản xuất tư TBCN, C.Mác đã chỉ ra, “Quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống”(1). Mặc dù những luận giải đã rõ và cơ bản. Tuy nhiên, trong điều kiện của thế giới hiện đại, trước những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức và kinh tế số, trong bối cảnh toàn cầu hóa cần có luận giải rõ ràng, làm rõ bản chất vấn đề trong bối cảnh mới. 

Về bản chất của quy luật, trong những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận (p’), có sự ảnh hưởng của nhân tố “cấu tạo hữu cơ của tư bản” đến tỷ suất lợi nhuận. C.Mác đã khái quát: Cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên là nhân tố làm cho tỷ suất lợi nhuận giảm xuống. Vấn đề đặt ra là, điều đó ảnh hưởng như thế nào đến khối lượng lợi nhuận (P) của các nhà kinh doanh. 

Trên thực tế, mục tiêu của nhà kinh doanh là đạt tỷ suất lợi nhuận càng cao càng tốt. Một số cách thức, phương thức để đạt được mục tiêu đó là: đổi mới mô hình quản lý; nâng cao trình độ nghề nghiệp cho công nhân; tiết kiệm nguyên vật liệu và đổi mới công nghệ... Cách thức phổ biến và hiệu quả nhất là đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại tức là tăng cấu tạo hữu cơ (c/v tăng). C/v tăng thì tỷ suất lợi nhuận giảm. Điều này mâu thuẫn với mục đích của nhà kinh doanh. 

Nghiên cứu luận điểm này trong học thuyết lợi nhuận của C.Mác cho thấy, cùng với sự phát triển của nền KTTT hiện đại, c/v không ngừng tăng lên, đồng thời tỷ suất lợi nhuận giảm xuống. Những tiến bộ của khoa học - công nghệ (nhất là trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) ngày càng nhanh và sự phát triển của kinh tế số ngày càng phổ biến sẽ đẩy c/v tăng nhanh hơn nữa và như vậy tỷ suất lợi nhuận giảm xuống càng nhanh hơn nữa. Điều này cũng đã được C.Mác giải thích rõ trong chương XIV “Về những nguyên nhân cản trở tác dụng của quy luật” gồm: tăng mức độ bóc lột lao động; hạ thấp tiền công dưới giá trị sức lao động; những nhân tố của tư bản bất biến trở nên rẻ hơn; nhân khẩu thừa tương đối; ngoại thương; tư bản cổ phần tăng lên. C.Mác khẳng định: “Nhất định là đã phải có những ảnh hưởng ngược lại ngăn trở hay thủ tiêu tác dụng của quy luật chung và làm cho nó chỉ mang một tính chất xu hướng mà thôi. Vì vậy, chúng tôi đã gọi sự hạ thấp của tỷ suất lợi nhuận chung xuống là xu hướng hạ thấp”(2). Quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống. Vậy là, vấn đề đã được trả lời thỏa đáng trong điều kiện của nền KTTT hiện đại, khi công nghệ cao được áp dụng phổ biến làm cho tỷ suất lợi nhuận tăng lên không ngừng.

3. Các lý thuyết về lợi nhuận của kinh tế học hiện đại về cơ bản vẫn dựa trên những nguyên lý khoa học và thời đại của C.Mác 

Thành tựu của nền KTTT, với khát khao tìm kiếm lợi nhuận, đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao, kéo theo đó là những mặt trái, khuyết tật càng bộc lộ rõ. Sau C.Mác, các lý thuyết của kinh tế học hiện đại phát triển theo nhiều hướng và cách tiếp cận khác nhau: cả vĩ mô và vi mô; có cách tiếp cận theo quan điểm trọng cầu, trọng cung hay trọng tiền; có cách tiếp cận theo thị trường tự do hay kết hợp giữa thị trường tự do với vai trò điều tiết của nhà nước thành nền kinh tế hỗn hợp... Xét về tổng quát, khi truy nguyên về cội nguồn các lý thuyết được trình bày đều cơ bản dựa trên nền tảng học thuyết về lợi nhuận của C.Mác. Từ đó, có thể khẳng định các lý thuyết về lợi nhuận của kinh tế học hiện đại (sau Mác) về cơ bản vẫn dựa trên những nguyên lý khoa học nền tảng của C.Mác. Có thể chứng minh nhận định trên bằng những dẫn luận cụ thể sau đây:

Thứ nhất, lý luận về năng suất “Giới hạn” của trường phái Tân Cổ điển ở Mỹ do giáo sư Đại học tổng hợp Colombia J.B.Clark trình bày dựa trên lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của C.Mác. J.B.Clark cho rằng: ích lợi của các yếu tố sản xuất thể hiện ở năng suất của nó. Song, năng suất của các yếu tố sản xuất giảm sút. Do vậy, đơn vị yếu tố sản xuất được sử dụng sau cùng là “đơn vị yếu tố sản xuất giới hạn”, sản phẩm của nó là “sản phẩm giới hạn”, năng suất của nó là “năng suất giới hạn”, nó quyết định năng suất của các đơn vị yếu tố sản xuất khác. Đồng thời, ông đã lợi dụng lý thuyết “ba nhân tố sản xuất” và “ba nguồn thu nhập” của J.Say để trình bày về phân phối thu nhập nhằm che giấu nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. J.B.Clark cho rằng, thu nhập là năng lực chịu trách nhiệm của các yếu tố sản xuất. Trong đó, tiền lương của công nhân bằng “sản phẩm giới hạn” của lao động. Lợi tức bằng “sản phẩm giới hạn” của tư bản. Địa tô bằng “sản phẩm giới hạn” của đất đai. Phần còn lại là thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất hay lợi nhuận của nhà kinh doanh. Và như vậy, xã hội không có bóc lột. Luận điểm này đã được C.Mác vạch trần ngay khi phê phán phái tầm thường từ trước đó. 

Thứ hai, lý thuyết về “cân bằng cung cầu và giá cả cân bằng” của Al. Marshall, nhà kinh tế học trường phái Cambridge. Mặc dù có sắc thái riêng, nhưng lý thuyết này về cơ bản vẫn dựa trên lý thuyết cạnh tranh trong nội bộ ngành để hình thành giá trị thị trường của hàng hóa và cạnh tranh khác ngành để hình thành giá cả sản xuất của C.Mác. Theo Al.Marshall, ích lợi giới hạn và cầu có vai trò quyết định trong ngắn hạn, chi phí thực tế có ý nghĩa chủ yếu trong dài hạn. Nếu người sản xuất không thu hồi được chi phí thì sản xuất sẽ thu hẹp cho tới khi lập được thế cân bằng: khi giá cầu = giá cung và quy mô sản xuất không có xu hướng tăng hoặc giảm. 

Thứ ba, lý thuyết về “hiệu quả giới hạn của tư bản” của J.M.Keynes nhà kinh tế học “trọng cầu” nổi tiếng được Mark Skousen đánh giá trong tác phẩm Ba người khổng lồ trong kinh tế học: A.Smith - C.Mác - J.M.Keynes cũng không thoát khỏi cái bóng trong lý luận về: “Quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống” của C.Mác. J.M.Keynes cho rằng, nhà t­ư bản là người có t­ư bản cho vay để hưởng lãi suất. Còn doanh nhân hay chủ doanh nghiệp là người đi vay tư bản để tiến hành sản xuất. Ng­ười kinh doanh dám chấp nhận rủi ro, nguy hiểm trong công việc kinh doanh và dám chịu trách nhiệm vật chất với số tư bản đã được vay. Khi một chủ doanh nghiệp mua một tài sản đầu tư hay một tài sản cố định là mua quyền thu về một loạt các khoản lợi tức trong tương lai. Đó là chênh lệch giữa số tiền bán hàng với chi phí cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Ông gọi số chênh lệch đó là “thu nhập tương lai” của đầu tư. Ngược lại, với thu nhập tương lai của vốn đầu tư giá cung của tài sản cố định, đó là mức giá khuyến khích nhà sản xuất làm thêm một đơn vị tài sản như vậy, Keynes gọi đó là phí tổn thay thế. Mối quan hệ giữa thu nhập tương lai của tài sản cố định và giá cung hay chi phí thay thế - tức là mối quan hệ giữa thu nhập tương lai của thêm một đơn vị tài sản cố định loại đó và chi phí để làm ra đơn vị đó gọi là “hiệu quả giới hạn” của tư bản. 

