Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

Đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay.

  - Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác tư tưởng chính trị, công tác lý luận của Đảng, đòi hỏi phải ngày càng toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.

Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh - âm mưu ngoan cố, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận đồ sộ, vô giá và trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực hiện bởi chủ nghĩa thực dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà.

Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy hiểm hơn, chúng còn ca tụng một cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và với Đảng Cộng sản Việt Nam…

Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc đó của các thế lực thù địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến to lớn từ cuộc đời và sự nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ; mưu đồ gây ra những bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong chiến lược chống cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các thế lực phản động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác, phủ nhận tư tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu “lật đổ” trên lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị.

Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay của các thế lực phản động quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ chức phản động lưu vong, lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện” để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong, nhất là qua các trang thông tin quốc tế có xu hướng cực hữu chính trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội, các đài phát thanh, kênh truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong, tổ chức phi chính phủ ở một số nước phương Tây.

Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước ngoài, cũng ráo riết thực hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng kỹ thuật, công nghệ chỉnh sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo những câu chuyện hoang đường, không có thật về Người. Thâm độc hơn, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật - giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn, bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách mạng, khoa học, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quyết tâm, nỗ lực bền bỉ của Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân trong bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh

Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Lắng nghe lời Bác dạy _Tranh Tư liệu

Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong các bộ luật, các luật có điều khoản quy định về xử lý hành vi truyền bá, xuyên tạc tư tưởng và đường lối của Đảng, trong đó có xuyên tạc lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, như tại Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 9 Luật Báo chí năm 2016; Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018…

Công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, các bộ, ngành, địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng ngày càng chặt chẽ với vai trò “lĩnh xướng” và sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, ban chỉ đạo 35 các cấp; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc trao đổi, cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp đấu tranh.

Phương thức đấu tranh là vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch, phản động và có hình thức, biện pháp xử lý phù hợp tùy theo mức độ vi phạm; định hướng tuyên truyền, cung cấp đầy đủ thông tin chính thống, quản lý tốt nguồn thông tin, ngăn chặn kịp thời các thông tin, tài liệu sai trái; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy những kết quả từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng nước ta làm minh chứng sống động, thuyết phục để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phản động...

Với các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, chúng ta sử dụng, phối hợp các biện pháp, từ tuyên truyền, phản bác dựa vào luật pháp Việt Nam và quốc tế, đến sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn chặn từ xa, kịp thời. Đối với các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan chức năng của Việt Nam đề nghị phía chính quyền nước sở tại phối hợp điều tra, ngăn chặn. Ngoài ra, dựa theo các căn cứ pháp lý của Việt Nam, như Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT và Luật An ninh mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao đổi, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook) gỡ bỏ nhiều thông tin vi phạm. Đối với các đối tượng ở trong nước, tùy vào mức độ vi phạm, các cơ quan chức năng có biện pháp từ giáo dục, yêu cầu gỡ bỏ, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Lực lượng 47 (Bộ Quốc phòng), các lực lượng thuộc Bộ Công an, như Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao... đã vô hiệu hóa được nhiều kế hoạch, “chiến dịch” của các tổ chức phản động lưu vong, các chương trình truyền hình, phát thanh tiếng Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lãnh tụ và Đảng, Nhà nước; dựng “tường lửa” ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa, tư tưởng xấu, độc trên mạng. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật (nay hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 35 Trung ương); cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã kiên trì, kiên quyết phản bác lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc; định hướng tuyên truyền kịp thời, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Đồng thời, tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại, mở thêm phiên bản tiếng nước ngoài của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản…, tích cực đưa những thông tin đầy đủ, chính thống về Việt Nam đến với bạn bè thế giới và các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố vững chắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần xã hội. Xuất bản các bộ sách lớn như Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập), Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (10 tập)… với hàng nghìn tư liệu, sự kiện, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, tiêu biểu như Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX. 02, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với 13 đề tài nhánh, cùng hàng trăm đề tài khoa học các cấp; bên cạnh đó, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xuất bản, đăng tải trên các phương tiện truyền thông, qua đó, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Người trong toàn xã hội, bổ sung những nguồn tư liệu quý, những luận cứ xác đáng, thuyết phục, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những giá trị, tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng tham quan trưng bày chuyên đề “Hồ Chí Minh - những nét phác hoạ chân dung” và Triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh _Nguồn : toquoc.vn

Các cơ quan nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học của Đảng và Nhà nước, như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam… đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm ngày càng vững chắc đấu tranh phản bác, bẻ gãy từ gốc bằng lý luận các luận điệu sai trái, thù địch, phản động. Bên cạnh đó, công tác lý luận của Đảng tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ; trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, càng khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, tiếp tục soi sáng, dẫn dắt sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta đi đến thắng lợi.

Ban chỉ đạo 35 các địa phương đã kịp thời tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy các cấp; phối hợp hoạt động của các thành viên ban chỉ đạo 35, của các nhóm chuyên gia; xây dựng chương trình trọng tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phù hợp với đặc điểm, tình hình từng địa phương. Ban chỉ đạo 35 các địa phương tập trung nắm chắc tình hình dư luận xã hội, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; báo cáo cơ quan thường trực để tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác định hướng thông tin, tuyên truyền; bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị nhằm chủ động đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trên địa bàn.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức thành viên tích cực tuyên truyền sâu rộng để các tầng lớp nhân dân nhận rõ bản chất âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đồng thuận xã hội, bảo đảm sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động; huy động sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, phản động.

Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, nhưng công tác bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém. Một số cấp ủy đảng, người đứng đầu đơn vị vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác trên, nên lãnh đạo, chỉ đạo chưa sát sao, kịp thời, dẫn đến sự phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh chưa thực sự đồng bộ, gắn kết chặt chẽ và hiệu quả. Còn thiếu chương trình khoa học cấp nhà nước mang tầm quốc gia về vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Nhiều bài viết đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao, thiếu thuyết phục người đọc... Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh trên không gian mạng vẫn rất gay go, phức tạp; do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, cùng sự suy thoái, “tự diễn biến” của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay... đã và đang làm hạn chế hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một số giải pháp cần tập trung thực hiện để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá.

Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phạm Duy Trang, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh gắn Huy hiệu cháu ngoan Bác Hồ tặng các đại biểu dự Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc tại Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN

Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

CHỦ NHIỆM ỦY BAN VĂN HÓA, GIÁO DỤC: "LỊCH SỬ SẼ LÀ MÔN LỰA CHỌN BẮT BUỘC"!

         Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, qua tham khảo ý kiến chuyên gia, ủy ban này thấy rằng, nên điều chỉnh về mặt kỹ thuật để môn lịch sử là "môn tự chọn bắt buộc".

🇻🇳Nhân dân băn khoăn, lo lắng

Chiều 11.5, tiếp tục phiên họp thứ 11, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tham gia ý kiến vào dự thảo báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV.

Báo cáo tóm tắt do Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến trình bày tại phiên họp cho biết, vấn đề môn lịch sử trở thành môn học tự chọn ở bậc THPT là một trong 5 vấn đề cử tri, nhân dân còn "trăn trở, băn khoăn, lo lắng".
"Dư luận xã hội còn băn khoăn, có ý kiến trái chiều về việc đưa môn lịch sử là môn học tự chọn ở bậc trung học phổ thông, có thể sẽ gây ra hậu quả, hệ lụy khó lường", ông Chiến cho hay.
Ông Chiến dẫn chứng thực tế, có một số nước phát triển, nền văn hóa tương đồng với Việt Nam (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) đã đưa trở lại hoặc vẫn duy trì môn lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông.
Từ đó, Đoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Bộ Giáo dục - Đào tạo xem xét một cách thận trọng, đánh giá khách quan, toàn diện chương trình cải cách giáo dục phổ thông, nhất là việc đưa môn lịch sử ở bậc THPT là môn học tự chọn.
"Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã căn dặn “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Do vậy, cần đổi mới cách dạy và học như thế nào, để nâng cao chất lượng, chứ không nên để môn lịch sử là môn học tự chọn. Chúng tôi được biết Bộ Giáo dục - Đào tạo đang rà roát, hội thảo, nghiên cứu nghiêm túc, cầu thị để có giải pháp phù hợp", ông Chiến nói.

🇻🇳"Môn tự chọn bắt buộc"

Trước đó, trong buổi sáng 11.5, nêu ý kiến về lĩnh vực theo dõi của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh cho hay, ủy ban này đã nghiên cứu và tổ chức tọa đàm với chuyên gia, đại diện một số cơ quan về vấn đề này. Dự kiến ngày 22.5, Ủy ban sẽ có phiên họp toàn thể thảo luận vấn đề này.
"Sơ bộ ý kiến của các chuyên gia chúng tôi thấy rằng về tính cần thiết thì môn học lịch sử này nên xem xét là một môn học đặc thù, môn học đặc biệt quan trọng và theo hướng là môn lựa chọn bắt buộc. Về mặt kỹ thuật có thể giải quyết được, không có vấn đề gì khó khăn chỗ này", ông Vinh nói.
Giải trình thêm về vấn đề này tại phiên họp, Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng thông tin, sau khi có ý kiến về giá sách giáo khoa, môn tự chọn, môn tổ hợp... thì Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tiếp thu để chỉnh lại cụ thể cũng như báo cáo Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền.
Ông Thưởng nhắc lại việc hôm qua 10.5, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục đã tổ chức tọa đàm chuyên gia về môn lịch sử ở bậc THPT và như Chủ nhiệm Nguyễn Đắc Vinh nêu đã có hướng xử lý nên bộ sẽ "bám" theo các nội dung này./.
Yêu nước ST.

Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới (tiếp theo và hết).

 


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đảng coi đó là nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do có nhiều chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội đều khẳng định: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên”; “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”; “đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”… Thực tiễn cho thấy, nơi nào xây dựng được hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao và đội ngũ đảng viên có chất lượng, tiền phong, gương mẫu thì tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng và thành tựu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên còn có hạn chế, ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở… Để phát huy vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên, cần khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc trong thực tiễn và có biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên sẽ được tác giả trả lời trong bài viết 2 kỳ!

Kỳ II:

COI TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN

Từ Nghị quyết Đại hội X đến Nghị quyết Đại hội XI, XII, Đảng luôn đặt ra yêu cầu phải quan tâm xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, nhất là về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, tính tiên phong, gương mẫu. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá bên cạnh ưu điểm, một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vậy làm thế nào để đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự “là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân”[1].

Các cấp ủy luôn bám sát sự chỉ đạo của Đảng

Cùng với các nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết số 22-NQ/TW “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Kết luận số 38-KL/TW về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định, quy chế… liên quan trực tiếp đến phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thực hiện các nghị quyết, văn bản của Đảng có liên quan, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng uỷ trực thuộc Trung ương đã ban hành khoảng 800 văn bản (chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn...) để cụ thể hoá, tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Nhiều cấp ủy quan tâm chỉ đạo sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, đề án ở cấp mình, rút kinh nghiệm, bổ sung giải pháp chỉ đạo phù hợp để xây dựng đội ngũ đảng viên có năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức tốt.

Trong 10 năm qua (từ 2010-2020), công tác xây dựng đội ngũ đảng viên đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tính đến 31-12-2021, toàn Đảng có tổng số 5.325.532 đảng viên. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, số lượng đảng viên tăng mạnh mẽ qua các nhiệm kỳ: Nếu Đại hội lần thứ nhất (1935) toàn Đảng có 600 đảng viên đến Đại hội lần thứ VI (1986) có 2.109.613 đảng viên và Đại hội lần thứ X (2006) có 3.100.000 đảng viên, Đại hội lần thứ XI (2011) có 3.636.158 đảng viên, Đại hội lần thứ XII (2016) có 4.769.325 đảng viên. Trung bình 10 năm qua, mỗi năm tăng 143.357 đảng viên. Đến nay tỷ lệ đảng viên trên dân số cả nước là 5,4% (bình quân 100 người dân có khoảng 6 đảng viên). Cơ cấu độ tuổi tương đối phù hợp, số lượng đảng viên nữ, trẻ, đồng bào dân tộc thiểu số, người có tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng, tạo nguồn cán bộ cho Đảng. Đảng viên nữ chiếm 38,1% tổng số đảng viên toàn Đảng, sau 10 năm, tỷ lệ đảng viên nữ tăng gấp 1,8 lần so với tỷ lệ tăng đảng viên của toàn Đảng. Đảng viên là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 12,3%. Đảng viên là người có tôn giáo chiếm 1,8%. Độ tuổi trung bình của đảng viên là 43,9 tuổi (tăng 0,1 tuổi so với năm 2010).

Chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến tích cực; trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị ngày càng cao hơn (đảng viên có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng 55%; có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên hơn 60%; toàn Đảng không còn đảng viên chưa biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ[2]). Các cấp ủy tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý, rà soát, sàng lọc, đánh giá, xếp loại chất lượng, kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ, xử lý đảng viên vi phạm, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” được đẩy mạnh. Phần lớn đội ngũ đảng viên ở cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, có ý thức rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, ý thức tự phê bình và phê bình, tinh thần tiền phong, gương mẫu, xây dựng mối quan hệ gắn bó với nhân dân, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.   

