Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2022

GS TS NGUYỄN MINH THUYẾT LÀ AI TRONG BỘ GD & ĐT?

     Xã hội dậy sóng với cái Chương trình GDPT 2018 đổi mới mà vẫn đề gây căng thẳng lớn nhất là việc môn Lịch sử (hồn cốt của dân tộc) trở thành môn tự chọn. Mặc dù vấn đề đã dậy sóng từ năm 2015 nhưng bằng cách nào đấy, nhóm dự án Chương trình GDPT 2018 do GS-TS Nguyễn Minh Thuyết làm tổng chủ biên vẫn lướt trên dư luận, với sự che chắn của Bộ GD&ĐT hoàn thiện chương trình này, kiên quyết vất lịch sử Việt Nam ra khỏi nội dung bắt buộc với một biện luận không cần xã hội “học sinh đã được học cơ bản, đầy đủ từ Lớp 1 đến Lớp 9”.
     Nhưng đó là lời dối trá khó có thể chấp nhận được, không cần bàn đến Tâm sinh lý, khả năng tư duy của học sinh Tiểu học và THCS, quá non nớt để hiểu về Lịch sử theo cách hình thành tính cách, chỉ riêng những sản phẩm SGK gần đây cho thấy, GS Thuyết đã coi Lịch sử như thế nào. 
     Như chúng ta đã biết rất rõ, gs-ts Nguyễn Minh Thuyết đóng vai trò then chốt trong việc chế tạo SGK và Chương trình GDĐT phổ thông, một lĩnh vực mà chỉ có ở Việt Nam, học sinh lớp nào mua sách GK lớp đó…một ngành công nghiệp khổng lồ, rút từ túi cha mẹ, phụ huynh học sinh hàng ngày, hàng tháng, hàng năm.
Nhưng với tư cách là GS-TS, đồng thời là Tổng chủ biên, ông Thuyết không cung cấp các sản phẩm khả dĩ, dù là quá bất hợp lý và đắt đỏ được coi là có chút chất lượng cho học sinh mái trường XHCN. Bằng cách nào đó, nhóm GS Thuyết cung cấp cuốn sách Cánh Diều, một cuốn sách với đủ các loại ngôn từ đầu đường xó chợ, ngoài ra SGK không còn là sự kế thừa và phát triển nữa, mà những nội dung cốt lõi như Yêu Tổ Quốc, Yêu Đồng bào biến mất khỏi sách, thay vào đó là những thứ độc hại theo kiểu phồn thực.
     Nhóm của gs Thuyết thể hiện sự coi thường Lịch sử và thậm chí công khai bóp méo lịch sử, điển hình như việc thay cụm từ ngụy quân, ngụy quyền bằng cụm từ “quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn” ngang nhiên chống lại Hiến Pháp. Không dừng lại ở đó, nhóm ông Thuyết còn đưa thẳng Trương Vĩnh Ký (Petrus Key) một kẻ bán nước điển hình trong thời nhà Nguyễn trở thành một cái gọi là “nhà thông thái” không cần minh chứng, nguồn gốc hay bất cứ thứ gì. Thể hiện một sự lộng quyền ngang nhiên đứng trên Nhân dân cả nước. 
     Sự coi thường và bóp méo lịch sử của cái gọi là Tổng chủ biên SGK Nguyễn Minh Thuyết còn thể hiện cách đây không xa, trong những sự cố liên quan đến sách GS Tiểu học, đó là sự cố
“Hai Bà Trưng đánh giặc nào?” và “Thánh Gióng tắm ở Hồ Tây”. Đây là hai hành vi coi thương dân tộc ở mức tận cùng đối với các thánh nhân, anh hùng liệt sĩ của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước.
     Đây không phải là sự cố duy nhất đối với nhóm biên soạn SGK của Bộ GD&ĐT, những bộ sách từ nhóm biên soạn của gs-ts Nguyễn Minh Thuyết phá hủy thuần phong mỹ tục, văn hóa Việt Nam, vi phạm Hiến Pháp, bịa đặt thông tin và bóp méo lịch sử nhưng Bộ GD&ĐT vẫn coi như không biết, sách vẫn lưu hành, vẫn được sử dụng dưới mái trường XHCN? 
     Đi cùng với phá hoại SGK, gs-ts Nguyễn Minh Thuyết trong Chương trình GDPT 2018 công khai chống lại dư luận XH, thẳng tay vất Lịch sử ra khỏi chương trình bắt buộc. 
     Hai vấn đề này hình thành câu hỏi? vậy Bộ GD&ĐT, Nhóm Biên soạn SGK và nhóm Chương trình GDPT năm 2018 đang nhằm mục đích gì? Có hay không việc tẩy trắng lịch sử khỏi các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam?



Yêu nước ST.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VĨ ĐẠI NHƯ THẾ NÀO?

     Trước tiên, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là một người như thế nào? Những ngày đầu cuộc chiến chống Pháp lần thứ 2, khi các tướng lĩnh Pháp đọc thông tin về đại tướng Võ Nguyên Giáp, họ ngạc nhiên và lạ kỳ vì người lãnh đạo quân đội Việt Minh xuất thân từ một thầy giáo dạy lịch sử, từng thi trượt trường Quốc học Huế, chưa từng trải qua một khóa huấn luyện quân sự chuyên nghiệp nào, cũng chẳng đi lên là một chiến binh dạn dày kinh nghiệm và chưa từng tham gia chỉ huy một chiến dịch quân sự lớn cấp trung đoàn với quy mô từ 2000 - 3000 binh lính. 

Và có lẽ người Pháp không ngờ rằng, người thầy giáo mà họ đã từng coi thường ấy đã đánh gục họ một cách tâm phục khẩu phục. Nhật báo lớn của Ấn Độ là The Hindu viết rằng, các lãnh đạo quân sự Pháp tự tin rằng họ sẽ chiến thắng khi đối đầu với quân đội du kích Việt Nam trong một trận đánh quân sự thông thường. Việt Minh sẽ thảm bại! 

Tháng 05/1950, Sư đoàn 308 của đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiến hành một chiến thuật “tàng hình” với 4 tiểu đoàn bộ binh âm thầm leo lên những ngọn núi đá vôi bao quanh cứ điểm Đông Khê cùng với 5 pháo cỡ nòng 75mm. Trước đó, công tác tình báo của Pháp rất chủ quan và họ không nghĩ rằng những người Việt Nam có thể làm được điều này. Sau 2 ngày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục chỉ huy các tiểu đoàn này rút xuống phía dưới để tránh phản pháo, hợp đồng tiến công đánh tan cứ điểm Đông Khê. Lúc ấy, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc những người Pháp phải đặt câu hỏi rằng: Tại sao ông ấy lại nghĩ ra chiến thuật này và họ dám làm điều này? Những người lính này là những người như thế nào? 

Đại tướng Marcel Carpentier với tâm thế thắng trận từ Thế chiến 1 & 2 đã tỏ ra “bề trên” với đại tướng Võ Nguyên Giáp. Theo History, Marcel Carpentier đã mang tâm lý kiêu ngạo lây lan sang nhiều sĩ quan Pháp, ông ấy đánh giá quá cao bản thân ông ấy và lính của ông ấy và đánh giá quá thấp những người nông dân dưới sự chỉ huy của đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong 9 năm, từ 1945 - 1954, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đối đầu với 7 - 10 vị tướng Pháp và ông đã khiến cho không một vị tướng Pháp nào được nở nụ cười trên đất Việt Nam. Vị tướng cuối cùng so găng với đại tướng Võ Nguyên Giáp là Christian de Castries bất lực nhìn những người lính Việt Minh cắm cờ trên nóc hầm chỉ huy ở Điện Biên Phủ. Hơn 2200 lính Pháp tử trận, hơn 10.000 lính khác phải trở thành tù binh và đây là thiệt hại lớn nhất của quân đội Pháp từ sau Thế chiến 2 đến thời điểm hiện tại. Trong suốt 9 cuộc chiến, đã có tới 94.000 lính Pháp tử trận tại Việt Nam.

Nhà sử học người Pháp Bernard Fall viết rằng không ai ngờ rằng Pháp thất bại tại Việt Nam, đó là thất bại nặng nề đến mức ám ảnh người Pháp, là thiệt hại ở ngoài Pháp nặng nhất từ năm 1749 (một số tài liệu ghi 1759) sau cái chết của thiên tài quân sự Louis-Joseph de Montcalm tại Quebec, Canada. Bernard Fall cũng được cho rằng là người đầu tiên ví tướng Giáp với Napoleon Bonaparte, chính hơn hơn là “The Red Napoleon”.

