Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ

quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự

nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ

một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ

góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,

đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền,

thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ

vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng

trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn

Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ

quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định,

giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác

tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng

của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở

tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của

Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể

hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là

thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại

giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng

minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng

tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không

sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên

bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử

tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng

bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên

quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an

ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm

vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với

các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và


bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về

Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ

kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường

quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với

nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử

dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe

dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên

quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa

bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ

chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng

chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động

chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở

thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc

tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán

đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi

phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình

và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan

hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc

lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên

tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu

vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải

quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo

vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu,

thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để

chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái,

xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu

tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của

Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân

dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo

hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo

của Việt Nam.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận

điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt

Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái

với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ

thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp.

Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp

luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu

gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân

lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ

bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt

Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự

do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ

xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân

quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày

tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp

văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng,

đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh

hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm

lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng

của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội

và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ

thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính

quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý

phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước

trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các

chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp

đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận

động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng

quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân

chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch

COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”,

người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt,

điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống

đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của

các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để

chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù


địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng,

không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào

lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi

phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số

các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà

nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm

thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để

can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc,

qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực

này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch,

xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên

các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố

tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư

luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng

định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống,

nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của

nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng

văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt

Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo

vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát

triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946,

1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó,

chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương

có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà

nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn

thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc

hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh

liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến

pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự

2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân

sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015,

Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật

Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc

hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã

phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền

XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ,

công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã

hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ

pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của

mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia

vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các

tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước

phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước

quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia

nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn,

gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8

công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế

về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham


gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức

quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai,

dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính

trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt

Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó

không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ

thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền

công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã

hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm

2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực

hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc.

Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển

Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt

Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn

trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên

của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp

lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp

quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên

hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu).

Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp

quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo

đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra,

được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của

Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống

văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc

phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong

đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của

con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải

trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn

diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc

tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông

tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số

tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản

động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi

nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ

các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi

đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực


tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối

sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân

tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Nguồn:qdnd.vn

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đã có những chỉ dẫn rất sâu sắc và toàn diện, bao gồm các vấn đề từ vai trò, vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục; nguyên lý, phương châm giáo dục; phương thức, phương pháp giáo dục cho đến tổ chức quản lý, xây dựng đội ngũ giáo viên; chủ trương, chính sách đối với giáo dục. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục hết sức rộng lớn, phong phú, có thể khái quát ở những nội dung chính sau:

1. Xây dựng nền giáo dục độc lập, tiến bộ, toàn diện theo hướng dân tộc, hiện đại, nhân văn, lấy mục tiêu phục vụ Tổ quốc, nhân dân làm nền tảng

Những năm hoạt động cách mạng tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong việc thi hành "chính sách ngu dân" để dễ bề cai trị đối với nhân dân ta. Tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920), Nguyễn Ái Quốc lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương là “ Nhà tù nhiều hơn trường học, lúc nào cũng mở cửa và chật ních người...Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách để đầu độc chúng tôi bằng thuốc phiện và làm cho chúng tôi đần độn bằng rượu”(1).

Trong tác phẩm nổi tiếng "Bản án chế độ thực dân Pháp" (1925), Người viết: “Nhân dân Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học thiếu một cách nghiêm trọng... "Làm cho dân ngu để dễ trị", đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất"(2).

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (mùa Xuân năm 1930), trong Chánh cương vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, chủ trương phổ thông giáo dục theo công nông hóa (sau này, gọi là phổ cập giáo dục cho nhân dân). Trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Anh “to make education for all” nghĩa là tiến hành giáo dục cho mọi người. Đặc biệt, trong Chương trình Việt Minh (1941), Người chủ trương: "Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dựng nền quốc dân giáo dục. Cưỡng bức giáo dục từ bực sơ học. Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục dân tộc mình. Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài... Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân làm cho nòi giống ngày thêm mạnh"(3).

Cách mạng Tháng Tám thành công, trước những khó khăn của đất nước, Người vẫn ưu tiên chăm lo giáo dục: "nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ"(4) và "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ"(5). Chỉ sau một tuần lễ tuyên bố độc lập, ngày 8-9-1945, Người đã ký Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, để thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân. Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục hướng vào các giá trị dân tộc, hiện đại, nhân văn, phục vụ Tổ quốc, nhân dân.

Trong "Thư gửi các học sinh" nhân ngày khai trường, ngày 5-9-1945, Người viết: "Một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em"(6). Ngay trong năm học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, tất cả các môn học đều được dạy và học bằng tiếng quốc ngữ. Cùng với quốc ngữ, quốc văn, quốc sử và địa lý nước nhà ngày càng được quan tâm hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải chú trọng dạy cho học sinh lòng yêu nước: “Cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”(7). Hơn ai hết, Người hiểu rõ chỉ có lòng yêu nước, thương nòi mới thúc đẩy mọi người học tập, phấn đấu, mới hết lòng phụng sự nhân dân. Nói chuyện với học sinh các Trường Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương ở Hà Nội, Người nói: “Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác hẳn nhau. Bây giờ phải học để: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức...Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh”(8).

Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Hồ Chí Minh quán triệt thực hiện trong ngành giáo dục và toàn xã hội. Người phát động phong trào chống nạn mù chữ, thất học, làm cho mọi người dân đều biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, nâng cao dân trí để có kiến thức mới phục vụ cho công cuộc kiến thiết nước nhà. Bên cạnh đó, Người yêu cầu ngành giáo dục phải sửa đổi triệt để nội dung chương trình, sách giáo khoa cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, khôi phục kinh tế, quốc phòng.

Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là phải chú trọng giáo dục toàn diện. Người yêu cầu phải chú trọng đủ các mặt, đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất; đồng thời phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như thái độ thờ ơ với xã hội, xa vời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp. Nội dung giáo dục phải toàn diện, phải nhằm mục tiêu đào tạo con người mới, phải coi trọng cả tài lẫn đức, coi trọng đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(9). Muốn đạt mục tiêu giáo dục toàn diện thì phải dựa vào nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt để phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn.

2. Phải hết sức coi trọng vai trò của người thầy và phải hình thành cho học sinh nhu cầu học tập, tự học, học suốt đời

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thầy giáo, cô giáo đối với xã hội. Người nhấn mạnh: "Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?. Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất..., những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh... Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang"(10). Để làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người thầy giáo phải có phẩm chất tốt. Người nhắc nhở: "Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức... Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con"(11).

Hồ Chí Minh tôn vinh nghề giáo, đặt người thầy vào vị trí được tôn trọng, cao quý của xã hội. Điều đó cũng trao cho người thày sứ mệnh vẻ vang - muốn hoàn thành được sứ mệnh ấy, người thày phải nhận thức được mình không phải là gõ đầu trẻ kiếm cơm mà là người phụ trách đào tạo những công dân tiến bộ. Người nhấn mạnh: “cán bộ chuyên môn, có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn”(12).

