Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phòng, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng

 

Phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt, phức tạp nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh giữ vững định hướng phát triển của đất nước theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị nảy sinh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường giáo dục chính trị trước hết nhằm nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, làm cho mỗi người nhận thức rõ âm mưu cơ bản, lâu dài của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó chúng thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tương là mục tiêu tiến công đột phá hàng đầu; nếu “diễn biến hòa bình” đạt được mục tiêu trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng chúng sẽ đạt được mục tiêu trên các lĩnh vực khác. Thông qua giáo dục tạo chuyển biến nhận thức, trách nhiệm và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân trong đấu tranh phòng, chống.

Tăng cường giáo dục, cần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là một trong những nguyên nhân làm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục những nhận thức mơ hồ, không thấy rõ tính chất nguy hại của các thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng.”[1] đang tạo ra nguy cơ, thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình… cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”[2]. Trên cơ sở đó làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc hơn, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của cách mạng hiện nay.

Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đó là: “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, chúng tập trung chống phá, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên của cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam; tiến hành các hoạt động chia rẽ nội bộ, xây dựng lực lượng ngầm và tổ chức đảng phái chính trị chống đối; cấu kết với bọn phản động trong nước tổ chức các “chiến dịch” xuyên tạc, đòi xét lại lịch sử nhằm hạ uy tín của Đảng, lôi kéo quần chúng nhân dân chống Đảng... Trên lĩnh vực tư tưởng, chúng tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và xã hội; tuyên truyền bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người; tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin… với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm. Trên cơ sở nâng cao nhận thức chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhãn quan chính trị, biết xem xét, phân tích đánh giá, nhận biết được âm mưu, thủ đoạn, thấy rõ tính chất nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Tăng cường giáo dục chính trị, phải coi trọng giáo dục nâng cao nhận thức chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng xây dựng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận sắc bén đấu tranh phản bác lại những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, nâng cao ý thức cảnh giác, đặc biệt là đề cao tinh thần trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống. Phải tạo được sự chuyển biến nhận thức trong tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên thấy rõ tính chất sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng phụ thuộc vào kết quả thực hiện phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.  Từ đó đề cao vai trò trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong tuyên truyền, giáo dục phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cho mọi người dân; coi trọng giáo dục phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho học sinh, sinh viên, bằng những hình thức, biện pháp phù hợp với từng đối tượng. Thông qua giáo dục khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự tôn và truyền thống dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận thức rõ đấu tranh phòng, chống“diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của các ngành, các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia  sự thật, Hà Nội, 2021, Tập 2, Tr. 223.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, Tr. 24.

TUYÊN TRUYỀN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm gần đây…

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG 30/4/1975 - CON ĐƯỜNG SAI LẦM, PHI LÝ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), các trang mạng xã hội phản động ở ngoài nước như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Vietline.TV, VOA, BBC News, Tin Tức Hoa Kỳ, Hoa Kỳ Channel..., lại như “nấm mọc sau cơn mưa”, đồng loạt đăng tải các bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc và phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân ta trong suốt hơn 20 năm kháng chiến chống Đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai chính quyền Ngụy Sài Gòn. Chúng luôn rêu rao rằng đó là “ngày quốc hận” khi Đảng Cộng sản Việt Nam cho quân Bắc Việt xâm chiếm miền Nam; “tháng 4 là tháng vo gạo bằng nước mắt”, “tháng 4 đen”; đây “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”;....(?!) Đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phi lý, mong muốn của những phần tử cơ hội, phản động và những thế hệ “lưu vong” tàn dư của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, những luận điệu ấy đã bị chính những giá trị lịch sử, ý nghĩa trọng đại của Chiến thắng 30/4/1975 và thành tựu qua hơn 35 năm đổi mới của đất nước ta phủ nhận, phản biện. Bởi trên thực tế, để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, đất nước ta đã phải kinh qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, có những thời điểm tình thế cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, triệu người như một “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để chiến thắng”,… của quân và dân ta và sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè Quốc tế, Tổ quốc ta đã thu về một mối bằng chiến thắng 30/4/1975 lừng lẫy năm Châu, chấn động địa cầu. Chiến thắng đó thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Chiến thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như một trong những trang sử chói lọi nhất, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước 47 năm qua và qua hơn 35 năm đổi mới, nhờ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế phát triển mạnh, quốc phòng an ninh được giữ vững, củng cố và tăng cường; uy tín, vị thế nước ta trên trường Quốc tế và khu vực ngày càng được khẳng định và năng lên. Việt Nam được cộng đồng Quốc tế ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp hiệu quả trong tham gia giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc. Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Điều đó minh chứng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần đoàn kết, yêu nước, yêu chuộng hòa bình, cố kết dân tộc và cộng đồng, Việt Nam đã và đang vươn lên, phát triển giàu đẹp, thịnh cường, khẳng định vị thế trên trường Quốc tế. Những thành quả đó sẽ là minh chứng sắc bén bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chiến thắng 30/4/1975 bất diệt, là niềm tin để đất nước ta tiếp tục thành công với con đường Xã hội Chủ nghĩa./.

NHỮNG CÂU NÓI ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM!

1. Tha thứ cho Mông Cổ là việc của phật tổ. Tiễn Mông Cổ đi gặp tiên tổ là của trẫm. (Phật Hoàng Trần Nhân Tông)

2. Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu thần trước đã. (Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn)

3. Không được để mất một thước núi, một tấc sông. (Vua Lê Thánh Tông)

4. Nơi nào ta mang quân tới nơi đó sẽ bị đánh tan tành. (Vua quang Trung)

5. Xin quan gia cho đánh, cho giặc mượn đường là mất nước. (Trần Quốc Toản)

6. Người Việt Nam thà chết chứ không làm nô lệ. (Hồ Chí Minh)

7. Dù phải đốt cháy cả dãy trường sơn cũng quyết giành cho được độc lập. (Hồ Chí Minh)

8. Không có gì quý hơn độc lập tự do. (Hồ Chí Minh)

9. Tao chỉ biết đứng không biết quỳ. (Võ Thị Sáu)

10. Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự của Việt Nam. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

11. Lò đã nóng thì củi tươi cũng cháy. (Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng)

12. Nước Nam ta ai cũng có thể bơi lặn như cá ở dưới biển. Ta là kẻ kém nhất. (Thủy thần Yết Kiêu)

13. Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp nguồn sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, lấy lại giang sơn dựng nền độc lập. (Triệu Thị Trinh)

14. Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì Bệ hạ đừng lo gì hết. (Thái sư Trần Thủ Độ)

15. Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc. (Trần Bình Trọng)

16. Thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo (Hồ Nguyên Trừng)

17. Bao giờ người tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh tây. (Nguyễn Trung Trực)

18. Người Mỹ có thể lên mặt trăng và trở về an toàn nhưng sang Việt Nam thì tôi không chắc. (Nguyễn Thị Bình)./.
Môi Trường ST.

ĐỪNG ĐỂ RƯỢU UỐNG MÌNH

 

Sau chuyến về quê dịp nghỉ lễ vừa rồi, bạn tôi kể: “Triền miên 4 ngày ở quê, gặp ai cũng mời rượu.

Xong đèo nhau đi hết nhà nọ sang nhà kia, cũng chẳng mũ nón (mũ bảo hiểm) gì nữa. Từ chối thì không tiện mà uống xong mệt hơn đi làm”. Không chỉ bạn tôi, mà dường như đã thành lệ, nghỉ lễ là dịp để mở tiệc chén chú, chén anh. Chả vậy mà sau mỗi kỳ nghỉ, tai nạn và vi phạm giao thông do sử dụng rượu bia được ghi nhận lại tăng cao.

Sau thời gian dài quán xá đóng cửa, hoạt động giao thông bị giới hạn vì Covid-19 đã hạn chế phần nào tình trạng này. Thế nhưng kể từ khi bình thường mới, thực tế nhức nhối này lại gia tăng trở lại. Thống kê của Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an), tính riêng trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, rồi dịp 30-4 và 1-5 vừa qua, một trong những lỗi bị xử lý nhiều nhất là vi phạm về nồng độ cồn.

Pháp luật đã có những hình thức xử phạt nặng với những người uống rượu bia khi tham gia giao thông nhằm ngăn ngừa thói quen lạm dụng rượu bia quay trở lại khi bình thường mới. Thậm chí, chính sách thuế cũng liệt rượu bia vào mặt hàng bị tính thuế tiêu thụ đặc biệt, với mức thuế suất liên tục tăng trong những năm qua. Thế nhưng, tỷ lệ sử dụng rượu bia ở Việt Nam vẫn không hề giảm. Theo thống kê, trong hơn 10 năm (khoảng năm 2005 đến 2017), lượng tiêu thụ rượu bia bình quân một người trong năm ở nước ta đã tăng hơn gấp đôi (từ 3,8 lít lên 8,3 lít/người/năm).

Trước thực trạng này, mới đây, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cũng đã tổ chức hội thảo đề xuất điều chỉnh chính sách thuế đối với ngành sản xuất đồ uống có cồn tại Việt Nam. Thế nhưng, dù chính sách thuế có khắc nghiệt bao nhiêu thì việc uống rượu bia cũng không giảm nếu không thay đổi từ gốc vấn đề: Văn hóa uống rượu bia. “Văn hóa” mời rượu, uống rượu bị lạm dụng và hiểu méo mó đã tạo nên những cuộc sát phạt nhau bằng rượu chứ không còn giá trị ban đầu là uống rượu để nâng cao sức khỏe, để kết giao, để làm đẹp thêm tình bạn. Những câu nói đại loại như “Nam vô tửu như cờ vô phong”, “Bạn không uống thì không phải bạn tôi”, “Anh uống thế là không nể mặt em”... khiến nhiều người vì nể nang mà thành ra để rượu... uống mình.