Chỉ rõ hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

Đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định công tác xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, công tác phát triển đảng viên ở một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa quan tâm giáo dục lý tưởng cách mạng và rèn luyện thử thách đối với quần chúng phấn đấu vào Đảng. Nhận thức, động cơ phấn đấu vào Đảng của một số đảng viên mới còn hạn chế. Cơ cấu đảng viên chưa hợp lý, đảng viên là công nhân, người lao động, đồng bào dân tộc thiểu số, đảng viên có tôn giáo còn thấp, tỷ lệ đảng viên trẻ chưa tương xứng với tiềm năng. Một bộ phận đảng viên năng lực hạn chế, phai nhạt lý tưởng, thiếu bản lĩnh chính trị; giảm sút ý chí phấn đấu, tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình yếu; chưa gương mẫu, chạy theo lối sống thực dụng. Vẫn còn một bộ phận đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay ở cơ sở có một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác đảng viên: Một số tổ chức cơ sở đảng đông đảng viên nhưng không có cán bộ chuyên trách, bí thư cấp uỷ kiêm nhiệm. Đội ngũ cấp uỷ viên, cán bộ chuyên trách công tác đảng chưa được thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới và ít kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng. Các doanh nghiệp ngoài nhà nước gặp nhiều khó khăn trong các khâu của công tác đảng viên như bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng, đảng viên; phân công người giới thiệu, giúp đỡ quần chúng vào Đảng; doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng thì đảng viên vẫn sinh hoạt đảng tại nơi cư trú... Thủ tục chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên đi làm ăn xa còn nhiều vướng mắc, bất cập. Một bộ phận đảng viên hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương xin ra khỏi Đảng. Một số đảng viên vừa nghỉ hưu đã xin miễn hoặc bỏ sinh hoạt đảng. Cơ sở vật chất, điều kiện, kinh phí hoạt động của các tổ chức đảng ở nhiều xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp còn khó khăn, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức đảng ngoài nước, nơi có đông đảng viên, đảng viên làm việc phân tán...

Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc là do quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phát sinh nhiều vấn đề mới, tác động đến công tác xây dựng đội ngũ đảng viên nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ, có giải pháp phù hợp. Vẫn còn một số cấp ủy, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ về yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Còn có quy định, hướng dẫn về đảng viên chậm được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung. Một số nơi thực hiện chủ trương hướng về cơ sở hiệu quả chưa thực chất; chưa chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cho đảng viên. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc, không muốn phấn đấu vào Đảng. 

Tập trung giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên.”[3], các cấp ủy tập trung một số giải pháp sau:

Một là, đổi mới, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đảng viên. Các cấp ủy cần đổi mới hình thức giáo dục chính trị tư tưởng sinh động, phong phú để đảng viên nhận thức đúng, sâu sắc. Đẩy mạnh sự tự giác nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mỗi đảng viên; nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự của người đảng viên. Cấp ủy chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, lắng nghe tâm tư, dư luận để kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh và yêu cầu mỗi đảng viên phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cấp ủy nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện. Phát huy vai trò của cơ quan báo chí trong tuyên truyền, giới thiệu tấm gương đảng viên tiêu biểu, tạo sự lan tỏa trong Đảng, trong xã hội.

Hai là, coi trọng công tác quản lý đảng viên và kịp thời rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Cấp ủy cơ sở thường xuyên kiểm tra, giám sát các chi bộ, đảng viên thực hiện chế độ sinh hoạt đảng định kỳ. Thực hiện nghiêm túc kiểm tra việc quản lý đảng viên tại chi bộ và đảng viên ở ngoài nước. Cấp ủy, chi bộ chỉ đạo phân công nhiệm vụ cụ thể và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên. Mỗi đảng viên phải xây dựng kế hoạch phấn đấu, rèn luyện để chi ủy, chi bộ kiểm tra, giám sát, làm cơ sở để kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cuối năm. Trong công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên kịp thời phát hiện, động viên, khen thưởng, nhân rộng những tấm gương đảng viên xuất sắc, tiêu biểu trên các lĩnh vực. Đối với những đảng viên có biểu hiện hoặc không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có khuyết điểm, vi phạm, cấp ủy, người đứng đầu thường xuyên nhắc nhở, giáo dục, động viên, giúp đỡ.

Các cấp ủy chấn chỉnh, khắc phục tình trạng tùy tiện, buông lỏng quản lý trong xem xét miễn công tác và sinh hoạt đảng cho đảng viên. Yêu cầu đảng viên thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú. Cơ quan chức năng nghiên cứu, rà soát, bổ sung quy định về quản lý đảng viên đi học tập, làm ăn xa nơi cư trú; đảng viên nghỉ hưu về làm việc trong khu vực ngoài nhà nước, các hội quần chúng; đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đảng viên.

Tổ chức cơ sở đảng phải bám sát, nắm sâu và đánh giá được đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ; xác định được đảng viên không thực hiện đúng chế độ chuyển sinh hoạt hoặc đã chuyển sinh hoạt đảng nhưng không nộp hồ sơ cho tổ chức đảng có thẩm quyền; đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín thấp. Đây là cơ sở để cấp ủy tiến hành rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Khắc phục triệt để tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh trong công tác đánh giá, phân loại đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Ba là, tập trung nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên. Căn cứ tình hình thực tế, các cấp ủy xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên của cả nhiệm kỳ, hằng năm. Chỉ đạo các chi bộ, đảng viên tạo môi trường thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ để quần chúng phấn đấu, rèn luyện, giác ngộ lý tưởng, có động cơ, mục đích vào Đảng trong sáng. Tiếp tục tăng số lượng đồng thời với nâng cao chất lượng phát triển đảng viên; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên, hội viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp trước mắt và lâu dài. Quan tâm phát triển đảng viên ở miền núi, biên giới, hải đảo theo phương châm “ở đâu có dân thì ở đó có đảng viên”. Đối với các địa phương còn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, trường học, doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên, cần tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác để tập hợp quần chúng, tạo nguồn kết nạp đảng viên, xây dựng lực lượng nòng cốt cho Đảng. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cơ sở phân công cấp uỷ viên phụ trách, cấp uỷ cơ sở giao nhiệm vụ cho các chi bộ trong việc phát hiện, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào Đảng. Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng. Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, kiểm tra, sát hạch phù hợp với từng đối tượng. Có kế hoạch mở lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng viên là công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân.

Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; phát huy và tăng cường vai trò của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, giám sát đảng viên.

Cải tiến phương pháp, quy trình, kỹ năng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Đổi mới các cơ chế, biện pháp để chủ động phát hiện sớm, phòng ngừa, ngăn chặn từ xa những vi phạm của đảng viên. Thực hiện nghiêm minh việc kỷ luật đảng đối với đảng viên vi phạm. Coi trọng việc tự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng đối với đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, trách nhiệm nêu gương, quy định về những điều đảng viên không được làm…

Phát huy và tăng cường vai trò của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát với đảng viên trong thực hiện quy định nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống ở nơi làm việc và nơi cư trú. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên phát động, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, từ đó phát hiện, lựa chọn nhân tố tích cực trong đoàn viên, hội viên, quần chúng, người có uy tín trong cộng đồng dân cư giới thiệu cho Đảng. Đồng thời, phát huy ưu thế của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân giám sát đội ngũ đảng viên, tham gia xây dựng Đảng. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng, xếp loại đảng hằng năm.

Đội ngũ đảng viên là lực lượng nòng cốt, là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, là nhân tố kết nối, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, góp sức cùng nhân dân thực hiện thắng lợi, phát triển sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhiệm kỳ 2020-2025 nhiều khó khăn, thách thức cũng như thời cơ thuận lợi, đòi hỏi, yêu cầu phải nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức để ”mỗi đảng viên... phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”[4], ”xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”[5] như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới (kỳ I).

 


Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đất nước giành thắng lợi trên mọi mặt trận.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đảng coi đó là nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do có nhiều chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội đều khẳng định: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên“Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”; “đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”… Thực tiễn cho thấy, nơi nào xây dựng được hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao và đội ngũ đảng viên có chất lượng, tiền phong, gương mẫu thì tạo ra sức mạnh tổng hợp, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng và thành tựu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên còn có hạn chế, ảnh hưởng tới vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở… Để phát huy vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên, cần khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc trong thực tiễn và có biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên sẽ được nhóm tác giả có lời giải trong bài viết 2 kỳ!



Kỳ I

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng đảng còn thấp, nhất là việc tổ chức thực hiện nghị quyết và khả năng phát hiện, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo giải quyết những vấn đề phát sinh ở cơ sở”[1]. Do vậy, để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ cần phải đánh giá đúng tình hình, chỉ rõ nguyên nhân, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng ở cơ sở đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.

Cần hiểu đúng về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

Có thể hiểu năng lực lãnh đạo của Đảng là khả năng nhận thức, đánh giá, dự báo chính xác tình hình và xác định nhiệm vụ chiến lược, sách lược đúng đắn, hợp quy luật khách quan và năng lực lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đặt ra để cách mạng phát triển. Theo đó, năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là khả năng nhận thức, dự báo đúng bối cảnh, tình hình, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy cấp trên để đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và xác định đúng nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện để lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể và nhân dân thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, nhiệm vụ chính trị đã đề ra với chất lượng cao nhất.  

Sức chiến đấu của Đảng là khả năng giữ vững vai trò lãnh đạo trước mọi diễn biến của hiện thực xã hội, là khả năng “miễn dịch” và đấu tranh triệt để với những biểu hiện tiêu cực, với âm mưu và thủ đoạn chống phá của kẻ thù; là sức mạnh và ý chí vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành nhiệm vụ; là khả năng tự khắc phục hạn chế, khuyết điểm trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là hai mặt của một vấn đề, là hai thành tố gắn bó chặt chẽ, có mối quan hệ biện chứng với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Năng lực lãnh đạo tốt là điều kiện để sức chiến đấu được phát huy; sức chiến đấu càng cao, càng tạo cơ sở vững chắc để năng lực lãnh đạo được tăng cường và nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo.

Nhìn thẳng vào năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

Tính đến 31-12-2021, toàn Đảng có 51.299 tổ chức cơ sở đảng (gồm 22.944 đảng bộ cơ sở, 28.355 chi bộ cơ sở). Cùng với quá trình phát triển đất nước, số lượng, mô hình tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được sắp xếp, hoàn thiện, điều chỉnh về quy mô, hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động để phù hợp với yêu cầu mới. Trong những năm qua, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành, triển khai nhiều chủ trương, nghị quyết để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Ban Chấp hành Trung ương khóa X ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”. Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, năm 2018, Bộ Chính trị chỉ đạo tổng kết, ban hành Kết luận số 38-KL/TW khẳng định những kết quả quan trọng đã đạt được; chỉ ra hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng; xác định một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

Hơn 10 năm qua, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, trên cơ sở đó, Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành, triển khai nhiều chủ trương, nghị quyết; các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tổ chức cơ sở đảng từng bước được củng cố, kiện toàn, sắp xếp phù hợp; chức năng, nhiệm vụ được sửa đổi, bổ sung; tăng cường công tác lãnh đạo, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy cơ sở
[2] được quan tâm. Trên cơ sở đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình, chất lượng sinh hoạt, công tác đánh giá, xếp loại, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật, chất lượng đảng viên…của nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ cơ sở được nâng lên, phát huy vai trò hạt nhân chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.

Tuy nhiên, hiện nay, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Một số tổ chức cơ sở đảng chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chậm sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; chất lượng sinh hoạt đảng, tinh thần tự phê bình và phê bình hạn chế; chưa giải quyết hiệu quả khó khăn, bức xúc của nhân dân; chưa phân công thường xuyên và kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ của đảng viên. Một số cấp ủy cơ sở chưa chủ động, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm; mất sức chiến đấu, để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên của một số tổ chức cơ sở đảng còn buông lỏng, chưa nắm chắc tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên; công tác đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên còn hình thức, chạy theo thành tích. Việc xét, miễn công tác và sinh hoạt đảng còn lỏng lẻo; chưa thường xuyên, kiên quyết rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. 

Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

Một là,
 lựa chọn, quy hoạch, giới thiệu ứng cử, đề cử, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu và luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đồng thời, có trình độ, năng lực, có thể phấn đấu trên 90% bí thư, phó bí thư cấp ủy cơ sở có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên… Đây là lực lượng chủ chốt trong tổ chức triển khai đường lối, chủ trương, lãnh đạo xây dựng và ban hành các nghị quyết, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị theo chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên.

Hai là, nâng cao nhận thức, hiểu biết của cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy về chủ trương, đường lối của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan để lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao khả năng dự báo bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, làm cơ sở cho việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị, nghị quyết chuyên đề phù hợp và bảo đảm tính khả thi. Phát huy dân chủ, tập hợp trí tuệ, kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên, nâng cao kỹ năng ra quyết định để mỗi chủ trương, nhiệm vụ chính trị, nghị quyết chuyên đề do cấp ủy đề ra bảo đảm đúng, trúng và phù hợp với tình hình thực tiễn. Không ngừng nâng cao kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của cấp ủy và bí thư cấp ủy, bảo đảm các chủ trương, nhiệm vụ chính trị được thực hiện đạt kết quả cao nhất. 

Ba là, quán triệt, nhận thức sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của tổ chức cơ sở đảng theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng để xác định rõ quyền, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và tổ chức tốt các mối quan hệ phối hợp công tác trong việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị, giải pháp lãnh đạo tổ chức thực hiện chủ trương, nhiệm vụ chính trị theo quy định của Đảng đạt hiệu quả cao nhất. Thường xuyên hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy để xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, người đứng đầu cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo, trên cơ sở đó cụ thể hóa chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân trong triển khai thực hiện từng nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng. 

Bốn là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền, các tổ chức đoàn thể và cán bộ, đảng viên của tổ chức cơ sở đảng; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát; kịp thời sơ kết, tổng kết, khen thưởng, kỷ luật trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, nhiệm vụ chính trị đã đề ra. Nâng cao năng lực cầm quyền của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy đối với chính quyền và các đoàn thể thuộc phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo.

Năm là, nâng cao nhận thức về vai trò, mục đích, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác, thường xuyên, nghiêm chỉnh thực hiện vì chính lợi ích của mình và tổ chức đảng. Trong tự phê bình và phê bình, các cấp ủy phải làm cho đảng viên hiểu đó là trách nhiệm, quyền lợi của mỗi cán bộ, đảng viên và gắn với thực hiện Kết luận 21 của Kỳ họp lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) để góp phần rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sau mỗi kỳ tự phê bình và phê bình, đảng viên tự mình và giúp nhau cùng phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm để tiến bộ. 

Sáu là,
 phát huy vai trò nêu gương, tính tự giác, nâng cao trình độ, hiểu biết, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp trên và người đứng đầu. Bí thư cấp ủy luôn gương mẫu, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, rèn luyện tác phong công tác khoa học, đạo đức, lối sống trong sáng. Cấp ủy viên được phân công phụ trách cơ sở phải bám sát tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và giải quyết bức xúc của nhân dân.

Bảy là, các cấp ủy đảng, nhất là cấp ủy đảng và ủy ban kiểm tra cấp trên phải tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề và thi hành kỷ luật đảng nghiêm minh về thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Trong công tác kiểm tra, giám sát vừa tập trung kiểm tra thường xuyên, đột xuất, vừa tiến hành kiểm tra chuyên đề việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (nếu có). 

Mỗi cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng và mỗi tổ chức cơ sở đảng cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng để phát huy những ưu điểm, những mặt đã làm được và đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khả thi nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới.


(Còn nữa...)


Quyền lực và kiểm soát quyền lực.

 1 Quyền lực chính trị, một hình thái đặc biệt, quan trọng nhất của quyền lực xã hội. Nó xuất hiện sơ khai cùng với chế độ tư hữu và nhà nước. Loài người bắt đầu xuất hiện chế độ tư hữu thì đồng thời cũng bước đầu hình thành sự phân chia quyền lực và nhà nước xuất hiện. Khi xã hội phát triển, giai cấp tư sản bước lên vũ đài chính trị, tự xác lập quyền đại diện quốc gia bằng nhà nước thì cũng đồng thời xuất hiện các đảng chính trị, đại diện cho lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau. Đảng chính trị nào cũng muốn giành lấy chính quyền nhà nước, dùng nhà nước để thể hiện sức mạnh và sử dụng nhà nước làm công cụ để thống trị xã hội. Quyền lực chính trị gắn liền với các đảng chính trị.

Các đảng chính trị của giai cấp vô sản, tiêu biểu là đảng cộng sản đã chỉ rõ mục đích của mình trong Tuyên ngôn làm rung động thế giới: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: Tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (ĐCS).

2 V.I.Lê-nin đã lãnh đạo ĐCS(b) Nga dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, xây dựng Nhà nước Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết (Liên Xô). ĐCS(b) Nga vừa giữ vai trò độc quyền lãnh đạo xã hội, vừa là đảng cầm quyền. Quyền lực chính trị của ĐCS(b) Nga đồng thời cũng là quyền lực của Nhà nước Xô-viết. ĐCS Liên Xô không chấp nhận chế độ đa nguyên chính trị, trên thực tế không có các đảng đối lập. Sau Liên Xô là hệ thống các nước XHCN, trong đó có Việt Nam, đều được xây dựng theo mô hình Xô-viết. Quyền lực chính trị của ĐCS Liên Xô được thể hiện rõ ở chế độ chuyên chính vô sản. Sức mạnh của nó đã từng làm biến đổi thế giới trong gần suốt thế kỷ XX. Phe XHCN đứng đầu là Liên Xô đã tạo ra một sự tương đối cân bằng trong cán cân quyền lực với các nước tư  bản chủ nghĩa (đứng đầu là Hoa Kỳ) trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ đầu của Nhà nước Xô-viết, với cương vị là người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tối cao của ĐCS, đồng thời là người giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (cơ quan nắm quyền lực cao nhất của Nhà nước Liên Xô), V.I.Lê-nin đã sớm phát hiện những nguyên nhân làm tha hóa quyền lực trong hệ thống chuyên chính vô sản. Sau mấy năm đầu cầm quyền, do sai lầm về đường lối tiến ngay lên chủ nghĩa cộng sản bất chấp quy luật khách quan nên nội bộ Đảng đứng trước nguy cơ từng bước bị thoái hóa khi các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở đều không thực hành nghiêm chế độ dân chủ, bè phái chia rẽ nặng nề, không giữ nghiêm tính thống nhất và kỷ luật của Đảng. Với tính hấp dẫn của một đảng chấp chính, bọn cơ hội đã tìm mọi cách chui vào Đảng, khiến trong Đảng không ít đảng viên quá kém đến mức V.I.Lê-nin chỉ rõ: “Phải thanh trừ ra khỏi Đảng chừng chín mươi chín phần trăm những người... tham gia Đảng sau năm 1918”(1).

Trong các cơ quan nhà nước, chủ nghĩa quan liêu, thói vô trách nhiệm, chủ nghĩa hình thức, hội họp quá nhiều: “So với tất cả các nước trên thế giới thì chúng ta chiếm kỷ lục về số lượng đại hội. Không một nước cộng hòa dân chủ nào lại họp nhiều đại hội như nước ta; vả lại họ cũng không cho phép họp nhiều như thế”(2). Nạn giấy tờ và tệ hối lộ phổ biến, không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu và dần dần trên thực tế đã mất khả năng kiểm soát. Quan hệ giữa Đảng và Nhà nước chưa có một cơ chế hợp lý (ngày nay chúng ta thường nói phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế). Bộ máy của các cơ quan Xô-viết quá cồng kềnh, tiêu chuẩn chức danh không rõ ràng, đùn đẩy trách nhiệm. Hoạt động kinh tế kém hiệu quả do không có kiểm tra nên thực hành tùy tiện. Do vậy thất thoát, tham ô, lãng phí quá lớn, bọn cơ hội tha hồ “đục nước béo cò”. Công tác tổ chức - cán bộ kém, bộ máy cồng kềnh, trùng lắp, biên chế tăng vọt, không bố trí đúng người, đúng việc, nhiều vị bộ trưởng không xứng đáng: “Chúng ta có 18 bộ dân ủy thì 15 bộ quá kém; không thể tìm đâu ra các vị bộ trưởng dân ủy tốt”(3). Các ban của Đảng và của Hội đồng Bộ trưởng quá nhiều. Đã có 120 ban. Nhưng có bao nhiêu ban là cần thiết? 16 thôi, V.I.Lê-nin khẳng định. Quan liêu giấy tờ, nghị quyết nhiều, luật pháp không thiếu nhưng không làm sao chuyển biến được tình hình. Quyền lực chính trị bị tha hóa và không được kiểm soát. Nguyên nhân do đâu? Theo V.I.Lê-nin, vì những người cộng sản chưa nhận rõ sự nguy hiểm của ba kẻ thù ở ngay trong Đảng, trong mỗi đảng viên:

Một là, “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa... tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”.

Hai là, thiếu văn hóa, nên chỉ nói những chuyện nhảm nhí chứ không phải chính trị.

Ba là, nạn hối lộ. “Nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì cả. Một đạo luật chỉ có thể đưa tới kết quả xấu hơn, nếu trên thực tiễn nó được đem áp dụng trong điều kiện nạn hối lộ còn được dung thứ và đang thịnh hành”(4).

Những chỉ dẫn của V.I.Lê-nin nói trên rõ ràng gợi cho chúng ta suy ngẫm nguyên nhân những yếu kém hiện nay của Đảng ta, mà trong phát biểu trước Hội nghị cán bộ quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Từ trước đến nay, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Đã có không ít các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng. Các Cương lĩnh, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều có đề cập đến công tác xây dựng Đảng; có đại hội có báo cáo riêng về xây dựng Đảng. Chỉ tính từ Đại hội VI đến nay, BCH Trung ương đã ban hành 8 nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Ban Bí thư khoá VII đã chỉ đạo tiến hành tổng kết 20 năm xây dựng Đảng thời kỳ 1975-1995; Ban Bí thư khóa IX chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới (1986-2006), trong đó có phần về xây dựng Đảng...

Chúng ta đã tiến hành công tác xây dựng Đảng thường xuyên, liên tục trong nhiều nhiệm kỳ, với nhiều biện pháp, nhiều cuộc vận động, làm cho Đảng ta ngày càng tiến bộ, trưởng thành; song vẫn còn nhiều hạn chế. Các mặt khuyết điểm, yếu kém chưa khắc phục được bao nhiêu, có mặt còn phức tạp thêm, gây băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động tiêu cực vào sức chiến đấu, vai trò lãnh đạo của Đảng”.

3 V.I.Lê-nin từng khẳng định, người thông minh không phải là người không mắc sai lầm, người thực sự thông minh là người biết nhận ra sai lầm và quyết tâm sửa chữa. Hồ Chí Minh chỉ rõ một đảng biết nhận ra khuyết điểm để cùng nhau sửa chữa là một đảng mạnh, là một đảng tiến bộ, chắc chắn sẽ được lòng dân. Người cũng đã từng nhắc “mở đại hội thì phải cùng nhau dân chủ nghị bàn, nghị rồi thì phải quyết, quyết tâm và tín tâm mà thi hành, nói thì phải làm, chứ đừng biến “khẩu hiệu cách mạng của Đảng mà hóa ra lá bùa thày cúng””(5).

V.I.Lê-nin đã tự phê bình để tình trạng đó kéo dài trong mấy năm liền, nhận ra sai lầm, thừa nhận đó là lỗi của bản thân và đã chỉ ra biện pháp tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng. Người thừa nhận việc giải quyết công việc, quy trách nhiệm và kiểm soát quyền lực trong Đảng và cơ quan Xô-viết. “Trên hình thức, sửa chữa hiện tượng đó là việc rất khó, vì ở nước ta chỉ có một đảng cầm quyền duy nhất đang lãnh đạo”(6). Do đó, kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng cũng đồng thời là việc kiểm soát quyền lực trong các cơ quan nhà nước, bởi hầu hết các quan chức trong bộ máy nhà nước đều là đảng viên cộng sản. Kiểm soát quyền lực của Đảng và của Nhà nước trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền cần phải có một hệ thống các giải pháp đồng bộ, phải thống nhất giữa Đảng và Nhà nước. V.I.Lê-nin đề xuất các giải pháp chủ yếu:

Một là, kiên quyết thanh đảng. “Cuộc thanh đảng tới đây sẽ nhằm vào những người cộng sản lên mặt quan cai trị. Tất cả những người chỉ biết có lập ra hết ban này đến ban nọ, chỉ biết có hội họp, bàn cãi suông, chứ một công việc đơn giản cũng không biết làm... Trong khi đó công tác mà họ phụ trách lại không được tiến hành”(7). Người chỉ đạo kiên quyết trừng phạt những kẻ quan liêu, hối lộ và dung túng hối lộ, đưa ra khỏi Đảng và phế truất họ khỏi bộ máy nhà nước, giao cho tòa án trừng phạt theo luật pháp. Biện pháp thanh đảng quan trọng nhất, quý báu nhất là dân chủ, dựa hẳn vào ý kiến chỉ dẫn của quần chúng công nông ngoài Đảng để tiến hành thanh đảng: “Nếu chúng ta có thể thực sự tiến hành thanh đảng như thế, từ cấp lãnh đạo tối cao đến tận cơ sở, mà không vì nể cá nhân, thì đó sẽ là một thành quả thật sự to lớn của cách mạng”(8).

Hai là, cần hợp nhất hai cơ quan đảng và cơ quan Xô-viết có chức năng, nhiệm vụ tương đồng do một Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách, “giữa hai cơ quan phải có mối liên hệ, vì thiếu mối liên hệ thì hai guồng máy chủ yếu ấy đôi khi sẽ quay vô tác dụng”(9). Đó là hợp nhất Ủy ban Kiểm tra của Đảng với Ban Thanh tra công nông và Ban Đối ngoại của Đảng với Bộ Ngoại giao. Theo V.I.Lê-nin, cần giao cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyền hạn lớn hơn, một cơ chế quyền lực khác. Cụ thể là, nó chịu trách nhiệm trước đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng chứ không chịu trách nhiệm trước BCH Trung ương. Cơ chế này xác định BCH Trung ương là cơ quan có quyền và chấp hành nhiệm vụ của đại hội Đảng, còn Ủy ban Kiểm tra Trung ương là cơ quan có quyền giám sát và kiểm tra quyền lực của BCH do đại hội ủy nhiệm. Hai cơ quan này hoạt động độc lập, cùng chịu trách nhiệm và kiểm soát của cơ quan quyền lực tối cao của Đảng là đại hội đại biểu toàn quốc.

Ba là, kiên quyết tinh giản biên chế, tổ chức. Cụ thể là phải kiểm tra các quyết định về tinh giản biên chế, phải giảm bớt các ban của Đảng, của Hội đồng Bộ trưởng dân ủy, Hội đồng lao động và quốc phòng “để cho các hội đồng ấy nhận rõ và làm tròn nhiệm vụ của chính mình, chứ đừng phân tán sức lực của họ, với ý thức rằng chính mình là người chịu trách nhiệm thì người ta lại nấp sau các ban. Đến thánh cũng không biết đâu mà lần trong các ban đó, không làm thế nào mà tìm ra người chịu trách nhiệm; mọi cái đều rối tung và cuối cùng, người ta đưa ra một nghị quyết trong đó tất cả mọi người đều chịu trách nhiệm”(10).

Bốn là, kiểm soát việc giáo dục và học tập của đảng viên và cán bộ, công chức, đồng thời sử dụng cán bộ đúng với trình độ, năng lực thực tế của họ. Theo V.I.Lê-nin, những người cộng sản phải biết tổ chức công tác giáo dục một cách thực tế; giáo dục và học tập thực sự nghiêm túc, không phải dạy theo lối kinh viện và học theo lối hư danh. Phải hiểu “rằng mình chưa thông thạo công việc, rằng mình phải bắt đầu học tập từ a, b, c trở đi”. Đào tạo gắn liền với sử dụng, lấy thực tiễn để kiểm soát, đánh giá. Theo V.I.Lê-nin thì đảng cầm quyền “cần phải thừa nhận và không nên sợ phải thừa nhận rằng trong 100 trường hợp thì có đến 99 trường hợp là những người cộng sản phụ trách không được sử dụng đúng theo khả năng của họ. Họ không biết tiến hành công việc. Hiện nay điều họ phải làm chính là học tập”(11).

Di huấn của V.I.Lê-nin vẫn nóng bỏng tính thời sự giúp chúng ta khắc phục khuyết điểm, hạn chế mà Báo cáo công tác xây dựng Đảng của BCH Trung ương khóa XII trình Đại hội XIII của Đảng đã viết: “ …công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới; chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp. Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp; hiệu quả phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm. Giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, có nơi còn né tránh”.

TẬP THỂ BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ LÀ MỘT TẬP THỂ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT, TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG!

        Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc vào chiều 10/5.

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:

"Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã tập trung công sức, trí tuệ, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn, phát huy dân chủ, thảo luận thẳng thắn, sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc vào các tờ trình, báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình có sức thuyết phục những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhất trí cao thông qua các Nghị quyết và Kết luận của Hội nghị. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, phát biểu, nhấn mạnh và làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng chủ yếu mà Hội nghị của chúng ta lần này đã đạt được.

1. Về vấn đề quản lý và sử dụng đất đai

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá XI, dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận và đã thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao". Trung ương cho rằng, cần phải kế thừa, bổ sung, phát triển Nghị quyết Trung ương 6 theo hướng tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo luật định, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với các địa phương.

Quyền sử dụng đất là quyền sử dụng một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất. Thể chế, chính sách về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có chính sách phù hợp đối với đối tượng, loại hình sử dụng đất để khơi dậy tiềm năng, phát huy cao nhất nguồn lực tài nguyên đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu cơ đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, gây khiếu kiện, bức xúc trong nhân dân.

Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai. Hiện đại hoá công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hoá, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hoà lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền; giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn.

Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Hội nghị Trung ương lần này đã đi sâu phân tích, đánh giá và thống nhất cao về các giải pháp, chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai...

Trung ương còn nhấn mạnh, trong quá trình tổ chức thực hiện, cần thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân để tạo sự đồng thuận, đưa chính sách, pháp luật về đất đai thực sự đi vào cuộc sống.

2. Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận sôi nổi và cho nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm để hoàn thiện "Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Trung ương nhận thấy: Sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, nhất là trong việc cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố, nâng cao.

Nông nghiệp đang tiếp tục được phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất, duy trì tăng trưởng ở mức khá cao và tiếp tục khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đang chuyển mạnh theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu; phát huy lợi thế vùng, miền, địa phương; chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng được hoàn thiện, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Tỉ lệ nông sản qua chế biến tăng dần; thị trường tiêu thụ được mở rộng cả trong và ngoài nước; xuất khẩu tăng nhanh cả về sản lượng, giá trị và tỉ trọng sản phẩm chất lượng cao. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.

Nông dân nước ta đã phát huy tốt hơn vai trò là chủ thể, tích cực trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, tham gia hợp tác, liên kết, khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn; xây dựng nông thôn mới, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn. Thu nhập của nông dân ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện; tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm nhanh; dân chủ cơ sở ngày càng được phát huy.

Nông thôn đang có nhiều thay đổi rõ rệt, khá toàn diện, thể hiện rõ vai trò là địa bàn chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn chuyển đổi tích cực; tỉ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ tăng khá. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, có sức lan toả mạnh mẽ, nhận được sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp, đã về đích sớm hơn 1,5 năm so với mục tiêu đề ra.

Để tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, chúng ta phải nhận thức thật đầy đủ và đúng đắn hơn nữa về vị trí, vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; coi đây là cơ sở và lực lượng đặc biệt quan trọng để phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá và sức mạnh con người Việt Nam. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước cần phải tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phát triển hài hoà giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền; gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp; giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hoá theo hướng "nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh".

Khẳng định Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp. Chú trọng nâng cao trình độ, năng lực làm chủ của nông dân theo hướng phát triển toàn diện, văn minh; phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự chủ, tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo; ý chí vươn lên, khát vọng xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc; có trình độ tổ chức sản xuất tiên tiến, nếp sống văn minh, trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường; được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế - xã hội và tiếp cận các dịch vụ, tiệm cận với đô thị. Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và người dân nông thôn; lấy lợi ích của người dân là mục tiêu cao nhất.

Phải nhận thức và xác định rõ, nông nghiệp là một lợi thế của quốc gia, là trụ đỡ của nền kinh tế. Phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, minh bạch, trách nhiệm, tích hợp đa giá trị theo hướng giữ vững an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Phát huy lợi thế vùng, miền; tổ chức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuyển mạnh từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh; phát triển cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu.

Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, kết nối với đô thị; có đời sống văn hoá lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; có môi trường xanh, sạch, đẹp; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần chú trọng phát triển hài hoà, đồng bộ cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, gắn với cơ cấu lại lao động, tạo sinh kế, việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho nông dân và người dân nông thôn. Xây dựng nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững. Quản lý, sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đất, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững các hệ sinh thái. Chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm an toàn cho người dân.

Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân và người dân nông thôn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát, phản biện và vận động đoàn viên, hội viên, người dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

3. Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể

Hội nghị Trung ương lần này cũng đã thống nhất cao về sự cần thiết phải tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò và những kết quả quan trọng đã đạt được của kinh tế tập thể nước ta trong suốt 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX; đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Trung ương cho rằng, có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đặc biệt là do: Nhận thức của nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, đảng viên và người dân về bản chất, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa thật đầy đủ, thiếu thống nhất, thậm chí còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi định kiến về mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Việc lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều cấp uỷ đảng và chính quyền còn hình thức, chưa thực sự quan tâm, thậm chí còn lúng túng, hoài nghi về sự thành công của kinh tế tập thể. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, xây dựng thể chế, chính sách còn chậm, thiếu cụ thể, hiệu quả chưa cao. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho kinh tế tập thể tuy đã có nhiều nhưng còn dàn trải, phân tán, chưa thống nhất, thiếu nguồn lực để tổ chức thực hiện. Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể chưa được kiện toàn, còn nhiều bất cập, không thống nhất, thiếu chặt chẽ, phân tán, hoạt động chưa hiệu quả; ở một số nơi còn tình trạng buông lỏng quản lý hoặc can thiệp quá sâu, không đúng đối với tính chất tổ chức, hoạt động của hợp tác xã; hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về kinh tế tập thể chưa sâu sát, chưa thường xuyên. Việc đánh giá về hiệu quả và đóng góp của kinh tế tập thể còn phiến diện, thiên về mặt kinh tế, chưa chú ý đúng mức đến mặt chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường,... dẫn đến hạ thấp vai trò, vị trí của kinh tế tập thể trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Kinh tế tập thể, hợp tác xã phần lớn có quy mô còn nhỏ, năng lực nội tại còn yếu; đội ngũ cán bộ hợp tác xã cơ bản chưa được đào tạo chuyên sâu. Việc tổng kết lý luận và thực tiễn về kinh tế tập thể chưa kịp thời; tâm lý xã hội nói chung còn rất e ngại đối với kinh tế tập thể; thành viên hợp tác xã vẫn còn tâm lý ỷ lại, dựa dẫm lẫn nhau hoặc trông chờ sự trợ cấp của Nhà nước.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu, trong thời gian tới, phải tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết của Trung ương lần này về phát triển kinh tế tập thể phù hợp với yêu cầu và tính chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Phải thường xuyên quan tâm đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, mà nòng cốt là các hợp tác xã kiểu mới; coi đây là một thành phần kinh tế quan trọng cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Khẳng định phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu khách quan và phải xuất phát từ nhu cầu thiết thực của các thành viên; bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho các thành viên hăng say làm việc, lao động tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững; tôn trọng các giá trị, nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Kinh tế tập thể có nhiều hình thức tổ chức, hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã...), trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tổ chức; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không chỉ phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo lao động và theo vốn góp. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm cả lợi ích của thành viên, của tập thể và lợi ích của xã hội, của Nhà nước; đồng thời coi trọng lợi ích về chính trị, văn hoá, xã hội trên địa bàn. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các cá nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế hợp tác. Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng về chất lượng; bảo đảm sự hài hoà trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn của nền kinh tế; có chính sách ưu tiên các tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Đánh giá hiệu quả của kinh tế tập thể phải toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; về hiệu quả của tổ chức và của các thành viên. Phải nhận thức rõ: Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể, và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Liên minh hợp tác xã phải phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế tập thể.

4. Về vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên

Hội nghị đã thảo luận sôi nổi, tâm huyết và thống nhất cao về sự cần thiết phải tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở; xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, nhất là bí thư cấp uỷ có đủ năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và năm 2030 như đã đề ra, cần phải nâng cao hơn nữa sự thống nhất về nhận thức, và đổi mới, hành động quyết liệt hơn nữa. Cụ thể là:

Về nhận thức, phải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Quá trình thực hiện phải thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cần tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc về sinh hoạt đảng và lời thề của đảng viên khi vào Đảng. Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng với phương châm "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

Về hành động, cần khẩn trương, nghiêm túc xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch hành động liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết lần này của Trung ương đã đề ra, như: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác cho phù hợp với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng. Xác định rõ những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của đảng bộ, chi bộ; bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cấp uỷ viên các cấp...

Để thực hiện thành công mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ và giải pháp đề ra, Ban Tổ chức Trung ương và các Ban Đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương cần sớm có hướng dẫn tổ chức thực hiện; các tỉnh, thành uỷ, các đảng bộ trực thuộc Trung ương phải thực sự năng động, chủ động cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết của Trung ương đã đề ra, sao cho thật sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của địa phương mình, ngành mình, cơ quan, đơn vị mình; và đặc biệt là từng cơ sở đảng phải đề ra và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với cơ sở mình. Từng đảng viên cũng phải xác định rõ bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mình khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, không ngừng phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống; thường xuyên tự phê bình và phê bình, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ có như vậy thì tổ chức đảng và đảng viên mới thật sự trong sạch, vững mạnh, có uy tín với quần chúng nhân dân. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, cần hết sức coi trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, qua đó kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến; kịp thời củng cố các tổ chức đảng yếu kém; xử lý nghiêm các đảng viên thoái hoá, biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hoạt động của mình, phát huy vai trò của đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.

5. Về Báo cáo kết quả kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021

Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao sự chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm hết sức nghiêm túc, trách nhiệm, gương mẫu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; và hoàn toàn đồng tình, nhất trí cao với Báo cáo, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm dẫn đến thành công của năm 2021 được rút ra, đó là: (1) Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt là một tập thể đoàn kết, thống nhất, trên dưới đồng lòng, đã phát huy những bài học kinh nghiệm được rút ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, có bước đi phù hợp; chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (2) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bám sát Quy chế làm việc, Chương trình làm việc toàn khoá và Chương trình làm việc năm 2021, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành khoa học, phối hợp nhịp nhàng, thống nhất, không có tình trạng chồng chéo hoặc "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". (3) Phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có đổi mới, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp, toàn diện.

Đồng thời, Trung ương cũng đồng tình, nhấn mạnh thêm sự cần thiết phải tập trung ưu tiên lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022 do Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra trong Báo cáo.

6. Về một số vấn đề quan trọng khác

Bên cạnh những vấn đề nêu trên đây, Ban Chấp hành Trung ương cũng đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".

Tại Hội nghị này, Trung ương cũng đã nghe báo cáo chuyên đề về cuộc "Xung đột Nga - U-crai-na: Tác động quốc tế và những vấn đề đặt ra". Hội nghị đã biểu thị sự đồng tình, đánh giá cao về những chủ trương, quyết sách kịp thời, đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta trước những diễn biến mới rất phức tạp tại U-crai-na và trên thế giới; đồng thời yêu cầu phải tiếp tục theo dõi sát sao tình hình; dự báo các tình huống, khả năng có thể xẩy ra để chủ động có các phương án ứng phó kịp thời, phù hợp, có hiệu quả; giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực, theo đúng tinh thần "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế".

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã thành công tốt đẹp, hoàn thành có chất lượng cao một khối lượng công việc lớn, rất quan trọng. Chúng ta đã bàn và nhất trí cao về nhiều chủ trương, định hướng cơ bản, quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Thành công của Hội nghị Trung ương lần này, ngoài sự nỗ lực tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm của các đồng chí Trung ương, các đồng chí tham dự Hội nghị, các cấp uỷ, chính quyền, các cơ quan và cán bộ tham mưu, còn có phần đóng góp quan trọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước, đặc biệt là các đồng chí cán bộ lão thành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, những người luôn luôn quan tâm, nhiệt tình hưởng ứng và có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tuệ cho công việc chung của Đảng và Nhà nước. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi xin trân trọng cảm ơn những tình cảm và sự đóng góp quý báu đó. Tôi tin tưởng rằng, với thành công của Hội nghị lần này và với truyền thống đoàn kết, nhất trí trong Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự ủng hộ, hưởng ứng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định chúng ta sẽ tổ chức thực hiện thành công các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, góp phần từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân với niềm tin mới và khí thế mới.

Tôi xin trân trọng cảm ơn"!
Môi Trường ST.

TÍN HIỆU ĐÁNG MỪNG!

         Mới đây, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, qua tham khảo ý kiến chuyên gia, Uỷ ban thấy rằng, nên điều chỉnh về mặt kỹ thuật để môn lịch sử là "môn bắt buộc". Đây là tín hiệu rất đáng mừng. Nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi khi Quốc hội đã lắng nghe ý kiến của nhân dân. Quốc hội ta là Quốc hội của nhân dân, do nhân dân bầu ra và vì nhân dân Việt Nam mà phục vụ. 

Hiện nay, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc... đã đưa trở lại hoặc vẫn duy trì môn lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của môn lịch sử. Muốn "xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" thì phải xây chắc nền mống của ngôi nhà đó. Lịch sử chính là cội nguồn, là rường cột, là nền mống, là cơ sở để xây dựng và phát triển đất nước. 

Bên cạnh duy trì lịch sử là môn bắt buộc, chúng ta cần nghiên cứu, đổi mới cách dạy. Không nên kiểu cô thầy đọc, trò chép và bắt học thuộc từng câu từng chữ như con vẹt biết nói. Cần kết hợp giữa lý thuyết với thực tế, thông qua hình ảnh...để học sinh không nhàm chán và đạt hiệu quả cao. Nếu lịch sử là môn bắt buộc là điều kiện cần thì cách dạy lịch sử là điều kiện đủ. Có thế thì học sinh mới cảm thấy hứng thú, cảm nhận được và thêm yêu quý tổ quốc hơn. Dân tộc ta được nuôi dưỡng bằng chính lịch sử đau thương nhưng rất hào hùng. Hy vọng, ngày 22.5, trong phiên họp toàn thể thảo luận vấn đề này, Uỷ ban Văn hoá, giáo dục sẽ có những quyết định hợp với lòng dân, ý Đảng. Lịch sử không thể là môn tự chọn./.

Môi Trường ST.