Do đó, người thày phải tăng cường trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng rèn luyện chuyên môn, phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo, phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm, phải thương yêu, chăm sóc học sinh như con em ruột thịt của mình, phải thật sự yêu nghề, yêu trường, không ngừng học hỏi để tiến bộ mãi.

Đối với người làm công tác quản lý giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Trong công tác, phải đi sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm; chủ trương phải cụ thể, thiết thực, đúng đắn; kết hợp chặt chẽ chủ trương, chính sách của Trung ương với tình hình thực tế và kinh nghiệm quý báu và phong phú của quần chúng, của cán bộ và của địa phương.

Đối với học sinh, trong Thư gửi học sinh ngày khai trường tháng 9-1945,  Người khích lệ các em học sinh chăm chỉ học tập để làm rạng rỡ cho nước nhà: "Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"(13).

3. Giáo dục toàn diện, nội dung, phương pháp và phong cách dạy học, gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành

Mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là phải đào tạo ra những con người vừa hồng, vừa chuyên, vừa có đức, vừa có tài: “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”(14).

Ngày 21-10-1964, trong bài nói chuyện tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh những nội dung cốt yếu trong giảng dạy và học tập: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân”(15).

Để thực hiện được mục tiêu giáo dục đó, nhà trường và thầy giáo phải dạy cho học sinh các nội dung giáo dục như thể dục, trí dục, mỹ dục và đức dục. Ngành giáo dục cần phải thực hiện tốt phương châm, phương pháp giáo dục-đào tạo với 3 nội dung:

Một là, kết hợp học với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn.Triết lý giáo dục này được Hồ Chí Minh khẳng định là học đi với lao động, lý luận đi với thực hành, cần cù đi với tiết kiệm. Nói chuyện với giáo viên, học sinh Trường Đại học sư phạm Hà Nội (ngày 21-10-1964), Người chỉ rõ: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”(16). Người phê phán lối học gạo, học vẹt, học mà không hành, chỉ biết lý luận suông mà không thực hành là trí thức một nửa. Lý luận là những điều được tổng kết từ thực tiễn nhưng lý luận chỉ là lý luận suông nếu nó không được thâm nhập trở lại vào thực tiễn.

Người nhấn mạnh: “Học lý luận không phải để nói mép, nhưng biết lý luận mà không thực hành là lý luận suông. Học là để áp dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng”(17). Người nghiêm khắc phê phán bệnh coi thường lý luận, tình trạng yếu kém về lý luận, lý luận suông chỉ học thuộc lòng để đem lòe thiên hạ: “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế(18).

Hai là, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội.Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh cho rằng, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, do đó, phải đặc biệt coi trọng sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Chỉ khi nhà trường, gia đình và xã hội cùng nhau phối hợp thực hiện thì kết quả của sự nghiệp giáo dục mới hoàn thành: “Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”(19).

Ba là, học tập là công việc suốt đời của mỗi người.Với tinh thần học, học nữa, học mãi, Hồ Chí Minh nhấn mạnh học tập là một việc phải tiếp tục suốt đời: “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.. .Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi, thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ. Cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến kịp nhân dân”(20). Người luôn căn dặn thanh niên, học sinh chỉ có không ngừng học tập thì mới tiến bộ mãi; chỉ có xây dựng được một xã hội học tập thì mới thực hiện được việc học tập suốt đời và ngược lại, mỗi người Việt Nam phải lấy học tập là mục đích, là công việc suốt đời thì mới đóng góp được cho xã hội học tập.

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền giáo dục Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, phát triển cả về quy mô và chất lượng. Trong thời kỳ đổi mới, các cuộc phổ cập giáo dục từ tiểu học cho đến bậc trung học đã được triển khai và đạt được những thành quả nhất định. Việt Nam hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I năm 2014; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010: “Chỉ tiêu về đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trên toàn quốc cho trẻ 5 tuổi đã hoàn thành ngay từ đầu năm 2017 với tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,98%. Cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 18/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ; cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1, trong đó có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ 2, mức độ 3...”(21). Năm 2020, giáo dục Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới; nhiều chỉ số giáo dục được đánh giá cao trong khu vực như “tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN; năm 2019, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12 bậc so với năm 2018; có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1000 trường đại học tốt nhất thế giới; có 11 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam nằm trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu châu Á.. .”í22ì. Bên cạnh những thành tựu đó, ngành giáo dục vẫn còn những hạn chế, bất cập đòi hỏi cần tiếp tục có các giải pháp khắc phục, đó là: tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết; chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cá biệt có những giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo gây bức xúc xã hội; quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông ở một số địa phương chưa phù hợp; công tác truyền thông giáo dục còn hạn chế, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội...

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tích cực trong xây dựng chính sách an sinh xã hội

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia vào quá trình xây dựng

chính sách, pháp luật về an sinh xã hội như chủ động đề xuất chính sách về an

sinh xã hội liên quan phụ nữ, trẻ em; tích cực đóng góp vào kết quả lồng ghép

vấn đề bình đẳng giới trong quá trình góp ý, phản biện xã hội chính sách, pháp

luật về an sinh xã hội; phát huy dân chủ của phụ nữ, hội viên trong xây dựng

chính sách, pháp luật liên quan đến an sinh xã hội…

Để thực hiện chiến lược quốc gia thực hiện mục tiêu bình đẳng giới giai

đoạn 2021-2030 “Tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để

phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời

sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước”, trong thời gian

tới, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tập trung tăng cường công tác tuyên truyền,

vận động hội viên, phụ nữ nhận thức, hiểu rõ về chức năng, nhiệm vụ của Hội

cũng như quyền lợi của hội viên trong xây dựng pháp luật về an sinh xã hội; qua

đó đảm bảo quyền lợi cho nhóm dễ bị tổn thương, trong đó có phụ nữ, trẻ em.

Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục chủ động đề xuất

xây dựng luật pháp, chính sách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng

của phụ nữ trong phát triển kinh tế-xã hội kịp thời, thống nhất, khả thi, đảm bảo

lồng ghép giới và góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trên cơ sở bám sát

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2021-2030 và tầm

nhìn đến 2045.

Từ đó, các cấp hội nghiên cứu xây dựng, đề xuất các chương trình, đề án,

góp phần thúc đẩy năng lực của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, hỗ

trợ phụ nữ khởi nghiệp, sáng tạo, hỗ trợ các đối tượng phụ nữ yếu thế, phát triển

kinh tế, nâng cao đời sống và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo an

ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ phụ nữ, bà mẹ và trẻ em.

Các cấp hội thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng hội viên, phụ nữ,

kịp thời phát hiện những vấn đề nổi cộm, nhu cầu, bức xúc của phụ nữ để tham

mưu bổ sung, sửa đổi các chính sách cho phù hợp, hiệu quả.