Thay đổi nhận thức, từ đó thay đổi thói quen, hành vi sử dụng rượu bia là cả một quá trình dài, cần nhiều thời gian để “thấm”. Ngoài những điều chỉnh về chính sách, cần sự chung tay của toàn xã hội. Trong đó, cách giáo dục trong gia đình, sự chân thành khuyên răn từ bạn bè... là "sức mạnh mềm" tạo nên văn hóa chuẩn mực khi uống rượu bia.

Thực tế đã cho thấy, uống rượu bia cũng có thể trở thành nét đẹp văn hóa nếu mỗi người trong cuộc đều có cách ứng xử và sử dụng rượu bia phù hợp. Ở Bắc Giang đã có những cơ sở ăn uống chỉ chấp nhận dùng rượu làng Vân qua kiểm định chất lượng. Đây là một cách truyền bá danh tiếng loại mỹ tửu của địa phương tới du khách. Văn hóa thưởng thức rượu bia với nhiều nước trên thế giới khi trở thành nét văn hóa thì nó chính là cách quảng bá hình ảnh đất nước, trở thành ngành kiếm ra tiền khi kết hợp với du lịch. Uống rượu đúng cách là nét văn hóa, nhưng để rượu uống mình là tự hại chính mình.

-Nguồn: Quân đội nhân dân-

TẠM DỪNG LÀ ĐÚNG

 

Ngày 7/5, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội đã yêu cầu tạm dừng Triển lãm Hội hoạ Điện Biện Phủ (dự kiến khai mạc chiều 7/5/2022 tại Hà Nội) để thẩm định một số bức tranh trong triển lãm. Theo báo Tuổi trẻ, một trong các nội dung thẩm định có liên quan đến bức tranh dưới đây, do có những ý kiến cho rằng bức tranh chính của triển lãm Điện Biên Phủ vẽ "lá cờ bị rách quá" và anh bộ đội không đẹp, "không đúng về giải phẫu".

Sau quyết định trên, một số nghệ sĩ cho rằng Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội đã quá cứng nhắc, rập khuôn và không hiểu hết được giá trị nghệ thuật của bức tranh, có anh nhà báo còn phát biểu "thật quá kinh ngạc vì mức độ tối tăm của một số người!".

Còn phía cá nhân, với tư cách là cựu chiến binh, tôi nghĩ rằng, quyết định của Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội là hợp lý. Trước hết, về hình ảnh người lính trong bức tranh, thần thái toát lên là gì? Có nét nào gợi lên sự bất khuất, kiên định, dũng cảm của người lính không, hay chỉ gây tiếng cười cho người xem (nhiều người so sanh hình ảnh người lính với hình ảnh Zoobie trong phim phương Tây). Kể cả minh tinh điện ảnh thì trong 1 loạt các khoảnh khắc vẫn có những khung hình rất xấu. Nhưng khi đã vẽ ra, thì việc lựa chọn khung hình nào để vẽ sẽ là đại diện thần thái cho cả bức ảnh, huống gì đây là khuôn mặt, thần thái của cả 1 chiến dịch. Người chiến sỹ có thể gầy gò, ốm yếu, nhưng ánh mắt, khuôn mặt phải toát lên thần thái. Đây là điều mà người hoạ sỹ chưa làm được.

Về hình ảnh lá cờ, đồng ý rằng, trong chiến tranh, lá cờ có thể bị rách nát, bị đạn bắn hay ám mùi thuốc súng. Nhưng rách theo kiểu tan nát như thế này thì thực sự là quá lố và phi thực tế rồi. Video cắm cờ trên hầm Đờ Cát là được dàn dựng sau này, nhưng hãy nhìn video cờ quân Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập hay hình ảnh người lính Hồng quân cắm cờ trên nóc toà nhà Quốc hội Đức năm 1945 để xem liệu sự sáng tạo của người nghệ sĩ có quá lố bịch hay không.

Nghệ thuật có thể sáng tạo, có thể đi theo hướng “hiện thực hoá”. Nhưng không có nghĩa là anh sáng tạo một cách lố lăng, phi thực tế, nhất là những tác phẩm về lịch sử. Chúng ta không tô hồng, không hình tượng hoá lịch sử, nhưng xin hãy TÔN TRỌNG LỊCH SỬ.

Lê Dung Anh

KHÔNG THỂ BÓP MÉO SỰ THẬT VỀ NGÀY CHIẾN THẮNG 9/5

 

Vào ngày 9-5 hằng năm, nước Nga kỷ niệm chiến thắng của nhân dân Liên Xô trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945). Ngày lễ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi những sự kiện của những năm tháng xa xưa ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm không chỉ trong lịch sử nước Nga mà còn trong ký ức của mọi người dân, của mỗi gia đình cụ thể.

Vào ngày này, chúng ta tôn vinh những chiến sĩ-những người chiến thắng đã không tiếc thân mình trên chiến trường, những người lao động ở hậu phương đã tôi rèn chiến thắng trong nhà máy và hầm mỏ, những người lái máy gặt đập. Chúng ta tưởng nhớ những người đã hy sinh và mất tích.

Đối với những người Nga và các dân tộc thuộc Liên Xô, ngày 9-5 vẫn là một trong những ngày kỷ niệm quan trọng, tượng trưng cho sự đóng góp chung vào cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít.

Thật đáng tiếc, trong những năm gần đây, ở một số quốc gia, vì lợi ích của tình hình chính trị mà người ta nghi ngờ về sự đóng góp quyết định của Liên Xô nhằm giải phóng thế giới khỏi “bệnh dịch hạch nâu”. Họ kiên trì theo đuổi luận điểm về trách nhiệm ngang nhau của Liên Xô và Đức Quốc xã vì đã khơi mào cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai và những hậu quả khủng khiếp của nó.

Tất nhiên, những khẳng định như vậy có thể minh chứng cho sự thiếu hiểu biết các sự thật lịch sử, hoặc ý định bóp méo chúng.

Vì vậy, câu hỏi được đặt ra là: Tại sao Đức, một quốc gia châu Âu có quy mô trung bình lại liều lĩnh tấn công Liên Xô-quốc gia vượt xa họ về lãnh thổ và dân số? Đâu là nguyên nhân trong quyết định tương ứng của giới lãnh đạo phát xít Đức?

Điều quan trọng cần hiểu là vào năm 1941, quân đội Đức Quốc xã đã kiểm soát hầu như toàn bộ lục địa châu Âu và trong khuôn khổ khái niệm “mở rộng không gian sống cho quốc gia Đức”, giới lãnh đạo Đệ tam Đế chế đã ấp ủ kế hoạch bành trướng hơn nữa.

Tiềm lực công nghiệp đáng kể của các quốc gia bị chiếm đóng đã được huy động cho nhu cầu của quân đội. Vào thời điểm đó, quân đội Đức Quốc xã (Wehrmacht) có lẽ là đội quân tốt nhất, có kinh nghiệm tác chiến và đội ngũ chỉ huy chuyên nghiệp cao. Trong xã hội Đức, tư tưởng phục thù trỗi dậy rất mạnh mẽ sau thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự ủng hộ những ý định xâm lược của giới lãnh đạo Đức Quốc xã.

Về phần mình, Liên Xô trên thực tế chỉ mới bắt đầu vào con đường phát triển công nghiệp. Đất nước buộc phải khắc phục hậu quả tàn khốc của cuộc nội chiến, kéo theo đó là những thiệt hại về vật chất và con người, thiếu hụt nhân lực có trình độ và năng lực sản xuất. Về mặt công nghệ, các quốc gia thuộc thế giới phương Tây đã đi trước rất xa. Ở một số lĩnh vực, Liên Xô tụt hậu ước tính tới 50 năm và cần rút ngắn khoảng cách này trong thời gian ngắn.

Với mục đích đó, Liên Xô đã triển khai xây dựng quy mô lớn các nhà máy và xí nghiệp, đường sắt và đường bộ, thăm dò và phát triển các mỏ khoáng sản, mua và triển khai các thiết bị hiện đại, đào tạo hàng loạt kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật. Nhận thấy nguy cơ xảy ra va chạm với Đức, Ban lãnh đạo Liên Xô đã nhanh chóng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hy vọng có thể tránh được chiến tranh bằng cách thực hiện các bước đi mạnh mẽ trên mặt trận chính sách đối ngoại. Tuy nhiên, những nỗ lực thành lập liên minh chống Adolf Hitler trong giai đoạn trước chiến tranh đã không thành công vì ngoại giao phương Tây đã làm mọi cách để hướng nguyện vọng quân sự của Adolf Hitler sang phương Đông.

Ngày 22-6-1941, quân đội Đức Quốc xã đã xâm lược lãnh thổ Liên Xô. Kế hoạch “Ost” được phát triển ở Berlin, dự tính đánh bại nhanh chóng Hồng quân, hủy hoại vật chất, phần lớn dân cư và biến những người còn lại thành nô lệ để phục vụ nhu cầu của “quốc gia Đức vĩ đại”. Nhân dân Liên Xô không thể lường trước được hậu quả khủng khiếp của cuộc chiến nếu nó được tiến hành. Nhưng vấn đề thực tế khi ấy là sự sống còn. Đó là lý do tại sao tất cả nguồn lực có thể đã được huy động cho cuộc chiến dưới khẩu hiệu nổi tiếng: “Tất cả cho mặt trận, tất cả cho chiến thắng!”.

Trong 3 năm dài, Liên Xô đã đơn độc chống lại cỗ máy chiến tranh khổng lồ của Wehrmacht. Và chỉ khi có triển vọng về thất bại không thể tránh khỏi của Đức Quốc xã mới thúc đẩy các đồng minh phương Tây mở mặt trận thứ hai. Sau đó là chiến thắng năm 1945 và sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa thế giới ở châu Á và châu Phi, dẫn đến sự xuất hiện của các quốc gia độc lập mới trên bản đồ thế giới và mở ra một trang mới trong lịch sử nhân loại.

