Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2022
TỰ HÀO CHIẾN THẮNG VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN
KỶ NIỆM 68 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (7/5/1954-7/5/2022) BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VIỆT NAM
Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ
ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng
là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có
lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không
nên lãnh đạo kinh tế”.
PHẢN BIỆN
HAY PHẢN BỘI?
Từ lúc
chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã
“phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt
Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng
chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của
giới kinh doanh”...
Hai năm
gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19, tốc độ tăng trưởng
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi
cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản
biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên
“lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”:
“Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao,
đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan
điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.
Thực
tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua
lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái
chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị
là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.
Kinh tế
quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ
động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực,
thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu
cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai
lầm.
Các
đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt
sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính
trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế.
Thực tiễn
tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của
Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong
đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá
trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem
nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.
Nhờ chú
trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị
trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm,
giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng,
nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo.
KHẮC PHỤC NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Để
“chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số
người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có
nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối
lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan,
duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu
thuẫn”...
Có lẽ
những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế
thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh
tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh
tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các
phạm trù và quy luật của KTTT.
Các
phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử
dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian,
KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi
mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa
có sự can thiệp của nhà nước.
Sự điều
tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc
biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của
cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước.
Ngày
nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền
KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị
trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều
tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn
trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước
là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).
Thực tế
cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải
hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can
thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.
Có mô
hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp;
nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật
tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi
hoạt động kinh tế.
Có mô
hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho
mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc
quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức).
Có mô
hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu
nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc
biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất
nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà
nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà
còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để
định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn
Quốc)...
Phát
triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền
KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh
bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát
triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người
đều được hưởng thành quả phát triển đất nước.
Theo
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình
KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế,
vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản
lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm
định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHƯNG KHÔNG LÀM THAY
Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến
pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân,
phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân
dân về những quyết định của mình.
Trong
đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các
cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho
hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng
đắn và lành mạnh .
Chăm lo
dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và
phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát
triển kinh tế - xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành
mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường
lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian
nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối
mặt với đại dịch COVID-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự
báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng
trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích
cực trong trung hạn.
Trong
bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi
đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là
một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự
báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.
Báo chí
quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng
kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với COVID-19, hoạt động sản
xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở
châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương
mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ
trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.
Các FTA
không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao
các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính
sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi
phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn
chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm
nay.
Thực
tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh
tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng
không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh
giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này./.
Vẫn trò “Vơ đũa cả nắm”
Sau việc Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đề nghị kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và 12 quân nhân có vi phạm, những kẻ đội lốt “dân chủ” lại lợi dụng quy chụp, thổi phồng, “vơ đũa cả nắm”... rêu rao rằng: “Tham nhũng xảy ra ở toàn quân...”(!)
Đây
thực ra vẫn là trò cũ soạn lại của các đối tượng chống phá, chỉ
khác mức độ, tần suất được các trang mạng phản động đưa tin, giật tít nhằm thu
hút sự chú ý của dư luận, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và
nhân dân, hòng làm suy giảm uy tín, vai trò của quân đội, tiến tới thúc đẩy “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị
hóa” quân đội.
Thực tế
cho thấy, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân
đều quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên chỉ đạo, triển khai,
kiểm tra, giám sát... công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí trong toàn quân và quyết liệt xử lý nghiêm minh các trường hợp
vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệnh, quy định của quân đội. Vì thế, Đảng bộ
Quân đội được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đánh giá là trong sạch, vững mạnh tiêu
biểu; hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ được nhân dân trân trọng, tin yêu.
Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một số ít quân nhân, trong đó có cả sĩ quan cao cấp, người chỉ huy đơn vị sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... Những quân nhân vi phạm pháp luật đều được điều tra, xử lý nghiêm minh. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị tiếp tục thực hiện ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được nhân dân đồng tình, ủng hộ.
Từ
những vấn đề trên cho thấy, sai phạm của một số quân nhân trong thời gian
qua liên quan đến tham nhũng chỉ là hiện tượng cá biệt, không phải là
hiện tượng phổ biến, càng không phải là bản chất của quân đội như một số
đối tượng thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị cố tình lợi dụng để xuyên tạc, thổi
phồng, quy chụp kiểu “vơ đũa cả nắm”. Do đó, mỗi chúng ta trong quá
trình tiếp nhận thông tin cần phải hết sức cảnh giác, biết lựa chọn, sàng lọc
và xem xét khách quan, toàn diện để tránh mắc mưu của kẻ xấu.