ĐẠI DỊCH VÀ AN NINH VIỆT NAM

 Đối với Việt Nam, dịch COVID-19 cũng có ảnh hưởng sâu rộng tới tình

hình kinh tế, xã hội đất nước. Tuy nhiên, do chúng ta đã có những phản ứng

nhanh nhạy, quyết liệt mang tính đồng bộ ngay từ đầu như giãn cách xã hội,

quản lý chặt biên giới, kiểm soát chặt nhập cảnh… nên đã thích ứng hiệu quả

với tình hình mới, đã giảm đáng kể được thiệt hại do dịch bệnh gây ra. 

Đến nay, tuy tình hình dịch COVID-19 trên thế giới vẫn có những diễn

biến phức tạp, khó lường nhưng ở trong nước, về cơ bản dịch COVID-19 đã

được khống chế, thiệt hại đối với nước ta có phần nhẹ hơn so với tình hình

chung của thế giới. GDP năm 2020 vẫn tăng trưởng 2,91%, thuộc nhóm các

nước có tăng trưởng cao nhất trên thế giới, tâm lý xã hội ổn định, an ninh quốc

gia được đảm bảo, trật tự xã hội được suy trì.

Nhìn nhận lại khoảng thời gian chống dịch vừa qua chúng ta có thể nhận

thấy rõ các mối đe dọa an ninh mang tính phi truyền thống như dịch COVID-19

để lại hậu quả sâu sắc, toàn diện và vô cùng nặng nề cho các quốc gia trên thế

giới, mặt trận không tiếng súng này gây thiệt hại về kinh tế, nhân mạng ở nhiều

quốc gia còn nguy hiểm hơn gấp nhiều lần chiến tranh, xung đột quân sự, đòi

hỏi chúng ta cần có các biện pháp quyết liệt, nhanh chóng, kịp thời và phù hợp

để ứng phó. Bên cạnh đó, dịch COVID-19 cũng đã tạo cho chúng ta điều kiện,

cơ hội đánh giá, kiểm nghiệm sâu sắc nhiều vấn đề mang tính chiến lược, mang

tầm quốc gia:

Một là: Dịch COVID-19 là một thang thuốc thử liều cao giúp chúng ta

nhìn nhận, đánh giá lại khả năng vận hành, ứng phó của hệ thống chính trị, khả

năng thích ứng của đất nước trước mối đe dọa an ninh mang tính toàn cầu. Qua

đó nhìn nhận các mặt công việc đã làm được, các mặt chưa làm được để  rút

kinh nghiệm, chủ động ứng phó với các mối đe dọa khác trong tương lai.

Hai là: Quá trình chống dịch COVID 19 giúp gắn kết tinh thần dân tộc, cả

nước chung sức, dân tộc đồng lòng đoàn kết chống dịch. Với phương pháp

chống dịch nhanh chóng, hiệu quả của hệ thống chính trị, chúng ta đã củng cố,

tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước.

Ba là: Có thể coi quá trình cả nước phòng chống dịch COVID-19 là một

cuộc tổng diễn tập toàn diện mang tính quốc gia, để lại cho chúng ta những bài

học kinh nghiệm sâu sắc để khi đối đầu với các mối đe dọa an ninh phi truyền

thống tương tự có thể xảy ra trong tương lai chúng ta luôn ở thế chủ động, sẵn

sàng và ứng phó có hiệu quả. Trong đó những bài học sâu sắc nhất là:

Cần chủ động xây dựng hệ thống chính trị và nền kinh tế theo hướng phản

ứng nhanh, khi có mối đe dọa an ninh quốc gia như dịch COVID-19 có thể ngay


lập tức có thể chuyển trạng thái quốc gia vận hành theo hướng thích ứng, phù

hợp.

Cần có chiến lược quốc gia một cách toàn diện, đồng bộ trên nhiều phương diện

để có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, tập hợp nguồn lực phòng, chống và

đẩy lùi các mối đe dọa an ninh quốc gia từ khi mới manh nha xuất hiện.

Trong tình hình dịch diễn biến phức tạp và kéo dài như hiện nay, xuất

nhập khẩu hàng hóa bị đình trệ, trong khi chúng ta là một quốc gia xuất nhập

khẩu lớn, ảnh hưởng của dịch sẽ rất nghiêm trọng. Để đảm bảo an ninh kinh tế

cần đặt ra yêu cầu xây dựng một nền kinh tế khép kín song song với một nền

kinh tế mở; xây dựng, phát triển thị trường nội địa song song với mở rộng thị

trường quốc tế để đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước.

Huy động khối đại đoàn kết toàn dân, tinh thần tự giác, tương thân tương

ái của toàn thể nhân dân chung tay cùng phòng chống dịch.

Tình hình dịch COVID-19 còn diễn biến phức tạp, nhưng tin rằng dưới sự

đồng lòng của toàn dân, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước, chúng ta

sẽ sớm vượt qua đại dịch và có thêm nhiều bài học kinh nghiệm quý báu để vượt

qua các thách thức an ninh phi truyền thống khác trong tương lai.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới.

  - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng của nông dân, nông nghiệp. Người nhấn mạnh: Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh(1) … Do đó, Người đặc biệt quan tâm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân và coi đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới

Ảnh tư liệu: Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông dân. Nguồn: baophapluat.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới hết sức rộng lớn, phong phú, có thể khái quát ở những nội dung chính sau:

1. Xây dựng nông thôn mới có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”,cùng một lúc phảichống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm,Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đếnxây dựng đời sống mới cho nhân dân. Ngày 4-3-1946, Người ra Sắc lệnh 44/SL về “Đời sống mới”vàphát động phong trào “Xây dựng đời sống mới”. Thực hiện nhiệm vụ đó, ngày 3-4-1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương ra đời(2).

Ngày20-3-1947, Hồ Chí Minh cho xuất bản tác phẩm “Đời sống mới” nhằm huy động, tạo nguồn lực về vật chất, tinh thần góp phần cho kháng chiến thắng lợi và xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Mục đích củaviệc xây dựng đời sống mới là: “Làm thế nào cho đời sống của nhân dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn”(3). “Đời sống mới không phải là cái gì cao xa, khó khăn mà chỉ là sửa lại những việc cần thiết trong đời sống hàng ngày đó là cách ăn, cách ở, cách mặc, cách đi lại, cách làm việc”(4)... Những lời chỉ dạy của Người là cơ sở lý luận quan trọng cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Để xây dựng thành công nông thôn mới, theo Hồ Chí Minh, trước hết mỗi người phải tự xây dựng đời sống mới cho riêng mình, từ đó góp phần xây dựng đời sống mới cho cộng đồng. Người cho rằng, xây dựng đời sống mới là sức mạnh tổng hợp của nhiều người: “Do nhiều người nhóm lại mà thành Làng, do nhiều Làng nhóm lại mà thành Nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành Làng xấu, Nước hèn; nếu mỗi người tốt, thì Làng tốt, Nước mạnh. Người là gốc của Làng, Nước, nếu mỗi người cố gắng làm đúng đời sống mới thì Dân tộc nhất định phú cường”(5).

