Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

Giải phóng miền Nam qua ký ức của nhân chứng lịch sử

Ngày 29/4, Đài truyền hình Việt Nam cho biết, chương trình đặc biệt “Đất nước trọn niềm vui” được thực hiện với âm hưởng hào hùng, xúc động và đầy tự hào sẽ phát sóng vào 20h05 ngày 30/4 trên kênh VTV1.

Tham gia chương trình có nhiều nhân chứng lịch sử - những người trực tiếp chiến đấu và chứng kiến khoảnh khắc lịch sử ngày 30/4/1975: Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy – nguyên phó Tư lệnh Sư đoàn 325, Quân đoàn 2; 3 chiến sĩ xe tăng 390 năm xưa: trung úy Vũ Đăng Toàn, trung sĩ Nguyễn Văn Tập, trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên; nhà báo Nguyễn Mạnh Hùng, nhà thơ Anh Ngọc; khách mời bình luận: thượng tá Lê Quang Lạng, trưởng phòng Lịch sử kháng chiến, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Nhiều nhân chứng lịch sử sẽ giao lưu trong chương trình “Đất nước trọn niềm vui”.

Nhiều câu chuyện ấn tượng sẽ được kể lại trong chương trình. Đó là ký ức của vị tướng 90 tuổi về những bước tiến thần tốc cùng lối đánh “hành tiến” lần đầu tiên được áp dụng. Đó là khoảnh khắc xe tăng 390 tiến vào Dinh Độc lập cùng những món quà đời thường mà các anh Giải phóng quân mua về làm quà cho mẹ, cho vợ, cho con lần đầu được chia sẻ. Đó cũng là cái nhìn khách quan của những nhà báo, nhà thơ, phóng viên chiến trường về tình cảm và sự ủng hộ của nhân dân miền Nam

Điều đặc biệt là những bức điện, biên bản họp chỉ đạo vốn là tài liệu  mật thời chiến sẽ xuất hiện xuyên suốt trong chương trình, thể hiện tầm nhìn chiến lược để tạo thời cơ, nắm thời cơ, vận dụng linh hoạt nghệ thuật quân sự tạo nên bước đi thần tốc, táo bạo, thực hiện khát vọng thống nhất non sông, độc lập tự do của dân tộc.

Những ca khúc đi cùng năm tháng : Em bay trong đêm pháo hoa, Đêm pháo hoa, Mỗi bước ta đi, Đường chúng ta đi, Bài ca không quên, Năm anh em trên một chiếc xe tăng,  Tiến về Sài Gòn, Nối vòng tay lớn... được xử lý hiện đại, thể hiện mới mẻ qua giọng ca của các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ khác nhau như NSND Quang Thọ, ca sĩ Tùng Dương, nhóm Oplus... sẽ mang tới cho khán giả nhiều cung bậc cảm xúc về ngày thống nhất non sông. (trích báo An ninh)

 

N.H

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội ở Việt Nam.

 - Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là hai vấn đề có quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển xã hội tốt, ngược lại, nhờ có phát triển xã hội mà có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển con người toàn diện.

 

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội ở Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển con người toàn diện - Ảnh: vnanet.vn

Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là hai vấn đề có quan hệ qua lại rất khăng khít với nhau. Nói đến tăng trưởng kinh tế là nói đến sự gia tăng về lượng của nền kinh tế. Để một nền kinh tế có thể lớn hơn, giàu hơn trong một thời gian nhất định thì nền kinh tế đó phải có tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế chính là làm cho kinh tế lớn hơn lên theo năm tháng. Tăng trưởng kinh tế là làm cho đời sống vật chất của con người ngày càng được cải thiện. Phát triển xã hội là làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn, tiến bộ và công bằng xã hội ngày càng được thực hiện tốt hơn. Phát triển xã hội làm cho cuộc sống của con người ngày một tốt hơn về mặt tinh thần và vật chất. Phát triển xã hội xem xét dưới góc độ thành quả cuối cùng của sự tiến bộ xã hội gồm 4 nội dung chủ yếu: nâng cao mức sống dân cư; phát triển con người; xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội; công bằng xã hội trong phân phối thu nhập. Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội có mối quan hệ qua lại, tác động và bổ trợ cho nhau.

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để có thể cải thiện đời sống của con người về mặt vật chất. Tuy nhiên, nếu chỉ có tăng trưởng kinh tế mà không có phát triển xã hội thì đời sống của con người cũng không thể phát triển đầy đủ được. Phát triển xã hội là điều kiện đủ để làm cho cuộc sống của con người thực sự được cải thiện và tốt đẹp hơn, thể hiện về mặt tinh thần của con người. Nếu chỉ có tăng trưởng kinh tế mà không có phát triển xã hội thì cuộc sống của con người về cơ bản cũng không thể có thay đổi và tốt lên được. Khi vật chất tăng lên nhưng xã hội lạc hậu, bất công, tiến bộ và công bằng không có thì thành quả tăng lên của vật chất, của kinh tế cũng tự tiêu tan. Bên cạnh đó, không tăng trưởng kinh tế tức là không có nguồn lực để thực hiện phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nên cũng không thể làm cho xã hội phát triển được. Như vậy, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là hai phạm trù có quan hệ qua lại bổ trợ cho nhau cùng phát triển. Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là hai điều kiện cần và đủ cho một xã hội. Nếu thiếu một trong hai điều kiện thì điều kiện còn lại cũng khó trở thành hiện thực. 