Theo QĐND
Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới
Sáng 4/5, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước
Nguyễn Xuân Phúc điều hành phiên khai mạc.
Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XIII tập trung thảo luận, cho ý kiến và quyết định về các nội
dung Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp
tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới; Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7
khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả kinh tế tập thể; Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Đề án
thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Báo cáo
kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 và một số
vấn đề quan trọng khác.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng cho biết để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần này, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư đã sớm thành lập các ban chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết,
xây dựng các báo cáo, đề án về những nội dung nêu trên để báo cáo Bộ Chính trị
thảo luận, cho ý kiến và trình Trung ương xem xét, quyết định.
Các ban chỉ đạo đã bám sát Cương lĩnh
của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị
quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư
cũng như tình hình thực tiễn của đất nước, khu vực và thế giới để tiến hành
tổng kết, nghiên cứu, xây dựng các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo các nghị
quyết trình Trung ương.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng đã nghiêm
túc kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn
với thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị để xây dựng các báo cáo trình Hội nghị Trung
ương lần này.
Kịp thời tháo gỡ vướng mắc
Việc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật
về đất đai, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tổng kết thực hiện Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về đất đai lần này là một yêu cầu cần thiết
nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện
thể chế, chính sách, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong công tác quản lý và
sử dụng đất đai, bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu
tư, tạo nguồn lực và động lực mới để phấn đấu đến năm 2030 nước ta trở thành
nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở
thành nước phát triển, thu nhập cao.
Đây là một lĩnh vực rất rộng lớn, cơ
bản, hết sức phức tạp, nhạy cảm, đặc biệt quan trọng, hệ trọng đối với sự ổn
định và phát triển bền vững đất nước, hiện vẫn còn không ít ý kiến khác nhau.
Khi thảo luận, đánh giá tình hình và
nguyên nhân, chúng ta cần nắm vững phương pháp duy vật biện chứng, các quan
điểm và nguyên tắc cơ bản đã được xác định trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến
pháp của Nhà nước để phân tích một cách toàn diện, khách quan kết quả thực hiện
các chủ trương, chính sách, biện pháp nêu trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI
và pháp luật về đất đai.
“Chỉ rõ nội dung của Nghị quyết đã
được thể chế hóa như thế nào? Những điểm gì thể chế hóa đúng, điểm gì chưa
đúng? Những quan điểm, yêu cầu quan trọng nào của Nghị quyết chưa được thể chế
hóa hoặc chưa được thực hiện một cách nghiêm túc? Tình hình thực hiện trong
thực tế như thế nào? Những chủ trương, chính sách gì cần bổ sung, sửa đổi, điều
chỉnh?” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gợi mở.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ
cần thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề
xuất các chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính
sách về đất đai; chú ý các vấn đề hiện đang vướng mắc hoặc gây bức xúc trong xã
hội và những nội dung còn có ý kiến khác nhau.
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị
và Ban Bí thư, thời gian qua Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 15 năm thực hiện
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã triển
khai tổng kết Nghị quyết một cách nghiêm túc, bài bản, công phu, khoa học, có
sự tham gia, phối hợp chặt chẽ, với tinh thần trách nhiệm cao của các ban, bộ,
ngành Trung ương và các địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý;
kế thừa kết quả tổng kết các Nghị quyết Trung ương về chính sách, pháp luật đất
đai và kinh tế tập thể.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị
Trung ương tập trung nghiên cứu, thảo luận, tạo sự thống nhất cao về tình hình
thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và
những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra, đáp ứng yêu cầu phát
triển của thời kỳ mới - đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục phát huy
thật tốt những kết quả, thành tựu và bài học kinh nghiệm thành công đã đạt được;
khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân được rút
ra trong quá trình tổng kết.
Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả kinh tế tập thể, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị bám sát Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng và thực tế đất nước, tập trung thảo luận làm rõ,
tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về mục tiêu, quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ và giải pháp lớn cần được quán triệt và triển
khai thực hiện để kinh tế tập thể ngày càng phát triển mạnh hơn, đúng đắn và
lành mạnh hơn, thực sự trở thành một thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nâng cao hơn nữa chất lượng, sức mạnh
và tính chiến đấu của Đảng
Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và
đảng viên đã đề cập một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị
quyết và Kết luận, chỉ ra những kết quả chủ yếu đã đạt được; những hạn chế, yếu
kém còn tồn tại và phân tích rõ nguyên nhân. Từ đó đề ra quan điểm, mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới, tăng cường xây dựng tổ chức cơ
sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị nghiên cứu thật kỹ, thảo luận thật dân chủ, thẳng thắn, tạo sự thống nhất cao về những vấn đề nêu trong Tờ trình. “Để sau Hội nghị Trung ương lần này chúng ta có một chuyển biến, tiến bộ mới, thực chất, mạnh mẽ, hiệu quả, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng ta theo đúng tinh thần tư tưởng của Lênin 'Thà ít mà tốt'; 'những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không chúng ta cũng không cần!'," Tổng Bí thư nói.