Tháng 5-1955, nói chuyện với các đại biểu trước khi Hội nghị đổi công toàn quốc bế mạc, Hồ Chí Minh căn dặn, muốn xây dựng nông thôn thành công cần phải đánh thông tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, làm cho ai cũng hiểu thấu rằng: Hiện nay chỉ có tổ đổi công tốt, sản xuất mới có thể tăng gia, kinh tế nông thôn mới có thể phát triển, đời sống nhân dân mới có thể ấm no, mọi việc khác mới có thể thi hành(6).

Nhiệm vụ đặt ra đối với xây dựng nông thôn mới là tích cực tăng gia sản xuất trên nguyên tắc “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”với tinh thần “Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”. Người nhấn mạnh: “Muốn tăng gia sản xuất, mọi người phải Cần, phải Kiệm. Không Cần, thì phí thời giờ nhiều mà sản xuất được ít. Không Kiệm thì làm được bao nhiêu, dùng hết bấy nhiêu, rút cục cũng như sản xuất được ít. Tăng gia sản xuất ích riêng cho mình mà cũng ích chung cho cả nước. Nếu không có tinh thần Liêm và Chính, nếu tham lam ích kỷ, thì không thể phát đạt việc tăng gia sản xuất. Vì vậy, tăng gia sản xuất và đời sống mới phải đi đôi với nhau, không thể lìa nhau”(7)...

Tại Hội nghị giảm tô và cải cách ruộng đất ngày 31-10-1955, HồChí Minh nhấn mạnh: “Trong khi tiến hành cải cách ruộng đất phải chú trọng vận động quần chúng sản xuất, phải thật sự săn sóc đến đời sống của nông dân…”và phát động phong trào Tết trồng cây Mùa xuân Kỷ Hợi năm 1959 với mong muốn làm cho “phong cảnh nước ta ngày càng tươi đẹp” và là sự chuẩn bị cho công cuộc xây dựng nông thôn mới: “Tết trồng cây là một việc quan trọng chuẩn bị cho công cuộc xây dựng nông thôn mới nay mai”(8). “Chúng ta đang chuẩn bị xây dựng nông thôn mới. Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy, thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ một việc đó đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây”(9).

Luôn trăn trở về cuộc sống của nhân dân, nên trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm sâu sắc đến việc nâng cao đời sống nông dân. Người căn dặn:“Trong bao năm kháng chiến chống Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(10).

2. Xây dựng đời sống văn hóa mới ở nông thôn

Một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới là việc chăm lo rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách và đời sống văn hóa mới cho nông dân. Đây là vấn đề nòng cốt trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Vì người nông dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, vừa là mục tiêu cuối cùng của công cuộc xây dựng nông thôn mới, nên phải siêng năng, cần cù, hăng hái thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm, có tinh thần làm chủ, chủ động, sáng tạo trong lao động, sống có tinh thần, trách nhiệm, có tình, có nghĩa, luôn thương yêu, sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo”...

Trong nông thôn, người nông dân phải trên thuận, dưới hòa, không thiên tư, thiên ái, không tham lam, ích kỷ, không tư lợi dù là cây kim sợi chỉ của chung. Hồ Chí Minh khẳng định: Khi xây dựng “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ, cái gì cũng làm mới mà cái gì cũ mà xấu thì bỏ (tính lười biếng, tham lam...); cái gì cũ, không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý (cưới hỏi quá xa xỉ...); cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm (tương thân, tương ái, tận trung với nước, hiếu với dân...);cái mới mà hay, thì phải làm (ăn ở hợp vệ sinh, làm việc ngăn nắp)”(11).

Người chủ trương, trong xây dựng đời sống mới ở nông thôn phải coi trọng văn hóa và coi đó là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội. Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm khi xây dựng nông thôn mới về văn hóa là“phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân”, về phong tục “phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút xách, bợm bãi, trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng mình thành một làng “phong thuần tục mỹ”(12). “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”(13và phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa được tham nhũng, được lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự dovà có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng.

Do đó, khi xây dựng nông thôn mới cần chúý nâng cao nhận thức cho người dân về văn hóa để các giá trị của văn hóa thấm sâu vào tâm trí, tư duy của mỗi người dân, từ đó người dân không ngừng nâng cao nhận thức về văn hóa, hình thành bản lĩnh chính trị, lý tưởng cộng sản với mong muốn đóng góp công sức xây dựng quê hương giàu tình làng nghĩa xóm.

3. Chú trọng công tác vậnđộng, tuyên truyềnxây dựng nông thôn mới

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới cần phát huy vai trò của tổ chức Đảng và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Vì phải có Đảng lãnh đạo thì việc xây dựng nông thôn mới mới thành công được nhưng lãnh đạo phải dân chủ, luôn đi sâu, đi sát, mọi việc đều phải đem ra bàn bạc lấy ý kiến và sự thống nhất của nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chính phủ cần phải chuẩn bị kế hoạch xây dựng nông thôn mới và kiểu mẫu xây dựng nhà cho nông dân làm theo”(14).

Để nhân dân hiểu rõ ý nghĩa của việc xây dựng đời sống mới ở nông thôn, theo Hồ Chí Minh cần coi trọng công tác vận động, tuyên truyền, giải thích và làm gương để phong trào xâydựng nông thôn mới trở thành hành động thiết thực. Người nhấn mạnh: “Trước hết, phải tuyên truyền, giải thích và làm gương. Phải chịu khó nói rõ cho mọi người hiểu đời sống mới có ích thế nào, cách thi hành đời sống mới thế nào. Nói một lần họ chưa hiểu thì nói nhiều lần. Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi. Nói thì phải nói một cách đơn giản, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người ta nghe rồi làm được ngay. Việc dễ, việc nhỏ làm được rồi, sẽ nói đến việc to, việc khó... Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”(15). Làm như vậy, nhân dân càng tín nhiệm Đảng, chính quyền càng nêu cao tinh thần tập thể, tinh thần làm chủ, tinh thần chủ động và càng hăng hái lao động sản xuất. Bên cạnh vai trò của Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp cũng có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng nông thôn mới.

Nhưvậy, quan điểm xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới là xây dựng con người mới lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần để hình thành người nông dân có phẩm chất đạo đức, nhân cách; kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển; đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân không ngừng được nâng cao. Quá trình đó gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, hệ thống chính trị từ Trung ương đến các địa phương.

4. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nôngthôn mới

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân và coi nông thôn là địa bàn chiến lược quan trọng góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên cả nước. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05-8-2008 Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cụ thể hóa chủ trương của Đảngvề xây dựng nông thôn mới,ngày 4-6-2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 gồm 11 nội dung, 19 tiêu chí. Chính phủ xác định rõ mục tiêu của Chương trình là: “Xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Phấn đấu đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới; năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)(16).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn 10 năm (2010-2021) triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đạt được kết quả quan trọng: Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân ngày càng được cải thiện... Nông nghiệp trở thành trụ đỡ của để nền kinh tế quốc dân vượt qua suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đời sống của nông dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân hộ gia đình ở nông thôn mỗi năm một tăng(17). Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới về đích trước gần 2 năm so với kế hoạch. Đến hết năm 2020, cả nước có 62,4% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (vượt 12,4% so với mục tiêu đặt ra của Chương trình đến năm 2020 là 50%); đến tháng 7-2021, tăng lên 64,6% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, có 194 đơn vị cấp huyện (chiếm 29%) thuộc 51 tỉnh, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới, 12 tỉnh, thành phố đã có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 04 tỉnh đã được công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2020 đạt 41,7 triệu đồng/người/năm, gấp 1,7 lần so với năm 2015 và gấp 3,25 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều khu vực nông thôn năm 2020 còn khoảng 7,1%, giảm 4,7% so với năm 2016…(18). Những thành tựu quan trọng trong xây dựng nông thôn mới góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giữ vững an ninh lương thực quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế(19). Đây là những tiền đề quan trọng để hướng tới mục tiêu xây dựng “Nông nghiệp thịnh vượng, Nông dân giàu có, Nông thôn văn minh, hiện đại” và là minh chứng sống động làm thất bại các luận xuyên tạc của các thế lực thù địch về công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Tuy còn những hạn chế, bất cập trong quá trình xây dựng nông thôn mới như: sự phát triển từ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến đời sống văn hóa, tinh thần của người dân ở các vùng miền có khoảng cách chênh lệch khá cao; thu nhập của một bộ phận nông dân còn thấp và bấp bênh; môi trường sống ở nông thôn còn ô nhiễm; văn hóa nông thôn và một số giá trị truyền thống có nguy cơ mai một,… nhưng những thành tựu đạt được trong xây dựng nông thôn mới dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm qua là cơ bản, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nông dân, làm cho diện mạo nông thôn ngày càng thay đổi, đáp ứng ước nguyện của Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nông dân, làm cho người nông dân ấm no, hạnh phúc.

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”…

Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc… Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”. Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”! Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

BẢO ĐẢM TỐT AN NINH XÃ HỘI- CỦNG CỐ NIỀM TIN

 Bảo đảm an sinh xã hội là một trong những chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, ổn định kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân.

Trong suốt những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; mà trụ cột là chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương Nguyễn Thị Tố Nga cho biết: “Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội; nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân về thực hiện chính sách an sinh xã hội đã có sự chuyển biến rõ rệt. 

Đến nay, hệ thống chính sách xã hội đã cơ bản đảm bảo công bằng, toàn diện, bao trùm, tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo cơ bản quyền an sinh của người dân, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị và trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.

Đạt được những thành công trên, cùng với sự quan tâm lãnh đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của nhân dân đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, nhằm bảo đảm các chính sách đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội và nguyện vọng chính đáng của người dân.

Công tác dân vận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.

 - Công tác dân vận là một phương thức quan trọng, chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng; được tiến hành thường xuyên, toàn diện, trên mọi địa bàn, với mọi đối tượng. Bài viết làm rõ quan điểm, chủ trương của Trung ương Đảng và quá trình triển khai thực hiện thành công của các cấp ủy Đảng về công tác dân vận, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Công tác dân vận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ

Ảnh tư liệu: Dân công vận chuyển hàng hóa trong chiến dịch Điện Biên Phủ: Nguồn: nhandan.vn

1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác dân vận

    Sau các thắng lợi Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, quyền chủ động chiến lược trên chiến trường của ta được củng cố vững chắc, không chỉ ở Bắc Bộ mà mở rộng trên toàn Bắc Đông Dương. Lực lượng kháng chiến của nhân dân ta đã lớn mạnh. Hậu phương kháng chiến được tăng cường về mọi mặt. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố. Các chính sách kinh tế, tài chính của Đảng và Chính phủ được nhân dân hưởng ứng.

    Để động viên các nguồn lựccho cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới, ngày 9-1-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị gửi các Liên khu uỷ để động viên nhân lực, vật lực phục vụ mặt trận. Chỉ thị nêu rõ yêu cầu cung cấp cho mặt trận: Về dân công, cung cấp số dân công cần thiết trong thời gian sắp tới là việc trọng yếu bậc nhất. Đó cũng là một việc gay go, vì mới đây một số lớn đồng bào đi dân công vừa về địa phương có người tinh thần phấn khởi, nhưng còn một số tinh thần chán nản. Cho nên cán bộ các cấp liên khu và tỉnh cần phải giải thích sâu rộng trong nhân dân để họ tự giác ra sức phục vụ kháng chiến, đồng thời phải giúp đỡ gia đình có người ra tiền tuyến về mặt sản xuất; Về gạo, lương thực, phải phụ trách việc xay giã và đưa đủ số gạo cần thiết trong thời gian đã định; Về sửa đường, công tác này nặng và gấp hơn trước nên sửa đường là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của các liên khu và tỉnh; Về các phương tiện vận tải, các tỉnh phải chuẩn bị động viên theo thể lệ đã quy định(1).Trước yêu cầu cấp bách đó, Trung ương quyết định tất cả các liên khu và các tỉnh thành lập Hội đồng cung cấp Mặt trận, phụ trách toàn bộ công tác cung cấp cho mặt trận về nhân lực, vật lực. Hội đồng cung cấp Mặt trận sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ thị của Ban Bí thư đã kịp thời đẩy mạnh vận động các cấp, các ngành huy động nhân lực, vật lực phục vụ cuộc kháng chiến.

    Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa II (họp từ ngày 25 đến ngày 30-1-1953): xác định những công tác chính trong năm 1953: Một là, phát động quần chúng; Hai là, tăng cường sự chỉ đạo chiến tranh của Đảng, đẩy mạnh các công tác chỉnh quân và tác chiến để tiêu diệt nhiều sinh lực của địch; Ba là, phảichú ý cải thiện đời sống nhân dân, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân, tích cực đề phòng và chống nạn đói; Bốn là, về công tác sau lưng địch, tiếp tục tăng cường về mọi mặt, phát triển chiến tranh du kích, chống và phá càn quét để củng cố và mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích. Phá âm mưu của địch xây dựng ngụy quyền và ngụy quân, chống địch phá hoại và cướp bóc kinh tế, chống sự tuyên truyền lừa bịp của địch. Phải tăng cường việc tuyên truyền, giáo dục và tổ chức nhân dân. Phải thực hiện thống nhất lãnh đạo của Đảng và của Chính phủ ở sau lưng địch; Năm là, về chỉnh Đảng, kết hợp với công tác phát động quần chúng để chỉnh đốn chi bộ xã. Tiếp tục chỉnh huấn cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng(2).