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về lượng của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, muốn nền kinh tế lớn mạnh hơn thì trước tiên phải tăng lên về nguồn lực, tức là phải có tăng trưởng kinh tế. Bất kỳ quốc gia nào muốn trở thành giàu có thì điều đầu tiên phải có tăng trưởng kinh tế cao liên tục, đây là vấn đề then chốt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhìn bề ngoài là sự tăng lên của chỉ số GDP, nhưng bên trong là sự lớn lên về chất, về nguồn lực, sức mạnh của các quốc gia đó. Một khi nền kinh tế lớn lên thì đất nước mới có nguồn lực để tiến hành các hoạt động khác tiếp theo. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần vô cùng quan trọng, là cái gốc của mọi vấn đề và là nền tảng để giải quyết các vấn đề khác trong xã hội. Những vấn đề như tạo việc làm, nâng cao mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội chỉ có thể thực hiện được nếu có nguồn lực vật chất bảo đảm. 

Đối với mọi quốc gia, tăng trưởng kinh tế đóng vai trò rất quan trọng. Đối với các nước nghèo, các nước đang phát triển thì tăng trưởng kinh tế lại càng trở nên vô cùng quan trọng. Tăng trưởng kinh tế chính là sự tăng lên của Y trong công thức dưới đây, trong đó Y là thu nhập quốc dân; C là tiêu dùng của người dân; I là đầu tư; G là chi tiêu của chính phủ; X là giá trị xuất khẩu; M là giá trị nhập khẩu. 

Y = C + I + G + (X-M)                

Như vậy, khi Y tăng lên có thể là sự tăng lên của C, I, G và X và một khi C tăng lên chính là có thể nâng cao mức sống của người dân, xóa đói giảm nghèo, tăng phúc lợi xã hội, làm tốt tiến bộ và công bằng xã hội... Công thức này nói lên mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tạo việc làm, nâng cao mức sống người dân và phúc lợi xã hội...

Nhờ sự tăng trưởng liên tục trong nhiều năm, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm rõ rệt, từ 58% vào năm 1993 giảm xuống chỉ còn 3,5% vào năm 2020. Tăng trưởng kinh tế gắn bó chặt chẽ và quan hệ tỷ lệ thuận với chỉ số phát triển con người (HDI); chỉ số người nghèo (HPI), chỉ số phát triển giới (GDI) có liên hệ chặt chẽ với chỉ tiêu GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Yếu tố để tạo nên các chỉ số HDI, HPI và GDI đều có GDP, GDP bình quân trên người và tốc độ tăng trưởng kinh tế.  

Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện cho phép các nước nghèo có thể trở nên giàu có hơn, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Trung Quốc là một điển hình rõ nét. Từ khi cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế Trung Quốc liên tục có tốc độ tăng trưởng cao (có nhiều năm tốc độ tăng trưởng trên 9-10%) nên đã đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới. Đến cuối năm 2021, Trung Quốc đã có tổng tài sản 120 nghìn tỷ USD, giàu nhất thế giới (Mỹ là 90 nghìn tỷ USD). Các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu sẽ khó lòng cải thiện được tình trạng kém phát triển của mình và giải quyết được các vấn đề xã hội nếu không có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm. 

Chúng ta không chạy theo tăng trưởng kinh tế để đưa đến bất công, bất bình đẳng xã hội và hủy hoại môi trường. Nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn là vấn đề quan trọng hàng đầu và là hạt nhân của phát triển bền vững. Phát triển bền vững bao gồm bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường, trong đó tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần thiết đầu tiên để thực hiện hai vấn đề tiếp theo. Nhờ có tăng trưởng kinh tế nên khối lượng của cải vật chất của dân cư tăng lên, thỏa mãn nhu cầu một cách đầy đủ hơn. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế đến mức độ nào đó sẽ làm cho nền sản xuất vượt qua ngưỡng tiêu dùng tối thiểu, chuyển sang sản xuất những loại hàng hóa cao cấp hơn, nâng cao mức độ hưởng thụ của người dân. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đòi hỏi phải đẩy nhanh số hóa nền kinh tế, phát triển kinh tế trên nền tảng công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo 

Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất cho tiến bộ, văn minh. Với tốc độ tăng trưởng cao, quy mô GNP lớn, một quốc gia có thể dành phần đáng kể của cải vật chất để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển văn hóa nghệ thuật. Quy mô GNP lớn còn cho phép nhà nước cung cấp các phúc lợi xã hội nhằm bảo đảm cho người dân có điều kiện hưởng thụ các quyền cơ bản của con người, qua đó tạo điều kiện bình đẳng và tự do hơn cho con người. Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì không thể có nguồn lực dành cho quỹ phúc lợi và an sinh xã hội. 

Sức mạnh và vị thế quốc gia chỉ có thể được tăng lên khi có tăng trưởng kinh tế cao liên tục. Tăng trưởng kinh tế không chỉ tăng tích lũy cho đầu tư để mở rộng sản xuất, phát triển khoa học, công nghệ, mà còn tạo điều kiện tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, mở rộng sự tham gia của quốc gia vào các tổ chức quốc tế...

Ngày nay, các quốc gia đã nhận thức đầy đủ tầm quan trọng đặc biệt của tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nước đều hiểu rõ khi lựa chọn tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, cụ thể là: tăng trưởng không tạo ra việc làm mới; tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện; tăng trưởng không gắn với sự cải thiện về dân chủ; tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái; tăng trưởng nhưng hủy hoại môi trường sống của con người. Chính vì thế, hiện nay các quốc gia ít bàn đến tăng trưởng một cách đơn thuần về mặt kinh tế, mà quan tâm gắn tăng trưởng với mục tiêu phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là một khái niệm phát triển bền vững được các quốc gia hiện nay sử dụng. Phát triển bền vững hàm ý nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, duy trì trong thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và bảo đảm tiến bộ xã hội, tự do cho mỗi người. Vấn đề phát triển xã hội được các quốc gia quan tâm và tiến hành thực hiện song song với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 

Thực tế cho thấy, có nhiều nước trong một số giai đoạn phát triển của mình chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế, không quan tâm đúng mức đến phát triển xã hội nên nền kinh tế của các quốc gia đó có mức tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển theo hướng CNH, HĐH, nhưng nhiều vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh, như tình trạng đói nghèo tuyệt đối của một bộ phận không nhỏ dân cư không được cải thiện, dẫn đến phân hóa giàu nghèo cao, tội phạm và tệ nạn xã hội phát sinh khắp mọi nơi, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt hơn. 

Trong trường hợp như vậy, mức GDP bình quân đầu người đã che giấu mức chênh lệch thu nhập và đời sống thực tế giữa các bộ phận dân cư. Thực tế cho thấy, một số quốc gia có GDP bình quân đầu người cao, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng bên cạnh một số ít người đặc biệt giàu có, thì còn lại là phần đông dân cư sống trong cảnh đói nghèo cùng cực đã dẫn đến sự bất bình đẳng, bất công quá mức. Điều này là nguy cơ đưa đến bất ổn xã hội - chính trị, nguy cơ sụp đổ chế độ chính trị và ảnh hưởng vô cùng không tốt tới môi trường kinh doanh, cản trở sự phát triển kinh tế. Mùa xuân Ả Rập là một thí dụ điển hình đối với các nền kinh tế tăng trưởng kinh tế nhưng phát triển xã hội, bảo vệ môi trường có nhiều hạn chế.

Phát triển xã hội là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia. Thực tế cho thấy, xã hội ổn định, đồng thuận và phát triển là những đặc điểm nổi trội thể hiện tính bền vững của xã hội phát triển và có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế bền vững. Trong bất kỳ trình độ phát triển nào của kinh tế cũng luôn có những vấn đề xã hội nảy sinh cần giải quyết. Nhiều vấn đề xã hội nếu không được giải quyết kịp thời cùng với tăng trưởng kinh tế thì rất dễ trở thành tác nhân gây cản trở mạnh mẽ đối với tăng trưởng kinh tế. Thực tiễn ở nhiều quốc gia có thể thấy, nếu xã hội chứa đựng nhiều mâu thuẫn, tiến bộ và công bằng xã hội không được giải quyết tốt thì khả năng ổn định để đạt tăng trưởng kinh tế cao là rất thấp. Hơn nữa, nếu vấn đề xã hội xảy ra biến động thì thành tựu tăng trưởng kinh tế cao cũng sẽ bị xóa sạch. 

Muốn tăng trưởng kinh tế cao, bền vững đòi hỏi phải quan tâm phát triển xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế”(1). Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, cho nên phát triển xã hội chính là phát triển con người, đem đến cho con người ấm no, tự do, hạnh phúc. Theo Hồ Chí Minh: đem lại hạnh phúc cho con người là một trong những giá trị quan trọng nhất của sự phát triển xã hội ở Việt Nam và xây dựng CNXH chính là làm cho nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Phát triển xã hội chính là quan tâm để: không ngừng nâng cao mức sống dân cư; phát triển con người; xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội; công bằng trong phân phối thu nhập. Đây là 4 yếu tố tạo nên phát triển xã hội bền vững. Con người được phát triển, được sống trong một xã hội tiến bộ và công bằng, văn minh, con người có khả năng sáng tạo cao và tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Xã hội an bình, văn minh, hiện đại, tiến bộ và công bằng xã hội được bảo đảm, môi trường xanh, sạch, đẹp sẽ là nguồn lực và động lực lớn để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Ngược lại, con người sống trong nghèo đói, bần hàn, xã hội kém phát triển sẽ khó có khả năng sáng tạo và càng khó có điều kiện để tạo ra tăng trưởng kinh tế. Hoặc nếu có tăng trưởng kinh tế thì các mâu thuẫn xã hội cũng sẽ làm triệt tiêu thành quả của tăng trưởng kinh tế. Việc không ngừng nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống và môi trường sống cho con người là vô cùng quan trọng trong phát triển xã hội. Tức là bên cạnh nâng cao đời sống vật chất cần phải không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của con người. Chỉ có thực hiện được hai mặt của một vấn đề thì mới có thể thành công trên con đường phát triển. Do vậy, phát triển xã hội là một nhu cầu tất yếu khách quan, là điều kiện đủ để bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế cao và cho xã hội ngày càng trở nên văn minh, hiện đại, con người được sống trong ấm no, tự do, hạnh phúc. Để đẩy mạnh sự phát triển xã hội trong giai đoạn hiện nay cần đẩy mạnh phát triển xã hội số, quản lý xã hội trên nền tảng công nghệ số.

Trong bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ngày 16-5-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(2).

Như vậy, có thể thấy tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội là hai mặt của một vấn đề, đều rất cần quan tâm phát triển. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển khi và chỉ khi đạt được thành công cả ở tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Phê phán luận điệu "Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải thực hiện đa nguyên, đa đảng".

  - Một trong những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị là: “Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Bài viết đi sâu phân tích tính chất ngụy biện, thiếu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của luận điệu này.

Phê phán luận điệu "Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải thực hiện đa nguyên, đa đảng"

Nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam là sản phẩm hoạt động tự giác, là kết quả của quá trình đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam - Ảnh: dangcongsan.vn

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị thường rêu rao luận điệu cho rằng: Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Những người này “viện dẫn” một cách máy móc, thậm chí xuyên tạc tư tưởng của các nhà kinh điển mácxít về quan hệ giữa kinh tế với chính trị để biện hộ cho ý đồ thâm độc, cho âm mưu đen tối của họ. Có thể phê phán tính chất ngụy biện, thiếu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị trong luận điệu này trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, những ai nghiên cứu lý luận Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ thống đều không xa lạ với quan điểm của các nhà kinh điển mácxít về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, giữa kinh tế với chính trị. Quan hệ biện chứng ấy một mặt, khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế suy cho cùng quyết định chính trị; mặt khác, ý thức xã hội, ý thức chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội, tác động đến kinh tế. Trong những điều kiện, giới hạn nhất định, ý thức xã hội - nhất là ý thức chính trị - có thể làm thay đổi tồn tại xã hội, trước hết là thay đổi phương thức sản xuất, thay đổi cách tổ chức, cách thức quản lý kinh tế. C.Mác từng viết: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ... Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”(1). Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng”(2).

Như vậy, theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở kinh tế suy cho cùng quyết định chính trị. Ph.Ăngghen từng viết: “theo quan niệm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế”(3). Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính quyết định của kinh tế đối với chính trị, V.I.Lênin cũng khẳng định: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”(4); “chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại”(5).

Kinh tế suy cho cùng quyết định chính trị, nhưng đó không phải là một sự “quyết định duy nhất” (từ Ph.Ăngghen dùng). Nói cách khác, trong mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị không được tuyệt đối hóa vai trò quyết định của kinh tế, mà phải thấy chính trị có tính độc lập tương đối của nó, nó có quy luật vận động, phát triển “riêng”. Ph.Ăngghen từng phê phán những ai cố tình xuyên tạc, hiểu sai quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị “theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa”(6). Câu đầy đủ của Ph.Ăngghen là: “theo quan niệm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa”. Như vậy, đâu phải cứ tồn tại nhiều thành phần kinh tế thì nhất thiết phải đa nguyên, đa đảng chính trị. Nếu ai đó cố tình hiểu vấn đề này một cách máy móc, xơ cứng như vậy thì họ đã biến lời khẳng định của các nhà kinh điển mácxít về nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực “thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa” (Ph.Ăngghen).

Thứ hai, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, do đó về mọi phương diện kinh tế, văn hóa, đạo đức... còn mang những dấu vết của xã hội cũ. V.I.Lênin từng viết: “danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có”(7).

Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế này tuy có vị trí, vai trò khác nhau, nhưng đều là các bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước là công cụ, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN; khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường; các doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu (kể cả sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất), nhiều thành phần kinh tế (kể cả kinh tế có vốn đầu tư từ các nước tư bản chủ nghĩa), nhiều hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối, nhưng thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo là kinh tế nhà nước và quan hệ sản xuất (QHSX) giữ vị trí thống trị là QHSX XHCN. Chính vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò thống trị của QHSX XHCN là cơ sở kinh tế quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng, quyết định bản chất của Nhà nước, quyết định tính chất của tư tưởng chính trị, chứ không phải là các thành phần kinh tế hay các QHSX khác. Do đó, luận điệu cho rằng cứ phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải thực hiện đa nguyên, đa đảng là không có cơ sở. 

Hiện nay ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) vẫn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhưng QHSX TBCN vẫn là QHSX thống trị, do đó tư tưởng chính trị thống trị trong xã hội tư bản chính là hệ tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản. Mặc dù các nhà tư tưởng tư sản vẫn nói rằng, xã hội TBCN là xã hội dân chủ, một xã hội tự do tư tưởng, tự do thành lập các đảng chính trị..., nhưng trên thực tế, ở các nước tư bản, về bản chất, các hình thức nhà nước trong xã hội tư bản vẫn là nhà nước tư sản. Nước Mỹ hiện nay có nhiều đảng chính trị (Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa, Đảng Độc lập, Đảng Tự do, Đảng Xanh Hoa Kỳ, Đảng Hiến pháp, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ...), nhưng chỉ có hai đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa) thay nhau cầm quyền và về bản chất, hai đảng này cũng đều là đảng của giai cấp tư sản. V.I.Lênin viết rằng: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản”(8). Vì vậy, nói là đa nguyên, đa đảng, nhưng thực chất vẫn là nhất nguyên mà thôi.

Thứ ba, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là sản phẩm hoạt động tự giác, là kết quả của quá trình đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam.

Mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen chưa trực tiếp bàn đến “kinh tế nhiều thành phần”. Tuy nhiên, quan niệm duy vật về lịch sử, quan niệm về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen là cơ sở lý luận, cơ sở khoa học cho phép nhận diện quan niệm về nền kinh tế nhiều thành phần của C.Mác và Ph.Ăngghen. Bàn về đặc điểm của thời kỳ quá độ - với tư cách là một giai đoạn, một thời kỳ chuyển giao giữa hình thái kinh tế - xã hội TBCN với hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, C.Mác cho rằng: “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”(9). Điều này có nghĩa là, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, “dấu vết” kinh tế của xã hội TBCN, trong đó các thành phần kinh tế vẫn chưa mất đi, nó vẫn tồn tại, thậm chí tồn tại trong một thời gian tương đối dài.

Thực tế của nước Nga cho thấy, đến cuối năm 1920, sau khi nội chiến kết thúc, “chính sách cộng sản thời chiến” - một chính sách tạm thời, mang tính ứng phó trong một hoàn cảnh cụ thể hết sức ngặt nghèo của nước Nga Xôviết - đã hết vai trò lịch sử, nước Nga chuyển sang một thời kỳ mới. Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản bônsêvích Nga (họp từ ngày 8-3 đến ngày 16-3-1921) đã chủ trương thay “chính sách cộng sản thời chiến” bằng “chính sách kinh tế mới” (NEP) với nội dung cơ bản là bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa, thay vào đó là thuế lương thực; những xí nghiệp nhỏ trước đây bị quốc hữu hóa thì nay cho tư nhân thuê hay mua lại để kinh doanh tự do; phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp; mở rộng trao đổi hàng hóa, khôi phục và phát triển các quan hệ hàng hóa - tiền tệ; sử dụng CNTB nhà nư­ớc và các thành phần kinh tế khác để phát triển lực lư­ợng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH; v.v..

Vận dụng tư tưởng về thời kỳ quá độ của C.Mác và Ph.Ăngghen, khái quát thực tiễn nước Nga trong những năm 1920 - 1921, V.I.Lênin cho rằng, những thành phần kinh tế lúc này ở Nga bao gồm:  “1) kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; 2) sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì); 3) chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) chủ nghĩa tư bản nhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội”(10). Các thành phần kinh tế này không phải tồn tại độc lập, riêng biệt mà “xen kẽ với nhau ở trong nó” (V.I.Lênin). Nói cách khác, việc sử dụng các thành phần kinh tế mang tính chất quá độ, gián tiếp, theo h­ướng “không đập tan cái cơ cấu kinh tế và xã hội cũ, thư­ơng nghiệp, tiểu nông, công nghiệp nhỏ, chủ nghĩa tư­ bản; mà là chấn h­ưng th­ương nghiệp, công nghiệp nhỏ, chủ nghĩa tư bản,  bằng cách cố gắng nắm vững cái đó một cách thận trọng và từng bước, hoặc bằng cách nhà n­ước điều tiết những cái đó, nh­ưng chỉ trong chừng mực làm cho chúng sẽ được phục hồi lại”(11) là cần thiết trong bối cảnh nước Nga lúc bấy giờ. 

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH; do đó, về mặt kinh tế - như V.I.Lênin khẳng định - vẫn có “những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản”. Nghĩa là, trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn sử dụng nhiều thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau:  kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là việc làm hoàn toàn tự giác, chứ không phải tự phát; hoàn toàn nằm trong đường lối, chủ trương, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng, Nhà nước ta chủ động lãnh đạo, quản lý nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, chứ không phải để cho nền kinh tế ấy phát triển một cách tự phát theo con đường TBCN.

Ph.Ăngghen từng viết: trong xã hội “nhân tố hoạt động hoàn toàn chỉ là những con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay có nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định, thì không có gì xảy ra mà lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn”(12) và “tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc họ”(13). Điều này hoàn toàn khác với những biến đổi diễn ra trong tự nhiên. Bởi lẽ, “trong tự nhiên (chừng nào chúng ta không xét đến ảnh hưởng ngược trở lại của con người đối với tự nhiên) chỉ có những nhân tố vô ý thức và mù quáng tác động lẫn nhau, và chính trong sự tác động lẫn nhau ấy mà quy luật chung biểu hiện ra”(14). Chính “ý định tự giác”, hoạt động “có ý thức” của các chủ thể kinh tế, chủ thể chính trị là nhân tố bảo đảm tính chất của nền kinh tế thị trường của Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chứ không phải kinh tế thị trường TBCN.

Thứ tư, thiếu quan điểm thực tiễn. Các thế lực thù địch, phản động; các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ đã tách lý luận khỏi thực tiễn; không coi thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức; không dựa vào thực tiễn để đánh giá sự đúng, sai của lý luận. Họ cho rằng, đã phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải thực hiện đa nguyên, đa đảng mà không chú ý đến thực tế ở Việt Nam, đến lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân, dân tộc Việt Nam, nhất là thời cận đại. Các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị đã cố tình lờ đi một thực tế là, lịch sử cận đại Việt Nam chứng minh rằng, chưa có một lực lượng xã hội nào, một đảng chính trị nào có thể giúp nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi mọi áp bức, bất công, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Phong trào Cần Vương mặc dù đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước, tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam, tạo thành phong trào vũ trang chống thực dân Pháp và triều đình phong kiến tay sai, nhưng cũng chỉ kéo dài hơn 10 năm (1885 - 1896). Phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của các nhà yêu nước Việt Nam như Phan Bội Châu (1867 - 1940), Phan Châu Trinh (1872 - 1926) hay Phong trào quốc gia cải lương (1919 - 1924); các phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925 - 1926); v.v. cuối cùng cũng thất bại. Đúng như kết luận của Đảng ta tại Đại hội VII: “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”(15).

Thực tế cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới xứng đáng là người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Chỉ 15 năm sau ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên giành chính quyền, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, tự do.

Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó là sự kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay.

  - Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức khỏe của nhân dân là vốn quý báu nhất của dân tộc, có quan hệ chặt chẽ với thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là trách nhiệm của Đảng, của hệ thống chính trị, của toàn dân, trong đó Ngành Y tế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Để Ngành Y tế đảm đương được sứ mệnh vẻ vang, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đức, có tài, xứng danh “Lương y như từ mẫu”, trong đó có nội dung cốt lõi là vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ này trước Đảng, trước nhân dân. 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) - Ảnh tư liệu, nguồn: TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là nhà tư tưởng lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam, Người dành sự quan tâm hàng đầu cho công tác cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ Ngành Y tế, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ y tế nước ta có đức và có tài, luôn thực hành gương sáng về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân - một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. 

Cả trong hoạt động lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển Ngành y tế Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm vô cùng phong phú, hệ thống và sâu sắc về đoàn kết và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế Việt Nam trong chế độ mới.

Nghề y là một nghề hết sức cao quý và đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, được xã hội tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”(1)

Theo Người, trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Song, để người dân có được sức khỏe “khang cường” cả về thể chất và tinh thần, có quan hệ mật thiết đến vai trò của người cán bộ y tế. Bởi vậy, Người coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y tế toàn diện, cả về y đức, y thuật, y lý. Người nhấn mạnh quan điểm cán bộ phải luôn đoàn kết và thanh khiết, luôn nêu cao trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc và toàn diện trong nhiều bức thư, bài viết, bài nói chuyện trong những dịp Người thăm và làm việc với ngành y hoặc cơ sở, cán bộ y tế. 

Người chỉ dẫn, căn dặn đội ngũ cán bộ y tế phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái, tận tụy, đức hy sinh, vì nhân dân phục vụ: “Về chuyên môn: Cần thường xuyên học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ. Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác"(2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”, vì thế “một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền"(3). Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc nǎm 1953, Người cǎn dặn cán bộ y tế phải: “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân(4)

Trong Thư gửi hội nghị cán bộ Y tế, đăng trên Báo Nhân dân số 362 ngày 27 - 2 - 1955, Người nhấn mạnh: “Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mạng nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu" câu nói ấy rất đúng”(5)

Để giữ trọn thanh danh cao quý của người thầy thuốc, cán bộ ngành y, một mặt, Người nhấn mạnh đến tài năng, đề ra yêu cầu cán bộ y tế "phải có chí chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hy sinh"(6). Mặt khác, để có thể hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trước Đảng, trước nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế phải chính tâm và đoàn kết, đoàn kết để tin tưởng, đoàn kết để tiến bộ thêm, đoàn kết để đi đến thành công trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. 

Đoàn kết là một vấn đề chiến lược trong xây dựng ngành cũng như đội ngũ cán bộ y tế. Ngành y và nghề y mang tính đặc thù cao, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sức khỏe nhân dân có quan hệ đến “sức mạnh tổng hợp của quốc gia”, vì “dân cường thì nước thịnh”. Do đó, để ngành y đảm đương được vai trò, chức năng của mình, rất cần sức mạnh nội tại của nguồn nhân lực, nhất là của đội ngũ cán bộ y tế. Nếu không có sự đoàn kết nhất trí trong đội ngũ cán bộ thì mọi chiến lược, chủ trương, kế hoạch phát triển của ngành y sẽ gặp khó khăn, thậm chí sai lầm, trả giá. 

Hồ Chí Minh đã từng nêu một luận điểm mang tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”(7); “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”(8); “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”(9); “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”(10). Người coi mục đích của Đảng là đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc. 

Muốn cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển ngành y tế ngang tầm đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thì trong từng tổ chức Đảng, bộ máy và đội ngũ cán bộ ngành y cũng như trong toàn hệ thống chính trị nói chung phải ra sức chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất nội bộ. 

Người nhấn mạnh: "Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân"(11).

Khi cán bộ ngành y tế đang cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đội ngũ cán bộ y tế phải: “Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật. Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khỏe của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”(12)

Theo Người, phải nêu cao tinh thần đại đoàn kết ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cá nhân, mọi tổ chức và cộng đồng, vì lợi ích chung là độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ ngành y cũng như người cán bộ cách mạng nói chung, trong thực hành đoàn kết, phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân (mà sức khỏe là vốn quý hàng đầu) làm nền tảng, đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân. Song, tôn trọng cái riêng thì đồng thời phải nêu cao tinh thần đoàn kết vì mục tiêu chung của ngành và của cách mạng. 

Hồ Chí Minh nói tới đoàn kết, đại đoàn kết cũng chính là giải quyết hài hòa các mối quan hệ về vấn đề lợi ích, như: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận - toàn cục. Chỉ dẫn đó của Người là cơ sở, nền tảng để ngành y và mỗi cán bộ y tế xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. 

Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong hệ thống ngành y tế nước ta, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau do tính đặc thù quy định. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá chất lượng của đội ngũ này. Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ ngành y hoàn thành công việc được giao. 

Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học - công nghệ y tế phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ y tế phải có trình độ về công nghệ, làm chủ khoa học - công nghệ trong lĩnh vực y tế, đồng thời phải có khả năng thích linh hoạt để đáp ứng được những thay đổi và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới, phải nêu cao quyết tâm, tín tâm và tinh thần phụng sự. 

Cùng với nhấn mạnh vấn đề quan trọng hàng đầu là đoàn kết-một cội nguồn của thắng lợi, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, đối với người cán bộ nói chung, cán bộ ngành y tế nói riêng, cần phải hội tụ được phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức ấy phải được thể hiện rõ ở lòng trung thành, nhiệt tình cách mạng, ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân; ít lòng tham muốn về vật chất,… thể hiện qua sự tự giác và ý thức nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành ytế, ở tinh thần trách nhiệm rất cao trước Đảng, trước nhân dân.

Người luận giải: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm.

… Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ.

… Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân. 

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. 

Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ. 

… Công việc kháng chiến kiến quốc ngày càng nhiều, càng mới, càng to, càng phức tạp. Cán bộ ta không khỏi vấp khuyết điểm trong tiến bộ. Nhưng với sự giáo dục của Đảng, của Chính phủ và của quần chúng, cùng với lòng kiên quyết dùi mài tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chúng ta nhất định chiến thắng khuyết điểm”(13)

Trong bối cảnh hiện nay, nâng cao tinh thần trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu và là yếu tố đặc biệt quan trọng để cán bộ ngành y “nâng cao sức đề kháng”, miễn nhiễm với mọi sự tha hóa, biến chất, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của những “viên đạn bọc đường”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tỉnh thần đoàn kết và tinh thần trách nhiệm của người cán bộ y tế trước Đảng, trước nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong xây dựng ngành y tế Việt Nam và đội ngũ cán bộ y tế cách mạng qua các thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng của Người hướng dẫn hành động cho mỗi cán bộ ngành y, nhắc nhở mỗi người, mỗi tổ chức, nhất là cấp ủy Đảng phải luôn thường trực tư tưởng và hành động đoàn kết thống nhất, trách nhiệm cao vì lợi ích chung của cách mạng.

Đất nước ta đã trải qua hơn 35 năm đổi mới. Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Thành tựu to lớn mang tầm vóc lịch sử đó sự đóng góp quan trọng của ngành y tế, trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ. Nhờ đó, như Đảng đã đánh giá, khẳng định: “Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch Covid-19”(14).

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của ngành y tế hiện nay, vẫn nổi lên những hạn chế, khuyết điểm, bất cập, với nhiều khó khăn thách thức, nhất là trước sự công phá dữ dội của “giông tố” Covid-19, được coi là một phép thử khắc nghiệt đối với ngành y và mỗi cán bộ y tế nước nhà. 

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân, phòng, chống dịch bệnh Covid-19 có hiệu quả, rất cần phải tăng cường giáo dục cán bộ, nhân viên y tế về tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để phát huy sức mạnh tổng hợp và thái độ, tinh thần phục vụ. Câu nói của Người: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền" vừa là danh hiệu cao quý mà Người dành tặng, vừa là một yêu cầu, đòi hỏi, là tiêu chuẩn, tiêu chí đối với phẩm chất và tài năng của đội ngũ cán bộ y tế nước ta, cả trong kháng chiến, cũng như trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong điều kiện hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, đòi hỏi ngành y tế và mỗi cán bộ y tế phải tiếp tục nhận thức và quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23 - 2 - 2005 của Bộ Chính trị Về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 6 khóa XII (Nghị quyết Số 20-NQ/TW ngày 25 - 10 - 2017) Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó thấu suốt quan điểm của Đảng: Nghề y là một nghề đặc biệt; nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của Đảng, Nhà nước và xã hội: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền". Điều đó lại càng đòi hỏi hơn bao giờ hết tinh thần phát huy dân chủ, ra sức tự phê bình và phê bình trong công tác và sinh hoạt hằng ngày như mỗi ngày “phải rửa mặt”, để tăng cường sự đoàn kết thống nhất và tinh thần trách nhiệm trong toàn ngành và của mỗi cán bộ y tế; thắp sáng truyền thống vẻ vang, niềm tự hào về danh dự, phẩm giá, lương tri của nghề y, ngành y, của người cán bộ y tế cách mạng. 

Quá trình đó đòi hỏi phải nêu cao bản lĩnh, dũng khí, phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế thật sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ngành ytế phải quán triệt thực hiện nghiêm túc, sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tập trung xây dựng đội cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15)

Trong quá trình quán triệt thực hiện, bài học về nêu cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là “chìa khóa” để đội ngũ cán bộ y tế nước ta hoàn thành tốt nhiệm vụ và sứ mệnh vẻ vang, cao quý mà Đảng và nhân dân ta đã tin tưởng giao phó.

Kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2 năm nay diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và ngànhytế, mỗi cán bộ y tế nước ta đang nỗ lực phấn đấu đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, với ý chí và khát vọng xây dựng và phát triển nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Ý thức đầy đủ vinh dự, niềm tự hào chính đáng và nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của người cán bộ y tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính là một biểu hiện cao quý về đạo đức cách mạng của người cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tiếp tục kiểm soát phòng, chống dịch bệnh, “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19” để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững hơn, đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh

 Yêu thương và quý trọng con người là một trong những đức tính đặc sắc nhất của đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách “Học tập đạo đức Hồ Chí Minh” (*), đồng chí Võ Nguyên Giáp có bài viết nêu rõ: “Nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh,  chúng ta thấy rất rõ ở Người chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, truyền thống văn hóa phương Đông, phương Tây và sự phát triển chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác. Sự tổng hợp đó hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh - hiện thân cao nhất của chủ nghĩa nhân văn hiện thực của người Việt Nam trong thời đại cách mạng giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa”.

Đồng chí còn viết cụ thể: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở tấm lòng thương yêu con người, thương yêu nhân dân hết sức rộng lớn, sâu sắc. Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ và bị áp bức”.

Cùng với ý ấy, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: Như phần nhiều các nhà hiền triết cổ kim Đông Tây, thương người là một đức tính lớn của Cụ Hồ, nó quán triệt mọi lời nói, việc làm của Cụ từ ngày Cụ hoạt động cách mạng... Suốt sáu mươi năm, một lòng thương người, vì người, một lòng nhân ái.

Giáo sư đặt câu hỏi: “Vậy nếu thương người là nhân ái thì nhân ái của Cụ Hồ có gì khác với nhân ái Khổng, Mặc chăng hay chỉ là một?”. Và tự trả lời: “Có phần khác không nhỏ”. Thương người (của Cụ Hồ) là biết xót xa đến thân phận những người cùng khổ nhất trong số những người cùng khổ,... cũng là thương các dân tộc mang xiềng xích thực dân. Thương không phải là tỏ mối thông cảm từ trên và từ ngoài mà tìm cách làm cho người lao khổ và dân tộc bị áp bức tự mình cởi ách ngựa trâu, chứ không phải bằng cách mòn bánh xe, móng ngựa để du thuyết các vương hầu. Mỗi thời đại một khác. Đi vào cách mạng, Người đặt vấn đề tự do và vấn đề hạnh phúc đi đôi. Có người Mỹ nói Cụ Hồ vừa là Washington vừa là Lincoln. Đúng là như vậy. Mà Cụ Hồ còn đi xa hơn nữa trên hướng nhân ái thiết thực.

Vẫn theo lời đồng chí Võ Nguyên Giáp: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn khoa học, hiện thực cách mạng. Người ta thường cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động thì cũng có thể nói nhà nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn hành động - hành động nhằm giải phóng con người.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc cũng là người cộng sự gần gũi của Bác Hồ - đã viết rất ân tình: Những tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch là những tình cảm lớn. Bác Hồ là “muôn vàn tình thương yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình thương yêu đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không sót một ai. Thương yêu và quan tâm chăm sóc mọi tầng lớp đồng bào, trai gái, già trẻ, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài. Bác Hồ đặc biệt ân cần chăm lo các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân, là những người chiến đấu quên mình trên tiền tuyến; các cháu thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, là lớp người thừa kế sự nghiệp cách mạng; chị em phụ nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang trong sản xuất và chiến đấu; đồng bào các dân tộc ít người, đã và sẽ tiếp tục có cống hiến cao quý vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong lòng Bác, đồng bào miền Nam, thành đồng Tổ quốc, chiếm một vị trí đặc biệt,...

Đã có biết bao câu chuyện sống động về tư tưởng nhân văn, lòng thương yêu con người và đức hy sinh cao cả của Bác, kể sao cho xiết.

Cả cuộc đời làm cách mạng, Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân tộc ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bác “ăn không ngon ngủ không yên khi đồng bào còn chịu khổ”.

Bác nêu tấm gương kính già, yêu trẻ. Kính già đến mức gửi thư chúc một phụ lão cứu quốc ở tuổi thượng thọ đã không tổ chức lễ mừng mà đem số tiền 500 đồng tiết kiệm được quyên vào Quỹ Kháng chiến, Hồ Chủ tịch tự xưng mình là cháu: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ và trân trọng chúc cụ sống lâu và hoàn toàn mạnh khỏe”. Yêu trẻ đến mức Tết Trung thu nào cũng có lời thơ chúc. “Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng”. Và các cháu thì hát vang: “Không ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng chúng em nhi đồng”.

Với đồng bào các dân tộc, Bác từng nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê-đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.

Với đồng bào các tôn giáo, bao giờ Bác cũng nêu lên cái tinh hoa của giáo lý. Với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Bác viết: “Kinh thánh có câu: Ý dân là ý Chúa. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng.” Với đồng bào theo đạo Phật, Bác viết: “Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy là: Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” (Đem lại lợi ích và vui sướng cho mọi người. Quên mình vì người khác).

Với những người lầm đường, lạc lối, Người cũng mở lượng khoan dung: “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Phải thực hành chữ BÁC ÁI”.

Nhà thơ Tố Hữu nói tự đáy lòng mình:

Người là Cha, là Bác, là Anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ

Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già.

Và:
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người!

Tư tưởng nhân văn hiện thực, tình yêu thương bao la và cuộc sống bình dị của Bác có sức cảm hóa lớn. Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng cao đẹp của một nhân cách Con Người tầm cỡ thế giới.

Nhà báo Jean Roux trong báo Chiến đấu (Pháp) viết: “Từ ba mươi năm nay, trong số các nhân vật mà tôi gặp được, chắc chắn Cụ Hồ là đáng khâm phục nhất. Cụ là người hoàn toàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì Cụ đã kết hợp đến mức nhuần nhuyễn phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời, tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người”.

Nhà báo Montaron trên báo Bằng chứng Thiên chúa giáo, cũng viết: “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ lần đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói nhằm thèm khát một cuộc sống cho ra người… Cụ đã đem hết sức mình để mang lại cơm ăn nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực cho những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ”.

Burchett, nhà báo Australia nổi tiếng, nhận xét: Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh… Người ta không thể trở thành một Hồ Chí Minh nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một điều gì làm cho mình tốt hơn.

Và thật cảm động, Thủ tướng Jawaharlal Nehru trong cuộc tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Ấn Độ (năm 1958) đã nói một cách chân tình: “Chúng ta đã được tiếp xúc với một người. Người đó là một phần của lịch sử châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta đã gặp một mảng lịch sử của lịch sử. Do đó, có lẽ chúng ta không chỉ được tăng thêm về suy nghĩ mà còn được tăng thêm cả về tầm vóc”.

Sẽ không thừa nếu nhắc lại: Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức UNESCO đã vinh danh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới./.

HAIVAN (St của Hà Đăng)

CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI TA CẦN CẢNH GIÁC VỚI TRÒ “LẬP LỜ ĐÁNH LẬN CON ĐEN”!

     Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng cả trong thời kỳ giành, giữ chính quyền và công cuộc xây dựng, phát triển Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhận thức rõ vấn đề đó, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam, hướng Việt nam đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, các thế lực thù địch chú trọng tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Các thế lực thù địch tuyên truyền đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với việc có đưa đưa đất nước phát triển hãy không. Thực tiễn nhiều nước đã chứng minh rằng, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc loại nghèo nhất trên thế giới. Tuy nhiên, cũng có những nước chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho sự phát triển, thực hiện đa đảng không đồng nghĩa với việc đất nước sẽ phát triển. Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ không phải là đa đảng hay một đảng lãnh đạo mà quan trọng nhất là đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cầm quyền ấy./.

Yêu nước ST.