77 năm đã trôi qua kể từ khi hệ tư tưởng của chủ nghĩa quốc xã bị lật đổ, nhưng nó không biến mất. Các biểu hiện của nó ngày càng trở nên dễ nhận thấy ở một số quốc gia. Điều này được thể hiện qua việc cố ý viết lại lịch sử, bóp méo sự thật về các sự kiện trong những năm trước đây, xúc phạm và phá hủy các tượng đài kỷ niệm những người lính Xô viết đã hy sinh trong các trận chiến giải phóng châu Âu, đồng thời tôn vinh các cựu binh SS (cựu binh của Đức Quốc xã) và những người đã cộng tác với Đức Quốc xã. Đây là những điều tuyệt đối không thể chấp nhận được, cho dù đó là lý lẽ biện minh nào đi chăng nữa.

Nước Nga dự định tiếp tục lưu giữ ký ức về chiến công của nhân dân Liên Xô, về đóng góp quyết định của họ trong cuộc chiến chống “bệnh dịch hạch nâu” và những hy sinh to lớn mà Liên Xô phải gánh chịu trong cuộc chiến này.

Điều quan trọng là không cho phép lặp lại các tình huống dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai và cố gắng tránh những thảm kịch tương tự trong tương lai. Chừng nào ký ức về chiến thắng năm 1945 còn sống, nhân loại còn có hy vọng không lặp lại những sai lầm của quá khứ.

-Nguồn: Quân đội nhân dân-

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

 

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn khoa học, hiện thực cách mạng. Người ta thường cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động thì cũng có thể nói nhà nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn hành động - hành động nhằm giải phóng con người.

Yêu thương và quý trọng con người là một trong những đức tính đặc sắc nhất của đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách “Học tập đạo đức Hồ Chí Minh” (*), đồng chí Võ Nguyên Giáp có bài viết nêu rõ: “Nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh,  chúng ta thấy rất rõ ở Người chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, truyền thống văn hóa phương Đông, phương Tây và sự phát triển chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác. Sự tổng hợp đó hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh - hiện thân cao nhất của chủ nghĩa nhân văn hiện thực của người Việt Nam trong thời đại cách mạng giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa”.

Đồng chí còn viết cụ thể: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở tấm lòng thương yêu con người, thương yêu nhân dân hết sức rộng lớn, sâu sắc. Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ và bị áp bức”.

Cùng với ý ấy, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: Như phần nhiều các nhà hiền triết cổ kim Đông Tây, thương người là một đức tính lớn của Cụ Hồ, nó quán triệt mọi lời nói, việc làm của Cụ từ ngày Cụ hoạt động cách mạng... Suốt sáu mươi năm, một lòng thương người, vì người, một lòng nhân ái.

Giáo sư đặt câu hỏi: “Vậy nếu thương người là nhân ái thì nhân ái của Cụ Hồ có gì khác với nhân ái Khổng, Mặc chăng hay chỉ là một?”. Và tự trả lời: “Có phần khác không nhỏ”. Thương người (của Cụ Hồ) là biết xót xa đến thân phận những người cùng khổ nhất trong số những người cùng khổ,... cũng là thương các dân tộc mang xiềng xích thực dân. Thương không phải là tỏ mối thông cảm từ trên và từ ngoài mà tìm cách làm cho người lao khổ và dân tộc bị áp bức tự mình cởi ách ngựa trâu, chứ không phải bằng cách mòn bánh xe, móng ngựa để du thuyết các vương hầu. Mỗi thời đại một khác. Đi vào cách mạng, Người đặt vấn đề tự do và vấn đề hạnh phúc đi đôi. Có người Mỹ nói Cụ Hồ vừa là Washington vừa là Lincoln. Đúng là như vậy. Mà Cụ Hồ còn đi xa hơn nữa trên hướng nhân ái thiết thực.

Vẫn theo lời đồng chí Võ Nguyên Giáp: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn khoa học, hiện thực cách mạng. Người ta thường cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động thì cũng có thể nói nhà nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn hành động - hành động nhằm giải phóng con người.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc cũng là người cộng sự gần gũi của Bác Hồ - đã viết rất ân tình: Những tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch là những tình cảm lớn. Bác Hồ là “muôn vàn tình thương yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình thương yêu đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không sót một ai. Thương yêu và quan tâm chăm sóc mọi tầng lớp đồng bào, trai gái, già trẻ, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài. Bác Hồ đặc biệt ân cần chăm lo các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân, là những người chiến đấu quên mình trên tiền tuyến; các cháu thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, là lớp người thừa kế sự nghiệp cách mạng; chị em phụ nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang trong sản xuất và chiến đấu; đồng bào các dân tộc ít người, đã và sẽ tiếp tục có cống hiến cao quý vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong lòng Bác, đồng bào miền Nam, thành đồng Tổ quốc, chiếm một vị trí đặc biệt,...

Đã có biết bao câu chuyện sống động về tư tưởng nhân văn, lòng thương yêu con người và đức hy sinh cao cả của Bác, kể sao cho xiết.

Cả cuộc đời làm cách mạng, Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân tộc ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bác “ăn không ngon ngủ không yên khi đồng bào còn chịu khổ”.

Bác nêu tấm gương kính già, yêu trẻ. Kính già đến mức gửi thư chúc một phụ lão cứu quốc ở tuổi thượng thọ đã không tổ chức lễ mừng mà đem số tiền 500 đồng tiết kiệm được quyên vào Quỹ Kháng chiến, Hồ Chủ tịch tự xưng mình là cháu: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ và trân trọng chúc cụ sống lâu và hoàn toàn mạnh khỏe”. Yêu trẻ đến mức Tết Trung thu nào cũng có lời thơ chúc. “Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng”. Và các cháu thì hát vang: “Không ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng chúng em nhi đồng”.

Với đồng bào các dân tộc, Bác từng nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê-đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.

Với đồng bào các tôn giáo, bao giờ Bác cũng nêu lên cái tinh hoa của giáo lý. Với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Bác viết: “Kinh thánh có câu: Ý dân là ý Chúa. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng.” Với đồng bào theo đạo Phật, Bác viết: “Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy là: Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” (Đem lại lợi ích và vui sướng cho mọi người. Quên mình vì người khác).

Với những người lầm đường, lạc lối, Người cũng mở lượng khoan dung: “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Phải thực hành chữ BÁC ÁI”.

Nhà thơ Tố Hữu nói tự đáy lòng mình:

Người là Cha, là Bác, là Anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ

Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già.

Và:

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người!

Tư tưởng nhân văn hiện thực, tình yêu thương bao la và cuộc sống bình dị của Bác có sức cảm hóa lớn. Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng cao đẹp của một nhân cách Con Người tầm cỡ thế giới.

Nhà báo Jean Roux trong báo Chiến đấu (Pháp) viết: “Từ ba mươi năm nay, trong số các nhân vật mà tôi gặp được, chắc chắn Cụ Hồ là đáng khâm phục nhất. Cụ là người hoàn toàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì Cụ đã kết hợp đến mức nhuần nhuyễn phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời, tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người”.

Nhà báo Montaron trên báo Bằng chứng Thiên chúa giáo, cũng viết: “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ lần đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói nhằm thèm khát một cuộc sống cho ra người… Cụ đã đem hết sức mình để mang lại cơm ăn nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực cho những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ”.

Burchett, nhà báo Australia nổi tiếng, nhận xét: Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh… Người ta không thể trở thành một Hồ Chí Minh nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một điều gì làm cho mình tốt hơn.

Và thật cảm động, Thủ tướng Jawaharlal Nehru trong cuộc tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Ấn Độ (năm 1958) đã nói một cách chân tình: “Chúng ta đã được tiếp xúc với một người. Người đó là một phần của lịch sử châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta đã gặp một mảng lịch sử của lịch sử. Do đó, có lẽ chúng ta không chỉ được tăng thêm về suy nghĩ mà còn được tăng thêm cả về tầm vóc”.

Sẽ không thừa nếu nhắc lại: Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức UNESCO đã vinh danh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.

-Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo-

NGHĨA NẶNG TÌNH SÂU

 

Năm 1957, Bác Hồ trở về thăm quê hương. Từ xa trên con đường đất đỏ, mọi người nhìn thấy xe Bác đến vừa vỗ tay hoan hô vừa reo hò rộn rã.

Xe đến, Bác xuống xe vẫy chào bà con đến đón. Các cháu thiếu nhi ùa ra vây quanh Bác.

Các đồng chí lãnh đạo địa phương định đưa Bác vào nhà khách trước, nhưng Bác đã ngăn lại và nói:

- Tôi xa nhà, xa quê đã lâu, nay mới có dịp về, tôi phải về nhà tôi trước.

Nói rồi Bác đi thẳng về ngôi nhà quê nội. Bác dừng lại trước ngõ mới làm, đưa mắt nhìn bao quát khu vườn quen thuộc một lượt, rồi Bác đi men theo hàng rào râm bụt. 

Bác bảo:

- Trước đây đường vào nhà tôi đi theo ngõ này.

Vào đến sân, Bác nhìn ngôi nhà tranh quen thuộc của gia đình đã được đồng bào địa phương dựng lại trên nền đất cũ và nói:

- Tôi nhớ chỗ này còn có hàng cây, nay đâu rồi các chú?

Sau đó, Bác đi ra cửa sau chỉ vào chỗ hàng rào nói:

- Nhà tôi trước có cây ổi ngọt ở đây quả sai lắm.

Khi ra ngõ gặp một cụ già, Bác nhìn cụ già rất cảm động và hỏi:

- Có phải ông Điền không?

Bác đi nhanh tới cụ già rồi nắm lấy tay cụ hỏi bằng một giọng ấm áp;

- Anh Điền, anh vẫn khoẻ chứ?

Bác nói chuyện với cụ Điền một hồi lâu, rồi sau đó đi sang quê ngoại.

Đứng giữa ngôi nhà tranh đơn sơ, nơi Bác đã sinh ra và lớn lên, Bác thân mật trò chuyện cùng bà con quê nhà.

- Tôi xa quê hương đã năm mươi năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng, tủi tủi. Nhưng tôi không buồn, không tủi. Tôi rất vui. Vui vì khi tôi ra đi nhân dân còn là nô lệ, bọn đế quốc phong kiến đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do. Nói rồi Bác đọc hai câu thơ:

Quê hương nghĩa nặng tình sâu

Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.