    Trước yêu cầu mới về công tác vận động quần chúng vùng kháng chiến,Hội nghị Nông vận và dân vận toàn quốc được triệu tập (diễn ra từ ngày 5-2 đến ngày 18-3-1953), Hội nghị chỉ rõ vai trò to lớn của nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ, coi cách mạng dân tộc dân chủ là cách mạng nông dân và cơ sở của nó là ruộng đất, nông dân là động lực trong cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo. Hội nghị thảo luận về sự lãnh đạo công tác nông vận ở khu, tỉnh và nhất trí cần nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân và đường lối quần chúng lãnh đạo nông dân trong kháng chiến và kiến quốc(3).

    Hội nghị Cán bộ toàn quốc về vấn đề phát động quần chúng nông dân (tháng 3-1953): Hội nghị được triệu tập để thảo luận làm rõ một số nội dung về công tác vận động quần chúng nông dân. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh cần chỉ rõ công tác phát động quần chúng nông dân như sau: Ai phát? Cán bộ phải phát. Muốn phát phải hiểu rõ chính sách của Đảng, của Chính phủ, phải hiểu rõ quần chúng; Phát là thế nào? Là phải đoàn kết bần, cố, trung nông. Phải tổ chức họ chặt chẽ, phải giáo dục cho họ giác ngộ; Động rồi phải làm gì? Phải triệt để giảm tô để cải thiện đời sống nông dân. Giảm tô rồi phải thi đua tăng gia sản xuất. Cán bộ phải nắm vững chính sách của Đảng, của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng, tuyệt đối không bao biện, lúc phát động nông dân phải đoàn kết giác ngộ họ. Cán bộ phải nói cho nông dân hiểu rõ. Đồng bào thiểu số hay đa số, lương hay giáo, cán bộ biết cách làm thì đều vận động được(4).

    Ngày 26-1-1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị gửi các Liên khu uỷ về công tác ở những xã đã vận động quần chúng giảm tô. Nội dung Chỉ thị nhấn mạnh việc chú trọng công tác giáo dục nông dân tăng cường đoàn kết, ổn định việc tăng gia sản xuất, quan tâm đến đời sống hằng ngày của quần chúng để đẩy mạnh mọi công tác kháng chiến và sửa đổi lề lối làm việc. Ở những xã đã phát động quần chúng giảm tô thì Việt gian phản động, cường hào gian ác đã bị đánh đổ, thế lực kinh tế, chính trị của giai cấp địa chủ đã bị suy yếu. Đảng và Chính phủ đã bước đầu giành được ưu thế chính trị cho nông dân lao động, thoả mãn một phần yêu cầu kinh tế của nông dân. Sau khi giảm tô, thoái tô, nông dân hăng hái sản xuất, phong trào đổi công giúp nhau làm ăn, phục vụ kháng chiến phát triển mạnh. Công tác thuế nông nghiệp, đi dân công, tòng quân, học tập văn hóa... đều được đẩy mạnh.

    Thực hiện mục tiêu phá kế hoạch bắt lính của địch và đẩy mạnh phong trào chống bắt lính ở vùng sau lưng địch và vùng tạm bị chiếm, ngày 9-3-1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng raChỉ thị về việc chống địch bắt lính. Chỉ thị yêu cầu các cấp uỷ phải nhận thức rõ âm mưu của địch và nhiệm vụ rất trọng yếu của đấu tranh chống bắt lính. Tuyên truyền rộng rãi chống địch bắt lính: vạch rõ âm mưu thâm độc của địch dùng người Việt đánh người Việt, đưa thanh niên làm bia đỡ đạn cho chúng để kéo dài chiến tranh xâm lược, gây ra cảnh cốt nhục tương tàn, làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh tang tóc. Vạch rõ những luận điệu độc lập giả hiệu của đế quốc và bọn bù nhìn phản quốc, vạch rõ mưu mô của địch tuyên truyền lập địa phương quân để dễ bắt lính cơ động đi đánh nơi khác; đề phòng tư tưởng chủ quan của nhân dân và cán bộ xem thường sự nguy hiểm của ngụy binh. Phải vận động, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ âm mưu của địch và nhiệm vụ chống bắt lính trong nhân dân, làm cho nhân dân quyết tâm và hăng hái chống địch bắt lính, kịp thời nêu rõ những thủ đoạn bắt lính dã man của địch và những cuộc đấu tranh anh dũng chống địch bắt lính của nhân dân.

2. Triển khai thực hiện công tác dân vận, góp phần trực tiếp vào chiến thắng

    Vận động nhân dân tham gia chiến dịch giao thông, cầu đường: Để động viên sức người, của phục vụ cho giai đoạn phản công trên chiến trường, vấn đề bảo đảm giao thông vận tải là nhiệm vụ quan trọng phục vụ nhiệm vụ quân sự. Ngày 15-6-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị về việc lãnh đạo công tác làm cầu đường giao thông vận tải “để đảm bảo việc vận chuyển quân sự, để sẻ bớt gánh nặng vận chuyển cho dân và đồng thời cũng để mở rộng việc vận chuyển kinh tế”. Các cấp uỷ Liên khu Việt Bắc và các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Phú Thọ, Liên khu IV và tỉnh Thanh Hóa, Liên khu III và tỉnh Hòa Bình phải tăng cường việc lãnh đạo công tác cầu đường, điều động những cán bộ tích cực, có năng lực phụ trách các công tác ấy(5).

    Một “chiến dịch cầu đường” được triển khai trên quy mô lớn tại khắp các tỉnh thuộc vùng tự do Việt Bắc, Tây Bắc, Liên khu III, Liên khu IV. Với khẩu hiệu “Quân sự trên hết, tiền tuyến trên hết!”, hàng vạn dân công ở các địa phương, trên khắp các công trường cầu, phà, với những phương tiện thô sơ là chủ yếu, đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn làm đường, cầu đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, đúng thời hạn. Cùng với đường liên tỉnh trong từng liên khu, khu, đã hình thành hệ thống đường chiến lược nối liền Việt Bắc với Tây Bắc, Tây Bắc với Liên khu III và Liên khu IV(6).

    Vận động nhân dân tham gia dân công, vận tải hàng hóa: Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp Hội nghị bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954, hướng tiến công chính là Tây Bắc. Bộ Chính trị ra Nghị quyết thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 với quyết tâm: giữ vững quyền chủ động, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp trên phạm vi cả nước và trên toàn Đông Dương. Bộ Chính trị nêu phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt(7).Công tác chuẩn bị thực hiện kế hoạch được khẩn trương triển khai. Hội đồng cung cấp tiền phương được thành lập để chỉ đạo công tác huy động sức người, sức của, tổ chức vận chuyển ra mặt trận. Trước đó, tháng 7-1953, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ủy ban chi viện tiền tuyến nhằm huy động tối đa sức người, sức của của hậu phương vào việc chuẩn bị cho Đông Xuân đánh lớn(8).Thực hiện kế hoạch tiến quân lên Tây Bắc, Trung ương yêu cầu các vùng hậu phương phải tăng cường, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, huy động nhân lực, vật lực cho chiến dịch. Trung ương chỉ rõ: “Công tác dân công là công tác chính trị… Đối với các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cơ sở yếu, thiếu cán bộ, phải cố tìm cho được những phần tử tích cực ở địa phương làm cán bộ và phải giúp đỡ, hướng dẫn họ trong công tác”(9).