Về Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp
tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho
biết thực hiện Chương trình công tác năm 2022 và Kết luận tại phiên họp thứ 21
của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Kết luận của
Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này,
Bộ Chính trị đã giao cho Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ
quan hữu quan khẩn trương, nghiêm túc nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Ban
Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn,
có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập
Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ
công tác của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, và cũng
đã dự thảo các văn bản liên quan.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị
Trung ương nghiên cứu, xem xét, quyết định về những kiến nghị, đề xuất nêu
trong Tờ trình của Bộ Chính trị, nhất là về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo
cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm góp phần tăng cường sự lãnh
đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa
phương công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta, theo tinh thần "Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!"
Tự phê bình và phê bình nghiêm túc,
thẳng thắn, dân chủ
Thực hiện Quy chế làm việc của Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII, trong tháng 1 năm
2022, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã dành 3 ngày để tiến hành kiểm điểm, tự phê
bình và phê bình về sự lãnh đạo, chỉ đạo của tập thể và cá nhân từng đồng chí
Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với việc thực hiện Kết luận của
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này đã được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, theo quy chế, quy trình từng bước hợp lý.
Các báo cáo kiểm điểm đều được chuẩn
bị theo đúng quy định, hướng dẫn. Không khí kiểm điểm theo tinh thần tự phê
bình, phê bình nghiêm túc, thẳng thắn, dân chủ, đoàn kết, chân tình.
Các đồng chí được góp ý đã tiếp thu
nghiêm túc, cầu thị, coi đây như là cơ hội quý để học tập, chia sẻ lẫn nhau.
Trong quá trình kiểm điểm, từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã
liên hệ đến trách nhiệm cá nhân đối với lĩnh vực được phân công, thấy rõ những
ưu điểm để phát huy, nhận ra những khuyết điểm, hạn chế để khắc phục.
Qua kiểm điểm tập thể và cá nhân, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy: Năm 2021, trong bối cảnh có rất nhiều khó
khăn, thách thức, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn luôn đoàn kết, thống nhất, bình
tĩnh, kiên định, sáng suốt trước khó khăn, thử thách, có nhiều đổi mới và sáng
tạo, bám sát quan điểm, chủ trương, đường lối, cụ thể hóa các nội dung quan
trọng của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã có các quyết sách đúng đắn, kịp
thời và phù hợp với tình hình thực tiễn để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân tổ chức triển khai thực hiện, đạt được những kết quả quan trọng,
khá toàn diện, có những dấu ấn nổi bật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân ghi
nhận, bạn bè thế giới đánh giá cao.
Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo
của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm. Công tác dự
báo chiến lược, hoạch định đường lối, chính sách và tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận có lúc, có việc chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của tình
hình mới.
Trong phòng, chống dịch bệnh có lúc,
có nơi còn lơ là, chủ quan, bị động, lúng túng hoặc cứng nhắc, thiếu thống nhất,
đồng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các tình huống cụ thể, đột xuất; còn có
những hạn chế, bất cập trong nghiên cứu, dự báo, phân tích tình hình để xây
dựng và triển khai thực hiện có bài bản và kịp thời các phương án ngắn hạn cũng
như dài hạn, bảo đảm vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế-xã hội,
bảo đảm các hoạt động bình thường.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, xem xét, đánh giá kỹ lưỡng những ưu điểm, những hạn chế,
khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư gắn với thực
hiện Kết luận Trung ương 4 khóa XIII trên các lĩnh vực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng đề nghị Trung ương cần chỉ rõ những nguyên nhân, rút ra những bài học
kinh nghiệm và đề ra các giải pháp tích cực khắc phục trong thời gian tới.
Những nội dung trình Hội nghị Trung
ương lần này là những vấn đề rất lớn, rất khó và rất hệ trọng đối với việc thực
hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên các lĩnh vực trọng yếu như
đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong
sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
cách mạng trong giai đoạn mới...
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu
Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo
luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.
Theo chương trình, hội nghị làm việc
đến ngày 10/5.
Theo TTXVN
Trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Theo Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thoạt nhìn, các nội dung này có vẻ rất lớn, là trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, của cả hệ thống chính trị… nhưng trên thực tế, tất cả đều liên quan đến trách nhiệm cá nhân của các đảng viên.