PHẠM MINH VŨ - KẺ ĐIÊN CUỒNG XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA Trong nửa đầu năm 2022, các cơ sở đoàn trên cả nước hân hoan tổ chức Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hướng tới Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 - 2027. Theo đó, từ số phiếu tín nhiệm của các đại biểu tham dự đại hội, ban chấp hành đoàn các cấp từng bước được hoàn thiện, gồm những đoàn viên, thanh niên ưu tú, vừa có tài, vừa có đức. Để kiện toàn bộ máy tổ chức của tỉnh đoàn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và được sự nhất trí của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn đã giới thiệu và bầu bổ sung Phó Bí thư Tỉnh Đoàn khóa XVIII. Tại hội nghị, Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn đã bầu đồng chí Lê Ngọc Ánh, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tổ chức - Kiểm tra Tỉnh Đoàn giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh Đoàn Thanh Hoá. Được biết, chị Lê Ngọc Ánh, SN 1994, từng giữ chức Trưởng ban Tổ chức - Kiểm tra Tỉnh đoàn Thanh Hóa. Trước đó, chị Ánh từng có thời gian công tác tại Phòng Tài chính - Kế hoạch TP Sầm Sơn, giữa năm 2017 chuyển về công tác tại Tỉnh đoàn Thanh Hóa. Mặc dù tuổi đời còn trẻ nhưng đồng chí cũng đã tích cực, năng nổ trong các phong trào, sớm thể hiện được vai trò thủ lĩnh trong các hoạt động Đoàn. Tuy nhiên, mới đây, Phạm Minh Vũ đã đăng tải bài viết xuyên tạc về công tác cán bộ của tỉnh đoàn Thanh Hóa, xúc phạm danh dự, uy tín của chị Lê Ngọc Ánh và gia đình, từ đó chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Cụ thể, Phạm Minh Vũ cho rằng: “Gia đình của em đẩy Dân oan Thanh Hoá vào cảnh lầm than, màn trời chiếu đất, để đổi lại em có vị trí như hôm nay. Đây là một bi kịch của đất nước chúng ta. Khi con vua lại được làm vua. Chắc chắn rằng, với tuổi và vị trí (bệ phóng) như thế sắp tới đây em sẽ leo lên cao và tương lai sẽ lãnh đạo đất nước”. Đây hoàn toàn là sự bịa đặt không có căn cứ cùa Vũ. Phạm Minh Vũ là một trong những thành viên tích cực của “Hội anh em dân chủ” – một tổ chức hội tụ những kẻ bán nước cầu vinh, thường xuyên có những hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Cũng giống như những thành viên trong hội, Vũ thường xuyên đăng tải lên trang facebook cá nhân của mình những bài viết xuyên tạc trắng trợn về các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ danh dự, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cán bộ, đảng viên. Trong bài viết trên, Vũ chỉ đưa ra những luận điều hết sức ngông cuồng mà chẳng có một bằng chứng chứng minh nào. Việc chị Lê Ngọc Ánh được bổ nhiệm vào chức vụ Phó Bí thư tỉnh đoàn Thanh Hóa không phải là ý kiến của một cá nhân mà là sự nhất trí của cả một tập thể, được bầu thông qua lá phiếu một cách khách quan. Tại khoản 2 điều 9 thuộc quy chế cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có quy định về Tiêu chuẩn Bí thư, Phó Bí thư, Uỷ viên Ban Thường vụ Đoàn cấp tỉnh là: a) Nắm vững và có khả năng vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tácđoàn; có kinh nghiệm thực tiễn, năng lực đề xuất, tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và của đoàn tại địa phương; có phong cách lãnh đạo tốt. b) Trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên. c) Giữ chức vụ lần đầu không quá 33 tuổi và giữ chức vụ không quá 38 tuổi. Chị Ánh hoàn toàn đủ điều kiện để được bổ nhiệm vào chức vụ trên. Ngoài ra, Phạm Minh Vũ cho rằng “Tỉnh đoàn là một vị trí được xem là một bệ phóng cho tương lai. Xuất thân tại đây không cần học hành gì. Nhưng sẽ là những người có quyết định quan trọng cho tương lai quốc gia”. Vũ đang cố tình công kích vào công tác nhân sự và tổ chức hoạt động của tỉnh đoàn Thanh Hóa nói riêng và các tổ chức Đoàn nói chung. Để có thể lãnh đạo đoàn viên, thanh niên trong tỉnh tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội thì cần một người không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm trong mà còn phải có trình độ học vấn cao, có hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác nhau. Người dân cần nhận thức được bản chất thực sự của Phạm Minh Vũ và các đối tượng phản động. Chúng muốn công kích vào các cán bộ Đoàn và tổ chức Đoàn ở cơ sở trước thềm Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc nhiệm kì 2022 - 2027 sắp diễn ra trong thời gian tới. Đặc biệt, phát huy tinh thần xung kích của tuổi trẻ, thanh niên cả nước cần nâng cao bản lĩnh chính trị, lên án mạnh mẽ những bài viết có luận điệu xuyên tạc như trên./.

Hệ lụy khôn lường từ tình trạng lười học lý luận chính trị

Khi đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị sẽ dẫn đến hàng loạt hệ lụy đối với đảng cầm quyền. Bởi thế, việc học tập, trang bị lý luận chính trị (LLCT), trau dồi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc nghị quyết của Đảng có vai trò rất quan trọng.

Nó giúp chính cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, biết dấn thân để tìm ra giải pháp tối ưu trong công việc; có bản lĩnh vững vàng để vượt qua khó khăn, những cám dỗ vật chất trong cuộc sống.

Không có lý luận như nhắm mắt mà đi

Đảng ta là đảng lãnh đạo, cầm quyền. Từ điển tiếng Việt giải thích: “Lãnh đạo là dẫn dắt tổ chức phong trào theo đường lối cụ thể”. Hay: Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội nhằm tối đa hóa nỗ lực của người khác để đạt được mục tiêu. Tựu trung, người lãnh đạo phải là người dẫn đường, người mở đường. Đảng ta cũng không có mục đích nào khác là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Mục đích đó cũng là bản chất, là đặc trưng của chế độ được xây dựng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng cũng được xây dựng trên nền tảng lý luận đó vận dụng vào thực tiễn của đất nước. Điều đương nhiên, nếu CB, ĐV không nắm được LLCT, không hiểu biết về nền tảng tư tưởng ấy thì họ không thể lãnh đạo được ai. Việc lười học LLCT có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, đó là đảng viên mất phương hướng, rất dễ rơi vào tình trạng thực hiện sai đường lối của Đảng; nói và viết không đúng nghị quyết của Đảng, vi phạm nguyên tắc Đảng; dễ bị kẻ thù lôi kéo, mua chuộc. Một hậu quả nữa của tình trạng “mù lý luận” đó là làm bừa, làm ẩu, bất chấp quy luật khách quan dẫn đến thất bại.

Vì không học LLCT, không hiểu nền tảng tư tưởng của Đảng nên chính đảng viên cũng không có khả năng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Trong một tập thể, nếu các đảng viên nắm chắc lý luận, hiểu nguyên lý, nguyên tắc của Đảng thì người đứng đầu rất khó có thể làm sai, khó có thể tự tung tự tác, hành động vô nguyên tắc. Hàng loạt CB, ĐV bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ủy ban kiểm tra các cấp xử lý kỷ luật thời gian qua đã chỉ ra nguyên nhân, đó là tình trạng thực hiện không đúng nghị quyết của tổ chức đảng, vi phạm nguyên tắc Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây thực sự là vấn đề lớn của Đảng.

Ở một khía cạnh khác, mục tiêu xuyên suốt mà các thế lực thù địch, phản động đang thực hiện là nhằm xóa bỏ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để làm điều đó, chúng không loại trừ bất kỳ thủ đoạn nào nhằm tấn công, xuyên tạc, bịa đặt hòng làm sụp đổ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng muốn làm cho hệ tư tưởng ấy trở nên giáo điều, xa lạ, không còn sức sống. Trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng ấy, vũ khí của những người cộng sản chính là LLCT sắc bén. Nếu mỗi CB, ĐV, những người được xem là đầu tàu để bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng lại lười học LLCT thì làm sao có thể bảo vệ được? Không có kiến thức, không có bản lĩnh thì không thể giữ vững được trận địa tư tưởng, thành quả cách mạng, những giá trị cốt lõi của văn hóa Đảng. Dù có trung thành bao nhiêu nhưng không hiểu bản chất, không có lý luận soi đường thì cũng chỉ như một người đi trong đêm tối. Sự lầm đường lạc lối trong lãnh đạo không khác gì sự phá hoại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Cách mạng luôn vận động biến đổi không ngừng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc còn nhiều thử thách, cam go. Nếu không có lý luận, nếu lý luận không trở thành lực lượng vật chất thấm sâu trong mỗi CB, ĐV thì sự nghiệp ấy khó có thể thành công. PGS, TS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, luận giải: Nền tảng tư tưởng chính là phương tiện, là ánh sáng, là trí tuệ soi đường cho Đảng lãnh đạo đưa đất nước đi lên.

Sức sống trường tồn của lý luận mác-xít

Lịch sử hơn 100 năm từ khi đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ đến nay đã hoàn toàn đủ cơ sở cả về lý luận và thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn, tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn và sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, dân tộc ta khi đó không thiếu những anh hùng, không thiếu những cuộc khởi nghĩa, phong trào cách mạng với mong muốn giải phóng dân tộc. Nhưng tựu trung, tất cả đều thất bại vì không có đường lối đúng, không có lý luận dẫn đường. Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh tiếp cận, thấy được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu, có được hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa vào cách mạng Việt Nam, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo dân tộc thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Nhưng đó là một hành trình tiếp thu lý luận, đưa lý luận vào thực tiễn không hề đơn giản, không hề có sẵn. Người chiến sĩ cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc đã phải nếm mật nằm gai, tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những đọa đầy đau khổ nhất của kiếp cần lao, tiếp cận được với ánh sáng chân trời từ Chủ nghĩa Mác-Lênin mới đưa lại sự thành công đó. Chính Mác, Ăngghen, Lênin, những chiến sĩ cộng sản của phong trào công nhân quốc tế đã phải lăn lộn, chịu biết bao khổ cực trong phong trào công nhân, trong thảm cảnh bị đàn áp, bóc lột đến tận xương, tận tủy mới đúc rút được hệ tư tưởng lý luận có ý nghĩa vạch thời đại ấy. Nó hoàn toàn không là lý thuyết sách vở, kinh viện mà thấm đẫm hiện thực. Và luận giải như Các Mác, lý luận ấy đã biến thành lực lượng vật chất chứ không chỉ là lý luận đơn thuần. Mác đã rút ra rằng: "Lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bởi lực lượng vật chất, nhưng một khi lý luận đã được thấm sâu vào quần chúng thì nó sẽ trở thành lực lượng vật chất vô địch".

Chỉ những người không hiểu biết thấu đáo mới tìm cách đổ lỗi, cho rằng hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là do Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm, là không phù hợp, rồi vin vào đó để cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Thực tế không phải như vậy. Chính điều này đã chứng minh, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản, đảng viên ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã coi thường lý luận Mác-Lênin, tiếp thu giáo điều, nửa vời, xa rời những nguyên tắc căn bản của lý luận Mác-Lênin, nhất là những nguyên tắc lịch sử-cụ thể, nguyên tắc thực tiễn và sự thiếu thích ứng với những thay đổi thường xuyên của đời sống chính trị-xã hội đã dẫn đến sự sụp đổ đau đớn đó. Những lãnh đạo, đảng viên làm băng hoại một chế độ tốt đẹp ấy sẽ luôn bị lịch sử điểm tên. Một mô hình nhà nước cụ thể không toàn vẹn do áp dụng không đúng lý luận mác-xít về nhà nước, về xây dựng chế độ, về đảng cầm quyền chứ không phải là sự sai lầm của một học thuyết khoa học, không phải sai lầm của lý luận mác-xít. Cũng chính sự kiện đó đã là lời cảnh tỉnh xương máu cho tất cả chúng ta. Những CB, ĐV hôm nay trong sự nghiệp bảo vệ thành trì XHCN nếu coi thường, xa rời bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nếu vận dụng nó một cách máy móc, nếu không chịu tìm tòi, nghiên cứu, đúc rút, tổng kết và phát triển hệ lý luận ấy cho phù hợp với sự vận động không ngừng của thực tiễn thì rất dễ dẫn đến phải trả giá bằng sự thất bại. Cho đến hôm nay, các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Những CB, ĐV chân chính, những người dân đã được hưởng thành quả, điều tốt đẹp của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vẫn luôn tiếc nuối, hoài niệm về một xã hội tốt đẹp, thực sự vì con người. Họ đã cảm nhận rõ hơn ai hết những giá trị nhân văn về quyền con người, về sự đáp ứng các nhu cầu chính đáng cả vật chất, tinh thần mà chế độ XHCN mang lại. Sức sống của lý luận mác-xít vẫn đang chứng minh tính cách mạng và khoa học, tính thời đại và tương lai ở các nước XHCN đang theo hệ lý luận, tư tưởng ấy. Đó là các nước như: Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... PGS, TS Trần Đình Huỳnh cho rằng, phải luôn luôn bảo vệ “đầu não” và “trái tim” của Đảng theo tư tưởng của Các Mác. “Đầu não” ở đây được hiểu chính là lý luận, là ánh sáng chỉ đường của Đảng; còn bảo vệ “trái tim” của Đảng chính là giữ cho mỗi đảng viên, mỗi người làm cách mạng luôn giữ được sự nhiệt tình, tâm huyết, giữ được động cơ vì cách mạng, nhân dân.

Nhân loại tiến bộ luôn ghi nhận đóng góp vĩ đại của Các Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh... những người đã đặt nền tảng và vận dụng nó vào trong thực tiễn cho sự ra đời của một chế độ nhà nước XHCN tiến bộ, thực sự vì con người. Ngày nay, các nhà lý luận Mác-xít vẫn được đánh giá là những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử loài người.

KẺ "NỐI GIÁO" CHO QUÂN PHÁP TRỞ LẠI XÂM LƯỢC VIỆT NAM!

     Lợi dụng việc vào giải giáp quân Nhật ở miền Nam Việt Nam, quân đội Anh đã ký hiệp ước với quân đội Pháp, bí mật hỗ trợ Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai.

Từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, tại hội nghị ở Potsdam (Đức), những người đứng đầu ba cường quốc Liên Xô, Anh và Mỹ đã thảo luận và thông qua nhiều quyết định quan trọng liên quan đến Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có vấn đề Đông Dương. Theo quyết định của hội nghị, quân đội Trung Hoa dân quốc (Quốc dân đảng) sẽ vào giải giáp quân Nhật tại Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra; từ vĩ tuyến 16 trở vào do Bộ tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh khu vực Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Đô đốc Louis Mountbatten (Anh) đảm nhiệm. Ngày 13-8-1945, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Anh yêu cầu Mountbatten nhanh chóng triển khai lực lượng để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tổng hành dinh đạo quân Phương Nam của Nhật tại Sài Gòn; thỏa thuận với Thống chế Terauchi Hisaichi về việc Nhật đầu hàng, sau đó tiến hành giải giáp và hồi hương quân Nhật; phóng thích và hồi hương toàn bộ tù binh Đồng minh bị bắt và giam giữ tại miền Nam Việt Nam.
Chính quyền của Thủ tướng Anh Clement Attlee lúc bấy giờ cho rằng, thắng lợi của cách mạng ba nước Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai là mối đe dọa trực tiếp đối với nền thống trị của thực dân Anh ở các nước thuộc địa, nhất là ở Malaysia, Myanmar, Ấn Độ, Sri Lanka... Nhân dân các nước này có thể noi theo Việt Nam đứng lên đấu tranh lật đổ chính quyền thực dân Anh. Điều này làm cho chính quyền Anh lo ngại, do đó, ngày 24-8-1945, Anh đã ký với Pháp hiệp ước công nhận "chủ quyền" của Pháp ở Đông Dương. Thực chất là thỏa thuận Anh ủng hộ và tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại thuộc địa cũ ở Đông Dương. Hơn nữa, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cả Anh và Pháp đều bị Mỹ chèn ép, tìm cách gạt dần ảnh hưởng ra khỏi các thuộc địa cũ, nên hai nước này đã thống nhất với nhau tìm cách đối phó với Mỹ, để duy trì hệ thống thuộc địa cũ của mình. Vì vậy, việc được phân công vào giải giáp quân Nhật ở Đông Dương là một cơ hội tốt để Anh và Pháp thực hiện âm mưu đen tối của mình. Ngày 28-8-1945, Thiếu tướng Douglas Gracey, Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 20 liên quân Anh-Ấn, đang hoạt động trên chiến trường Myanmar, nhận được lệnh điều động sang miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Gracey được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy lực lượng quân Anh tại Đông Dương và bí mật nhận chỉ thị từ Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Anh về việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho quân Pháp tiến công xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Douglas Gracey sinh ngày 3-9-1894 tại thành phố Muzaffarnagar, thuộc Anh trước đây và nay thuộc bang Uttar Pradesh, miền Bắc Ấn Độ. Gracey tốt nghiệp trường Blundell và Học viện Quân sự Hoàng gia Sandhurst (Anh). Năm 1915, Gracey gia nhập Lục quân Ấn Độ; trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, hoạt động trên chiến trường nước Pháp; năm 1938, được phong hàm Chuẩn tướng Bộ Tham mưu Tây Ấn; từ năm 1942 đến 1945 là Thiếu tướng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 20 Ấn Độ tại Myanmar; từ năm 1945 đến 1946 là Tổng chỉ huy lực lượng quân Anh tại Đông Dương.
Ngày 13-9-1945, Gracey đã cùng tiểu đoàn Gurkha (bao gồm những binh lính thiện chiến người Gurkha, một dân tộc thiểu số ở Nepal), rời thủ đô Yangon (Myanmar) bay tới Sài Gòn. Ngày 14-9-1945, các đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 20 liên quân Anh-Ấn, được lệnh rời Myanmar tới miền Nam Việt Nam. Khi tới Sài Gòn, toàn bộ lực lượng của sư đoàn được triển khai tại các vị trí then chốt ở ngoại ô Chợ Lớn, sân bay Tân Sơn Nhất và các địa điểm trọng yếu xung quanh tổng hành dinh đạo quân Phương Nam của Nhật. Song tại Sài Gòn, Gracey đã không thực hiện nhiệm vụ được giao là tước vũ khí của quân Nhật mà ra lệnh cho quân Anh cùng quân Pháp tiến hành đàn áp phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam, tổ chức các vụ gây hấn, bắt bớ, giam cầm và giết hại hàng trăm người dân vô tội. Ngày 21-9-1945, Gracey ban bố tình trạng thiết quân luật tại Sài Gòn, cấm nhân dân miền Nam Việt Nam mang vũ khí và biểu tình, cấm tất cả các loại báo ở Nam Bộ (trừ các báo của Pháp); lấy vũ khí từ các kho vũ khí của Nhật trang bị cho 14.000 tù binh và kiều dân Pháp, cho phép lực lượng này chiếm đóng các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, kho bạc, sở mật thám, bưu điện...; đồng thời cung cấp vũ khí trang bị cho trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 của Pháp (The 5th RIC) và khoảng 5.000 quân Nhật để cùng quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn.
Đêm 22, rạng sáng 23-9-1945, quân Pháp nổ súng tiến công đánh chiếm trụ sở Ủy ban Hành chính Nam Bộ và Quốc gia Tự vệ cuộc, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Lúc đầu, Gracey lệnh cho lữ đoàn liên quân Anh-Ấn "án binh bất động", làm ngơ cho quân Pháp đánh chiếm trụ sở của chính quyền cách mạng, kiều dân Pháp đánh đập bất cứ người dân Việt Nam nào họ gặp trên đường; số nạn nhân người Việt Nam bị người Pháp đánh đập lên tới vài nghìn người. Cảnh bạo lực trên đường phố gây bất bình cho nhiều người, trong đó có A. Peter Dewey, chỉ huy của nhóm Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (The Office of Strategic Services-OSS) ở Sài Gòn. Dewey đã xin gặp Gracey để phản đối tình trạng bạo lực và ngay ngày hôm sau, ông này đã bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn.
Gracey còn cho Pháp mượn tàu thủy chở vũ khí và quân dụng từ biển vào Sài Gòn, lập tòa án quân sự để xét xử những người Việt Nam mà họ buộc tội là "vi phạm trật tự công cộng"... Sau đó, ông ta ra lệnh cho binh lính Anh trực tiếp tham gia vào các cuộc tiến công của quân Pháp nhằm lật đổ chính quyền cách mạng tại Sài Gòn. Trắng trợn hơn, Gracey còn gửi tối hậu thư yêu cầu chính quyền cách mạng phải giải tán lực lượng dân quân tự vệ, rút hết lực lượng vũ trang ra ngoài thành phố, rời khỏi trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ (dinh Thống đốc cũ) và đòi ta trao lại các bốt cảnh sát, cảng Sài Gòn và xưởng Ba Son để Anh trao lại cho Pháp... Ngày 15-10-1945, khi đến Campuchia giải giáp quân Nhật, Gracey đã cho một đại đội quân Pháp đi theo quân Anh-Ấn đánh chiếm Campuchia.  
Mặc dù chỉ hoạt động tại Việt Nam trong một thời gian ngắn dưới danh nghĩa là lực lượng Đồng minh giải giáp quân Nhật nhưng quân Anh đã gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn, để lại những hậu quả nghiêm trọng cho phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Được sự dung túng và bao che của Đô đốc Mountbatten, Gracey đã duy trì những hành động thực dân của mình trong suốt thời gian ở Việt Nam. Ngày 28-1-1946, Gracey rời Sài Gòn; sở chỉ huy quân đội Anh làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật tại Sài Gòn kết thúc hoạt động. Những hành động của Douglas Gracey ở miền Nam Việt Nam đã gây nhiều tranh cãi trong giới sử học quốc tế; một số nhà sử học đã gọi ông ta là "kẻ phá hoại hòa bình" thay cho "gìn giữ hòa bình"./.
Yêu nước ST.

Ứng vạn biến để giữ nền tảng bất biến

 

Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.

Nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục có bước đột phá việc học tập lý luận chính trị (LLCT) trong điều kiện mới. Cùng với đó, phải có những giải pháp căn bản, quyết liệt để việc học LLCT trở thành nhu cầu thiết thân của mỗi người.

Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.

Để việc học tập LLCT trở thành tự giác, là nhu cầu tự thân thì mỗi CB, ĐV cần thay đổi nhận thức về nó, tiên quyết là phải xác định được động cơ, thái độ học tập đúng đắn. Việc học LLCT là trang bị cho chính mình thế giới quan, phương pháp luận khoa học, là cơ sở để mỗi người vận dụng nó trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là trong công việc hằng ngày. Đó là cái chất tiên phong của người đảng viên so với quần chúng. Mục tiêu cao hơn là góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lý luận giúp chúng ta xây dựng niềm tin, thái độ, trách nhiệm, sự nhân văn trong cuộc sống. Học tập, bồi dưỡng lý luận không phải chỉ có mục tiêu duy nhất là lấy bằng cấp để hợp thức, đối phó với tiêu chí đề bạt, bổ nhiệm mà quan trọng hơn là học để làm việc tốt. Ở một góc độ khác, CB, ĐV là những người đem đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ, đồng thời trực tiếp thực hiện và hướng dẫn nhân dân thực hiện. CB, ĐV cũng lại là người báo cáo tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của nhân dân với Đảng và Nhà nước, để đề ra chính sách cho đúng, do đó họ phải học LLCT. Để kiến thức lý luận thấm và ngấm, người học phải xây dựng cho mình phương pháp học phù hợp, tránh lối tầm chương trích cú, học thuộc lòng mà không vận dụng gì vào thực tế. Lối tầm chương trích cú, kinh viện càng khiến cho lý luận trở nên khô khan, thiếu thực tế và làm người học chán nản. Chính các nhà lý luận kinh điển cũng không tán thành cách học đó. Học lý luận, nghiên cứu lý luận là phải nắm được tinh thần của lý luận, bản chất của lý luận để vận dụng nó vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tính lịch sử-cụ thể luôn là điểm then chốt trong phương pháp tiếp cận của LLCT. Bởi theo Các Mác, lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó; lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, được tổng kết, khái quát từ thực tiễn. Bản thân các nhà lý luận Mác-xít chưa bao giờ coi học thuyết của mình là bất biến mà luôn coi đó là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển bằng thực tiễn sinh động. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”.Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng. 

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để. 

Một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng đó là người truyền lửa (người thầy dạy lý luận, người truyền đạt nghị quyết của Đảng). Thực tế hiện nay việc giảng dạy lý luận ở các nhà trường, việc truyền thụ nghị quyết của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng không phải ở đâu cũng chọn lọc được đội ngũ truyền thụ tinh hoa, dẫn đến nhiều nơi hiệu quả thấp. Không phải ai cũng có khả năng đứng trên bục giảng hay truyền tải nghị quyết của Đảng hiệu quả. Người truyền lửa lý luận phải thổi lên được ngọn lửa nhiệt huyết, sự say mê của cả mình và người học, người nghe. Do đó, người truyền lửa phải là người có kiến thức, hiểu biết, có phương pháp truyền thụ, có kỹ năng phân tích, đánh giá, định hướng, dự báo tình hình, biết giải quyết nhuần nhuyễn các vấn đề đang đặt ra giữa lý luận và thực tiễn giúp người học tiếp cận được sát nhất những kiến thức ấy. Điều tiên quyết là bài giảng LLCT phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới, hóc búa từ thực tiễn đặt ra, nhất là việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó tạo niềm tin cho người học. Bởi thế, các nhà trường, cơ sở đào tạo có thể nghiên cứu để tăng cường hơn nữa đội ngũ giảng viên kiêm chức, thỉnh giảng là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phương pháp truyền thụ tốt tham gia giảng dạy LLCT. Đi liền với yêu cầu lựa chọn người giảng dạy, người truyền đạt LLCT, cũng cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo động lực tốt nhất để họ cống hiến. Chế độ, chính sách đối với người giảng dạy, truyền thụ lý luận hiện nay về cơ bản là chưa đủ sức hút để họ chuyên tâm với nghề.

Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.

CÓ PHẢI CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN LÀ MẤT DÂN CHỦ? Trong chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới, chúng thường lớn tiếng rêu rao chế độ một Đảng Cộng sản cầm quyền đang thủ tiêu dân chủ? Những tác giả của luận điệu sai trái này cố tình làm ngơ trước các vấn đề đã được đúc kết thành giáo khoa sơ đẳng về dân chủ, đồng thời trắng trợn vu khống Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam . Để làm rõ vấn đề, trước hết cần xác định “dân chủ” đang nói ở đây là dân chủ nào, dân chủ của ai và dân chủ cho ai? Với tư cách là hình thức chế độ chính trị của đất nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Trong thiết chế dân chủ, quyền của công dân, tính tối cao của pháp luật được thừa nhận; những cơ quan quyền lực nhà nước đều do bầu cử mà ra. Dân chủ được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Mặt khác, dân chủ gắn liền với hình thức tổ chức nhà nước, nên không bao giờ có một thứ dân chủ "thuần tuý”, mà dân chủ bao giờ cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự phát triển của lịch sử trên nền móng của sự phát triển các lực lượng sản xuất với trình độ xã hội hoá ngày càng sâu rộng của nó tạo ra những tiền đề khách quan để phủ nhận phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản và tính tích cực của nền dân chủ tư sản. Đó cũng chính là quy luật phát triển nội tại của nền dân chủ xã hội, của bước chuyển biến lớn lao từ nền dân chủ tư sản sang nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Cơ sở kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Vì thế, dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản khác nhau về bản chất và về trình độ với tư cách là những xã hội nối tiếp nhau trong nấc thang từ thấp lên cao của xã hội loài người. Nền dân chủ vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, cho nên, nó chỉ có thể thực hiện được bằng con đường thiết lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn thể xã hội thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản. Chỉ giai cấp vô sản và Đảng tiên phong của mình với cơ sở xã hội rộng lớn là quảng đại nhân dân lao động và mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng lao động, giải phóng xã hội và giải phóng con người mới có khả năng thiết lập được một nền chuyên chính vừa bảo đảm dân chủ cũng như các lợi ích căn bản khác của đông đảo quần chúng lao động, vừa triệt tiêu mọi khả năng phục hồi chế độ bóc lột và nô dịch. Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc các đảng cộng sản ở các nước vươn lên khẳng định vị trí đảng cầm quyền duy nhất sau khi đã giành được chính quyền cũng là một quy luật gắn chặt với tiến trình đấu tranh vì nền dân chủ. Một đảng cầm quyền như vậy, không lẽ nào đi ngược lại mà phải thống nhất từ bản chất, mục tiêu, phương thức của một nền dân chủ vì quyền lực và lợi ích của đa số những người lao động. Sự cầm quyền (tức vai trò lãnh đạo của Đảng), quyền lực của đông đảo nhân dân gắn bó hữu cơ, khăng khít với nhau. Tiếp theo, hãy thử nhìn sang nền dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là các nước tự xưng là tự do nhất, dân chủ nhất. Như đã biết, đa nguyên về chính trị và đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Vì mục tiêu giành lấy chính quyền để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, các đảng chính trị tư sản thể hiện rõ nhất vai trò và thế mạnh của mình trong các cuộc tranh cử, đến lượt mình, vận động tranh cử trở thành một trong những chức năng quan trọng nhất khẳng định sự tồn tại của các chính đảng. Bầu cử dưới chế độ tư sản là một chế định pháp luật của nhà nước tư sản được quy định rất chặt chẽ, nhưng từ xưa đến nay vẫn luôn luôn diễn ra những cuộc bầu không công bằng, thậm chí là gian lận. Mỹ là nước thường tự cho mình là có nền dân chủ cao như "khuôn thước" để các nước khác phải noi theo, có nhiều đảng phái chính trị, nhưng hầu như trong suốt lịch sử chỉ là sự luân phiên kiểm soát của hai đảng Dân chủ và Cộng hoà. Nói chung, ở các nước tư bản, về hình thức thì các đảng chính trị đều "tự do", "bình đẳng" trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế thì chỉ có các đảng lớn, có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới có khả năng chiến thắng. Mặt khác, chế độ đa đảng ở phương Tây, xét trong thực chất, cũng là dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, vì tất cả các đảng cánh hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Qua tổng tuyển cử, đảng có đa số phiếu thì lập chính phủ điều hành công việc, các đảng khác là đối lập, mà chính các học giả tư sản gọi là đối lập trung thành, nghĩa là không thách thức các thể chế chủ yếu của chế độ tư bản, chỉ phê phán và phản đối một số chính sách cụ thể của chính phủ. Mỗi khi phái đối lập giành thắng lợi trong tuyển cử và lên cầm quyền, thì họ vừa khuếch trương lợi thế chính trị của thế lực tư bản mà mình là đại diện, cố gắng duy trì và củng cố chế độ tư bản chủ nghĩa. Tính chất nhất nguyên tư sản càng khẳng định không bao giờ được lãng quên tính giai cấp của nền dân chủ. Đúng như V.I.Lênin tổng kết: "... đảng thống trị của chế độ dân chủ tư sản chỉ cho một đảng tư sản khác được quyền bảo hộ thiểu số; còn đối với giai cấp vô sản, thì trong mọi vấn đề trọng đại, sâu sắc, cơ bản thay cho "quyền bảo hộ thiểu số" thì có luật giới nghiêm hay những cuộc tàn sát. Chế độ dân chủ càng phát triển, thì trong trường hợp có sự chia rẽ về chính trị sâu sắc và nguy hiểm cho giai cấp tư sản, nó càng tiến gần đến tàn sát hay nội chiến". Qua thể chế bầu cử ở các nước tư bản phương Tây, chúng ta cũng thấy rất rõ rằng, tiền bạc ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong đời sống chính trị và làm hoen ố nền dân chủ của nó. Từ trước đến nay, cả pháp luật và văn hóa tư sản hầu hết đều bảo vệ và đề cao người giàu. Người giàu được coi là những phần tử ưu tú, còn người nghèo bị khinh rẻ, bị coi là gánh nặng, là nguồn gốc của những tệ nạn xã hội và tội phạm. Pháp luật Mỹ quy định người ứng cử vào các cơ quan quyền lực phải có một lượng tài sản lớn làm vật bảo đảm. Ngoài ra, các ứng cử viên còn phải có tiền để tiến hành các chiến dịch vận động tranh cử hết sức tốn kém. Do đó, trên thực tế, chỉ có những triệu phú, tỷ phú mới có cơ hội tham gia bộ máy chính quyền. Cái gọi là "nền dân chủ Mỹ" chỉ là nền dân chủ của nhà giàu. Tờ Thời báo tài chính (Anh) ngày 25-11-2000 viết: "Cuộc bầu cử năm 2000 đã cho thấy rõ nền dân chủ Mỹ có thể bán cho những người trả giá cao nhất". Có thể gọi đấy là nền dân chủ đấu giá. Tờ Thế giới (Tây Ban Nha) cùng ngày đã ví thói mê tiền như là "căn bệnh ung thư của nền dân chủ Mỹ". Một chính quyền được tạo lập bởi đồng tiền, thì tất yếu phải hướng đến phục vụ những kẻ nhiều tiền, chứ không thể là một "chính quyền của tất cả mọi người" mà các lý luận gia của họ rêu rao. Sự dối trá của nền dân chủ tư sản đã bị chính cử tri của họ lột trần bằng hành động tẩy chay các cuộc bầu cử ngày càng gia tăng. Như vậy, dân chủ hay không dân chủ không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trong thực tế, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo. Có hay không có dân chủ, dân chủ được thực hiện ở trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị. Trong các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản là tổ chức thực hiện sự thống trị của giai cấp vô sản, cho nên sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều đương nhiên. Điều đó được thể hiện ở đường lối, chính sách của Đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ được thể chế hoá trong toàn bộ hiến pháp và pháp luật. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Đảng là nhân tố bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải lấy ý chí chủ quan về chính trị mà là một tất yếu khách quan của lịch sử, mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan cho việc hình thành chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, tổ chức và lãnh đạo Đảng ta cũng là người sáng lập và lãnh đạo Nhà nước ta trong nhiều năm, đã khẳng định: "Ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác". Chính lịch sử của Đảng và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với lịch sử của cuộc đấu tranh cho việc thực hiện một chế độ dân chủ và nhân đạo của nhân dân. Ở Việt Nam cũng đã có lúc có nhiều đảng, nhưng những đảng khác đã không vượt qua được những thử thách gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân chủ, sứ mệnh lịch sử của dân tộc ta chỉ do Đảng Cộng sản Việt Nam gánh vác. Những lần vượt qua khó khăn, thách thức đã thể hiện bản lĩnh vững vàng và trách nhiệm lớn lao của Đảng đối với vận mệnh của dân tộc và cuộc sống, quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng ngoài Đảng Cộng sản, không một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được cương lĩnh, đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng đã tuyên bố thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), tiến hành tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp để thể chế hoá quyền lực của nhân dân lao động. Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền nhằm khẳng định nguồn gốc của chính quyền nhà nước là ở nhân dân, đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của mình và bản thân Đảng cũng tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam còn khẳng định dân chủ là quy luật hình thành và tự hoàn thiện của cả hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa: "Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới". Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Một trong những đặc trưng cơ bản của Đảng vô sản kiểu mới là thừa nhận và thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn bộ hoạt động của mình. Trung thành với các nguyên lý xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ khi được thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng, củng cố về tư tưởng, chính trị và tổ chức, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Dù diễn đạt tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung thì đây là một nguyên tắc hoàn chỉnh và hai khái niệm đó thống nhất với nhau cả về bản chất và nội dung. Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau và Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung. Trong khi khẳng định mạnh mẽ và kiên định chế độ dân chủ do một Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta không bao giờ quên lời di huấn của V.I. Lênin về các nguy cơ của một đảng cầm quyền, trong đó, sâu xa nhất là nguy cơ mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ chân chính của nhân dân. Thái độ tôn trọng dân chủ và năng lực thực hành dân chủ trở thành một trong những tiêu chuẩn thiết yếu trong hoạt động của Đảng. Trong công tác lãnh đạo và vận động quần chúng, Đảng Cộng sản cầm quyền phải đặc biệt chú trọng giáo dục và rèn luyện cán bộ, đảng viên về văn hoá dân chủ. Đây là vấn đề cốt lõi trong văn hoá chính trị của Đảng. Trình độ văn hoá dân chủ và văn hoá chính trị là một trong những thước đo về trình độ trưởng thành và bản lĩnh văn hoá của Đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cho toàn thể quần chúng lao động, do đó, nó không chấp nhận sự chia rẽ xã hội, không thể tạo ra những lực lượng đối lập, đối kháng trong xã hội, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng và chính trị. Nhân danh các chiêu bài "dân chủ”, "nhân quyền", "đa nguyên, đa đảng" để kích động, gây chia rẽ, hận thù chỉ là thủ đoạn phục vụ mưu đồ chống nhân dân và dân tộc, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa của các lực lượng thù địch muốn xoá bỏ Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế- xã hội còn kém phát triển, dân trí còn thấp, các thiết chế còn chưa hoàn thiện,...của Việt Nam hiện nay, nếu không có sự lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản thì dân chủ sẽ rất dễ bị vi phạm. Với mục tiêu phát huy đầy đủ quyền và năng lực làm chủ của nhân dân trong công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, kiến tạo nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ưu việt hơn các chế độ dân chủ đã có trong lịch sử, Đảng Cộng sản cầm quyền - trong điều kiện chỉ có duy nhất một đảng Cộng sản hay có nhiều đảng, nhưng Đảng Cộng sản vẫn là lực lượng duy nhất lãnh đạo - vừa thông qua bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân, vừa phải phát huy cao độ vai trò của Mặt trận với tính cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn, tham gia đắc lực vào việc xây dựng, tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, thực hiện sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước và các cơ quan nhà nước. Dân chủ, tập trung dân chủ trong Đảng gắn chặt với dân chủ, tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ; dân chủ, nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng phải gắn với dân chủ, nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong hệ thống Mặt trận. Nếu tiến hành tốt nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình, Mặt trận không chỉ làm tốt vai trò tuyên truyền, vận động sâu rộng các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, mà còn là lực lượng phản biện xã hội góp phần đắc lực khắc phục nguy cơ quan liêu, chủ quan trong việc hình thành đường lối, chủ trương của các cấp bộ đảng. Với tính cách là phương thức tối cần thiết để phát huy rộng rãi trí tuệ, tinh thần xây dựng và tính chiến đấu của toàn thể đội ngũ đảng viên, dân chủ trong Đảng phải là kiểu mẫu, là lực đẩy dân chủ trong xã hội. Rất nhiều ý kiến đóng góp của nhân dân thông qua kênh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được đưa vào văn kiện chính thức của Đảng. Một sự khảo nghiệm, phản biện và đóng góp trí tuệ rộng rãi, cầu thị và dân chủ như vậy đã được Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Điều tương tự chưa từng diễn ra ở bất cứ nơi nào khác. Các đảng tư sản và thiết chế dân chủ tư sản, trong lịch sử hàng trăm năm của mình, càng chưa bao giờ làm được như vậy. Rõ ràng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua những thử thách của lịch sử, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn biết tự đổi mới, chứ không phải một lực lượng nào khác có thể đề ra đường lối đáp ứng yêu cầu lịch sử, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển trong xã hội ngày nay. Một đảng như thế đủ sức đảm đương vai trò là lãnh tụ chính trị của xã hội, của dân chủ mà không cần có một lực lượng đối lập nào./.

Giáo dục bản lĩnh, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ từ nhà trường

 

Từ xưa, các học giả nổi tiếng đều thừa nhận giáo dục là lợi khí đào tạo nhân tài. Giáo dục có thể được thực hiện qua nhiều cách khác nhau, nhưng văn học, với những cách thể hiện phong phú, đa dạng giúp con người bồi dưỡng tâm hồn về cái đẹp, cái cao cả cũng như lý tưởng sống chắc chắn là công cụ hữu hiệu nhất. Khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với muôn vàn khó khăn, chúng ta đã thành công trong việc sử dụng văn học để nuôi dưỡng, bồi đắp đời sống tinh thần của người lính, làm cho họ biết rung động và đau xót trước cảnh nước mất nhà tan, biết phân biệt rõ chính nghĩa và gian tà, giữa thiện và ác... Vì thế, họ sẵn sàng xả thân đấu tranh cho lý tưởng và chấp nhận hy sinh nếu Tổ quốc cần. Hình ảnh đẹp đẽ của những người lính Cụ Hồ hiện lên qua những tác phẩm văn thơ trong kháng chiến và những năm sau hòa bình đã được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông, có tác dụng tích cực trong việc hình thành nhân cách và phẩm chất cho một lớp người mới. Trong lớp người này, có không ít thanh niên sắp tốt nghiệp hay tốt nghiệp phổ thông đã trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này.

Theo mạch nguồn ấy, nhiều tác phẩm văn học phản ánh công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước sau này cũng có một vai trò rất lớn trong việc bồi đắp thêm về nhận thức và tư tưởng cho thế hệ người lính Cụ Hồ lớp trước, đồng thời hình thành nhân cách và phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ thế hệ tiếp theo. Đó là lớp thanh niên lớn lên sau khi miền Bắc được giải phóng. Nhiều tác phẩm văn học sáng tác trong giai đoạn này được cổ vũ và đưa vào chương trình dạy văn trong nhà trường có tác động trực tiếp đến cảm xúc và nhận thức của thanh niên về những nhiệm vụ to lớn của đất nước trong giai đoạn mới. 

Sau năm 1975, đặc biệt sau năm 1986, do những nhu cầu mới về lịch sử, chúng ta có dịp nhìn nhận, đánh giá lại các sáng tác văn học của hai giai đoạn kháng chiến đã qua để thấy được những thành tựu và hạn chế của nó. Về mặt lý luận, chúng ta đã có nhiều dịp bàn đến tính sơ lược, minh họa, hoặc tính nông cạn, giáo điều trong phương pháp sáng tác ở một số tác giả. Nhiều tác phẩm không còn thích hợp với thực tiễn, dần dần bị loại bỏ khỏi nhà trường. Thay vào đó, chúng ta đã mạnh dạn đưa vào nhiều tác phẩm văn học được sáng tác trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thời kỳ đổi mới. Đồng thời, chúng ta cũng mạnh dạn đưa nhiều tác phẩm của Tự lực văn đoàn và Phong trào Thơ mới vào chương trình dạy văn. Điều này cũng dễ hiểu, vì khi đất nước mở cửa kinh tế thị trường thì các tác phẩm viết về xây dựng hợp tác xã thời quan liêu bao cấp trở nên lỗi thời. 

Việc thay thế và bổ sung một số tác phẩm văn học vào chương trình sách giáo khoa phổ thông là một hướng đi đúng nhằm đáp ứng nhu cầu mới về giáo dục, đặc biệt là giáo dục nhân cách, phẩm chất của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, khi thực hiện, chúng ta lại mắc một số sai lầm, khiến cho việc giảng dạy văn học trong nhà trường có phần tụt dốc và kém hiệu quả trong việc giáo dục nhân cách và phẩm chất của thế hệ trẻ nói chung. 

Trên đại thể, có thể nhận định rằng, trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn học nghệ thuật dù có những hạn chế nhất định nhưng đã hoàn thành sứ mạng cao cả của mình, góp phần xứng đáng vào việc hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất của người lính Cụ Hồ. Các giá trị đích thực của nó phải được nhìn nhận, phân tích khách quan, gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể. Vẫn biết rằng, chất lượng nghệ thuật là yếu tố vô cùng quan trọng, nhưng một khi nó xa rời nội dung, thậm chí được đề cao một cách thái quá thì ngẫu nhiên, nó lại đánh mất đi chức năng quan trọng nhất của mình. Đó là chức năng giáo dục (hiểu theo nghĩa đầy đủ của từ này), một chức năng ngầm ẩn, giúp cho mỗi cá nhân tự nhận thức cuộc sống để hình thành nên nhân cách và phẩm chất của mình, với tư cách là một thành viên của cộng đồng xã hội.

Muốn có được sự khách quan, công bằng trong đánh giá tác phẩm văn học, trước hết đòi hỏi các nhà nghiên cứu, phê bình cần phải có bản lĩnh và trình độ chuyên môn thực sự chứ không phải chỉ vì chức danh hay học vị thuần túy. Mọi nhận định về tác giả hay tác phẩm văn học phải xuất phát từ khoa học chứ không thể từ cảm tính cá nhân. Rất đáng tiếc, có những người làm công tác lý luận đã không thực hiện nguyên tắc này. Không ít người có chức danh, chức vị khá cao nhưng vừa mới hôm qua còn ra rả ca ngợi các tác phẩm văn học viết về người lính, viết về chiến tranh, sau đổi mới quay ngoắt lại cho rằng cả nền văn học quá khứ là thứ văn học cần “ai điếu”. Nếu trước năm 1986, chúng ta có thái độ cực tả khi xem xét các hiện tượng văn học thì sau đổi mới, có người đã quay ngoắt 180 độ để chạy sang thái độ cực hữu. Cách nhìn cực tả đã từng gây ra tổn thất, mất mát cho cả nền văn học. Nó loại bỏ một số tác phẩm văn học có giá trị ra khỏi đời sống xã hội và sách giáo khoa (biểu hiện cụ thể như cách ứng xử với bài thơ “Tây Tiến” và một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn và Phong trào Thơ mới). Ngược lại, cách nhìn cực hữu lại đề cao vô nguyên tắc một số tác giả, tác phẩm, dẫn đến tình trạng hỗn loạn về lý luận. Đây chính là điểm gây ra sự hoang mang, ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách và phẩm chất của lớp trẻ. Thái độ cực hữu khi đưa vào giảng dạy cho học sinh trung học phổ thông và làm đề thi tuyển sinh đại học trong rất nhiều năm, hậu quả là do những sai lầm trong phân tích tác phẩm dẫn đến việc học sinh viết những câu văn ngô nghê, kỳ quặc. 

Khi đổi mới để hội nhập với khu vực và thế giới, văn học cũng bị ngập tràn trong vô số khuynh hướng, quan điểm và lý luận khác nhau. Nếu không tỉnh táo, chúng ta sẽ làm cho lớp trẻ, đặc biệt là các thanh niên đang đứng trong hàng ngũ quân đội mất định hướng trong nhận thức. Chẳng hạn, có lúc, có người theo khuynh hướng đề cao các tác phẩm phê phán chiến tranh, coi chiến tranh là tội ác mà bất cứ bên nào tham gia cũng đều đáng phê phán. Họ coi các tác phẩm loại đó mới là các tác phẩm văn học thực sự có tầm cao và có giá trị. Nhưng quan niệm như thế thực ra rất phiến diện. Vì rằng trên thực tế, từ khi loài người ra đời cho đến nay, chiến tranh luôn là vấn đề nảy sinh liên tục trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc. Một quan điểm như thế sẽ dẫn đến việc xóa nhòa chính nghĩa và phi nghĩa, vô hình lại cổ vũ cho tư tưởng đầu hàng mỗi khi có họa ngoại xâm. 

Chúng ta từng phê phán thứ văn học gọi là “ngợi ca”, nhưng lịch sử phát triển văn học lại cho chúng ta thấy rằng, nhiều tác phẩm ngợi ca vẫn là những tác phẩm bất hủ một khi nó đạt tới giá trị nghệ thuật thực sự. Cho nên, phê phán chiến tranh là đúng, nhưng phê phán như thế nào lại là tài năng của nhà văn. Ranh giới giữa giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời của văn học là câu chuyện không đơn giản như một vài người vồ vập. Chính sự vồ vập thái quá với bất cứ hiện tượng nào cũng gây ra những bức tranh rối loạn. Đó là điều từng xảy ra trên một số diễn đàn văn học ở nước ta. 

Chúng tôi đưa ra vài dẫn chứng nêu trên chủ yếu nhằm chứng minh rằng, để đánh giá một hiện tượng văn học cần có thái độ điềm tĩnh, khách quan. Nếu chỉ dựa vào cảm hứng nhất thời thì khó tránh được những sai lầm đáng tiếc. Điều đó đặt ra yêu cầu về đội ngũ cán bộ tại các cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật sao cho đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; yêu cầu xây dựng một hệ thống lý luận mới mang tính tập trung, vừa kế thừa truyền thống vừa mang tính hiện đại để tránh tản mát, tùy tiện, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Đặc biệt, các cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật cần tham gia tích cực và có tiếng nói kịp thời với những hiện tượng tiêu cực, tùy tiện trong dạy văn và tiếng Việt hiện nay nhằm chấn chỉnh lại sách giáo khoa, lấy lại vị thế của văn học nghệ thuật trong việc giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất cho thanh niên. Đó cũng chính là cách tốt nhất góp phần phát huy hiệu quả của văn học nghệ thuật trong việc hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất lớp trẻ nói chung, Bộ đội Cụ Hồ nói riêng trong thời đại mới.