    Từ thực tế các vùng hậu phương lớn ở xa, việc vận chuyển vô cùng khó khăn(10), Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương huy động nguồn hậu cần tại chỗ và tích cực vận chuyển từ hậu phương Liên khu IV và Việt Bắc. Để huy động đạt hiệu quả cao và không ảnh hưởng tới chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Tây Bắc phải lấy phương châm vận động đồng bào làm chính, không nên dùng mệnh lệnh bắt nhân dân nộp thóc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: công tác cung cấp trên chiến dịch phải là công tác vận động quần chúng, động viên giáo dục nhân dân căm thù giặc Pháp, hợp sức để đánh Pháp(11).

    Các đoàn vận tải của nhân dân được Chính phủ khuyến khích phát triển. Từ Liên khu IV trở ra đã có 34 công đoàn thuyền, 216 đoàn vận tải thô sơ, 1 đoàn ô tô. Phương tiện vận tải chủ yếu trên đường thủy là thuyền, trên đường bộ là xe súc vật kéo và xe đạp. Lực lượng xe đạp thồ phát triển nhanh chóng. Năm 1953, Hội đồng cung cấp mặt trận đã huy động được 12.400 xe đạp thồ của đồng bào Việt Bắc phục vụ các chiến dịch(12).

    Nhờ huy động lực lượng vận tải của toàn dân mà trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta hoàn thành được khối lượng vận chuyển gấp 36 lần chiến dịch Biên Giới. Ngoài ô tô, ta sử dụng 11.800 thuyền mảng, ca nô, gần 21.000 xe đạp thồ, trên 26 vạn dân công, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ(13).

    Chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân, công tác xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ở vùng tự do, công tác vùng địch hậu được khẩn trương triển khai. Sức mạnh của hậu phương kháng chiến được huy động từ các vùng tự do và cả trong vùng tạm bị địch chiếm đóng để bảo đảm cho hoạt động quân sự trên các chiến trường. Hàng chục vạn dân công được động viên, điều động chuẩn bị vận tải cho các chiến trường. Hàng vạn xe đạp thồ và xe đẩy thô sơ, hàng nghìn thuyền, mảng, hàng đoàn ngựa được huy động để vận chuyển lương thực, đạn dược, thuốc men ra tiền tuyến... Tất cả đều tập trung bảo đảm cho kế hoạch Đông Xuân 1953-1954 toàn thắng.

    Vận động nhân dân thực hiện giảm tô, tiến hành cải cách ruộng đất: Để bồi dưỡng lực lượng kháng chiến và đẩy mạnh cuộc kháng chiến mau đến thắng lợi, trên cơ sở hai đợt phát động quần chúng triệt để giảm tô và do nhu cầu bồi dưỡng sức dân trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến, Đảng chủ trương đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ruộng đất.Trong đó nêu rõ đường lối chính sách của Đảng trong phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất là “dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp phú nông, đánh đổ Việt gian, phản động và cường hào gian ác”. Việc đoàn kết chặt chẽ với trung nông “không phải là một sách lược nhất thời, mà là một chiến lược lâu dài”. Bộ Chính trị chỉ rõ: “cuộc phát động quần chúng thực hiện giảm tô, thoái tô hiện nay là một bước chuẩn bị tiến lên cải cách ruộng đất. Vì nhu cầu của cuộc kháng chiến, vì nguyện vọng thiết tha của nông dân, cuộc cải cách ruộng đất cần được mau chóng thực hiện”(14). Từ đây nhiệm vụ cách mạng ruộng đất được đẩy cao hơn một bước.

    Từ tháng 4-1953 đến tháng 7-1954, Đảng lãnh đạo nông dân tiến hành năm đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất. Kết quả của việc thực hiện từng bước chính sách ruộng đất đã làm thay đổi tình hình sở hữu ruộng đất của các giai tầng xã hội ở nông thôn. Tại Liên khu Việt Bắc, cuối năm 1953, 748 xã trong tổng số 1.908 xã đã hoàn thành giảm tô và thí điểm cải cách ruộng đất. Chính quyền các cấp đã trưng thu 316.213 mẫu ruộng, chia cho 314.749 hộ nông dân nghèo(15).

    Về phương diện kinh tế, chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp đã từng bước xoá bỏ hình thức chiếm hữu ruộng đất phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất khỏi sự trói buộc của quan hệ sản xuất đã quá lạc hậu; đem lại ruộng đất cho nông dân lao động, tạo nên sự thay đổi căn bản về chủ thể của nền kinh tế nông nghiệp. Sự đổi thay từng bước nhưng có ý nghĩa cách mạng đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, mang lại một bầu không khí chính trị mới, có tác dụng động viên mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của nông dân và bộ đội, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhân dân các dân tộc Việt Bắc tích cực tham gia xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, hăng hái sản xuất, chiến đấu, bảo vệ hậu phương căn cứ địa cách mạng, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Vận động nhân dân tăng gia sản xuất, đẩy mạnh công tác địch vận, chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch Điện Biên Phủ: Từ cuối năm 1953, phong trào chiến tranh du kích phát triển đều khắp ở các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Được sự hỗ trợ của tiến công quân sự, Đảng bộ các địa phương vận động nhân dân ra sức thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, tiến công địch bằng chính trị và binh địch vận. Tính riêng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, có khoảng 4.000 binh lính đào, rã ngũ.

    Năm 1953, dưới sự chỉ đạo của Liên khu ủy V, các tỉnh ủy, huyện ủy tập trung chỉ đạo cứu đói và chữa bệnh đi đôi với tăng gia sản xuất, vận động nhân dân vùng căn cứ giúp dân vùng mới giải phóng để sản xuất.

    Nắm được kế hoạch Nava,Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp báo cáo kế hoạch của địch với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhận được ý kiến chỉ đạo: “Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán ra mà đánh”(16). Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị xem xét và quyết định thông qua phương án tác chiến tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bản báo cáo nêu rõ, chiến dịch này “có nhiều khó khăn, cần ráo riết tập trung lực lượng mới làm kịp, nhưng nếu kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành được chiến dịch thì thắng lợi này sẽ là một thắng lợi rất lớn”(17). Báo cáo nhấn mạnh: “Ta có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện chủ trương của Trung ương, nhưng đồng thời cũng có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất vẫn là vấn đề cung cấp, mà chủ yếu là vấn đề đường sá”(18). Ngày 1-1-1954, Bộ Chính trị thành lập cơ quan lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh quân đội làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch.

    Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, trên các chiến trường, hậu phương và vùng sau lưng địch, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dốc sức tiến hành nhiều hoạt động tổ chức lực lượng, huy động sức người, sức của với tinh thần quyết tâm cao giành thắng lợi tại chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, những khó khăn về cung cấp, tiếp tế sẽ giải quyết được, vì nhân dân có lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm cao; cuộc kháng chiến đang trên đà thắng lợi; toàn dân tin tưởng, đoàn kết. Vì vậy, dù khó khăn đến đâu, nhân dân ta cũng sẽ đem hết tinh thần và sức lực, nhiệt tình, của cải vật chất phục vụ kháng chiến, phục vụ bộ đội đánh địch ở Điện Biên Phủ.Từ nhận định đó, trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện chiến dịch, Đảng chú trọng đến vấn đề phát huy sức mạnh của cả dân tộc, đặc biệt là sức mạnh của nhân dân ở các hậu phương tại chỗ Tây Bắc, Việt Bắc và Khu 4, đồng thời tổ chức chiến đấu rộng khắp trên các chiến trường nhằm “chia lửa” với Điện Biên Phủ.

    Từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12-1953, công tác chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra dồn dập, khẩn trương. Ngày 26-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ đã triệu tập họp đột xuất Đảng ủy Mặt trận, đi đến quyết chọn phương án đánh chắc tiến chắc(19). Chuyển từ cách đánh ba đêm hai ngày sang cách đánh mới kéo theo biết bao khó khăn, nhất là việc huy động lương thực, nhân lực vận chuyển để bảo đảm cung cấp cho hàng vạn chiến sĩ và dân công là công việc mà Đảng, Chính phủ và nhân dân phải gắng sức thực hiện.

    Lãnh đạo thực hiện phương án đánh chắc tiến chắc, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm chỉ đạo quân đội, các ngành, các địa phương hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến dịch.

    Quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng đã nhanh chóng biến thành ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trong phong trào hậu phương chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ, hàng chục vạn dân công đã vượt qua bom đạn, bệnh tật, vận chuyển lương thực, súng đạn, thuốc men cho mặt trận với hơn 18 triệu ngày công, 25.000 tấn gạo được huy động từ nhân dân đồng bằng Bắc Bộ lên Tây Bắc phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại Tây Bắc, phong trào ủng hộ kháng chiến của nhân dân rất sôi nổi.

    Khu ủy Tây Bắc tập trung chỉ đạo thành lập Hội đồng cung cấp và Ban chuẩn bị chiến trường các địa phương. Ban chuẩn bị chiến trường có nhiệm vụ đi sâu vào tất cả các vùng, vận động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho chiến dịch. Tất cả bộ máy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể quần chúng như Mặt trận, Hội Phụ nữ, Thanh niên... khẩn trương tổ chức vận động đồng bào các dân tộc hăng hái tham gia các đoàn dân công mở đường, vận tải và đóng góp lương thực thực phẩm, ngựa thồ, thuyền mảng phục vụ chiến dịch. Hàng ngàn thanh niên, gái trai ở các địa phương đã tích cực tham gia đi dân công phục vụ chiến dịch.

    Mọi công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Đầu tháng 3-1954, các công việc chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn thành. Bộ Chính trị chỉ thị phải tổ chức dự trữ gấp đôi hoặc ít nhất gấp rưỡi so với yêu cầu của mặt trận.Từ cơ quan của Chính phủ đến các Khu ủy, Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính kháng chiến các cấp thuộc Việt Bắc, Tây Bắc, Liên khu III, Liên khu IV động viên nhân dân phát huy cao độ lòng yêu nước, chí căm thù giặc và tinh thần cách mạng, tình nguyện vào bộ đội, đi dân công hỏa tuyến... Trên 100.000 dân công được tăng cường cho công tác phục vụ chiến trường.

    Với khẩu hiệu Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, nhân dân các dân tộc nỗ lực khắc phục những khó khăn, trở ngại, ngày đêm ra sức phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ tuyến đường qua Đèo Cà - Yên Thế, Pha Đin - Điện Biên Phủ(20), dân công và thanh niên xung phong có đóng góp quan trọng để bảo vệ tuyến đường. Được sự chỉ đạo, động viên của Đảng bộ và các cấp chính quyền, hàng vạn dân công và công nhân kiên trì bám trụ ngày đêm dũng cảm, gan dạ tháo gỡ bom nổ chậm, nhanh chóng sửa đường, cầu phà, đảm bảo giao thông thông suốt. Trong những ngày diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ ác liệt, đoàn Thanh niên với sức trẻ, đã nêu cao tinh thần dũng cảm chiến đấu và đảm bảo giao thông. Lực lượng thanh niên hướng dẫn ô tô chở hàng và kéo pháo an toàn lên Điện Biên Phủ. Đồng bào Tây Bắc tổ chức cứu chữa, chăm sóc thương bệnh binh.

    Số vật chất và nhân lực do đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu IV đóng góp cho chiến dịch là rất lớn, bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội xây dựng trận địa và chiến đấu ròng rã trong nhiều tháng. Các địa phương đã huy động trên 260.000 dân công miền ngược, miền xuôi, cả vùng tự do và vùng tạm bị chiếm, đã phục vụ tiền tuyến. 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ và nửa thô sơ; cung cấp cho chiến dịch (số huy động tại gốc) 250.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Tính riêng số vật phẩm chuyển được ra mặt trận là hơn hai vạn tấn(21).

    Riêng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã tiếp tế cho bộ đội 7.310 tấn gạo, 389 tấn thịt, 700-800 tấn rau xanh; đóng góp 31.818 dân công (tương đương 1.296.078 ngày công) để vận chuyển, sửa chữa cầu đường, xây dựng kho lán(22). Trước yêu cầu to lớn và khẩn trương của chiến dịch, từng đoàn dân công Việt Bắc ngày đêm vượt núi, băng rừng, vượt đèo cao, suối sâu, vận chuyển vũ khí và lương thực.. Nhân dân các địa phương ven đường quốc lộ có sáng kiến lập nhiều tổ, đội nhân dân, ngày đêm bám sát bảo vệ các cung đường, bảo đảm giao thông thường xuyên thông suốt tới mặt trận.

    Công tác vận chuyển tiếp tế đã góp phần quyết định vào thắng lợi trên chiến trường. Bảo đảm vật chất cho nhiệm vụ chiến đấu đòi hỏi phải huy động một khối lượng rất lớn về sức người sức của. Riêng trong bảo đảm chiến dịch phần lớn phải dựa vào dân, vào sự chi viện của hậu phương. Vì thế, công tác dân vận là nhân tố hết sức quan trọng bảo đảm cho thắng lợi của chiến dịch.

    Có thể thấy, thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ thể hiện sự đúng đắn của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, sức mạnh của cả dân tộc. Trong đó đường lối và quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dân vận là một thành công quan trọng, quyết định sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Việc vận động nhân dân cung cấp nhân lực, vật lực ở hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên, quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng.