Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

RÈN LUYỆN NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ, NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

          Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị có mối quan hệ mật thiết với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị và có ảnh hưởng lớn đến cả xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị là yêu cầu đặt ra với Đảng và cũng là yêu cầu đặt ra với từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

          Báo cáo chính trị, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng và Nghị quyết của Đại hội XIII, đều đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Những nội dung cơ bản đó trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau, để hướng tới mục tiêu chính trị là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xét đến cùng, vấn đề xây dựng Đảng về chính trị của một đảng lãnh đạo, cầm quyền như Đảng ta có ý nghĩa quyết định bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị với nội dung căn bản: “Kiên định và không ngừng vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược. Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”.

          Từ thực tiễn đổi mới, Đảng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Trong đó, bài học hàng đầu là: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Kinh nghiệm trước hết trong công tác xây dựng Đảng là: “nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ; đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.

          Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, nội dung, phương hướng xây dựng Đảng về chính trị hiện nay cần được chú trọng trên những vấn đề lớn:

          Thứ nhất, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, cương lĩnh xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

          Trong xây dựng Đảng về chính trị, vấn đề hàng đầu là xây dựng, hoàn chỉnh và bảo đảm tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng. Đó cũng là điều kiện cơ bản cho sự lãnh đạo, cầm quyền thành công của Đảng Cộng sản. Cương lĩnh, đường lối bao giờ cũng là sự kết hợp giữa nguyên lý lý luận, quy luật khách quan với đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, của cách mạng ở mỗi thời kỳ và phải luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng, phát triển lý luận một cách sáng tạo. Nhờ vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng mà Đảng đề ra đường lối cách mạng giải phóng và đường lối kháng chiến thích hợp để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến toàn thắng. Trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới đã có lúc Đảng chưa nhận thức đúng đắn các quy luật, rơi vào nóng vội, chủ quan, duy ý chí nên đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (tháng 12-1986) vừa sửa chữa khuyết điểm, vừa đổi mới tư duy lý luận để nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) được bổ sung, phát triển năm 2011 chính là sự tiếp nối tư duy đó. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn để làm rõ nhiều vấn đề mới do sự vận động và phát triển của đất nước và thời đại đặt ra.

          Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa trung thành với lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với không ngừng phát triển lý luận, đổi mới nhận thức. Trung thành mà không thể phát triển thì sẽ sa vào giáo điều, bảo thủ, trì trệ; phát triển mà không trung thành sẽ có thể mắc vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội và chệch hướng. Mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo phải luôn luôn được đặt ra với Đảng, với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược - đội ngũ có vai trò hoạch định đường lối.

          Nhiều vấn đề xây dựng Đảng về chính trị đang đặt ra đối với đường lối, chủ trương lớn, những quyết sách chiến lược của Đảng cần có giải pháp xử lý kịp thời, gắn liền với việc hoàn chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các quy luật của thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa nhà nước với thị trường và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì chính sách, pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối của Đảng và do đó, có quan hệ mật thiết với xây dựng Đảng về chính trị. Chính sách, pháp luật càng hoàn thiện, có hiệu lực, chính là hiện thực hóa có hiệu quả đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một mối quan hệ lớn rất quan trọng, đó là quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là vấn đề lớn về chính trị, xã hội của Đảng Cộng sản cầm quyền. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng là thuộc phạm trù Đảng lãnh đạo chính trị, xây dựng nền chính trị vì dân và do đó, cũng là yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị.

          Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.

          Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người; là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc; là phẩm chất chính trị cao đẹp, đức hy sinh, ý thức tổ chức, tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu về trí tuệ.

          Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng phải bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” phải nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có đủ bản lĩnh, năng lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ.

          Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới khả năng hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, thì toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa ra nhận định rằng, khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao hơn nữa khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.

          Thứ ba, xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân.

          Trong công cuộc đổi mới, Đảng kiên định lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới đã ngày càng làm sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”; bởi vậy, cần xây dựng và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xã hội là cơ sở rất quan trọng và cũng là yêu cầu khách quan để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phong cách làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu xa rời thực tế, xa rời nhân dân; lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.

          Cần nhận thức rõ, nội dung xây dựng Đảng về chính trị được Đại hội XIII nhấn mạnh là khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tính kiên định đó thể hiện trách nhiệm cao của Đảng đối với đất nước và nhân dân trên con đường phát triển, đồng thời cũng là trách nhiệm đối với lịch sử, đối với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn - sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Mục tiêu chính trị của Đảng, của dân tộc và con đường phát triển đó là duy nhất đúng đắn, không thể là con đường nào khác.

          Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên trong cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự của Đảng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào mà trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì nơi đó đạt được nhiều thành quả trong sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì thế mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị cần nghiêm túc, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân./.

                                                                                                st

ĐẤU TRANH BẢO VỆ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GẮN LIỀN ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐẢNG, BẢO VỆ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


          Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

          Công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.

          Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

          Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra.

          Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá.

          Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

          Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

                                                                                                St

BỌN NÀY HÚT LẮM LẠI NGÁO.! LẠI THÊM THẰNG DỐT NGHIÊN CỨU BỪA.!

 

          Mở mồm là thở ra những câu vô học như thế này. Nga với Ukraine liên quan gì tới Việt Nam với Trung Quốc

          1. Việt Nam chưa bao giờ t.àn sá.t người Việt gốc Hoa cả, nhưng đám Tân Ukr thì đã và đang g.iế.t người Ukr gốc Nga suốt 8 năm qua. Dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam là hoàn toàn có chủ quyền, chẳng phải nghe ai giật dây để cố tình gây hấn với các nước láng giềng.

          2. Việt Nam và Trung Quốc là 2 dân tộc suốt chiều dài lịch sử là hàng ngàn năm xung đột. Ngược lại, trước khi Lenin ký quyết định thành lập Ukr thì không hề có cái gọi là nhà nước Ukr toàn vẹn. Ukr thực sự đã là 1 phần của Nga, có chung nguồn cội văn hoá lịch sử sâu sắc.

          3. Bọn quốc tế chỉ là chúa mõm. Vấn đề độc lập và toàn vẹn lãnh thổ biển đảo, Việt Nam sẽ quyết đem toàn bộ tinh thần và sức lực, tính mạng và của cải để bảo vệ nó.

          Việt Nam không dựa vào bên nào, không theo một ai. Thứ chúng ta chọn là lẽ phải!

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỂM CHO RẰNG: "VIỆT NAM ĐÁNH MỸ NHƯNG BÂY GIỜ LẠI LÀM ĂN VỚI MỸ, SANG MỸ SINH SỐNG VÀ HỌC TẬP"

 

        Lâu nay trên không gian mạng, cái luận điệu cho rằng "Việt Nam đánh đuổi Mỹ nhưng bây giờ lại làm ăn với Mỹ, đưa con cháu sang Mỹ học tập, sinh sống" lại được một số người dùng như một thứ bảo bối để đưa ra bịt miệng những người có ý kiến chê bai nước Mỹ và nền "tự do, dân chủ" giả hiệu của họ. Hễ đuối lý là y như rằng họ lại mang luận điệu cũ rích đó ra để chày cối. Xin có đôi lời luận giải như sau:

          Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có câu nói để đời: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Đó là một ý kiến gợi lên cho mỗi chúng ta những suy nghĩ nghiêm túc về đường lối ngoại giao của các nước trên thế giới. Từ “vĩnh viễn” nói đến một mối quan hệ bền vững lâu dài. Trong câu nói của cố Thủ tướng Anh, chúng ta thấy từ “không có” được điệp lại hai lần, từ “vĩnh viễn” được điệp lại ba lần. Từ đó làm nổi bật lên bức thông điệp: Trong đường lối ngoại giao, lựa chọn làm bạn hay đối đầu nhau trên chiến trường, là kẻ thù của nhau thì tiêu chí cao nhất để đánh giá, định vị mối quan hệ đó chính là lợi ích quốc gia. Nghĩa là lợi ích quốc gia là dĩ bất biến còn chuyện là bạn hay là thù, đó là ứng vạn biến!

          Cổ nhân có câu “Thương hải tang điền” ngụ ý nói về sự thay đổi khó lường của cuộc đời. Còn nhà triết học Heraclitus đã từng khẳng định “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” để nói về dòng đời chảy trôi với những biến thiên của cuộc sống. Cuộc sống luôn chứa đựng những điều bất ổn, còn bước đi của lịch sử thì luôn song hành với nhịp điệu của thời gian. Vì vậy, mọi mối quan hệ chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cần phải học cách thay đổi để thích nghi. Nếu không biết cách hội nhập thì cá nhân hay cả một dân tộc sẽ trở thành những kẻ trì trệ bảo thủ. Chính vì lẽ đó, mối quan hệ “ta và địch” sẽ được biến thiên theo dòng chảy của cuộc đời. Nhà thơ Tố Hữu từng viết:

                    "Thù, bạn thời này có khác xưa

                    Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?

                    Chợ trời thật giả đâu chân lý?

                    Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?"

          Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm qua và trong bối cảnh hiện nay đến với nhau trên tinh thần khép lại quá khứ đau thương của 02 dân tộc, hướng đến tương lai. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển thành quan hệ đối tác chiến lược. Việt Nam chào đón người Mỹ đến với quốc gia tươi đẹp và yêu chuộng hòa bình trên cơ sở hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đóng góp cho sự nghiệp chung, vì sự phát triển của hai nước, vì hoà bình của nhân loại.

          Điều này khác xa với việc quân đội chính quy Hoa Kỳ và đồng minh đến Việt Nam 1965 để xâm lược và nuôi dưỡng bọn bán nước VNCH chống lại dân tộc Việt Nam. Người Mỹ đến Việt Nam bao giờ cũng được đón tiếp nồng hậu! Hiện nay Việt Nam chúng ta sẵn sàng mở rộng vòng tay đón chào bè bạn năm châu, bốn biển trong đó có Hoa Kỳ đến với đất nước hùng anh và văn hiến ngàn đời này bằng "hoa hồng và đại bác chào mừng", chứ không còn là AK 47 và những tràng đại bác để vùi đầu giặc trong biển lửa hờn căm kiểu 1965, khi người Mỹ chính thức đưa quân đội của mình và chư hầu sang để xâm lược nước ta. Ngày xưa, Mỹ sang ta là đi xâm lược; do đó, chúng ta phải chiến đấu để quét sạch nó đi. Ngày nay thời và thế khác xưa, ta và họ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau.

          Việt Nam đánh Mỹ nhưng bây giờ lại đưa con, cháu sang Mỹ định cư và học tập: thưa với các bạn đu càng tụt quần và cả đám nhân danh đấu tranh cho "dân chủ nhân quyền" trong và ngoài nước thân mến! Các bạn phải hiểu rằng Hoa Kỳ là quốc gia mà đại đa số công dân của họ hiện nay có góc gác là những người đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Người ta đến với Hoa Kỳ, mang theo cả tinh hoa của dân tộc họ để gộp thành một hợp chủng quốc đa văn hoá, đa sắc tộc, đa dạng và phong phú về mọi mặt. Hoa Kỳ là quốc gia có nền kinh tế và khoa học công nghệ tiên tiến nhất thế giới, là nơi quy tụ trí tuệ của nhân loại (không chỉ riêng của người Hoa Kỳ).

          Con em Việt Nam đến Hoa Kỳ học tập và sinh sống cũng là lẽ đương nhiên. Học tập những tinh hoa nhân loại để sau này về phục vụ đất nước hay ở lại để phát triển tài năng, để thế giới biết về người Việt không chỉ anh hùng trong chiến đấu mà còn thông mình, sáng dạ, làm rạng rỡ non sông. Tuy nhiên muốn nhắc cho các bạn nhớ rằng, người Việt Nam đến Mỹ hiện nay là quang minh chính đại, nghĩa là đàng hoàng với tâm thế của những người công dân của một dân tộc tự do, độc lập và yêu chuộng hòa bình; sánh bước ngang hàng với người Mỹ, ngẩng cao đầu bước vào cửa chính. "ngồi chung mâm", "thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay". Khác xa so với việc phải đu càng máy bay trực thăng và cướp thuyền của dân vượt biên đến với nước "Mẹ" của đám chống cộng cực đoan sau ngày 30/4/1975!

          Từ những lẽ trên, có thể khẳng định là người Việt đến Mỹ hay người Mỹ đến Việt Nam để học tập, làm ăn, sinh sống, đó là chuyện thường tình. Ngày nay, khi Việt Nam đang phất lên thì đừng nói, ai sẽ chơi với Việt Nam mà hãy nói rằng: Việt Nam sẽ lựa chọn ai để chơi. Đại hồng kỳ của Việt Nam kiêu hãnh tung bay khắp năm châu là bằng chứng sinh động nhất, trung thực nhất. Chúng tôi tự hào là công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc. 

                                                                                                        St PQ

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

 CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KhÔNG THỂ LỖI THỜI 


 Hầu hết những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn thường lập luận, thế giới ngày nay đã phát triển vượt bậc, mọi thứ đều đã khác, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được so với hệ thống tư bản chủ nghĩa thời C.Mác nghiên cứu, do đó chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, tư tưởng của C.Mác không còn phù hợp! Nhưng những lời chống đối ấy đã cố tình lờ đi sự thật là: Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự phê phán sâu sắc nhất, khoa học nhất đối với những bất công, bất bình đẳng. Đó là hệ tư tưởng phản biện duy nhất đã và đang làm thay đổi thế giới theo hướng ngày càng công bằng và tốt đẹp hơn. Cũng có nghĩa, chừng nào xã hội hiện đại còn có những bế tắc, khủng hoảng thì chừng đó chủ Nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển cấp tiến hơn. Một điều chắc chắn là các thế hệ tiếp nối tư tưởng đương nhiên sẽ làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời.

 Chúng ta thấy rằng, những điều tưởng như hiển nhiên trong cuộc sống của loài người hôm nay như: trẻ em được đến trường chứ không phải đi làm; phụ nữ được giải phóng và bình đẳng với nam giới; người lao động làm việc 8h một ngày, thời gian rảnh không bị ai quản thúc; y tế được chăm sóc toàn dân; giáo dục được phổ cập; người nghèo được quan tâm, người có hoàn cảnh đặc biệt được chia sẻ...tất cả những điều tưởng chừng như hiển nhiên hôm nay không phải ngẫu nhiên có được mà chính sự thật là nhờ sự thức tỉnh được chỉ ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta phải biết ơn Mác và những nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi chính họ mang đến, gieo mầm để những sự thật tốt đẹp đó từng ngày hiển hiện khắp hành tinh.

Khác với tất cả các học thuyết trước đó hoàn toàn chỉ là nhận thức thế giới, với chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề không chỉ có nhận thức, mà điều quan trọng phải là cải tạo thế giới, nghĩa là làm cho thế giới thay đổi, làm cho thế giới tốt đẹp hơn. C.Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống tư bản chủ nghĩa mà ông phản bác. Chính nhờ C.Mác mà loài người có được những khái niệm về các hình thái lịch sử khác nhau đã song hành hoặc kế tục nhau tồn tại của tư bản: tư bản thương mại, tư bản nông nghiệp, tư bản công nghiệp, tư bản độc quyền, tư bản tài chính, đế quốc… C. Mác còn nhìn thấy trước được cái mà giờ đây chúng ta gọi là “toàn cầu hóa”.

 Sự thật là, tại thời điểm C.Mác và Ph.Ăngghen viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản, ở khắp Châu Âu và Hoa Kỳ, trẻ em từ 5 đến 14 tuổi phải làm việc phổ biến trong các ngành nông nghiệp, nhà máy, hầm mỏ hay bán báo, thậm chí phải làm đến 12h/ngày. Tuyên ngôn Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen đã không khoan nhượng tình trạng ấy, các ông yêu cầu giáo dục miễn phí cho trẻ em trong các trường học công và xóa bỏ bóc lột trẻ em trong các nhà máy. Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác đã khởi xướng và bắt nhịp cho dàn đồng ca khắp thế giới để ngăn chặn chấp dứt lao động trẻ em và đưa trẻ đến trường. Cũng chính ở thời điểm đó, người phụ nữ ở Mỹ và các nước Châu Âu vốn có địa vị thấp kém hơn so với đàn ông, họ bị coi như nô lệ trong gia đình, thậm chí bị coi như là một món món hàng để giới tư sản mua bán, trao đổi, quyền công dân của họ bị tước bỏ, không được bỏ phiếu bầu cử và cũng chẳng được tham gia bất cứ hoạt động chính trị nào. C.Mác và Ph.Ăngghen đã tố cáo gay gắt sự bất công ấy, nhưng quan trong hơn, các ông không chỉ vách trần nguồn gốc sự bóc lột tư bản đối với nữ giới mà còn chỉ ra con đường giải phong phụ nữ thành công. Đó là một tầm cao mà tại thời điểm đó tư tưởng nhân loại chưa thể vươn tới.

Đối với nhân loại cần lao, quyền bình đẳng là cái mà họ phải phấn đấu đấu tranh cả đời, nên ai ai cũng rất hiểu và thấm thía. Khi ấy giới tư bản chỉ tập trung làm giầu trong một số ít giai cấp tư sản, còn đại bộ phận nhân dân không được bảo vệ trước áp bức, bất công. Nơi nào có áp bức tất yếu nơi đó có đấu tranh. Dự báo của C.Mác về việc đấu tranh rút ngăn thời gian lao động từ 14, 15h/ngày xuống còn 8h/ngày trở thành mục tiêu quan trọng được tuyên bố trong Quốc tế Cộng sản I, sau này tiếp tục được nêu trong Quốc tế Cộng sản II để rồi từ ngày 1/5/1890, Quốc tế lao động đầu tiên ra đời với quy mô toàn thế giới cùng hiệp lực, cùng đấu tranh đã biến ngày làm 8h thành hiện thực. 

Có lẽ chính bởi sự vạch trần và phê phán gay gắt, quyết liệt đến tận cốt tử về bản chất của CNTB nên CNTB trở lên thù hận Chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí họ còn ngông cuồng coi đó như là một bóng ma cần phải trừ khử. Thế nhưng chính sự phê phán của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khiến CNTB tự biến đổi, tự sửa chữa những sai lầm của mình như, xây dựng các nhà nước phúc lợi hay tìm cách thu hẹp khoảng cách giầu nghèo nhằm điều hòa mâu thuẫn xã hội, mâu thuấn giai cấp. Thực tế CNTB không phải đi từ tờ giấy trắng để có sự tốt đẹp. Để có thành tựu hôm nay, CNTB đã để lại trên con đường đi của mình biết bao mồ hôi, xương máu của con người. Biết bao người da đen, da đỏ, da vàng đã phải bị giết chóc, tù đầy, biết bao người lao động đã bị hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy…để họ xây dựng chế độ như ngày nay? 

Jacques Derrida, một nhà triết học người Pháp viết trong tác phẩm “Những bóng ma của Mác” cho rằng: "con người trong xã hội hiện đại, dù là những người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin hay những người phê phán C.Mác cũng gắn chặt với C.Mác. Sẽ không thể có tương lai nếu không có các di sản của C.Mác". Ông khẳng định: “cần phải trở về với Mác để chống lại cái "trật tự thế giới mới" của thị trường tư bản chủ nghĩa”. Còn Tery Eagleton, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh thì viết trong cuốn “Vì sao Mác đúng?” rằng: "Chủ nghĩa Mác giống như bác sỹ, khi mà cơ thể khỏe mạnh sẽ không để ý, song một khi CNTB gặp vấn đề nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Chính Mác đã thúc đẩy những thay đỏi tích cực của các nước tư bản". Đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng dân chủ xã hội và loài người tiến bộ, hàng tỉ người trên khắp thế giới vẫn khẳng định học thuyết của C.Mác có giá trị thời đại, vững bền.

Linh hồn và sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là phương pháp luận, những đòi hỏi đổi mới và sáng tạo không ngừng. Nhưng nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ trước, trong thế kỷ này mà còn đúng cho những thế kỷ sau, vì đó là những quy luật khách quan. Một số người chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ tập trung phê phán 3 người sáng lập C.Mác, Ph.Ăngghen, VI. Lênin mà tách rời tư tưởng hoặc tìm cách đối lập tư tưởng của họ với những người tiếp nối về sau. Họ cố tình lời đi sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hơn một thế kỷ qua mà chỉ nhằm vào mục tiêu chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, giáo điều, hay xa rời thực tiễn. Cách suy luận siêu hình đó tất yếu sai lầm. Tiếp nối C.Mác, VI.Lênin khắp thế giới có nhiều nhà tư tưởng kiệt xuất. Ở Việt nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà còn cống hiến, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên những tư tưởng tầm vóc lịch sử, những cuộc cách mạng chấn động địa cầu, đẩy lùi chiến tranh xâm lược của Đế quốc, thực dân, những nô dịch, áp bức, bất công để thiết lập lên nền tảng của cuộc sống độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Tiếp sau Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công hơn 30 năm đổi mới tạo ra sự biến đổi về chất, từ một đất nước bị bóc lột, tàn phá đến quyệt quệ, bị cô lập, chống phá quyết liệt sau chiến tranh thành quốc gia tự tin hội nhập cùng thế giới. Bởi vậy, chính sự nối tiếp một cách biện chứng và bản chất sáng tạo, luôn phát triển của mình làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời hay lạc hậu.

Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ bởi tính lôgic, khoa học mà còn tính nhân văn, nhân bản trong mục tiêu, đích đến. Giá trị thời đại trong chủ nghĩa Mác chính là sự hiện tồn những giá trị tốt đẹp của CNXH. CNXH liệu có xa xôi đến mức không tưởng? Thực ra không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ nhìn rất gần xung quanh chúng ta, rất nhiều người dù thành đạt hay chưa thành đạt lắm vẫn dành thời gian đều đặn tham gia nấu những bữa cơm cho người bệnh, vui vẻ chung tay xây dựng những chương trình từ thiện, lo những xuất ăn cho người nghèo… Dù là chủ doanh nghiệp hay cán bộ, nhân viên, thỉnh thoảnh lại chi ra một số tiền cho hoạt động thiện nguyện và trực tiếp thực hiện những chương trình của mình. Không những thế, họ rất chu đáo, tậo tâm với công việc này, vẫn quan tâm chi sẽ nỗi lo, niềm vui vì lợi ích của người khác, cho dù thế giới đang khủng hoảng tài chính hay nền kinh tế gặp khó khăn. 

V.I.Lênin gọi những người quan tâm đến lợi ích của những người bà con xa là những người của CNXH. Ở Việt Nam, sự tự nguyện, tự giác chăm lo cho người khác ngày càng được nhân lên nhiều mô hình phong phú: những phụ nữ làm tủ bánh mì miễn phía cho người cơ nhỡ; những người đàn ông bơm, vá xe miễn phí cho sinh viên, người lao động nghèo; góc đường phố có bình nước mát miễn phí ai đó đặt... Trong kinh tế thị trường ai cũng vất vả kiếm sống không dễ, nhưng chia sẻ với nhau bằng tấm lòng vị tha, nhân ái thì không phải là xã hội nào cũng có. Họ có lẽ chưa hiểu đầy đủ về CNXH, CNCS nhưng họ đã có hành động như vậy đấy.

CNXH không phải là sản phẩm của C.Mác, của Ph.Ăngghen, của VI.Lênin.  Ngay từ thế kỷ VII, VIII, các nhà tư tưởng ở phương Đông đã mơ về một xã hội không còn người lầm than, không còn người lê la ở nơi hang cùng, xóm vắng nữa. Thuật ngữ CNXH đã bắt đầu xuất hiện trước lúc C.Mác sinh ra hơn 100 năm. Có điều, làm thế nào để xây dựng được một xã hội như vậy thì các nhà tư tưởng lúc đó chưa tìm ra được con đường, thế cho nên người ta gọi CNXH không tưởng. Chỉ đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra cơ sở lịch sử để thực hiện lý tưởng XHCN thì CNXH mới không còn là một “bóng ma”. Các ông đã tìm thấy ở đó lực lượng, điều kiện mà những người trước đó không tìm thấy. Với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848, CNXH được khẳng định là một thực thể, một sự tồn tại có thật và đang lớn lên từng ngày, trở thành lực lượng khuynh đảo thế giới, cân bằng lại thế giới đang trong thời của bờ vực rạn vỡ.

CNXH mới được hơn 100 năm kể Cách mạng tháng Mười. Nếu nhìn rộng ra CNTB có tận 500 năm lịch sử. Thế nên nếu chỉ nhìn vào sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 mà vội kêu lên CNXH đã cáo chung thì hoàn toàn sai lầm. CNXH là chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng cộng đồng không dễ gì bác bỏ, tiêu vong được. Nhân loại đã đi qua rất nhiều chặng đường và lịch sử của CNXH cũng đã trải qua những bước thăng trầm tất yếu với 4 lần khủng hoảng, điều đó cho thấy sức sống của một lý tưởng không hề bằng phẳng. Các thế lực thù địch công kích nó đã đành, nội tại bản thân nó cũng phải đấu tranh để tồn tại và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “CNCS  không phải là một lý tưởng hay một khuân mẫu để chạy theo. Đối với chúng tôi CNCS là sự vận động của đời sống hiện thực”. Con đường đi lên CNXH sẽ không bằng phẳng mà còn rất nhiều gập ghềnh, thử thách, thậm chí phải trả giá bởi những thất bại tạm thời, bởi đó không phải con đường có sẵn, mà muốn đi lên phải tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉ, sửa chữa, đục kết, hoàn thiện… Để có một chế độ xã hội tốt đẹp phải trải qua quá trình xây dựng. Đó là con đường tất yếu mà xã hội nào cũng phải trải qua. CNXH mà Hồ Chí Minh quan niệm là độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một nước XHCH tức là một nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập. Ba mục tiêu mà chúng ta hướng tới đó là độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là mục tiêu sống còn, là đích đến cuối cùng mà chúng ta xây dựng. Lựa chọn con đường nào để đi đến chân trời tươi sáng là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng rõ ràng ở Việt Nam hiện nay phát triển theo CNXH là con đường duy nhất đúng. Để đạt được mục tiêu ấy con đường đi lên của chúng ta không phải là con đường tư bản đã đi, mà là đi theo con đường XHCN. Một đất nước ổn định về chính trị, yên bình về xã hội, an toàn về quốc phòng an ninh để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư phải là một nước Việt Nam của con người CNXH. Khi đất nước đã bước qua những năm tháng chiến tranh đói khổ, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH ở Việt Nam tiến lên một bước mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thế giới đã đổi thay, thế nhưng thực tiễn xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ vẫn không đưa ra được bằng chứng xác thực nào để bác bỏ nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin. Hơn thế, đi ngược về các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỷ này, tức là trên dưới 150 năm học thuyết Mác ra đời người ta buộc phải tìm lại giá trị Mác để tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng đương thời, bởi Mác đã mô tả hoàn toàn chính xác về quy luật phát triển của CNTB. Cho đến hôm nay, chính nội tại của các nước Tư bản, đằng sau sự hào nhoáng thì con người phải đối diện với những bất an, bất lực, phân biệt chủng tộc, khoảng cách giầu nghèo, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn chính trị xã hội. Và cũng chính ở đó, sự an hòa, yên bình, người với người sẻ chia của xã hội XHCN lại là những chân trời mà nhân loại khao khát vươn tới. 

Hơn 100 năm qua tư tưởng của các nhà kinh điển đã vượt qua thử thách của thời đại cũng như sự công kích, chống phá của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, bất chấp mội công kích, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới. Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với tư tưởng Mác ngày càng tăng như một đơn đặt hàng của lịch sử./.

 NỔI THÊM “LÒ LỬA”, TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG


Đảng ta đã thể hiện quyết tâm cao nổi thêm những “lò lửa” mới, quyết liệt thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần đã được đồng chí Tổng bí thư khẳng định - "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".


Đề án Thành lập Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực cấp tỉnh, do Ban Nội chính Trung ương chủ trì xây dựng, đã được đưa ra xem xét, quyết định tại Hội nghị Trung ương 5 Khoá XIII, bế mạc ngày 10/5. Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đã thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với thực tế hiện nay. Quyết sách tại Hội nghị giống như một tiếng trống lệnh, quyết liệt nổi thêm những “lò lửa” mới nhằm loại bỏ những “cành củi sâu mọt, mục ruỗng” một cách đồng bộ và liền mạch từ địa phương đến trung ương.


Ngay từ thời kỳ đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định tham ô, tham nhũng là một thứ “giặc nội xâm”, và chống “giặc nội xâm” luôn là công tác được Đảng ta đặt lên hàng đầu. Từ năm 2006, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã được thành lập, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Tiếp đó, năm 2007, các ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh được thành lập. Tuy nhiên, hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn gặp một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012) đã quyết định chuyển đổi mô hình Ban Chỉ đạo PCTN trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu sang mô hình Ban Chỉ đạo trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu. Hội nghị cũng quyết định không tổ chức các ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh, thành phố. Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với Ban Chỉ đạo Trung ương khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương.


Sau đúng 10 năm thành lập, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt xử lý rất nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng và phức tạp, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh với khí thế cao ngút, khẳng định quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước ta là "không có vùng cấm”, không có ngoại lệ trong đấu tranh với sai phạm, tham nhũng, tiêu cực. Với tinh thần ấy, “lò lửa” chống tham nhũng đã được bỏ vào rất nhiều “thanh củi mục ruỗng” dù lớn hay nhỏ, lấy lại niềm tin của nhân dân vào công cuộc chỉnh đốn, làm trong sạch Đảng một cách thực chất, nghiêm minh.


Rõ ràng bộ máy chống tham nhũng, tiêu cực ở cấp Trung ương đã vận hành hiệu quả, sắc bén. “Lò lửa” chống tham nhũng ở Trung ương luôn rực lửa. Tuy nhiên, ở cấp địa phương thì công tác PCTN, tiêu cực vẫn chưa có sự chuyển biến rõ nét, thậm chí ở nhiều nơi vẫn còn khá “nguội lạnh”. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức việc lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương, dẫn đến nhiều vụ việc nổi cộm gây bức xúc nhưng tiến độ giải quyết còn chậm; số vụ việc tiêu cực, tham nhũng lớn do địa phương phát hiện còn rất ít…


Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ việc tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN, tiêu cực chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cấp địa phương chưa có một “tổng chỉ huy” để chỉ đạo phối hợp và đẩy mạnh mũi nhọn chống tham nhũng.


Chính vì thế, đây là thời điểm chín muồi để Đảng ta triển khai thành lập các Ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động giống như “cánh tay nối dài” của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm đẩy mạnh hoạt động PCTN, tiêu cực tới từng địa phương. Hệ thống PCTN từ đây sẽ có sự lãnh đạo thông suốt, đồng bộ, có hệ thống từ trung ương đến cấp tỉnh. Trung ương sẽ không làm thay việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho cấp tỉnh, mà chỉ đóng vai trò hướng dẫn, theo dõi, đầu tàu. Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh sẽ giải quyết tình trạng “trên nóng dưới lạnh”, trên làm thay dưới lâu nay.


“Chúng ta không làm thay cấp tỉnh, tỉnh nào không làm được thì chúng tôi xử lý tỉnh”, đó là lời cảnh báo nghiêm khắc, giống như một mệnh lệnh của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc sàng lọc, loại bỏ những “con sâu làm rầu nồi canh”, xây dựng Đảng ta và toàn bộ hệ thống chính trị trở nên trong sạch, vững mạnh.


Qua góp ý xây dựng Đề án thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực, đã có tất cả 63/63 tỉnh uỷ, thành uỷ nhất trí với chủ trương này. Kết quả đó cho thấy sự nhất trí và quyết tâm cao từ trung ương tới địa phương nhằm nổi lên những “lò lửa” mới, quyết liệt thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần đã được đồng chí Tổng bí thư khẳng định - "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".


Chủ trương đã quyết, lúc này điều được dư luận quan tâm là phải xây dựng được đội ngũ Ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh gồm những cán bộ tuyệt đối trong sạch, liêm chính và bản lĩnh. Những người tay đã “nhúng chàm” thì không thể chống tham nhũng. Đó phải là những cán bộ thực sự “cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công vô tư”, không nể nang, nương tay với các sai phạm ngay trong cơ quan, địa phương mình. Tham gia Ban chỉ đạo cấp tỉnh, người đứng đầu các địa phương sẽ phải thể hiện trách nhiệm, năng lực ở mức cao nhất trước Đảng, trước Trung ương trong việc chủ động phòng ngừa và chống tham nhũng, tiêu cực; thể hiện năng lực giám sát, xử lý dứt điểm các vụ việc không để tồn đọng, gây bức xúc trong dư luận địa phương, qua đó gây dựng lại niềm tin nơi nhân dân.


“Giặc nội xâm” tham nhũng luôn ẩn hình, biến hình, ngày càng tinh vi, phức tạp và liều lĩnh hơn. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vì thế cần phải được tiến hành thống nhất, đồng bộ, thường xuyên và lâu dài để liên tục làm sạch “cơ thể” Đảng và chính quyền các cấp khỏi thứ “giặc” ẩn hình và độc hại này. Quyết sách của Đảng ta về thành lập các Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh đang khơi dậy niềm hy vọng và mong chờ của nhân dân về những “lò lửa” luôn rực cháy, vừa có tác dụng cảnh tỉnh, ngăn ngừa, vừa thực sự diệt trừ nạn tham ô, tham nhũng, làm hại đất nước, làm hại nhân dân./. 

NGĂN CHẶN THAM NHŨNG TỪ ĐẦU, KHÔNG ĐỂ VI PHẠM NHỎ TÍCH TỤ THÀNH SAI PHẠM LỚN!

     Ban Nội chính TƯ phối hợp với Ban Tổ chức TƯ và các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Bộ Chính trị, BCH TƯ xem xét, quyết định thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh.

Chấm dứt ‘trên nóng dưới lạnh’
Ông đánh giá thế nào về chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực?

Qua gần 10 năm hoạt động của Ban chỉ đạo TƯ về phòng chống tham nhũng (PCTN), công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, là dấu ấn nổi bật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế đánh giá, từ khi thành lập Ban chỉ đạo từ 2013-2021, Việt Nam tăng gần 30 bậc. Hiện nay yêu cầu về cả lý luận cũng như thực tiễn đều đỏi hỏi việc thành lập Ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh. Ví dụ năm 2021, các thành uỷ, tỉnh uỷ trực tiếp chỉ đạo 698 vụ án, vụ việc.
Ngày 16/9/2021, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo TƯ về PCTN ký ban hành Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban chỉ đạo. Quy định này đã bổ sung chức năng của Ban chỉ đạo là phòng, chống cả tham nhũng, tiêu cực, thay vì chỉ PCTN như trước đây. Phạm vi chỉ đạo của Ban được nhấn mạnh vào chỉ đạo công tác PCTN; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước.
Mặc dù kết quả PCTN, tiêu cực thời gian qua đạt được là rất quan trọng, có sự chuyển biến mạnh mẽ, song công tác PCTN, tiêu cực ở một số bộ, ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả; vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong đấu tranh PCTN, tiêu cực; một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương.
Thời gian qua, mặc dù chưa có chủ trương hay quy định về thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực, song một số địa phương (Hà Nội, Thái Bình, Sóc Trăng…) đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện nghị quyết, đề án, chương trình hành động của tỉnh ủy, thành ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN. Thậm chí, Tỉnh ủy An Giang đã thành lập Ban chỉ đạo để tham mưu, giúp Tỉnh ủy chỉ đạo xử lý một số vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, phức tạp xảy ra trên địa bàn.

Tại một số địa phương khác, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương đã bộc lộ một số bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, nên nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã cho thấy chúng ta có đủ cơ sở để thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh đủ mạnh để chỉ đạo, lãnh đạo công tác PCTN, tiêu cực ở địa phương, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất và toàn diện của tỉnh ủy, thành ủy và Ban chỉ đạo TƯ đối với công tác PCTN, tiêu cực.

Xử lý dứt điểm,
công khai
 Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực được thành lập sẽ giải quyết vấn đề trọng tâm nào, thưa ông?
Ban chỉ đạo cấp tỉnh sẽ giải quyết những vấn đề:  
Chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Đây là nội dung đầu tiên cần đặt trọng tâm hàng đầu. Bởi từ thực tiễn kinh nghiệm trong hoạt động của Ban chỉ đạo TƯ về PCTN, tiêu cực đã cho thấy: Việc Ban chỉ đạo TƯ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm tạo ra những kết quả PCTN mang tính đột phá, xử lý dứt điểm, nghiêm minh, công khai nhiều cán bộ cao cấp, cả đương chức và nghỉ hưu, cả tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang có vi phạm liên quan đến các vụ án. 
Chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc và hành vi tiêu cực khác ngoài tham nhũng ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh, thành phố. Đây chính là nội dung mới mà Đảng giao cho Ban chỉ đạo TƯ về PCTN, tiêu cực, bên cạnh xử lý tham nhũng thì phải tập trung xử lý tiêu cực, nhất là xử lý những hành vi thể hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
Chỉ đạo xử lý các vụ việc nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công. Ngoài quan tâm đến xử lý tham nhũng lớn, Ban chỉ đạo cấp tỉnh cũng phải quan tâm xử lý “tham nhũng vặt”. Tổng hợp kiến nghị của cử tri tại nhiều kỳ họp Quốc hội gần đây cho thấy cử tri còn bất bình vì nạn “tham nhũng vặt” chưa giảm. Trong khi đó, “tham nhũng vặt” có tác động lớn và trực tiếp đến người dân, đặc biệt là người nghèo, tạo ra những rủi ro về mặt thủ tục pháp lý (làm chậm hoặc sai lệch các quy trình, thủ tục hành chính), làm nản lòng các nhà đầu tư, phá hoại môi trường kinh doanh của quốc gia và suy giảm lòng tin của nhân dân.
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về PCTN tại địa phương. Việc này là để phòng ngừa và kịp thời xử lý hành vi tham nhũng, tiêu cực và các sai phạm có liên quan đến công tác PCTN, tiêu cực.
Nếu được tiến hành thường xuyên, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực hoặc vào các cán bộ, đảng viên có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo tham nhũng, tiêu cực, giàu nhanh, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; có biểu hiện nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp thì sẽ phục vụ đắc lực cho việc “kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn”; đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước.

Chỉ đạo công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương
Theo ông, Ban chỉ đạo cấp tỉnh cần có nhiệm vụ và quyền hạn như thế nào để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện được công tác PCTN, tiêu cực?
Ban chỉ đạo cần có một số nhiệm vụ trọng tâm:
Chỉ đạo cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương, nhất là chỉ đạo thực hiện kết luận, chỉ đạo của Ban chỉ đạo TƯ về PCTN, tiêu cực tại địa phương.  
Chỉ đạo, đôn đốc, điều hòa phối hợp, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng việc thực hiện các nhiệm vụ về PCTN, tiêu cực.
Chỉ đạo làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng, tiêu cực; những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị, khắc phục; làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng, tiêu cực.

Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng, tiêu cực và xử lý thông tin về vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực do các cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp, kiến nghị.  
Về quyền hạn, Ban chỉ đạo cần có các thẩm quyền:
Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền báo cáo về công tác PCTN, tiêu cực; về xử lý một số vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; về giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý thông tin về hành vi tham nhũng, tiêu cực; thực hiện các biện pháp PCTN, tiêu cực tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền lãnh đạo, quản lý.
Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo xem xét lại việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý khi có căn cứ cho rằng việc kết luận, xử lý chưa khách quan, chính xác, nghiêm minh.
Yêu cầu các cơ quan chức năng kết luận, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Trực tiếp chỉ đạo về chủ trương xử lý đối với một số vụ án, vụ việc cụ thể hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền xem xét lại việc giải quyết hoặc giải quyết lại.
Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng nếu phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý thì báo cáo ngay cho Ban Chỉ đạo để kịp thời chỉ đạo xử lý; nếu phát hiện sai phạm có dấu hiệu tội phạm thì kịp thời chuyển Cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi kết thúc mới chuyển.
Trực tiếp làm việc với cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan về công tác PCTN, tiêu cực; được sử dụng bộ máy tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và phương tiện của các cơ quan, tổ chức có liên quan để phục vụ nhiệm vụ của Ban chỉ đạo.

Đảm bảo tính độc lập của cơ quan PCTN
Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực có thành phần thế nào, thưa ông?
Là cơ quan trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, tiêu cực - một lĩnh vực khó, nhạy cảm và cần quyết tâm chính trị rất cao, nên cơ cấu thành phần của Ban chỉ đạo phải gồm những người đứng đầu ở cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức hữu quan giữ vai trò trọng yếu ở địa phương, trực tiếp quyết định những công việc có liên quan đến nội chính, PCTN, tiêu cực.
Mỗi thành viên tham gia vào Ban chỉ đạo thường có một vai trò khác nhau và thành công của Ban phụ thuộc nhiều vào vai trò, trách nhiệm của các thành viên cũng như sự hợp tác chặt chẽ và phối hợp lẫn nhau giữa các thành viên. Vì vậy, thành phần Ban chỉ đạo cần đa dạng, cần bảo đảm sự có mặt các cơ quan nội chính, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử để một mặt các thành viên có thể chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác PCTN, tiêu cực trong địa bàn, lĩnh vực, chuyên đề được phân công theo dõi, quản lý, phụ trách. Mặt khác tạo ra sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả giữa các thành viên, nhất là trong công tác tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo chỉ đạo xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp.  
Ngoài ra, thành phần Ban chỉ đạo cũng phải bảo đảm sự độc lập cần thiết với cơ quan quản lý nhà nước. Trước đây, Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN được thành lập do Chủ tịch UBND tỉnh đứng đầu, vì vậy, Ban chỉ đạo không những không độc lập cần thiết với cơ quan quản lý nhà nước, mà người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước cao nhất cấp tỉnh chính là Trưởng ban. Điều này đã không bảo đảm được tính độc lập về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chống tham nhũng nói chung hay cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo về công tác PCTN nói riêng.

Trước mắt, Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực khi được thành lập sẽ triển khai những công việc gì, thưa ông?  
Theo tôi, đó là việc kiện toàn tổ chức, bộ máy, ban hành Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo; quyết định phân công nhiệm vụ các thành viên; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác PCTN, tiêu cực trọng tâm năm 2022 và thời gian tới.  
Chỉ đạo các cơ quan hữu quan tiếp tục rà soát và xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giữa Ban Nội chính tỉnh ủy, thành ủy với các cơ quan hữu quan, như: Đảng đoàn Ủy ban MTTQ tỉnh, Đảng ủy Công an tỉnh ủy, thành ủy, Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ủy, thành ủy, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh ủy, thành ủy, Đảng ủy Thanh tra tỉnh ủy, thành ủy và Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy…
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, tạo bước đột phá trong công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương.
Chọn một số khâu yếu, việc khó, có nhiều vướng mắc trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực để tập trung chỉ đạo tháo gỡ, những lĩnh vực trọng tâm để kiểm tra, giám sát, đôn đốc, nhất là kiểm tra, giám sát thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kiểm tra chuyên đề về PCTN, tiêu cực trong lĩnh vực y tế, thuế, hải quan, đất đai.
Chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN, tiêu cực tại địa phương./.
TS Nguyễn Xuân Trường - Vụ trưởng Vụ Địa phương 1, Ban Nội chính TƯ.
Yêu nước ST.