Như vậy, “hiệu quả giới hạn” của tư bản phụ thuộc vào tỷ suất thu nhập tương lai của số tiền đầu tư mới chứ không phải so với chi phí nguyên thủy của nó. Do ảnh hưởng của thuyết giới hạn, ông cho rằng, cùng với việc tăng lên của vốn đầu tư thì “hiệu quả giới hạn” của tư bản giảm xuống. Ông cho rằng, có hai nguyên nhân làm cho “hiệu quả giới hạn” của tư bản giảm xuống. Một là, đầu tư tăng lên làm cho lượng cung hàng hóa tăng. Khối lượng cung hàng hóa tăng mạnh làm cho giá cả hàng hóa giảm. Giá cả hàng hóa giảm làm thu nhập tương lai giảm. Hai là, việc tăng cung hàng hóa làm cho giá cung tài sản cố định tăng (hay chi phí thay thế tăng). Điều này làm giảm thu nhập tương lai. Tăng đầu tư sẽ dẫn đến giảm thu nhập tương lai và giảm “hiệu quả giới hạn” của tư bản. Từ đó, hình thành đường cầu đầu tư hay đường “giới hạn hiệu quả” của tư bản, giữa đường cầu đầu tư hay đường “giới hạn hiệu quả” của tư bản có mối quan hệ với nhau. Sự khuyến khích đầu tư phụ thuộc một phần vào mức lãi suất. Nếu “hiệu quả giới hạn” của tư bản lớn hơn lãi suất thị trường thì các chủ doanh nghiệp tiếp tục tăng đầu tư và ngược lại, nếu hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn lãi suất thị trường thì các chủ doanh nghiệp không đầu tư nữa.

4. Vận dụng lý luận về lợi nhuận của C.Mác trong phát triển KTTT

Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của kinh tế chính trị Mác - Lênin vào phát triển thành công mô hình KTTT định hướng XHCN thời kỳ đổi mới. Trong đó, học thuyết về lợi nhuận của C.Mác với hệ thống giá trị khoa học và cách mạng có tính nền tảng cốt lõi về KTTT. Học thuyết lợi nhuận của C.Mác mang tính lịch sử và thời đại, kế thừa, cung cấp những luận cứ, quy luật kinh tế khách quan về phát triển KTTT. Vận dụng học thuyết lợi nhuận của C.Mác, cần các yêu cầu sau:

Một là, để kế thừa chân lý khoa học lý luận về lợi nhuận của C.Mác, cần học tập và vận dụng những nguyên lý, nội dung, quy luật vận động và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trong phát triển nền KTTT. Lịch sử các học thuyết kinh tế đã chứng minh tính thực dụng của các trường phái kinh tế học hiện đại khi vận dụng những nguyên lý đó phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể. Điển hình là, lý thuyết của Keynes trở thành cơ sở lý luận cho CNTB độc quyền nhà nước. Lý thuyết đó đã chi phối chính sách kinh tế của các nước TBCN, khắc phục được một phần chấn động của các chu kỳ khủng hoảng khi theo đuổi lợi nhuận độc quyền cao của CNTB trong thời gian khá dài. Song, Keynes lẩn tránh việc phân tích bản chất xã hội khi không đứng trên lập trường giai cấp của các hiện tượng thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế của CNTB. Đến những năm 1970, lý thuyết Keynes đã bộc lộ sự bất lực, hạn chế vì nó không còn thích ứng với tình hình mới.

Hai là, khi nghiên cứu học thuyết lợi nhuận của C.Mác phải kiên định lập trường giai cấp hay tính cách mạng xuyên suốt quá trình. Bởi khi trình bày về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận, C.Mác đã chỉ rõ: Lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư ra bên ngoài thông qua trao đổi. Vì vậy, phải xuất phát từ lý luận giá trị lao động để tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. Nguyên lý khoa học và cách mạng trong học thuyết lợi nhuận đã khẳng định tính quy luật và sức sống của lý luận qua các thời đại kinh tế khác nhau. 

Ba là, để khẳng định một cách thuyết phục giá trị khoa học và cách mạng học thuyết lợi nhuận của C.Mác, đòi hỏi phải nghiên cứu cơ bản theo hệ thống. Bởi vì, lôgíc của bộ “Tư bản” về lợi nhuận được C.Mác trình bày ở quyển III (Toàn bộ quá trình sản xuất TBCN) sau khi đã trình bày quyển I (Quá trình sản xuất của tư bản) và quyển II (Quá trình lưu thông của tư bản). Vì vậy, sẽ không thuyết phục nếu chỉ cắt nghĩa giá trị của học thuyết lợi nhuận trên các bình diện khác nhau khi chỉ nghiên cứu trong khuôn khổ của quyển III. 

Trong điều kiện phát triển của nền KTTT hiện đại, với sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, gắn với kinh tế tri thức và kinh tế số, các phương thức sản xuất - kinh doanh mới xuất hiện với nhiều biểu hiện mới và cách thức khác nhau, yêu cầu nhận thức sâu sắc lý luận kinh tế của C.Mác, trau dồi thêm bằng đào tạo và học tập bài bản và hệ thống.

 

Ngăn chặn hành vi bán sản phẩm chức năng giả 

trên mạng xã hội


Lợi dụng người tiêu dùng tìm đến các sản phẩm chức năng để tăng cường sức khỏe hậu dịch COVID-19, các đối tượng xấu đã nhập các sản phẩm thực phẩm chức năng giả với đủ các nhãn hiệu, nguồn gốc xuất xứ để bán kiếm lời thông qua các sàn thương mại điện tử.

Để bán được hàng, các đối tượng sử dụng hình ảnh các sản phẩm hàng chính hãng để đăng bán trên mạng xã hội facebook, zalo… và các sàn thương mại điện tử với giá rẻ nhằm thu hút nhiều người mua.

Hành vi sử dụng các sản phẩm thực phẩm chức năng giả kém chất lượng và không có giấy phép của cơ quan chức năng của các đối tượng đã và đang gây nguy hiểm cho sức khỏe, gây thiệt hại lớn về kinh tế của người tiêu dùng. Vì vậy, từng cá nhân phải luôn tỉnh táo, đừng vì ham rẻ mà bị lừa. Các cơ quan chức năng cần tăng cường các biện pháp quản lý, hoàn thiện khung pháp lý, xử phạt nghiêm các đối tượng, sàn thương mại điện tử vi phạm để lành mạnh hoạt động kinh doanh trực tuyến, bảo vệ người tiêu dùng.

Nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân theo quan điểm Hồ Chí Minh.

  - Quan điểm Hồ Chí Minh về ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trở thành kim chỉ nam để Đảng ta đề ra những chủ trương, chính sách, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật lao động cho công nhân. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân Việt Nam.

Nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân theo quan điểm Hồ Chí Minh

Nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân là việc làm rất cần thiết - Ảnh: dangcongsan.vn

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chấp hành kỷ luật lao động là một việc làm cần thiết của người lao động, thể hiện “lề lối làm việc xã hội chủ nghĩa”(1) của những con người XHCN. Công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, do đó, họ phải là lực lượng đi đầu, làm gương trong thực hiện lề lối làm việc mới. Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh để nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết, qua đó khẳng định bản lĩnh chính trị của giai cấp tiên phong, đồng thời hoạt động này còn góp phần quan trọng nâng cao hiệu suất lao động, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân Việt Nam

Thứ nhất, sự cần thiết phải nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân

Sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh về mọi mặt: chính trị, văn hóa, chuyên môn… Trong đó, Người rất chú ý giáo dục để nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động, bởi trong xã hội XHCN, công nhân Việt Nam là người lao động XHCN, là người chủ nước nhà, họ không còn là người “làm thuê làm mướn” như trong xã hội cũ. Với vị trí là người chủ, công nhân được hưởng quyền lợi và phải thực hiện nghĩa vụ: “làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là: - Tuân theo pháp luật Nhà nước. - Tuân theo kỷ luật lao động…”(2).

Như vậy, chấp hành kỷ luật lao động là trách nhiệm của mỗi công nhân, đồng thời là nét đặc trưng của giai cấp duy nhất đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc chấp hành kỷ luật lao động, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các xí nghiệp, các cơ quan, các trường học, các đoàn thể... phải tăng cường kỷ luật lao động(3), công nhân phải “tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật lao động”(4).

Công nhân Việt Nam ra đời ở một nước nông nghiệp lạc hậu, đa phần xuất thân từ nông dân lại làm việc trong điều kiện máy móc thô sơ, lạc hậu… nên còn mang nặng phong cách của người sản xuất nhỏ, tính kỷ luật chưa cao, tùy tiện. Tác phong và thói quen của nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, manh mún khiến “kỷ luật lao động ở một số xí nghiệp, một số cơ quan, một số trường học lỏng lẻo, có người không ốm cũng giả ốm để nghỉ việc, đi chậm về sớm …”(5)

Trong bài nói chuyện khi về thăm khu mỏ năm 1957, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình việc thiếu kỷ luật lao động của công nhân: “không có một nước nào mà 15% công nhân vắng mặt trong buổi làm, như thế trước hết là ảnh hưởng đến anh chị em công nhân, ảnh hưởng ngân quỹ, ảnh hưởng tăng gia sản xuất, ảnh hưởng đến giá sinh hoạt, ảnh hưởng không tốt đến việc kiến thiết chủ nghĩa xã hội. Hay có người đương làm thì bỏ đi ngủ, thái độ như thế không phải là người chủ, cán bộ và công nhân ta phải biết đấu tranh chống thói xấu ấy”(6).

Xét về bản chất, giai cấp công nhân Việt Nam là những người lao động trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp. Đã gắn với công nghiệp đòi hỏi phải có tính chuyên môn hóa, sản xuất theo dây chuyền. Như vậy, công nhân bắt buộc phải tuân thủ kỷ luật lao động, không thể tùy tiện làm việc theo thói quen, sở thích. Thực tiễn đó đòi hỏi phải xây dựng phong cách làm việc công nghiệp, hiện đại cho công nhân Việt Nam. Biểu hiện rõ nhất của phong cách làm việc công nghiệp là việc chấp hành kỷ luật lao động; có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, làm việc nghiêm túc, chịu khó học hỏi, rèn luyện tay nghề... từ đó nâng cao năng suất, tạo uy tín và nâng cao thu nhập cho mình. Hồ Chí Minh coi “Đó là con đường đi đến cải thiện đời sống cho nhân dân và cho giai cấp mình”(7).

Công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh nói: “Về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo”(8). Đây cũng là giai cấp có tinh thần cách mạng: “kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật”, do vậy, giai cấp công nhân đã “ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác”(9). Nếu quan tâm giáo dục toàn diện cho giai cấp công nhân, đặc biệt là giáo dục nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động thì chẳng những xây dựng tác phong công nghiệp cho giai cấp công nhân mà các giai cấp, tầng lớp khác cũng có ảnh hưởng tích cực. 

Thứ hai, nội dung ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân

Trong quan điểm Hồ Chí Minh, ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân được biểu hiện qua việc công nhân thực hiện nghiêm túc chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của nhà máy, có tác phong làm việc công nghiệp và bảo đảm an toàn lao động…Ngày 01-01-1964, nói chuyện với công nhân Khu gang thép Thái Nguyên, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải giữ gìn tốt máy móc, làm việc phải đúng nội quy. Phải thực hiện tốt bảo hộ lao động. Kỷ luật lao động phải thật chặt chẽ”(10)

Trước tiên, công nhân có ý thức chấp hành kỷ luật lao động là phải “tuân theo pháp luật Nhà nước”. Đây là nghĩa vụ công dân nói chung và cũng là nghĩa vụ của mỗi người công nhân Việt Nam. Công nhân chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước sẽ giúp họbiết tự bảo vệ mình một cách chính đáng và có những đóng góp tích cực để xây dựng doanh nghiệp,đất nước.

Bên cạnh pháp luật, mỗi doanh nghiệp lại có những nội quy, quy định riêng trong lao động sản xuất, lề lối làm việc. Công nhân có ý thức chấp hành kỷ luật lao động tốt phải tuân thủ đúng và đủ nội quy, quy định của nhà máy, của doanh nghiệp. Hồ Chí Minh từng nói: “tình trạng muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, nghỉ sớm, không ốm cũng cáo ốm để nghỉ, đều là thiếu kỷ luật lao động… nhà máy không có kỷ luật lao động, không phải là nhà máy tốt”(11)

An toàn trong lao động sản xuất là biểu hiện rõ nét nhất của việc chấp hành kỷ luật lao động của công nhân.Hồ Chí Minh đã dẫn chứng, ở nhiều nơi xảy ra tai nạn lao động là do thiếu giáo dục công nhân về kỷ luật lao động, điều đó rất đáng tiếc, “chúng ta phải quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội. Chúng ta cần phải hết sức bảo vệ, không để xảy ra tai nạn lao động”. Hồ Chí Minh giải thích: “Một công nhân bất kỳ nam hay nữ đều rất quý báu, chẳng những quý cho gia đình các cô, các chú mà còn quý cho Đảng, Chính phủ và nhân dân nữa. Nếu để xảy ra tai nạn là thiệt chung cho bản thân, gia đình, cho Đảng, Chính phủ và nhân dân. Người bị nạn không đi làm được, gia đình sẽ gặp khó khăn, sức lao động của nhân dân do vậy cũng kém sút. Vì thế chúng ta phải hết sức bảo vệ an toàn lao động, bảo vệ tính mạng người công nhân”(12)

Để nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò tuyên truyền, giáo dục của tổ chức Công đoàn. Tại Hội nghị cán bộ Công đoàn toàn miền Bắc năm 1962, Hồ Chí Minh nói: “Công đoàn là tổ chức của công nhân, phải đoàn kết công nhân, giáo dục công nhân, làm cho công nhân hiểu rằng lao động là vẻ vang, hiểu rõ giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, chủ nhân nước nhà. Vì vậy, công đoàn cần phải nhắc nhở, giúp đỡ, khuyến khích anh chị em công nhân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và phải xem xét đến đời sống vật chất, đời sống văn hóa của anh chị em công nhân. Đó là nhiệm vụ của công đoàn, cho nên công đoàn là một trường học để thực hiện cải tiến dần dần lên chủ nghĩa xã hội”(13).

Quan điểm Hồ Chí Minh về ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trở thànhkim chỉ nam để Đảng ta đề ra những chủ trương, chính sách từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật lao động cho công nhân. Thực hiện tốt điều này, giai cấp công nhân Việt Nam mới thực sự xứng đáng là “giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trongsự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…”(14).

2. Thực trạng ý thức chấp hành kỷ luật lao độngcủa công nhân Việt Nam

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài Lối sống công nhân Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hóa: có 18,3% số công nhân có thâm niên nghề nghiệp có ý thức chấp hành kỷ luật lao động rất cao; 41,6% số công nhân được đánh giá có ý thức khá tốt. 

Kết quả khảo sát củaViện Công nhân và Công đoàn về Ý thức chấp hành pháp luật lao động của công nhân năm 2014 cho thấy: 51,5% trả lời tốt, 31,5% trả lời khá, 16,1% trả lời trung bình(15). Như vậy, cuộc khảo sát cho thấy rằng, công nhân tự đánh giá về ý thức chấp hành pháp luật của mình tương đối tốt, phần nào đáp ứng được đòi hỏi của người sử dụng lao động. 

Tuy nhiên, kết quả dựa trên sự tự đánh giá thì chưa khách quan. Nhìn từ góc độ của các nhà quản lý, nhà sử dụng lao động, công nhân Việt Nam bên cạnh những điểm tích cực vẫn còn một bộ phận công nhân chưa có tác phong làm việc chuyên nghiệp, có những trường hợp cố tình không thực hiện pháp luật lao động nên đã xảy ra tình trạng tai nạn lao động. Con số này phần lớn nằm ở nhóm đối tượng công nhân xuất thân từ nông thôn, mang nặng tác phong tiểu nông, chưa được đào tạo, rèn luyện về kỷ luật lao động công nghiệp.

Theo báo cáo của Trung tâm quốc gia về An toàn - Vệ sinh lao động của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2020, trên toàn quốc đã xảy ra 8.380 vụ tai nạn lao động, làm 8.610 người bị nạn (bao gồm cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động), trong đó: số người chết vì tai nạn lao động là 966 người; số vụ tai nạn lao động chết người là 919 vụ; số người bị thương nặng là 1.897 người; nạn nhân là lao động nữ là 2.724 người. 

Riêng trong khu vực có quan hệ lao động, số vụ tai nạn lao động và mức độ nghiêm trọng có chiều hướng giảm nhưng nguyên nhân không phải do ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân tốt lên mà do năm 2020, từ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp bị gián đoạn trong sản xuất, số lượng công nhân tham gia lao động giảm mạnh, cụ thể: 

 

Bảng 1: So sánh tình hình tai nạn lao động năm 2020 và năm 2019 khu vực có quan hệ lao động(16)

Theo kết quả khảo sát về tình trạng công nhân vi phạm các quy định, nội quy trong công ty đối với 2.500 công nhân ở khu công nghiệp, khu chế xuất cho thấy, có 1.064/2.500 công nhân trả lời có đi muộn, về sớm. Tình trạng công nhân nghỉ không lý do vẫn diễn ra khá phố biến. 566 người trả lời có làm hỏng, sai sản phẩm; 375 công nhân trả lời có hiện tượng cãi nhau trong giờ làm việc và không hoàn thành định mức lao động; đặc biệt 176 công nhân đánh giá có hiện tượng công nhân lấy đồ của công ty(17)

Nguyên nhân những hạn chế trên xuất phát nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Một số doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật về chính sách lao động, tiền lương và an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện. Nhiều người sử dụng lao động chưa có ý thức chấp hành pháp luật. Một số doanh nghiệp nắm được các quy định của pháp luật về lao động nhưng để tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, họ lại cố tình không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật. 

Cùng với đó, nhận thức của công nhân về các quy định của pháp luật còn hạn chế: công nhân không biết hoặc không nắm đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động, do đó không thể đề xuất, kiến nghị với người sử dụng lao động để bảo đảm doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật hoặc người lao động biết các quy định của pháp luật nhưng đồng ý thỏa thuận với người sử dụng lao động không thực hiện để được làm việc tại doanh nghiệp. Nhiều công nhân do trình độ văn hóa còn thấp nên không biết được những quyền lợi đã được pháp luật lao động quy định.

3. Giải pháp nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao độngcho công nhân Việt Nam theo quan điểm Hồ Chí Minh 

Nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân trong thời điểm hiện nay là việc làm rất cần thiết. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 trên thế giới và Việt Nam đang có xu hướng giảm, Việt Nam bắt đầu bước vào trạng thái “bình thường mới”, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh để phục hồi kinh tế. Công nhân Việt Nam sau thời gian không tham gia sản xuất hoặc bị gián đoạn sản xuất đã bị ảnh hưởng đến ý thức chấp hành kỷ luật lao động. Để quá trình phục hồi sản xuất có hiệu quả cao nhất, các chủ thể cần nhận thức và hành động đúng để nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động. 

Vận dụng sáng tạo quan điểm Hồ Chí Minh về ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức công đoàn và bản thân mỗi công nhân cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, hệ thống hóa và hoàn thiện những luật có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của công nhân, như pháp luật lao động, tiền lương… Các luật ban hành cần bảo đảm tính khả thi, dễ hiểu, quy định cụ thể để giảm bớt tình trạng chờ hướng dẫn mới thi hành. Tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật để công dân hiểu và tự giác chấp hành. Các quy tắc pháp lý cần chú ý vấn đề dung hòa các lợi ích khác biệt.

Thứ hai, Công đoàn tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công nhân.Mục đích của hoạt động này là nhằm hình thành và mở rộng tri thức, hiểu biết pháp luật cho công nhân, tạo tình cảm và lòng tin của họ đối với pháp luật; hình thành động cơ và thói quen sống và làm việc theo pháp luật. Công đoàn cần tập trung phổ biến về pháp luật lao động và Luật Công đoàn, làm rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia quan hệ lao động.Giáo dục ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giáo dục tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong lao động, học tập, công tác, giáo dục ý thức chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của cơ quan doanh nghiệp, thực hiện tốt nội dung hợp đồng lao động đã ký…

Cải tiến phương pháp tuyên truyền, giáo dục, làm phong phú, sinh động các hình thức phổ biến pháp luật. Vận dụng linh hoạt các hình thức như: phát hành tờ rơi, tổ chức tập huấn, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu pháp luật, bảng tin, truyền thanh nội bộ, lồng ghép vào các chương trình truyền thanh, truyền hình... 

Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, với người sử dụng lao động, coi trọng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Phát triển đa dạng các hình thức và nâng cao chất lượng công tác tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý của công đoàn cho người lao động. Kết hợp giáo dục pháp luật, với giáo dục đạo đức, văn hóa, nâng cao trình độ cho công nhân.

Thứ ba, nâng cao trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật. Thời gian qua, tổ chức Công đoàn đãquan tâm đổi mới hình thức, phương pháp để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục ý thức chấp hành kỷluật lao động cho công nhân. Các chủ doanh nghiệp cần chủ động quan tâm, phối hợp với Công đoàn trong giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kỷ luật lao động. Người sử dụng lao động phối hợp với Công đoàn phổ biến pháp luật, phổ biến nội quy, quy chế của doanh nghiệp ngay khi mới vào làm việc tại doanh nghiệp để công nhân thực hiện nghiêm pháp luật; tuyên truyền, giáo dục cho công nhân hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật lao động; nhắc nhở, phê bình những trường hợp lơ là, không chấp hành nội quy, quy định của đơn vị và pháp luật lao động; động viên công nhân thực hiện tốt các quy định của pháp luật. 

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật lao động trong doanh nghiệp. Kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của cả người sử dụng lao động và người lao động, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, giải quyết những vướng mắc từ cơ sở. Đồng thời, phát hiện những nội dung bất cập, không khả thi của pháp luật trong quá trình triển khai thực hiện để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. 

Khi kiểm tra, đánh giá, không chỉ kiểm tra việc chấp hành pháp luật của chủ doanh nghiệp mà cần kiểm tra việc phối hợp của doanh nghiệp với các cơ quan chức năng trong tuyên truyền pháp luật lao động và tình trạng chấp hành nội quy, quy định pháp luật của công nhân. 

Xử lý nghiêm minh tất cả những hành vi vi phạm pháp luật, nhất là những vi phạm của những người có cương vị và trọng trách trong xã hội, không tạo ra các vùng cấm trong xử lý vi phạm pháp luật. 

Thực hiện đồng bộ các chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm phát huy dân chủ và giữ vững kỷ cương trong xã hội. Thông qua công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội, ý thức pháp luật của công nhân sẽ được củng cố và không ngừng nâng cao.

Thứ năm, mỗi công nhân phải luôn tự ý thức rèn luyện bản thân, tích cực tìm hiểu các quy định pháp luật, tìm hiểu phương pháp để thực hiện các quy định có một cách hiệu quả; không ngừng nâng cao nhận thức về các giá trị tốt đẹp, văn minh của pháp luật và thực hiện pháp luật; hình thành tư duy, thói quen, tác phong, kiên trì, quyết tâm thực hiện các hành vi đúng đắn để biến việc chấp hành kỷ luật lao động thành thói quen trong mọi lúc, mọi nơi, tự nguyện, không cưỡng bức.

Quan điểm Hồ Chí Minh về ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, các chủ thể học tập và làm theo, nghiêm túc thực hiện pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của doanh nghiệp, bảo đảm an toàn trong lao động… chính là góp phần thực hiện chủ trương “xây dựng giai cấp công nhân hiện đại”(18) mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Một số định hướng, giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp như sau:

 
    Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.    
 
    Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên in-tơ-nét và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm. 
 
    Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế  - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên in-tơ-nét. 
 
    Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.
 
    Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng  - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.