Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng.

  - Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần phải tăng cường hơn nữa bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Không gian mạng và bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về không gian mạng. Quan điểm của Mỹ đề cập trong Chỉ thị số 54 về An ninh quốc gia và Chỉ thị số 23, năm 2008, về An ninh nội địa của Tổng thống Mỹ cho rằng, không gian mạng là mạng lưới kết nối các cơ sở hạ tầng bao gồm internet, các mạng viễn thông, các hệ thống máy tính, các hệ thống xử lý và điều khiển trong ngành công nghiệp trọng yếu; không gian mạng được dùng để mô tả một môi trường ảo, trong đó diễn ra việc trao đổi thông tin và tương tác giữa con người với nhau, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định không gian mạng là không gian ảo, bao gồm cả internet, trong đó thông tin được trao đổi bằng công nghệ thông tin và viễn thông; không gian mạng là “trường”, trong đó các hoạt động tình báo, tấn công và phòng thủ được tiến hành như “trường” trên bộ, trên biển, trên không và trong không gian(1).

Trung Quốc coi không gian mạng là chiến trường thứ năm và là mặt trận tình báo mới. Trong phát biểu tại hội nghị thành lập Tiểu tổ Lãnh đạo an ninh mạng và thông tin hóa Trung ương ở Bắc Kinh, ngày 27-2-2014, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng, internet và an ninh thông tin đã trở thành thách thức mới đối với Trung Quốc vì cả hai đều gắn liền với an ninh quốc gia và ổn định xã hội(2)

Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018 khẳng định, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát(3). Trên không gian mạng, Việt Nam có hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống này gồm hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia; hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức ở Trung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí; hệ thống điều khiển và giám sát tự động tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia(4).

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành (Trong ảnh: Các đại biểu tham quan khu trưng bày sách tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”) _Ảnh: TTXVN.

Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể  hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5-9-2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.  

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng công an giữ vai trò nòng cốt, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành dựa trên nền tảng của công nghệ số cùng với việc sử dụng phổ biến in-tơ-nét. Đặc trưng quan trọng của cuộc cách mạng này là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo trên cơ sở internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT) và internet kết nối các hệ thống (Internet of Systems - IoS). Trong bối cảnh diễn ra cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trên không gian mạng xuất hiện những nguy cơ, hoạt động tác động mạnh mẽ đến an ninh quốc gia của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước có nền khoa học - công nghệ phát triển, như Mỹ, Nga, Trung Quốc..., đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:

Một là, chiến tranh mạng. Có thể nói, chiến tranh mạng là một hình thái chiến tranh mới, vượt ra khỏi khuôn khổ khái niệm về chiến tranh quân sự truyền thống. Đây là cuộc chiến tranh bất đối xứng, chỉ một lực lượng rất nhỏ cũng có thể gây thiệt hại lớn cho đối phương. Chiến tranh mạng không sử dụng khí tài quân sự truyền thống mà sử dụng lực lượng tinh nhuệ để lập trình, chế tạo, sản xuất và nhân bản hàng loạt vũ khí mạng, như mã độc, hệ thống công cụ tấn công mạng, hệ thống công cụ tình báo mạng. Mặc dù được tiến hành trên không gian mạng nhưng hậu quả do chiến tranh mạng gây ra có thể vượt ra ngoài phạm vi không gian ảo và có sức tàn phá lớn, thậm chí vượt xa chiến tranh quân sự truyền thống. Tháng 4-2007, hàng loạt trang thông tin điện tử (website) các cơ quan chính phủ, nhà cung cấp dịch vụ internet và ngân hàng của E-xtô-ni-a bị tấn công liên tục. Hậu quả là hầu hết các website tại E-xtô-ni-a bị tê liệt trong khoảng 3 tuần, gây ra nhiều thiệt hại cho nước này. Năm 2009, hàng loạt website của chính phủ Mỹ và Hàn Quốc cũng bị tấn công, trong đó nhiều website quan trọng của Mỹ và Hàn Quốc phải tạm ngừng hoạt động.

