Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

Quan điểm của Hồ Chí Minh về chống Chủ nghĩa cá nhân với đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay

 

Tháng 12-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố tác phẩm rất quan trọng “Đạo đức cách mạng” trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản). Đó là tác phẩm bàn chuyên sâu về đạo đức cách mạng trong điều kiện Đảng cầm quyền và nhiệm vụ cách mạng khi đó rất nặng nề, làm sao để Đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ra rất bức thiết, để hơn một năm sau Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Đạo đức cách mạng luôn luôn là nền tảng của một Đảng chân chính cách mạng. Nhấn mạnh điều đó vừa khẳng định những gì Đảng đã đạt tới trong chặng đường đã qua và cũng đặt ra yêu cầu Đảng phải ở tầm cao đạo đức và trí tuệ, phải là tấm gương và kiểu mẫu. Mỗi cán bộ, đảng viên gương mẫu để quần chúng nhân dân noi theo.

Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (12-1958), Hồ Chí Minh cho rằng, tiến lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu trang lâu dài, gian khổ và có những kẻ địch chống lại cuộc cách mạng đó. “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài”. Một loại kẻ địch khác là chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh nêu rõ, sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân từ năm 1947 trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, và nêu lên những đòi hỏi cao hơn trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (12-1958) khi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội được đặt ra trực tiếp. Trước khi đi xa, trong tác phẩm “Nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, thêm một lần nữa Người căn dặn toàn Đảng phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người nêu rõ một sự thật: “Chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Chủ nghĩa xã hội là chế độ triệt để giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, khỏi mọi sự tha hóa và xây dựng nền dân chủ thật sự của số đông, sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của mọi người, của cộng đồng. Vì thế, chủ nghĩa cá nhân là xa lạ đối với chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng nêu rõ sự cần thiết phải phân biệt chủ nghĩa cá nhân với lợi ích cá nhân chính đáng và khẳng định: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”.

Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân và bảo đảm lợi ích cá nhân của mỗi người chính là nhận thức khoa học về bản chất của chủ nghĩa xã hội và dựa trên hiện thực và đặc điểm của quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Phải thấy hết khó khăn và tính phức tạp của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bởi chủ nghĩa cá nhân biểu hiện tinh vi và được ẩn sau những thủ đoạn khác nhau. Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu chống mà còn phải trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt nó. Đến nay chủ nghĩa cá nhân vẫn tồn tại, thậm chí phức tạp và tinh vi hơn. Chủ nghĩa cá nhân vừa là nguyên nhân vừa là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”.

Trung ương cũng chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống mà biểu hiện hàng đầu là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”. Một biểu hiện của sự suy thoái là tình trạng “Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”.

Chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của sự suy thoái, tiêu cực, hư hỏng, song nó lại ẩn trong mỗi con người nên cuộc đấu tranh để từ bỏ nó rất khó khăn phức tạp. Tệ tham nhũng là biểu hiện tệ hại của chủ nghĩa cá nhân. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị và Tổng Bí thư đã có được những kết quả rất quan trọng, nhất là xử lý những vụ tham nhũng lớn bằng kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước, đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Với quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước, sự ủng hộ của nhân dân, cần tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng với những giải pháp bài bản, đồng bộ, kiên trì, trên cơ sở siết chặt kỷ luật Đảng, xử lý nghiêm theo pháp luật. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay càng đòi hỏi phải gắn chặt với chống chủ nghĩa cá nhân. Có thể nhấn mạnh một số điểm quan trọng.

Một là, để đẩy lùi tham nhũng, suy thoái, phải đặc biệt chú trọng giáo dục của Đảng, nêu gương, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Cùng với sự giáo dục, huấn luyện của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần ra sức tự học tập, tự tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Hội nghị Trung ương 8 khóa XII (10-2018) quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của cán bộ lãnh đạo cấp cao, có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức, đổi mới phong cách làm việc và phong cách, phương thức lãnh đạo. Nêu gương về đạo đức, lối sống, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, về tính tiên phong, về trung thành với lý tưởng cách mạng, về học tập, rèn luyện, về tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đất nước, nhân dân. Làm tốt điều đó, nhất định tình trạng suy thoái, tiêu cực, trong đó có tham nhũng sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi. Nêu gương là sự giáo dục rất có hiệu quả.

Hai là, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay đòi hỏi phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, pháp luật Nhà nước, mọi cán bộ, đảng viên sống và làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.

Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật tự giác nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, đề cao trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, làm chủ bản thân, không làm điều gì khuất tất. Kỷ luật của Đảng cũng là kỷ luật sắt, nghĩa là rất nghiêm khắc, nghiêm minh. Chỉ có như vậy Đảng mới có sức mạnh và mỗi cán bộ, đảng viên mới tránh được sai phạm. Kỷ luật của Đảng có ý nghĩa răn đe, cảnh tỉnh, cảnh báo đồng thời hướng những người sai phạm có thể sửa chữa để tiến bộ. Trong điều kiện Đảng cầm quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kỷ luật của Đảng gắn liền với pháp luật Nhà nước.

Ba là, để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có kết quả cần phải hoàn chỉnh cơ chế, thể chế, quy định về quản lý kinh tế, quản lý tài chính, ngân sách, nguồn vốn và tài sản công, tài nguyên, đất đai và tăng cường kiểm soát quyền lực.

Cần thiết phải có chế định và tổ chức quản lý chặt chẽ tài sản và làm tốt công tác cán bộ, lựa chọn và quản lý, bố trí cán bộ, nhất là các lĩnh vực liên quan đến tiền bạc, của cải, các doanh nghiệp nhà nước.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đề cập giải pháp, về cơ chế, chính sách đã nhấn mạnh sự cần thiết phải “rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin-cho”, “duyệt-cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế... Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền , chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt”.

Thực hiện tốt, đồng bộ những vấn đề bức thiết mà Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII đặt ra và thực hiện Quy định “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương”, mà Hội nghị Trung ương 8 khóa XII vừa thông qua, nhất định quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đạo đức cách mạng; phòng, chống tham nhũng sẽ có những kết quả và thành công mới.

Đẩy mạnh công tác truyền thông trong xây dựng gia đỉnh Việt Nam.

 

    

      

       - Để gia đình thực sự là một tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của các cá nhân, nhất thiết phải coi trọng công tác xây dựng gia đình. Công tác này bắt đầu từ việc truyền thông nâng cao nhận thức của từng người dân và các gia đình về vị trí, vai trò của gia đình và tầm quan trọng của xây dựng gia đình văn hoá.

       - Cần đổi mới nội dung đa dạng hoá các hình thức truyền thông và xây dựng gia đình, phòng chống bạo lực gia đình. Chú trọng hình thức truyền thông bằng các thông điệp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trú trọng đối tượng tuyên truyền là nam giới.

       - Bên cạnh đó, tích cực đẩy mạnh tuyên truyền nêu gương người tốt, việc tốt; phê phán những biểu hiện không đúng trong việc xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; phê phán những biểu hiện không lành mạnh ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, cảnh báo các nguy cơ và hậu quả về mất cân bằng giới tính khi sinh. Đồng thời cung cấp cho người dân và các gia đình về chủ trương, chính sách, pháp luật, kỹ năng sống liên quan đến gia đình; trách nhiệm của nam giới đối với công việc trong gia đình, đối với việc bảo đảm quyền của phụ nữ trong gia đình; thực hiện tốt chính sách pháp luật về dân số gắn với xây dựnggia đình hạnh phúc; đè cao tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện chính sách dân số, xây dựng gia đình văn hoá, hạnh phúc.

      - Lồng gép kiến thức xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; phòng chống bạo lực gia đình vào các chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp với yêu cầu của từng ngành học, cấp học.

Một nghị quyết quan trọng, gắn với những yêu cầu cao

 Một nghị quyết quan trọng, gắn với những yêu cầu cao

Những phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" làm nên giá trị nhân văn cao quý của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Trong tình hình mới, nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng không chỉ ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, làm tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, mà còn phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.     

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là máu xương

Hiếm có một quân đội nào có danh xưng gần gũi và cao quý như QĐND Việt Nam-danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ”. Danh xưng-danh hiệu cao quý này là sự tin tưởng, yêu mến của nhân dân dành tặng Quân đội ta, một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

“Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức của thời đại, do các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công vun đắp, xây dựng nên, xứng đáng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong bất luận hoàn cảnh nào, việc gìn giữ và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là đặc biệt cần thiết. 

Ở chiều ngược lại, chủ nghĩa cá nhân là sự đối lập, là kẻ thù của những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, căn dặn: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chính là “giặc nội xâm”, nó có thể phá sập mọi thành quả cách mạng.

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Trung ương khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân”. Hệ lụy của chủ nghĩa cá nhân là vô cùng nguy hại, bởi đó là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự suy thoái, biến chất, làm giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong Đảng. Đó là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của quân đội.

Những phẩm chất cao đẹp nhất của “Bộ đội Cụ Hồ” đã được các thế hệ cha anh phát huy trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nên những giá trị nhân văn cao quý, vĩ đại của Quân đội ta. Ngày nay, trước những diễn biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi phải phát huy hơn nữa những phẩm chất cao quý ấy.

Đặc biệt, trên mặt trận tư tưởng, sự tấn công, chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phi chính trị hóa quân đội, xuyên tạc hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ... đã đặt ra yêu cầu ngày càng cao hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn về giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây cũng là yêu cầu rất cao được Quân ủy Trung ương đặt ra trong Nghị quyết 847 mới được ban hành.Cùng với đó, sự tác động nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là mặt trái cơ chế thị trường; sự suy thoái về đạo đức lối sống, phân hóa giàu nghèo, những vấn đề bức xúc nảy sinh trong xã hội đã tác động đến nhận thức, tư tưởng cán bộ, chiến sĩ.

Yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới

Một trong những điểm nhấn tại Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2020-2025 đó là nội dung xây dựng “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới đã được đưa vào văn kiện đại hội. Nghị quyết đại hội đã xác định rõ các chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới và coi đây là giải pháp nền tảng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Mới đây, trao đổi với phóng viên Báo QĐND, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam nhấn mạnh: "Tôi luôn tâm đắc, suy nghĩ về việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII đã từng có ý kiến của đại biểu kiến nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cần đưa văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Khi đó các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Tổng cục Chính trị nghiên cứu sâu và làm tham mưu về vấn đề này. Đặc biệt, năm 2014, chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, khi đề án kỷ niệm được trình lên, các đồng chí trong Thường vụ Quân ủy Trung ương và cá nhân Bộ trưởng Phùng Quang Thanh lúc đó rất quan tâm, có đặt ra một số câu hỏi, trong đó có vấn đề trọng tâm là mục tiêu cao nhất cần đạt được sau các hoạt động kỷ niệm là gì? Sau đó, chính Bộ trưởng đã kết luận: Đó là phải khẳng định về truyền thống, bản chất, tôn vinh, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Lịch sử gần 80 năm truyền thống vẻ vang của quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được giữ gìn và phát huy. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quân đội luôn giữ vững phẩm chất người quân nhân cách mạng, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, những hành vi tham nhũng, tiêu cực làm trong sạch nội bộ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy.

Trong thời chiến ấy là sự hy sinh xương máu, quên mình cho mục tiêu lý tưởng giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, hạnh phúc cho nhân dân. Còn trong thời bình, quân đội vẫn luôn là thành trì, là chỗ dựa tin cậy nhất của nhân dân trong khó khăn, hoạn nạn.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Thị Đắc Hương, Chủ nhiệm bộ môn Luật học, Khoa Nhà nước và Pháp luật (Học viện Chính trị) tâm đắc: Những ngày đại dịch ở các tỉnh phía Nam, trong đó trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trở thành động lực, là niềm tin, là chỗ dựa cho chính quyền và nhân dân.

“Dì tôi, một người làm kinh doanh, không mấy khi quan tâm đến chính trị. Nhưng chính đại dịch Covid-19 vừa qua khiến cho những người như dì tôi thay đổi cách nhìn, cách nghĩ. Dì tôi nói rằng: Luôn yên tâm và tin tưởng khi nhìn thấy hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đến với nhân dân trong đại dịch”, Trung tá Nguyễn Thị Đắc Hương tâm sự.

Song song với gìn giữ và phát huy phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, nghiên cứu Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và quần chúng càng thấy được vai trò quan trọng của việc kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ngày càng tinh vi và nguy hiểm. Đó là sự mưu cầu cho lợi ích của mình mà quên đi tập thể; sống ích kỷ, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình; là sự háo danh, tự cao, tự đại, tham vọng quyền lực; là chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích; là sự thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tranh công, đổ lỗi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để trục lợi; cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân; phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng...

Trên thực tế, còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn, dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, làm việc cầm chừng, xa rời thực tiễn.

Trong số đó, có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ".

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đã tiến hành xử lý và đề nghị Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý nghiêm khắc đối với cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Tại các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, những vi phạm của các tổ chức đảng, các tập thể, cá nhân đều được nghiêm túc nhìn nhận, phân tích làm rõ và kết luận những vi phạm bảo đảm chặt chẽ, đúng nguyên tắc.

Phát huy truyền thống, bản chất, hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân phải trở thành lẽ sống, phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân và tỏa sáng trong đời sống xã hội. Đây cũng là cơ sở vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Xây dựng gia đình phải gắn liền với hình thành và xác lập củng cố mối quan hệ gắn bó với các cộng đồng, các thiết chế, tổ chức ngoài gia đình

 


                            Hiện nay, công tác xây dựng gia đình chỉ đạt hiệu quả cao nếu một mặt biểt khơi dậy những giá trị truyền thống tốt đẹp, mặt khác, cũng chỉ ra những tiêu cực và tác hại của nó để định hướng cho các gia đình trong việc xây dựng gia đình mới tiến bộ; đồng thời, phải biết dựa vào cộng đồng dân cư để thực hiện các biện pháp giáo dục,  tuyên truyền phù hợp nhằm triển khai những chủ truơng, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đinh, từ đó tạo ra phong trào  thi đua rộng khẳp và hiệu quả. Nếu không khơi dậy được sự đồng thuận, tích cực hưởng ứng của cộng đồng dân cư, nhất là ở các cấp  độ thôn, làng, bản thì mục tiêu xây dựng gia đình trong thời kỳ quá  độ lên chủ nghĩa xã hội sẽ khó đạt được.

        Hiện nay ở nưởc ta đang dấy lên các phong trào như: xỏa đói, giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng nông thôn mới. Nhờ có các phong trào này mà nhiều gia đình đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng và xã hộí. Họ đã chủ động, sáng tạo vươn lên thoảt nghèo, thậm chí trở nên giàu có, xây dựng gia đình trở thành gia đình văn hóa, qua đó góp phần vào sự tiến bộ chung cùa xã hội.

Chống chủ nghĩa cá nhân trong văn học, nghệ thuật

 

Văn học, nghệ thuật (VHNT) là lĩnh vực tinh thần đặc thù gắn liền với cái tôi chủ thể, sáng tạo bằng cái tôi cá nhân. Cái tôi phải hằn rõ mới có thể làm nên cái cá biệt, cái riêng, vốn là những tiền đề cơ bản để tạo ra cái bản sắc.

Với một tác phẩm nghệ thuật, nếu không có bản sắc thì thiếu sức sống, nhợt nhạt, ít giá trị. Một nền văn hóa lớn cố nhiên vừa là sự tổng cộng số học, vừa là sự tích hợp, tiếp biến của nhiều tác phẩm có bản sắc. Nói tổng cộng, số học là nói về hình thức, cái thấy được; nói sự tích hợp, tiếp biến là nói về giá trị nội dung (nhất là giá trị văn hóa). Các tác phẩm lớn luôn có sức ảnh hưởng, chi phối, thậm chí trở thành “mẫu gốc” vượt cả không gian và thời gian. Nhìn ở góc độ nào cũng thấy sự cần thiết của cá tính nghệ sĩ vì nếu thiếu thì không thể có tác phẩm giá trị. Những nghệ sĩ lớn trước hết là những cá tính độc đáo.

Nghệ sĩ vẫn là con người, phải sống với đời thực, phải sinh hoạt, học tập, quan hệ xã hội... nhưng thiên chức của anh ta là tạo ra “cuộc sống thứ hai”, tức tác phẩm. Anh ta phải sống, phải “đi, về” giữa hai thế giới, thế giới của đời thực và thế giới trong tưởng tượng với những nhân vật, hình tượng, chi tiết...

Người ta hay dùng các từ “phân thân”, “hóa thân”, “nhập thân”... khi nói về quá trình sáng tạo là vì vậy. Dựa vào đặc trưng này, tâm lý học nghệ thuật hiện đại cho rằng nghệ sĩ dễ sa vào tình trạng đa nhân cách, thất thường, dễ ảo tưởng, hay xúc động, cực đoan... Đây sẽ là điểm yếu khi có người thiếu bản lĩnh, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, lừa gạt... Nếu nghệ sĩ không tỉnh táo, nhà quản lý lại nhìn nhận đơn giản, một chiều sẽ dễ đẩy vấn đề càng đi về phía tiêu cực, có hại...

Quy luật tồn tại và phát triển của VHNT là quy luật của cái riêng, cái đơn nhất với cơ sở gốc là cá tính sáng tạo mà sự hình thành của nó, ngoài năng khiếu chủ quan còn là sự may mắn hội tụ tinh hoa của thời đại, vùng văn hóa, cuộc sống, nghề nghiệp... Khi kết tinh thành tài năng, cá tính sáng tạo lại trở về hòa nhập với đời sống. Các tác phẩm của họ như những hạt lúa vào mẩy luôn có xu hướng níu mình về gốc. Những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... đều như thế. Không phải ngẫu nhiên, khi già dặn, họ lại thường viết về cái bình thường, nhỏ bé, như: Cây chuối, cây rau, hớp cháo...!

Cá tính sáng tạo không được điều chỉnh, như con ngựa hoang hiếu chiến, hiếu thắng-nếu gọi đích đáng thì đó là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tự phụ, tự cao, nổi loạn, phá phách... Cũng là cây xanh nhưng chưa sâu rễ, nhất là chưa quang hợp nhiều ánh sáng lý tưởng, chưa trải qua bão tố, có thể kết trái nhưng chưa chuyển hóa đủ dinh dưỡng văn hóa... Muốn loại cây này có ích cho đời, chỉ có cách là trồng nó vào vùng đất mới hoặc có chế độ chăm sóc đặc biệt!

Một biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân trong lĩnh vực văn nghệ ở mọi thời là thoát ly cuộc sống, xa lạ với tư tưởng, tâm hồn, cách nghĩ, cách cảm của người lao động. Cá biệt lại có những suy nghĩ viết để nổi danh, có tên tuổi, muốn thế phải “gây hấn”, phải viết ngược, phải tạo scandal để gây chú ý. Chả khác gì cô gái không đẹp phải tự “lộ hàng” quảng cáo, “đóng đinh” vào mắt người yếu bóng vía...!!! Cũng vì “ăn xổi” mà “tác phẩm” không chịu kế thừa tinh hoa truyền thống, không chịu tiếp thu giá trị văn hóa nhân loại nên thiếu chiều sâu, hàm lượng văn hóa thấp, nhạt nhẽo. Nhưng vì sao vẫn có người đọc?

Vì gợi vào tâm lý thích cái lạ, cái bản năng của số ít độc giả, hoặc thủ thuật câu khách, quảng bá giật gân... Cũng dễ hiểu, có nghệ sĩ tài năng trong quá khứ nhưng do bị chi phối của cái tôi cá nhân mà ngày một xa rời lợi ích nhân dân, khư khư tự ôm lấy cái quan niệm cực đoan, ích kỷ, độc đoán, không chịu mở lòng hòa vào thế giới anh em đồng chí, cùng lo, cùng vui với số phận đất nước, cứ tách ra, đi riêng, thậm chí đi ngược.

Nghệ sĩ luôn sống trong cái tôi cô đơn. Cô đơn để suy ngẫm, để tưởng tượng không chỉ về cái tốt, tích cực mà cả cái xấu, cái thấp hèn, tiêu cực. Vì sứ mệnh của nghệ thuật chân chính vẫn phải sáng tạo về cái xấu để người đọc hiểu mà tránh xa nó, tiêu diệt nó. Có khi vì sống quá sâu với nhân vật mà có nghệ sĩ phát ngôn không phải cho cá nhân mình mà nói thay cho nhân vật (xấu), nên dễ gây ngộ nhận. Trường hợp này rất cần sự thông cảm, thể tất với đặc thù sáng tạo. Nhưng khi cái tôi bị đẩy đến cực đoan, vượt ngưỡng, thì một hạn chế của số người này là quá đề cao cá nhân, chỉ mình là nhất, rồi coi thường, coi rẻ sản phẩm nghệ thuật cũng như nhân cách đồng nghiệp.

Thế là dẫn tới quan hệ “cánh hẩu”, khen vống những ai hợp mình, vùi xuống bùn kẻ khác mình, có khi “không được ăn thì đạp đổ”. Nguy hiểm hơn khi có người như vậy lại là thành viên trong hội đồng tuyển chọn, xét duyệt sẽ dẫn tới sự thiếu công bằng, gây ra dư luận không tốt... Với họ sự khen chê chẳng qua cũng vì thỏa mãn cá nhân mình, để làm nổi cá nhân mình. Nguyên nhân của trường hợp này, ngoài sự quá lớn của cái tôi thì còn là do ít hiểu biết về sự mênh mông vô tận của tri thức nhân loại. “Ếch ngồi đáy giếng” là thế, chỉ nhìn thấy bầu trời bằng cái miệng giếng mà thôi! 

Cần có những giải pháp khắc phục nào?

Tình trạng nhàn nhạt, quanh quẩn với những đề tài tình yêu, tình dục, tiêu cực xã hội, tha hóa tính người... không sâu sắc, thiếu tính tư tưởng... dẫn tới tình trạng bạn đọc xa dần VHNT. Tự thân nội dung vấn đề trình bày bên trên cũng đã cho thấy hướng khắc phục, để rõ hơn, xin lưu ý:

Một là, rất cần tôn trọng sự tự do sáng tạo, nhưng phải đặc biệt quan tâm việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. Văn học là vấn đề tư tưởng. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng, trường phái nhất định. Sáng tạo theo học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, hoàn toàn hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm của nghệ thuật.

Tư tưởng sẽ chuyển hóa để rồi trở thành máu thịt của tác phẩm. Để có tư tưởng phải là quá trình lâu dài, từ thấu hiểu (nhận thức) sâu sắc cuộc sống đến thấu cảm (đồng điệu, hòa nhập) vào hình tượng, cộng cảm (tiếp nhận, chia sẻ, lan tỏa) với cõi nhân sinh để có một mẫu số văn hóa chung mới có thể truyền cảm một cách sâu xa (nghệ thuật) tới đối tượng tiếp nhận. 

Hai là, nên tổ chức các chuyến đi sâu, dài ngày vào thực tế, người nghệ sĩ sẽ được hiểu kỹ hơn một mảng đời sống, sẽ có những vui buồn thật sự, cảm thông và chia sẻ với người lao động. Nghệ sĩ chỉ có thể kiến trúc mô hình và xây dựng tác phẩm từ mô hình và chất liệu ngoài cuộc sống. Vai trò lãnh đạo của hội chuyên ngành rất quan trọng, ngoài uy tín tài năng thì còn là tài tổ chức. Không chỉ là tổ chức trao đổi, gặp gỡ, thăm hỏi, cơ bản hơn là tổ chức ra các khuynh hướng, các trường phái sáng tạo phù hợp với sự phát triển, từ đó tạo ra các tranh luận học thuật để nảy ra các tư tưởng nghệ thuật mới.

Các nền văn học lớn đều có các trường phái vừa thống nhất, kế thừa, giao thoa, vừa tranh biện, bổ sung, loại trừ để cùng phát triển. Văn hay dở là do người viết. Hiện nay, các triết học trên thế giới đang rất đề cao chủ thể, vấn đề “mỹ học chủ thể” được nói đến nhiều. Nghĩa là coi tác giả mang tính quyết định chất lượng tác phẩm. Nghệ thuật là cái riêng, đơn nhất nên luôn cần đến tài năng. Vốn sống, vốn tri thức văn hóa của nhà văn luôn được coi là vấn đề gốc để "cây nhà văn" cường tráng, khỏe mạnh mà kết thành "quả tác phẩm" giàu chất bổ dưỡng. 

Ba là, luật hóa xuất bản, thể chế hóa dưới luật một cách cụ thể về trách nhiệm để tránh xuất bản, phát sóng những văn hóa phẩm kém chất lượng.

Bốn là, tăng cường hơn nữa sự định hướng của các cơ quan quản lý và tiếng nói chuyên môn, chuyên gia cao cấp. Những nơi đó đóng vai trò vừa là cánh tay nối dài của Đảng, vừa là ngôi nhà chung, là điểm tựa của văn nghệ sĩ về tư tưởng, tình cảm, nghiệp vụ, đồng thời là sự khẳng định có trọng lượng học thuật cao nhất về các hiện tượng. Như một lẽ tự nhiên, văn chương phải có người đọc nên nhiều nước phát triển có chiến lược bồi dưỡng các thế hệ độc giả, gọi chung là “mỹ học tiếp nhận”. Có tác phẩm hay nhưng bạn đọc thờ ơ vì không hiểu, không hợp thị hiếu thì thật phí. Nhiều nhà văn nổi tiếng thế giới đều có đối tượng độc giả riêng là vì thế. Có nhà văn ở ta chưa chú ý tới bạn đọc dẫn tới sách chủ yếu vẫn nằm trên giá thư viện. 

Năm là, bên cạnh việc tiếp thu lý luận văn nghệ nước ngoài, cơ bản hơn cần có chiến lược nghiên cứu tiếp thu, kế thừa, phát triển lý luận văn nghệ của cha ông. Xin nhắc lại lời Bác Hồ, sáng suốt, sâu sắc, tinh tế vô cùng: “Muốn thấy hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta, thì phải đừng bị trói buộc bởi những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây... phải dựa trên tiêu chuẩn của ta. Tiêu chuẩn ấy là gì? Đó là nền mỹ học ẩn chứa trong thực tiễn truyền thống nghệ thuật dân gian, dân tộc” (1).

Chúng ta đang cố gắng làm giàu thêm lý luận VHNT bằng cách tiếp thu cái hợp lý của lý luận nước ngoài. Đấy là một hướng đi đúng. Nhưng thiết nghĩ, song hành với hướng đó và cơ bản hơn là phải đi sâu vào vốn cổ của ta để tìm tinh hoa lý luận truyền thống cha ông mà kế thừa, phát triển, nâng cao cho phù hợp với hôm nay. Bởi lý thuyết nước ngoài bao giờ cũng có độ vênh lệch, chưa nói đến có sự áp đặt, khiên cưỡng.

Mỹ học của cả một nền văn học dân gian rồi văn học trung đại là cả một kho vàng tư tưởng còn chìm trong các sáng tác văn chương. Chỉ có điều phải bỏ công tìm tòi, suy ngẫm bởi chúng ẩn sâu trong các hình tượng thẩm mỹ chứ không hiển hiện triết lý khô cứng ra bên ngoài. Chỉ xin đề cập tới một Nguyễn Trãi mà chúng tôi tìm hiểu đã thấy ở nhà tư tưởng lớn này cũng có hẳn một hệ mỹ học riêng với: Tư tưởng mỹ học về con người văn hóa, về thiên nhiên, về phạm trù cái đẹp; một quan niệm sứ mệnh nghệ thuật vì con người; quan niệm hiện đại về quy luật vận động đặc thù của nghệ thuật; một mỹ học chủ thể; một mỹ học tiếp nhận(2).

Không chỉ ở Nguyễn Trãi mà còn cả một kho tàng mỹ học mà cha ông đã học tập, tiếp thu, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao một cách tuyệt vời mỹ học truyền thống, thể hiện tinh tế trong trước tác. Đó là cả một mỏ vàng mà hậu thế chúng ta phải tìm tòi, khai thác, tinh luyện. Truyền thống lý luận của ta, ngoài những hiển ngôn trên văn bản còn thường thể hiện dưới dạng tác phẩm mà ngay ở thời hiện đại cũng có, ví như câu thơ hay của Phạm Tiến Duật: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay” phải chăng còn có ý về chủ thể sáng tạo: Nghệ sĩ phải quên mình, làm mới mình để sáng tạo. Tác phẩm nghệ thuật phải có chức năng làm đẹp và nuôi dưỡng sự sống!


Xây dựng gia đình trên cơ sở đảm bảo hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình.

 


Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội và thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Xây dựng gia đình mới thực hiện hôn nhân tiến bộ một vợ, một chồng trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bao giờ cũng gồm hai mặt: tự do kết hôn và tự do ly hôn. Nếu tự do kết hôn được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, thì ly hôn là kết cục khó tránh khỏi khi tình yêu đôi lửa không còn và khi tình trạng trầm trọng của cuộc sống chung không thể kẻo dài. Tuy nhiên, ly hôn dù bất cứ vì lý do nào cũng dẫn đến những hậu quà nặng nề cho gia đình và xã hội, đồng thờỉ làm ảnh hường đển sự phát triển nhân cách của giới trẻ. Vì vậy, ly hôn là chính đáng, song cần có sự bảo đảm của pháp lý, có sự hỗ trợ, hòa giải cùa các đoàn thể xã hội, của cộng đồng.

Gia đình được xây dựng trên cơ sở gia đình hòa thuận, xây dựng tốt các mối quan hệ với các cộng đồng, tồ chức ngoài gia đình (họ hàng, thân tộc, làng xóm, khu dân cư...). Thực hiện đầy đủ các quyền có trách nhiệm của các thành viên trong gia đình trong việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình và nghĩa vụ đối với xã hội; đặc biệt là trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với trẻ em, phụ nữ và người cao tuồi.

Text Box: nNâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới. Tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình. Tăng cường phòng, chống  bạo lực trong gia đình,  khuyển khích phát huy các phong tục, tập quán, những luật tục tốt đẹp trong cộng đồng dân cư và vận động người dân xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đỉnh, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Xây dựng gia đình theo các tiêu chỉ của gia đình văn hóa, thực hiện tốt “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”

 


Để làm tốt công tác xây dựng gia đình, trong nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề gia đình luôn được Nhà nước quan tâm tác động bằng một hệ thống chính sách và điều chỉnh bằng nhiều văn bản pháp luật khá hoàn chỉnh và toàn diện.

 Ngày 29-5-2012, “Chiến lược phát trin gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030" đã được Th tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược đã xác định các quan điềm và những chỉ tiêu cụ thề mang tính định hướng cho công tác xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, theo đỏ hướng tớí mục tiêu xây dựng gìa đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người; thực sự là t ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh ca xã hội, qua đó bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thng tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ T quốc.

 Ưu tiên, tạo  điểu kiện để các gia đình khu vực nông thôn, miền núì, khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn nâng cao thu nhập, ci thiện cuộc sống. Để thực hiện mục tiêu này, cần tăng cường sự lãnh đạo,,s

chỉ đạo của các cấp ûy đảng và chính quyền đối với công tác gia đình và làm tốt tốt công tác truyền thông.

Gia đình truyền thống có nhiều điều tốt đẹp trong thời hiện đại

 


Nhiều yếu tổ trong gia đình truyền thống có giá trị bền vững, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, như sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình, trên kính dưới nhường; tình nghĩa thủy chung; lòng hiếu thào; tình yêu gia đình, gắn chặt với tình yêu quê hương đất nước... Những giá trị ấy đã được hun đúc từ hàng nghìn năm trong tiến trình phát tnển của dân tộc đến nay cần phải tiếp tục giữ gìn, phát huy một cách phù hợp trong xã hội hiện đại.

        Giá trị tiến bộ của nhân loại: Làm cho gia đình thích ứng được với những yêu cầu mới của cuộc sống

Song song với quá trình đó là quá trình truyền thống hóa những giá trị hiện đại. Nhiều gìá trị mới, tiến bộ của xã hội hiện đại như bình đẳng, dân chủ, hôn nhân một vợ,  một chồng, ít con... đang trở thành những giá trị mang tính phồ biến, trờ thành lối sống thường nhật, thành thói quen của nhiều gia đình trong xã hội hiện đại.

Bạo lực gía đình, mất cân bằng giới tính và tình trạng lỏng lẻo trong mối quan tâm giữa các thành viên của gia đình dẫn đến tan vỡ gia đình đang gia tăng.

 


 Mặc đù trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam có đề cập đến trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đốí với trẻ em, phụ nữ có thai và người cao tuổi; các bộ luật quan trọng như “Luật Bình đẳng giới”, “Luật Phòng, chổng bạo lực gia đình” đã được ban hành, song trên thực tế những chính sách tác động đến vấn đề này chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.

 Tình trạng bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ qua biên giới đang gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, vấn đề chăm sóc trẻ em chưa được coi trọng. Tình trạng trẻ em bị xâm hại hoặc vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành niên đang ngày càng gia tăng, gây đau xót cho nhiều gia đình vả gây bất ổn xã hội. Quan hệ giữa vợ - chồng trong nhiều gia đình ngày càng lỏng lẻo dẫn tới tình trạng tan vỡ gia đình ngày cảng có xu hướng gia tăng.

Những vẩn đề nêu trên đòi hòi phải cỏ giải pháp khắc phục hiệu quả nhằm xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và văn minh.

Mâu thuẫn giữa nhu cầu cần bảo lưu, giữ gìn, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống với việc tiếp thu những giả trị hiện đại tiến bộ trong xây đựng gia đình

 


Mâu thuẫn giữa nhu cầu cần bảo lưu, giữ gìn, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống (như hiếu thảo; thủy chung; sự gắn kết bền chặt giữa các thành viên trong gia đình; trên kính dưới nhường...) với việc tiếp thu những giá tri hiện đại tiến bộ trong xây dựng gia đình (dân chủ, bình đẳng...).

Mâu thuẫn này đặt ra yêu cầu phải được giải quyết tốt để không dẫn đến những xung đột giữa các thế hệ, giữa các thành viên trong gia đình. Đây là một trong những vấn đề đang đặt ra đòi hỏi mỗi thàrih viên của gia đình cũng như các nhà tổ chức, quản lý công tác xây dựng gia đình cần phải nhận thức rõ.

Xét dưới góc độ quản lý, trong nhiệm vụ xây dựng gia đình, làm thế nào để tạo ra những điều kiện thuận lợi và nâng cao năng lực thực hiện tốt các chức năng của gia đình cho mồi gia đình, giúp họ vừa phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo, làm giàu để cỏ gia đình no ấm; vừa giảỉ quyết hài hòa các mối quan hệ gia đình như: xung đột giữa các thế hệ về phép ứng xử, lối sống; chăm sóc trẻ em và người cao tuổi... Đây là vấn đề cần phải được coi trọng giải quyết hài hòa bằng các biện pháp phù hợp.

Những năm gần đây gia đình Việt Nam đã xuất hiện nhiều tình huống “có vấn đề” trong hôn nhân

 

 

 


 -Tình trạng ly hôn, nhất là ở các thành phố lớn, các đô thị đang ngày càng gia tăng;

- Tình trạng “sống thử” trước hôn nhân đang phát triển mạnh trong một bộ phận giới trẻ;

- Những hình thức “hôn nhân có yếu tố nước ngoài” cũng phát triển khá mạnh;

- Quy mô, kết cấu các gia đình cũng có nhiều thay đổi; các gia đình có quy mô nhỏ hơn; kết cấu của một gia đình lỏng lẻo hơn…

Những vấn đề trên đòi hỏi, một mặt cần phải làm tốt công tác quản lý gia đình.

Tác động của khoa học và công nghệ tới gia đình Việt Nam hiện nay

 


Thời đại toàn cầu hóa, khoa học và công nghệ hiện đại. nhất là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đang tạo ra nhiều cơ hội tốt tiếp thu tri thức mới cho các gia đình trong việc thực hiện các chức năng. Đồng thời, việc xây dựng gia đình cũng đạt hiệu quả cao và thuận lợi hơn khi ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là trong công tác tuyên truyền, giáo dục, nêu gương, thống kê, điều tra, phân tích dữ liệu v.v. để xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến gia đình.Song sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là của công nghệ mạng cũng đang đặt ra những thách thức mới cho mỗi gia đình và nhất là cho công tác quản lý, kiểm soát các luồng thông tin trái chiều, thậm chí độc hại trên mạng. Nếu không có biện pháp quản lý hiệu quà, nó sẽ tác động xấu đến mỗi gia đình, nhất là đến thế hệ trẻ. Mặt khác, hiện nay đang diễn ra tình trạng lạm dụng kỹ thuật công nghệ trong việc phát hiện sớm giới tính thai nhi làm tăng tình trạng mất cân bằng giới tính đang diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nước, trong đỏ có Việt Nam. Nếu không kiềm soát tốt vấn đề này, đây sẽ là một nguy cơ đe dọa sự phát triền ồn định vả bền vững về dân số của nước ta

Tác động của các yếu tố truyền thống tới gia đình Việt Nam hiện nay

 


Mặc dù sự nghiệp đổi mới của nước ta được thực hiện trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế rộng mở, nhưng do Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều phong tục, tập quán, tâm lý, lối sổng của xã hội còn in đậm trong nhiều gia đình truyền thống và trong xã hội.

+Đó là lối sổng trọng tình, trọng đạo lý, là tính cộng đồng chặt chẽ... trong gia đình truyền thổng nguời Việt. Những truyền thổng này có những mặt tích cực và là yếu tố thuận lợi cho việc xây dựng gia đình. Song, nó cũng có nhiều hạn chế và có tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi gia đình và toàn xà hội, như: tính phụ quyền gia trưởng, thiếu dân chủ, quan hệ dòng họ chi phối mạnh...

Vấn đề đặt ra là mỗi gia  đình cần nhận thức đúng mặt tốt của nó để tìm cách giữ gìn và phát huy, nhất là thông qua việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình; đồng thời phải khắc phục mặt tiêu cực của các yếu tố tmyền thống đối với  xây dựng gia đình cũng như đối với sự phát triển cùa mỗi cá nhân.

Đối với nhà quản lý, nhiệm vụ xây đựng gia đình chỉ đạt hiệu quả cao nếu một mặt biết khơi dậy những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, cũng như những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Mặt khác, chủ thể lãnh đạo, quản lý phải có năng lực nhận biết những tiẻu cực và tác hại của nó đề định hướng cho các gia đình trong việc xây dựng gia đình mới tiến bộ. Đồng thời, nhà quản lý cũng phải biết dựa vào cộng đồng dân cư đề thực hiện các biện pháp giáo dục, tuyên truyền phù họp nhằm triển khai những chủ truơng, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình, từ đó tạo ra sự đồng thuận xã hộí cao đề thực hiện tốt phong trào xây dựng gía đình vãn hóa.

Tiêu chí xây dựng gia đình Việt Nam hiệu nay

 


thực chất là xây dựng gia đình mới trên cơ sở "kế thừa, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn liền với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển”1; làm cho mỗi gia đình trở thành tế bào phát triển lành mạnh, đủ sức chống lại sự “tấn công” của các tiêu cực xã hội và những tác động xấu của các yếu tố ngoài gia đình.

Đế xây dựng gia đình, cần phải có bộ tiêu chí xác định vừa mang tính chuẩn mực chung có tính phổ quát, vừa phù hợp với xu thế phát    triển của xã hội hiện đại. Do yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử khác nhau, nên những tiêu chí xây đựng gia đình ở nước ta cũng có những  thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”2.

        “No ấm”  Gia đình no ấm là gia đình được đảm bào an toàn về í lương thực và có điều kiện kinh tế tối thiều bằng điều kiện kinh tế trung bình tại địa bàn cư trú; đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho mọi thành viên trong gia đình.

        "Tiến bộ " Gia đình tiến bộ là gia đình mà mọi thành viên đều yêu thương, tôn trọng lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ mọi quyền lợi, nghĩa vụ vả trách nhiệm, tạo điều kiện và cơ hội như nhau cho sự phát triển toàn dỉện cùa mỗi cá nhân, đồng thời mỗi cá nhân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với gia đình và xã hội trong việc thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước và quy định của pháp luật. Mỗi gia đình tiến bộ sẽ góp phần tạo nên xã hộỉ tiến bộ.

"Hạnh phúc” Gia đình hạnh phúc được xây dựng trên cơ sở gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ. Gia đình hạnh phúc là mọi thành viên trong gia đình phải được đảm bảo các nhu cầu thiết yếu về đời sống vật chất vả tinh thần; được hưởng bầu không khí cởi mở, yêu thương, cùng chia sẻ, đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Mọi thành viên trong gia đình đều có quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm với nhau, với gia đình và với xã hội; được bình đẳng, tôn trọng; có điều kiện để học tập vươn lên; các thành viên trong gia đình cùng đồng cam cộng khổ, tự giác cùng nhau xây dựng tố ấm gia đình.

“Văn minh”: Gia đình văn minh là gia đình tiếp thu được đầy đủ các yếu tố tiên tiến của thời đại (bình đẳng, dân chủ, tôn trọng lợi ích chính đáng của cá nhân...) để duy trì, xây dựng và phát triển gia đình.

Như vậy, xây dựng gia đình với đầy đủ những tiêu chí trên sẽ làm cho gia đình thực sự là no ấm của mỗi người,là tế bào lành mạnh của xã hội, thúc đẩy xã hội và đất nước phát triền nhanh, bền vững.

Chức năng đáp ứng nhu cầu tâm lý, sinh lý tình cảm


Chức năng này được thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu tâm lý, sinh lý và tình cảm tự nhiên cùa con người. Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính và giới, tâm lý lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng, mệt mòi về thể chất và tâm hồn... cần được chia sè và giải quyết trong phạm vi gia đình và giữa những người thân một cách hòa thuận. Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, sinh iý, tình cảm giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái...làm cho các thành viên trong gia đình cảm thấy được bình yên, được an toàn, có điều kiện sống khỏe mạnh vể vật chất và tinh thần, đó là những tiền đề cần thiết để củng cố các mối quan hệ của gia đình, bảo vệ gia đình hạnh phúc, bền vững.   

 

       Trong xã hội hiện đại, độ bền vững của gia đình không chỉ phụ thuộc vào sự

ràng buộc cùa các mái quan hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa vợ và chồng; cha mẹ và con cái; sự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích gia đình, mà nó còn bị chi phối bởi các mối quan hệ hòa hợp  tình cảm giữa chồng và vợ; cha mẹ và con cái, sự đảm bảo hạnh phúc cá nhân, sinh hoạt tự đo, chính đáng của mỗi thành viên gia đình trong cuộc sống chung.

Thực hiện tốt chức năng này không chỉ góp phần quan trọng cho đảm bảo xây dựng gia đình phát triển bền vững, hạnh phúc, mà còn góp phần thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh.

Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh rằng: những                    

biến đồi về kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia đều có tác               

động mạnh mẽ dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu, vị trí và các chức năng của gia đỉnh. Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng nhanh

 về kinh tế nểu không gắn liền với phát triền hài hòa các mối quan hệ xã hội sẽ làm ảnh hưởng đến cấu trúc của gia đình và dẫn đến những khùng hoảng

 đồ vỡ các quan hệ gia đình. Thực tế này đã và đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, nhất là ờ các nước phát triển, dẫn đến những tác động tiêu cực đối với sự phát triền của cá nhân và đe dọa sự phát triển ồn định của mỗi gia đình và toàn xã hội.

Để khắc phục tình trạng trên, nhiều quốc gia đã hình thành các cơ quan quản lý nhà nước phụ trách vấn đề gia đình với các chính sách và sự đầu tư thoả  đáng giúp cho gia đình có đủ năng lực thực hiện các chửc nămg của mình và thích nghi được với những biến đổi của kinh tế - xã hội. Vì vậy,  năm 1994 (năm Quốc tế Gia đình), Liên hợp quốc đã nêu ra một nguyên tắc quan trọng được các quốc gia thừa nhận; 

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

 


Hoạt động kinh tế là chức năng tự nhiên của mọi gia đình nhằm tạo ra những điều kiện vật chất để tổ chức tốt đời sổng gia đình nuôi dậy  giáo dục con cái tốt hơn, đồng thời góp phần quan trọng vào  việc thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Hoạt động kinh tế  của gia đình bao gồm cả hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động tổ chức tiêu dùng của gia đình. Trình độ phát triền cùa phương thức sản xuất, truyền thống văn hỏa, lối sống và phong tục, tập quán của mỗi dân tộc cỏ ảnh hưởng lởn đến trình độ tồ chức các hoạt động kinh tế và tiêu dùng của gia đình.

Tồ chức tốt đời sống gia đình chính là việc tổ chức tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của gia đình một cách có hiệu quả để tăng thu nhập; đồng thời là việc sử dụng một cách hợp lý các khoản thu nhập và quỹ thời gian nhàn rỗi của các thành viên nhằm tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, trong đó, tình cảm và lợi ích vật chất của mỗi thành viên được đảm bào hài hòa.

Tuy nhiên, khi gia đình đã trở thành một đơn vị sản xuất, đơn vị kinh tế tự chủ, nếu các thành viên trong gia đình, tnrớc hết là cha mẹ, bị cuốn hút vào chức năng kinh tế, sao nhãng các chức năng khác của gia đình, như chăm sóc, nuôi dạy con cái sẽ có tác động xấu đến sự phát triển bền vững của gia đình và làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, mỗi gia đình cần chủ động tổ chức một cách khoa học hoạt động lao động sản xuất cũng như tiêu dùng của gia đình để vừa phát triển kinh tế gia đinh, vừa đảm bảo gia đình phát triển lành mạnh, hạnh phúc.