Tạp chí AirForce của Hiệp hội Hàng không Hoa Kỳ viết rằng: “Tướng Giáp là nhà hoạch định chiến lược quân sự vĩ đại nhất kể từ thời Hannibal. Vị tướng này đã xây dựng một đội quân hùng hậu từ 34 chiến binh đầu tiên vào năm 1944. Đến năm 1954, đội quân của ông đã vận chuyển pháo binh lên vùng núi biệt lập ở Điện Biên Phủ và khiến cho quân đội Pháp vốn được trang bị mạnh hơn rất nhiều thất bại nhục nhã”.

Khi đại tướng Võ Nguyên Giáp ra đi vào năm 2013, những tờ báo uy tín bậc nhất thế giới đã dành ông sự “tôn trọng tuyệt đối”. Tờ Washington Post viết: “Tướng Giáp đã đánh bại quân Pháp, quân đội Mỹ tại chiến tranh Việt Nam”. Còn New York Time bình luận: “Tướng Giáp đã hất cẳng Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam”. Còn Telegraph nhận định rằng đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng ở vị trí thứ hai sau chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhân vật đáng tôn kính nhất Việt Nam hiện tại”. 

Tờ Financial Times của Anh Quốc nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Một giáo viên lịch sử tổ chức một cuộc duyệt binh chỉ với 34 thành viên, mặc áo nâu sẫm, đội mũ homburg và đeo súng lục nhỏ bên hông. Và đó chính là khởi đầu khiêm tốn của một trong những vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới, là kiến trúc sư chính cho sự thất bại của các cường quốc trong thế kỷ 20”.

Thượng nghị sĩ, Cựu ứng viên Tổng thống John McCain từng viết rằng “Tướng Giáp là một nhà chiến lược quân sự lỗi lạc”. AFP trích lời nhiều nhà nghiên cứu sử học, khẳng định rằng tướng Giáp là một trong những nhà chiến lược quân sự tài ba và nổi tiếng nhất, không chỉ ở Việt Nam mà trong lịch sử quân sự thế giới. Nhà sử học người Pháp Hugues Tertrais bình luận rằng tướng Giáp đã châm một ngọn lửa vào thùng thuốc súng hủy diệt các cường quốc.
Ngày 07/05/1954 - Chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước vào ngôi đền của những vị tướng huyền thoại và người ta đã công nhận đại tướng Võ Nguyên Giáp như là một nhà chiến lược bậc thầy và truyền cảm hứng cho các phong trào giải phóng khắp nơi, từ Việt Nam lan ra khắp châu Á, châu Phi, Nam Mỹ…
Môi Trường ST.

LÝ DO NÀO ĐỂ TUNG HÔ KẺ CHỐNG CỘNG CỰC ĐOAN NHƯ CA SĨ ĐAN NGUYÊN?

     Trong những năm gần đây, khi Việt Nam có những bước phát triển trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về mặt kinh tế, theo đó nhu cầu giải trí, thưởng thức nghệ thuật cũng lên cao. Nhiều ca sĩ, nghệ sĩ ra nước ngoài sau năm 1975, những người từng tuyên bố "còn cộng sản thì không bao giờ trở về quê hương". Thế nhưng khi nước nhà thanh bình, là mảnh đất màu mỡ và ăn nên làm ra của giới nghệ sĩ thì những tuyên bố tưởng chừng như đã được tạc vào đá núi ấy lại trở thành lời nói gió bay. Chế Linh, Khánh Ly hay "con nhạn trắng Gò Công" Phương Dung hay cả Chí Tài, Hoài Linh...đều tìm về Việt Nam để kiếm sống. 

Suy rộng ra thì chúng ta đã chiến thắng, đã hàn gắn, hoà hợp với những khúc ruột vạn dặm. Người Việt Nam chẳng ai cực đoan đến mức không cho những người trước đây ở phía bên kia quay đầu là bờ, trở về với cội nguồn dân tộc, đất mẹ Việt Nam. Thế nhưng trường hợp của ca sĩ Đan Nguyên lại khác. Nói một cách chính xác thì Đan Nguyên chính là sản phẩm thứ thiệt của văn hóa nhồi sọ. Sinh năm 1984 tại Thừa Thiên - Huế, vài tuổi đã sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình. Một đứa trẻ hồn nhiên như tờ giấy trắng, "nhân chi sơ tính bản thiện", chưa cảm nhận được những gì đã diễn ra và sự vận động, phát triển của Việt Nam. Anh ta bị những kẻ chống cộng cực đoan ở Mỹ nhồi nhét vào đầu cái gọi là "cộng sản tàn bạo, độc tài" và "Việt Nam đói nghèo vì cộng sản "...

Sự thống khổ cùng cực của một kiếp nhân sinh chính là lòng thù hận không dứt ra được. Những tổ chức chống cộng hải ngoại ghen ghét, tức tối, hằn học khi đất nước ta ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên. Họ chống lại quê hương, nơi đã sinh ra họ. Đan Nguyên nhiễm nặng luồng tư tưởng đó và trở thành công cụ tuyên truyền chống cộng ở Hoa Kỳ. Rất nhiều bài hát anh ta khoác áo ngụy quân, khoác cờ vàng ba sọc đỏ, những thứ đã bị nhân dân Việt Nam chôn vùi cùng với chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn ngày 30/4/1975. 

Những người biết quay đầu là bờ, quay về với chính nghĩa dân tộc thì người Việt Nam rộng lòng tha thứ. Nhưng với những kẻ tham gia nhiều hội đoàn chống cộng như Đan Nguyên thì chúng ta không chấp nhận. Không cho phép ca hát kiếm ăn ở Việt Nam một khi chưa xin lỗi nhân dân Việt Nam và xin phép chính quyền. Hoa Kỳ giờ đây không còn là mảnh đất màu mỡ cho giới ca sĩ, nghệ sĩ gốc Việt. Đơn giản là các thế hệ f1 đã gần như không còn, f2, f3 thì không biết, không hiểu tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Vậy họ biểu diễn cho ai, ai bỏ tiền để xem họ biểu diễn? Một thời gian nữa thì "những cái cột điện biết hát" như Đan Nguyên sẽ lũ lượt kéo về Việt Nam kiếm sống. Chúng ta luôn mong muốn thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và xem người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những kẻ chống cộng cực đoan như Đan Lê thì không! Báo Tuổi Trẻ cũng chẳng có lý do gì để tung hô Đan Nguyên. Các bạn là những người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng của tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đấy./.


Yêu nước ST.

ĐẨY LÙI NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ!

         Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến 25-1-1994), Đảng ta xác định 4 nguy cơ cản trở thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta, đó là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau.
     Sau gần 30 năm, vì sao Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Vậy nhận diện nguy cơ trong tình hình mới thế nào? Giải pháp nào để đẩy lùi, giữ vững sự trường tồn của dân tộc, giữ vững chế độ XHCN? Trong loạt bài này, chúng tôi chỉ góp một góc nhìn để nhận định, phân tích, làm rõ hơn vấn đề nêu trên để thêm vững tin vào con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Bài 1: Nguy cơ “chệch hướng” và “người thuyền trưởng” vững lái
Với sứ mệnh là "người thuyền trưởng", trong suốt 92 năm chèo lái “con thuyền cách mạng” nước ta, có lúc, có thời điểm Đảng ta cũng phạm những sai lầm, khuyết điểm. Nhưng với tinh thần thẳng thắn, Trung ương Đảng đã không hề che giấu khuyết điểm mà luôn nhìn thẳng vào sự thật, kịp thời điều chỉnh để vững lái đưa cách mạng Việt Nam liên tục phát triển, đạt nhiều thành tựu to lớn.

Những “khúc cua” lịch sử và Đảng không giấu khuyết điểm
Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi, lập nên nhiều kỳ tích trong các thời kỳ cách mạng.

Thế nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, trước những “khúc cua” lịch sử ở từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta cũng từng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, thậm chí là nghiêm trọng. Trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc (1953-1956), khi nhận ra những sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng thẳng thắn thừa nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(*). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, công khai thừa nhận sai lầm trước nhân dân.

Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt tự phê bình và phê bình nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) dũng cảm nhận thấy “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”.

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, một số cán bộ, đảng viên muốn rập khuôn kinh nghiệm cải tổ, cải cách của nước ngoài, nhất là trong đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế và hoạt động báo chí, văn hóa, văn nghệ. Đã chớm nở khuynh hướng đòi “dân chủ, công khai" một cách cực đoan; khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực; khuynh hướng muốn chuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư nhân hóa hoàn toàn, "thương mại hóa" báo chí, xuất bản... Những khuynh hướng này đã được ngăn chặn, uốn nắn kịp thời. Các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng tư tưởng trong toàn Đảng và xã hội. Thực sự có cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để đổi mới và giữ vững định hướng XHCN.

Thực tế Đảng ta cũng đã phạm những khuyết điểm, sai lầm. Điều quan trọng là Đảng ta không che giấu khuyết điểm, sai lầm, mà công khai thừa nhận, thành tâm lắng nghe ý kiến nhân dân. Và một khi phát hiện và nhận ra sai lầm thì quyết tâm sửa chữa để phấn đấu đi lên, từ đó Đảng ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Có thể khẳng định, có được đường lối chính trị đúng trong hoàn cảnh phát triển bình thường đã là việc khó; ở những bước ngoặt của lịch sử, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, thì việc Đảng ta xác định được một đường lối chính trị đúng và bảo đảm cho đường lối đó thành hiện thực càng khó khăn hơn. Nó là kết quả của trí tuệ, tài năng, phẩm chất, khí phách. Nó trải qua một quá trình suy tư gian khổ, tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn, có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí có lúc đã không tránh khỏi sai lầm và tạm thời thất bại.

Giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta một lần nữa khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Những bài học xương máu được Đảng ta rút ra trong suốt hơn 35 năm đổi mới, để giữ vững định hướng và kiên định con đường đã chọn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì Đảng phải giữ vững vai trò cầm quyền của mình.

Sở dĩ phải kiên định sự lãnh đạo của Đảng, coi đây là vấn đề nguyên tắc, bởi sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường và mọi hoạt động xã hội. Trong nhịp điệu và tiến trình của công cuộc đổi mới, vai trò lãnh đạo của Đảng rất quan trọng, ở những bước chuyển giai đoạn thì vai trò lãnh đạo của Đảng càng đặc biệt được khẳng định. Điều đó cắt nghĩa vì sao suốt mấy chục năm qua, nhất là những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho con đường phát triển "kinh tế thị trường tự do", "đa nguyên, đa đảng", tìm mọi cách thủ tiêu, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng... nhưng đều nhận lấy sự thất bại và không bao giờ hiện thực được những mưu đồ, tâm địa xấu xa.

Vấn đề đặt ra là chúng ta phải kiên định những gì để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, để công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng đạt kết quả tốt? Chúng tôi xin đề cập một số giải pháp sau:

Trước hết, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên cần giữ vững bản chất giai cấp và tính tiên phong của Đảng. Bản chất giai cấp của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Khi định ra đường lối, chính sách, Đảng phải luôn luôn đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng kiên định lập trường có tính nguyên tắc của mình là lãnh đạo nhân dân xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh theo con đường XHCN. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó khăn, phức tạp đến đâu, Đảng cũng vững vàng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng của mình, đấu tranh không mệt mỏi cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Hai là, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đại hội VII của Đảng chính thức khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo quan điểm của Đảng ta, cho đến nay tuy có những vấn đề cần bổ sung và phát triển, nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là học thuyết cách mạng và khoa học nhất, tiên tiến nhất, không thể bác bỏ, phủ nhận (cả về phương pháp luận cũng như hệ thống những luận điểm cơ bản). Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại. Đó là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của thế giới, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người, quốc gia và quốc tế.

Ba là, giữ vững và bảo vệ các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh. Sức mạnh của Đảng là ở tính thống nhất, đoàn kết chặt chẽ "trăm người tiến đánh chỉ như một người". Xa rời hoặc không thực hiện nghiêm túc tập trung dân chủ thì Đảng không thể có được sức mạnh. Bên cạnh đó, thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Bác Hồ khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, lo đến cả "tương cà, mắm muối” và những thứ cần thiết cho đời sống thường ngày của nhân dân. Phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị.

Quán triệt những nguyên tắc cơ bản trên đây, chúng ta sẽ từng bước đổi mới, chỉnh đốn Đảng có kết quả, đồng thời tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; làm cho Đảng có đủ trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao, đảm đương sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.

“Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. (Trích Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2011, t.5, tr.301)./.
Môi Trường ST

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - KỲ TÍCH CỦA THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH


Chiều 7-5-1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, anh dũng của quân, dân ta và là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, thực dân Pháp dã tâm dùng vũ lực hòng đặt lại ách thống trị trên đất nước ta một lần nữa. Thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 của Hồ Chủ tịch và đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và ý chí "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", toàn thể nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với niềm tin tất thắng.
Bằng tinh thần "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, chính quyền nhân dân được củng cố. Sau hơn 7 năm kháng chiến, ta càng đánh càng mạnh, còn thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động.
Từ năm 1953, tình hình chiến trường Đông Dương có nhiều thay đổi bất lợi cho thực dân Pháp. Lợi dụng lúc thực dân Pháp gặp khó khăn, Mỹ đã tìm cách nhảy vào Việt Nam, tăng cường viện trợ.
Tháng 7-1953 “Kế hoạch Nava” được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua hòng “tìm cách thoát ra khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương trong danh dự” trong vòng 18 tháng. Điểm mấu chốt của kế hoạch là tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở Đồng bằng Bắc Bộ, lúc cao điểm lên đến 44 tiểu đoàn, nhằm giành lại sự chủ động chiến lược xoay chuyển tình thế trên chiến trường Đông Dương, thực hiện đòn tiến công mang tính quyết định khi có điều kiện. Được sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến “Đánh nhanh thắng nhanh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đây là một chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quân sự, chính trị, ngoại giao rất quan trọng. Người căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Đảng ủy, kiêm Tư lệnh Mặt trận: “Trận này chắc thắng thì đánh, không chắc thắng không đánh”.
Với tầm nhìn chiến lược, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy phương án "Đánh nhanh thắng nhanh" mang nhiều yếu tố chủ quan, không đánh giá đúng tình hình thực lực của hai bên, không thể đảm bảo chắc thắng. Cuối cùng, Đại tướng quyết định dừng trận đánh, kéo pháo ra, chuyển phương án từ “đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc”.
Ngày 17-3-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn, quân ta tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ một trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh. Piroth, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ đã dùng lựu đạn tự sát vì bất lực trước pháo binh của ta.
Ngày 30-3 đến ngày 30-4-1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tiến công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ hai, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.
Ngày 1-5 đến ngày 7-5-1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, ta chiếm Sở chỉ huy của địch, tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tấn công, phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào. Đến 24 giờ cùng ngày, toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.
Như vậy, sau nhiều tháng nỗ lực chuẩn bị và trải qua 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, sáng tạo, ngày 7-5-1954, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu”. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được xem là “bất khả chiến bại” đã bị quân và dân ta đánh bại.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, đó “là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”; là bản anh hùng ca bất tử của cuộc chiến tranh nhân dân, “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”.
Người chỉ rõ: Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một một nước thực dân hùng mạnh. Đó là, một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi vẻ vang của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lớn nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Thắng lợi này đã trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương; tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào năm 1975.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
68 năm đã trôi qua kể từ ngày lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Kể từ chiến thắng “lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu”, đất nước đã trải qua những bước ngoặt của lịch sử. Đặc biệt sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện; thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước được nâng lên; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc và chế độ Xã hội chủ nghĩa. Vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới được nâng cao.
Mảnh đất Điện Biên Phủ sau 68 năm đã khác. Từ chỗ là chiến trường đổ nát, hoang tàn màu tro lạnh, bằng nỗ lực của cấp uỷ Đảng, chính quyền, quân và nhân dân các dân tộc trong dựng xây, phát triển, Điện Biên hôm nay đang vươn mình mạnh mẽ, xứng đáng là thành phố trẻ nơi cực Tây Tổ quốc.
Với GRDP năm 2021 đạt 21.547,6 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 34,5 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống con 34,9% (theo chuẩn nghèo mới). Các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc y tế, giáo dục... được quan tâm chú trọng đã nói lên sự đổi thay, nỗ lực vươn mình trong gian khó của Điện Biên.
Mới đây, TP Điện Biên Phủ kỷ niệm 30 năm thành lập. Với những con số tăng trưởng, phát triển 30 năm qua cho thấy, Điện Biên Phủ đã thực sự vươn mình, đổi thay. Thành phố đang phấn đấu đạt đô thị loại 2 trực thuộc tỉnh vào năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo hiện còn 1,79% (chuẩn nghèo 2022 - 2025); kinh tế phát triển theo hướng thương mại, du lịch, dịch vụ. Hạ tầng cơ sở: điện, đường, trường, trạm, công viên, khu vui chơi giải trí... ngày càng hoàn thiện theo hướng khang trang, hiện đại, phục vụ lợi ích nhân dân…
Với nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân, kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên đang ngày càng phát triển. Tương lai không xa, Điện Biên sẽ rất khác. Là mảnh đất lưu dấu nhiều kỷ niệm với du khách. Càng trân trọng hơn, quý giá và nên quay lại nhiều lần hơn, khi nơi đây là mảnh đất từng làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
-Nguồn: Quân đội nhân dân-
49
3 bình luận
110 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