Hai là, gián điệp mạng. Gián điệp mạng ra đời cùng với sự xuất hiện của không gian mạng với sự kết nối của mạng máy tính, internet và sự phát triển của công nghệ thông tin. Gián điệp mạng có thể gây ra những tổn thất khôn lường về nhiều mặt, thậm chí làm ảnh hưởng đến nhiều quốc gia thông qua hoạt động tấn công vào hệ thống máy tính của các cơ quan chính quyền, tập đoàn kinh tế, hệ thống ngân hàng hoặc hệ thống thông tin của các cảng sân bay hàng không quốc tế,... để đánh cắp dữ liệu số, thông tin bí mật hoặc tấn công mã độc, chiếm quyền kiểm soát, điều khiển hệ thống thông tin... Từ năm 2006 đến năm 2017, WikiLeaks cho công bố hàng loạt tài liệu mật, trong đó có nhiều tài liệu mật của Mỹ và một số nước, bao gồm cả các tài liệu phản ánh hoạt động giám sát các thiết bị di động của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Năm 2013, E. Xnâu-đân (Edward Snowden) tiết lộ thông tin mật về chương trình do thám toàn cầu do tình báo Mỹ và Anh thực hiện, gồm cả các hoạt động giám sát điện thoại của một số nhà lãnh đạo trên thế giới, như Tổng thống Nga D. Mét-vê-đép (Dmitry Medvedev), Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken (Angela Merkel)... Năm 2016, 11,5 triệu tài liệu mật cũng đã được công khai cho báo chí trong vụ “Hồ sơ Panama”...

Ba là, khủng bố mạng. Thời gian qua, các đối tượng khủng bố quốc tế; các thế lực thù địch; các tổ chức tin tặc, điển hình như Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS), tổ chức tin tặc do “nhóm hacker ẩn danh” Anonymous sáng lập và chỉ đạo, luôn tìm cách lợi dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố. Hoạt động khủng bố mạng gồm tấn công mạng nhằm mục đích khủng bố; tấn công khủng bố trên mạng; sử dụng không gian mạng để đe dọa khủng bố. Năm 2015, nhóm hacker người Tuy-ni-di Al-Fallaga có quan hệ chặt chẽ với mạng lưới thánh chiến toàn cầu đã tiến hành chiến dịch “Op Electronic Badr” tấn công các trang tin điện tử của ngân hàng Hapoalim, Mossad và nhiều website khác của Chính phủ I-xra-en, sau đó đăng tải các tài liệu thu được lên Facebook. Thời gian qua, tổ chức khủng bố IS cũng liên kết chặt chẽ với các nhóm tin tặc, như Cyber Caliphate, IS Hacking Division, ISIS Cyber Army và một số nhóm tin tặc khác ủng hộ IS tiến hành các vụ tấn công mạng nhằm vào mục tiêu của các nước mà chúng cho là thù địch.

Trung tâm dữ liệu của Google tại Hà Lan _Nguồn: datacenterdynamics.com

Bốn là, tội phạm mạng. Bên cạnh những loại tội phạm, như khủng bố, gián điệp trên không gian mạng, còn xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, như xâm nhập bất hợp pháp, lấy cắp, sửa đổi, phá hoại dữ liệu, dùng dữ liệu đó vào mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, chiếm đoạt tài sản, phát tán thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư. Thủ đoạn của chúng là sử dụng kỹ thuật tấn công chủ động, tấn công thụ động; tấn công lợi dụng lỗ hổng bảo mật, để xâm nhập bất hợp pháp...; trong đó thủ đoạn phổ biến là lừa người sử dụng để cài backdoor, trojan. Với ưu thế miễn phí, tiện lợi, các dịch vụ mạng như Skype, Yahoo, Facebook, Viber, Zalo,... được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam. Tội phạm mạng đã lợi dụng các dịch vụ này để cài mã độc, phần mềm gián điệp vào các thiết bị di động, máy tính kết nối internet nhằm kiểm soát, lấy cắp nội dung thông tin, dữ liệu cuộc gọi, gây ra nhiều thiệt hại cho người dùng, trong đó có các cá nhân, cơ quan chính quyền các nước. Ví dụ, như vụ “hacker của thế kỷ 21” A. Gôn-da-lét (Albert Gonzalez) đánh cắp dữ liệu của hơn 170 triệu thẻ tín dụng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2007, gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới do mức độ hậu quả thiệt hại nặng nề mà nó gây ra. Hay vụ Mỹ và Anh bắt giữ 48 người ở Mỹ liên quan đến vụ tấn công được biết đến với loại trojan mang tên Zeus mà họ dùng để trộm cắp hơn 70 triệu USD từ các ngân hàng trên khắp thế giới.

Việt Nam hiện cũng đang đối mặt với không ít các nguy cơ, thách thức đe dọa đến an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là: 

Thứ nhất, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thứ hai, hoạt động gián điệp mạng và các loại tội phạm công nghệ cao.

Không gian mạng đã và đang trở thành môi trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa thông qua in-tơ-nét. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập.

Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập, yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, nguy cơ chiến tranh mạng.

Thế giới đã và đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định, nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng... ); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016 đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.

Thứ tư, tình trạng mất an ninh, an toàn thông tin mạng đe dọa tới an ninh quốc gia.

Việt Nam đang phụ thuộc vào thiết bị hạ tầng và hệ thống công nghệ mạng lõi do các công ty nước ngoài cung cấp và luôn thường trực nguy cơ bị nước ngoài kiểm soát, giám sát. Phần lớn hạ tầng công nghệ phần cứng của Việt Nam, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị cá nhân đều nhập từ nước ngoài, nhiều nhất là từ Trung Quốc và Mỹ. Các hãng bảo mật và cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trang thiết bị mạng sử dụng trong nước, gồm cả các trang thiết bị của các cơ quan, tổ chức nhà nước có xuất xứ nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là về an ninh, an toàn mạng cũng dẫn đến nguy cơ khó kiểm soát được các vấn đề an ninh, an toàn mạng. Đáng chú ý, nhận thức của một số cấp lãnh đạo, quản lý, ý thức và kỹ năng về an ninh, an toàn mạng của người sử dụng tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó có cả cán bộ thuộc các bộ phận cơ mật, thiết yếu, nắm quyền quản trị các hệ thống quan trọng, liên quan đến nhiều bí mật nhà nước.

Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu vực, nhưng tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về an ninh, an toàn mạng. Hiện nay, khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet, 66% sử dụng mạng xã hội; 100% số cơ quan nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet, internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Theo các tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần 70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng in-tơ-nét. Hệ quả là năm 2020 có tới hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng 3% so với năm 2019. 

Giám sát, phản ứng sự cố an toàn thông tin 24/7 của Viettel Security _Ảnh: VGP

Một số vấn đề đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối tượng.  

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.      

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.

Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.   

Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.

Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng.

Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.

Phê phán các luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

  - Nhận diện một cách đầy đủ và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng chống phá, xuyên tạc là góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tự đề kháng, củng cố niềm tin của mỗi người cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; qua đó, khơi dậy sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Cơ sở khoa học và thực tiễn của “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”

Một trong những điểm mới và quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII là lần đầu tiên Đảng ta xác định “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(1). Đây cũng là bước đột phá trong tư duy của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Ấy vậy mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị, phản động, chống đối, lại đang rêu rao, xuyên tạc rằng, đó là quan điểm duy tâm chủ quan, một khẩu hiệu trống rỗng, phi thực tế, phản khoa học,... hòng thực hiện mưu đồ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta.