Đối với mỗi đảng viên, bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng là nói, viết và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng.
Đây là một yêu cầu rất quan trọng và mỗi đảng viên phải thể hiện trách nhiệm
cao trong công tác, hoạt động, sinh hoạt, sử dụng mạng xã hội… Chẳng hạn, Điều
lệ Đảng ghi: “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ,
giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện
thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”, tất cả các
đảng viên không thể hoài nghi mục đích đó; bản thân nếu chưa rõ thì cần nghiên
cứu lại các tài liệu, nhất là giáo trình các lớp trung cấp, cao cấp lý luận
chính trị, hỏi các chuyên gia… Sẽ không thể chấp nhận nếu có hiện tượng đảng
viên nghi ngờ định hướng đó, rồi đi tán phát các thông tin, ý kiến cho rằng
“con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không có thật”, rằng “chủ nghĩa
xã hội đã không thể thành hiện thực ngay ở quê hương Cách mạng tháng Mười thì
không thể thành công ở nơi khác” (!)…
Hay ở nội dung “bảo vệ công cuộc đổi
mới”, mỗi đảng viên cần có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và thành tựu của công
cuộc đổi mới trong hơn 35 năm qua. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định,
những thành tựu đạt được 5 năm qua (2016 – 2020) là sản phẩm kết tinh sức sáng
tạo, là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân
và toàn quân ta qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, góp phần tạo nên những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới. Yếu tố “thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử” của 35 năm đổi mới là một đánh giá đúng cả về mặt lý
luận lẫn mặt thực tiễn. Những người đã trải qua giai đoạn này đều thấy rõ, sự
tiến bộ của xã hội, sự phát triển của đất nước, chất lượng sống của người dân…
đã được nâng cao rõ rệt và đặt nền móng quan trọng để nước ta trở thành nước
công nghiệp, phát triển trong thời gian tới.
Hoặc ở nội dung “giữ gìn môi trường
hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”, nhận thức và hành động của mỗi đảng
viên đều có ý nghĩa thiết thực, cụ thể. Trên thực tế, đôi lúc đã có hiện tượng
đảng viên thiên tả hoặc thiên hữu khi bày tỏ quan điểm về vấn đề hòa bình của
đất nước. Bởi có đảng viên cho rằng Đảng cần có phương án, giải pháp “thân
thiết” với một số nước lớn để “cân bằng”, “làm đối trọng” với một số nước lớn
khác, nhằm tránh sự “nhòm ngó” của một số thế lực xấu (!). Trái lại, cũng có
đảng viên cho rằng phải cứng rắn với tất cả các quốc gia nào lăm le gây phương
hại đến sự độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta; rằng sẵn sàng
chiến đấu và chấp nhận hy sinh để trả đũa bất cứ hành vi nào vi phạm chủ quyền
của nước ta... Cả hai quan điểm đó đều không phù hợp; nếu đảng viên nào bày tỏ
ý kiến tán đồng, làm lan truyền quan điểm đó… cần được nhắc nhở, định hướng
thông tin đúng theo chủ trương của Đảng.
Đặc biệt, vấn đề “bảo vệ lợi ích quốc
gia, dân tộc” về hình thức có thể dễ làm mọi người đồng thuận, nhưng có khi,
một số người lại chưa hiểu đúng thế nào là lợi ích, từ đó có những suy nghĩ, ý
kiến chưa phù hợp.
Từ đó có thể thấy rằng, mỗi đảng viên cần phải nghiên cứu sâu về nền tảng tư tưởng của Đảng để có thể bảo vệ một cách phù hợp, đúng đắn. Điều này liên quan trực tiếp đến việc học tập lý luận chính trị, nghiên cứu nghị quyết của Đảng, nắm bắt thông tin thời sự chính thống, lắng nghe có chọn lọc các thông tin, tích cực ghi nhận các ý kiến phản bác quan điểm sai trái, xấu độc… Từ nhận thức đúng đắn, đảng viên cần có những hành động phù hợp, như không làm lan truyền các thông tin sai trái, không “để mặc” những thông tin không đúng tác động đến nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm với việc chia sẻ những thông tin tích cực và không đăng tải ý kiến chủ quan, không phù hợp chủ trương, đường lối…
Tất cả những điều đó sẽ góp phần cùng
cả hệ thống chính trị của Đảng hướng tới mục tiêu bảo vệ vững chắc nền tảng tư
tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự
đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hoá” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động
chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới; góp phần xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn
diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường
hoà bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại…
Như vậy, suy cho cùng, những việc hệ
trọng của Đảng chính là việc của tất cả đảng viên và bắt đầu từ các đảng viên!