Chúng lý sự rằng, “khát vọng” là yếu tố tinh thần, là mặt tinh thần của đời sống xã hội; do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần và lấy nó làm cơ sở, nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nên rõ ràng là một quan điểm duy tâm chủ quan; đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin (?!).

Xét bản chất, dựa trên lý luận của triết học Mác - Lê-nin về tính độc lập tương đối của ý thức và vai trò, sức mạnh to lớn của tinh thần con người, chúng ta có đủ luận cứ, luận chứng khoa học để phản bác các luận điệu sai trái, nhưng hết sức tinh vi, xảo quyệt nói trên của các thế lực thù địch. Đó là, tuy khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nhưng các nhà kinh điển mác-xít cũng đồng thời nhấn mạnh, ý thức có tính độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”(2). Đặc biệt, ý thức tiến bộ, cách mạng một khi được giáo dục, khơi dậy và phát huy đúng cách ở mỗi cá nhân sẽ trở thành sức mạnh tinh thần vĩ đại trong cải tạo xã hội. Đúng như C. Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(3).

Điều đó có nghĩa, ý thức, tư tưởng hay tinh thần của con người, trong đó có các khát vọng chính đáng, hợp lý, hoàn toàn không phải là sản phẩm tiêu cực, thụ động, mà luôn chứa đựng sức mạnh tiềm tàng rất to lớn. Và để hiện thực hóa sức mạnh ấy, để biến nó thành sức mạnh vật chất, đòi hỏi phải biết thường xuyên khơi dậy, bồi đắp và chuyển hóa nó thành các hành động cụ thể, các phong trào xã hội thiết thực. Như C. Mác đã viết: “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”(4) và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý... Bổn phận của chúng ta là... phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(5). Vì vậy, trong mỗi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, giá trị và sức mạnh của tinh thần yêu nước cũng như khát vọng phát triển đất nước luôn phụ thuộc rất lớn vào khả năng khơi dậy, phát huy và hiện thực hóa của các thế hệ.

Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương động viên, trao quà tết tặng các nữ công nhân vệ sinh môi trường đang làm nhiệm vụ trong đêm Giao thừa tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 _Ảnh: TTXVN

Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Không hiếm dân tộc hay nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, nhất là thiếu khát vọng độc lập, tự cường và phát triển. Đối với dân tộc Việt Nam, yếu tố này lại càng nổi bật và biểu hiện sinh động hơn hết. Như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, không ngừng được đắp bồi và phát triển, tinh thần yêu nước cùng với khát vọng phát triển đất nước là những giá trị tiêu biểu, tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Chính khát vọng cháy bỏng phải giành, bảo vệ cho được độc lập, tự do, thống nhất đất nước đã tạo nên sức mạnh phi thường để dân tộc ta trường tồn và phát triển. Trong lịch sử, ông cha ta đã đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc ngoại bang, giữ vững nền độc lập dân tộc không phải chủ yếu bằng tiềm lực quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà chủ yếu là bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại của sự đoàn kết, của khát vọng về chủ quyền quốc gia.

Một mặt, với những lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động, dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực đầy đủ, cùng với tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và nhạy bén chính trị, sự kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã rất đúng, rất trúng khi xác định một cách mạch lạc, đầy sức thuyết phục về khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó là động lực quan trọng, nguồn năng lượng nội sinh to lớn để đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển, “cất cánh” trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIII hoàn toàn không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định rất rõ đây là một trong những động lực để tạo thành “hợp lực” cho đổi mới, phát triển và hội nhập; là động lực tinh thần chứ không phải động lực vật chất; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất. Do đó, trước những luận điệu cho rằng quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII là duy tâm chủ quan, mỗi người có sự hiểu biết và tỉnh táo, khách quan đều thấy rõ đó chỉ là một sự non kém về kiến thức triết học và tri thức lịch sử,... hoặc là những ý đồ chính trị hết sức tinh vi và thâm độc, một dạng của thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung, vốn không được bất kỳ khoa học nào đánh giá cao.

Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần (riêng Báo cáo chính trị là khoảng 30 lần); được nhiều nhà khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách cẩn trọng, nghiêm túc, cân nhắc từng từ, từng câu, từng chữ. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”(6). Văn kiện có văn phong trong sáng, súc tích, giản dị, từ ngữ chắt lọc, dễ nhớ, dễ thực hiện; mỗi nhận định, đánh giá, nội dung bổ sung đều có căn cứ xác đáng, nhất là những luận điểm mới như vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tất cả những điều đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đã, đang lớn tiếng cho rằng, đó chẳng qua chỉ là một lời hiệu triệu, một ước vọng hão huyền, vì nó chỉ có ý nghĩa hô hào, mang tính chất khẩu hiệu thuần túy, trong khi không xác định được những chủ trương, không định vị rõ lộ trình, không đề ra biện pháp cụ thể để hiện thực hóa khát vọng đó. Vì tính quy chụp, xảo ngôn đó, những luận điệu này đã thể hiện một “tư duy thiển cận”, phiến diện, siêu hình và về thực chất, chỉ là một cái nhìn đầy định kiến, “sặc mùi” cơ hội chính trị và phản khoa học.

Bởi lẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không những xác định rõ các chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn, mà còn đề xuất phương hướng và hệ thống những giải pháp mang tính đồng bộ, khoa học, khả thi cao để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện sự sáng tạo trong tư duy lý luận của Đảng, mà còn là cơ sở khoa học, là bằng chứng hùng hồn để phản bác lại những quan điểm sai trái, cố tình bóp méo, xuyên tạc Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta.

Quyết tâm hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của dân tộc ta trong thời gian tới

Một là, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” đã được Văn kiện Đại hội XIII thể chế hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Có thể nói, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” vừa là động lực, vừa là mục tiêu chiến lược, cao đẹp, xuyên suốt và lâu dài của Đảng, của cả dân tộc ta. Tất nhiên, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó không phải là công việc giản đơn, có thể hoàn thành trong “một sớm một chiều”. Nhưng quán triệt nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, kế thừa và bổ sung cho phù hợp với những biến đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và có sự nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước; đồng thời, trên cơ sở phân tích, dự báo kỹ lưỡng những thời cơ, tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong,... Văn kiện Đại hội XIII đã xác định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ được thể hiện, thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, mà còn “hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(7). Và điều này cũng nhất quán với khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XII: Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai.

Như vậy, việc thể chế hóa, cụ thể hóa “khát vọng phát triển đất nước” thành các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, chương trình hành động, kế hoạch, lộ trình thực hiện mang tính tổng thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta cũng như những diễn biến của tình hình thế giới,... là một trong những phương cách khả thi nhất để góp phần hiện thực hóa khát vọng này. Nếu mục tiêu, chỉ tiêu của từng thời kỳ, từng giai đoạn được thực hiện thắng lợi, thì sẽ trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu chiến lược, tức là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đã được xác định.

Kỹ sư kiểm tra, vận hành thiết bị cung cấp điện tại nhà máy điện Cà Mau 1, Cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm Cà Mau _Ảnh: TTXVN

Hai là, Văn kiện Đại hội XIII đã vạch ra định hướng và xác định hệ giải pháp cơ bản để hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến xã hội mang tính toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa sự chuyển hóa về lượng và biến đổi về chất,... của hệ thống các nhân tố tham gia. Nói cách khác, đó là sự nghiệp cách mạng to lớn, mặc dù rất vẻ vang nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách, nhiều cam go, phức tạp. Vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, Văn kiện Đại hội XIII xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Theo đó, một mặt, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ, cần tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, với sự sinh động, phong phú, thiết thực và hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. Trọng tâm là “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(8). Chú trọng hun đúc tình cảm và bầu nhiệt huyết cách mạng, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm công dân và nghĩa đồng bào của quần chúng nhân dân. Làm cho khát vọng phát triển đất nước trở thành niềm vinh dự, tự hào, phương châm, lẽ sống và hành động, là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Khơi dậy ở đội ngũ thanh niên Việt Nam tinh thần chủ động, dấn thân, xung kích, sáng tạo và lòng khát khao cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Đảng ta nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”(9).

Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII còn nhấn mạnh tới việc cần chủ động tạo lập các yếu tố, điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi làm cơ sở, động lực để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước ở mỗi con người Việt Nam. Bởi một điều dễ nhận thấy là, một khi mỗi người dân đã hiểu rõ được những gì họ cần làm để thể hiện lòng yêu nước, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước; thì khi đó, cần tạo những điều kiện, cơ chế, chính sách và môi trường thuận lợi cho mỗi người dân thể hiện lòng yêu nước của mình. Tức là, phải “Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(10). Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, từng bước hoàn thiện các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp, để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tốt tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống, quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của người dân; giải quyết tốt vấn đề việc làm, thu nhập của người lao động.

Bên cạnh đó, cần thực hành triệt để dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực chất quyền làm chủ của nhân dân, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(11). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện đầy đủ, triệt để và thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đẩy lùi nạn tham nhũng, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đồng thời, thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước. Tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, cụ thể hóa phương thức biểu hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” - một biện pháp mang tính đột phá của Văn kiện Đại hội XIII.

Trên thực tế, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là cái gì xa vời, khó hiểu, khó định lượng, bởi Văn kiện Đại hội XIII đã cụ thể hóa thành những phương thức biểu hiện rõ ràng, gắn với yêu cầu về hành động, việc làm thiết thực của mỗi người dân Việt Nam. Trong đó, từ góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần vươn lên xóa bỏ cái “biệt danh” nước nghèo, chậm phát triển. Mặc dù công cuộc đổi mới đất nước sau hơn 35 năm của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới; tuy nhiên, “dù đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế”(12). Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, khát vọng phát triển đất nước hiện nay chính là ý thức lao động hăng say và sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng của mỗi người dân; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà “trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp”(13).

Rạng rỡ niềm vui hạnh phúc trong lễ cưới tập thể của 100 cặp đôi thanh niên công nhân có hoàn cảnh khó khăn do Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức _Nguồn: ntt.edu.vn

Từ góc độ chính trị - xã hộimột mặt, khát vọng phát triển đất nước là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần lạc quan về tương lai tươi sáng của đất nước, tiền đồ tốt đẹp của dân tộc; khắc phục triệt để tâm lý tự ti, nhược tiểu. Kiên định, kiên trì, nhất quán mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao ý thức tự giác và gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó còn là tinh thần đoàn kết, kiên quyết đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu, cái bảo thủ trì trệ trong tư duy, suy nghĩ và cách làm; nghiêm khắc lên án, đấu tranh quyết liệt với các hiện tượng tiêu cực xã hội, nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bảo vệ sự trong sạch của bộ máy đảng và nhà nước.

Mặt khác, hiện nay hội nhập quốc tế đã trở thành một vấn đề có tính quy luật, là một tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia - dân tộc; do đó, để phát triển đất nước, tất yếu chúng ta phải mở cửa, hội nhập quốc tế. Mặc dù vậy, hội nhập quốc tế luôn chứa đựng cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau. Vì thế, để tận dụng thời cơ, phát huy những yếu tố thuận lợi; khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải kiên định nguyên tắc chiến lược đi đôi với thực hiện sách lược mềm dẻo, linh hoạt trong hội nhập quốc tế; lấy phương châm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường làm chủ đạo; đồng thời, phát huy tối đa các nhân tố bên ngoài có lợi, tích cực, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế. Chúng ta hội nhập với thế giới để phát triển nhưng không để bị “hòa tan”, không “đánh mất mình”; trái lại, phải giữ vững nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(14).

Từ góc độ khoa học và tri thức, đã như một chân lý - muốn đi xa, hành trang phải đầy đủ, vì vậy, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước rất cần những con người có tri thức, đủ năng lực và trình độ để thực hiện khát vọng đó. Đặc biệt, để phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực chủ động hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,... càng không thể thiếu vai trò to lớn, động lực then chốt của khoa học, công nghệ và tri thức. Do vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, thế hệ trẻ nước nhà hiện nay cần thể hiện khát vọng phát triển đất nước của mình bằng hành động xung kích nơi “trận tuyến” tri thức, khoa học và công nghệ; dám nghĩ, dám làm, năng động, nhạy bén và sáng tạo, “làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại”(15); đi tắt, đón đầu trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ vào sản xuất, đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, giá thành hạ.

Văn kiện Đại hội XIII và quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng bao nhiêu thì lại càng vấp phải sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch bấy nhiêu. Việc các thế lực thù địch, phản động ra sức công kích, bài bác và phủ nhận Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn và giá trị của đường lối, chủ trương mà Đảng đã hoạch định, được nhân dân kỳ vọng, tin tưởng, ủng hộ, đồng tình./.

HỒ CHÍ MINH ĐÃ BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.

Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Việc bổ sung vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và lệ thuộc.

Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.

Khi vận dụng nội dung Luận cương của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”. Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”.

Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin”./.

HAIVAN

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc - thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, bành trướng hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ như các thế lực thù địch thường rêu rao, quy chụp. Có chăng, Hồ Chí Minh chính là người theo chủ nghĩa dân tộc vô sản, không chỉ suốt đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức, lệ thuộc trên thế giới.

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”. Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

HAIVAN

“CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”. Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”. Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”!

Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

HAIVAN

Tối ngày 12-5: Việt Nam khai mạc Seagame 31 hoàng tráng, giàu tính nghệ thuật

Lễ khai mạc SEA Games 31 có ba phần

Phần I có tựa đề "Việt Nam thân thiện", với các tiết mục Trống khai hội Countdown bằng nghệ thuật trình diễn mapping và công nghệ đồ họa thực tế ảo, Việt Nam xin chào, Hồn sen Việt.

5d6ccd743589f4d7ad98-jpeg-1607-165236110


Phần II có tựa "Đông Nam Á mạnh mẽ" thể hiện sức mạnh của cộng đồng các nước ASEAN khi liên kết sẽ tạo nên một vị thế trên bản đồ thế giới. Phần này bao gồm các tiết mục: Hội tụ để tỏa sáng, Đường đến Việt Nam.

Thượng cờ chủ nhà Việt Nam và ASEAN

c36421f6460a8754de1b-jpeg-3328-165236425

d2628b91-8386-4b8f-827a-7cc282-8351-7176

814dd0c5-f679-4967-860b-82223f-2216-2861

Phần III là "Đông Nam Á tỏa sáng" bao gồm các tiết mục: Chung một dòng chảy, Hành trình ngọn đuốc SEA Games, Thắp lửa SEA Games. Phần này thể hiện sức mạnh đoàn kết, tình hữu nghị giữa Việt Nam và các nước trong khối ASEAN, cùng nhau đoàn kết, xây dựng cộng đồng vững mạnh, phát huy vai trò của ASEAN trên trường quốc tế.

Cuối chương trình khai mạc sẽ là màn trình diễn ca khúc chủ đề của SEA Games lần thứ 31 "Hãy tỏa sáng".

Sau khi Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố SEA Games 31 chính thức bắt đầu, pháo hoa được bắn lên quanh sân Mỹ Đình.

e1197af6fb0a3a54631b-jpeg-1652-6856-2552

b8e3c021-9f01-4bb6-90c3-147f15-9621-8666