Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

Cách nhìn định kiến và lối ngụy tạo không thể “bẻ cong” sự thật, không thể phủ nhận được những thành tựu to lớn về quyền con người ở Việt Nam.

  - Quyền con người (nhân quyền - human rights) là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, là giá trị chung mà nhân loại phấn đấu và hướng tới, được cộng đồng quốc tế, các quốc gia thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ bằng hệ thống pháp luật. Ngày nay, quyền con người được xem là thước đo quan trọng để đánh giá sự tiến bộ và trình độ văn minh của các quốc gia, khu vực. Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức nhạy cảm mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mưu toan xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề quyền con người tạo sức ép từ bên ngoài, gây chống đối ở bên trong

Quyền con người là một phạm trù với nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người đưa ra khái niệm: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu nhằm bảo vệ các cá nhân và nhóm người chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người. Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế(1).

Việt Nam luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu (Trong ảnh: Cán bộ Đồn Biên phòng A Xan khám, chữa bệnh cho bà con Cơ Tu, huyện biên giới miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) _Ảnh: TTXVN

Quyền con người không phải là vấn đề mới nhưng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Liên hợp quốc và nhiều tổ chức luôn xem quyền con người là mối quan tâm chung, là hướng ưu tiên trong hợp tác xây dựng, hoàn thiện các thiết chế, thể chế, cơ chế thúc đẩy, bảo vệ và thực thi. Các quốc gia tham gia ký kết các điều ước quốc tế đều phải có trách nhiệm giải trình về việc thực hiện quyền con người ở đất nước mình. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất phức tạp, nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản cách mạng thường xuyên lợi dụng, tạo sức ép từ bên ngoài, kích động các hoạt động chống đối từ bên trong hòng gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mưu toan xóa bỏ chế độ chính trị ở các quốc gia không “cùng quỹ đạo”. Gần đây, khi lợi dụng vấn đề này để chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch thường tập trung vào một số thủ đoạn:

Một là, vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy cho kiểu dân chủ tư sản, nhân quyền phương Tây. Chúng thường xuyên rêu rao: Chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam duy nhất do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là “toàn trị”, “mất dân chủ”; muốn có “dân chủ”, “nhân quyền” thì phải xóa bỏ chế độ độc đảng, “đa đảng là tiêu chí cao nhất của dân chủ”. Chúng tìm cách khoét sâu những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng và an sinh xã hội; từ đó cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản; tuyệt đối hóa tính toàn cầu, giá trị phổ quát của quyền con người; cố tình lý giải quyền con người là tuyệt đối, bất biến, là quyền được tự ý thực hiện tất cả những gì không bị cấm đoán, không bị giới hạn nhằm cổ xúy những hành động vi phạm pháp luật ở nước ta. Chúng liên tục bịa đặt Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhất là hiện nay, khi Chính phủ và chính quyền các địa phương áp dụng các biện pháp giãn cách, cách ly, phong tỏa để phòng, chống đại dịch COVID-19 lây lan ra cộng đồng. Chúng triệt để khai thác, lợi dụng những vụ, việc phức tạp nảy sinh, vu cáo Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, “nhà yêu nước”, đòi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mưu toan “thổi bùng ngọn lửa” bức xúc, trong dư luận để lôi kéo, kích động quần chúng tham gia các hoạt động tụ tập, biểu tình, “bất tuân dân sự”, gây rối an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Hai là, lợi dụng và lấy vấn đề dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp một cách phi lý vào công việc nội bộ của Việt Nam. Các thế lực thù địch luôn tìm cách gắn và đặt điều kiện cho việc để có viện trợ, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại thì chúng ta phải “cải thiện dân chủ, nhân quyền” theo các tiêu chí phương Tây, phải cải cách thể chế chính trị sang đa nguyên, đa đảng. Thông qua các buổi chất vấn, họp báo, điều trần để gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những “tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền”. Lợi dụng các diễn đàn công khai như hội thảo, hội nghị khoa học, các buổi tiếp xúc, đối thoại với các cơ quan chức năng của Việt Nam, yêu cầu ta phải “đưa ra và công khai lộ trình” thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Chúng vận động, lôi kéo một số người ký tên vào cái gọi là “kiến nghị”, “tuyên bố”, “hiến kế” gửi tới Liên hợp quốc, quốc hội, chính phủ các nước, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để phản đối và đòi chính quyền ta phải thả một số đối tượng chống đối đã bị bắt giữ, xét xử, nếu không sẽ kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Chúng còn mưu toan tìm cách can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật của Việt Nam, gây sức ép, đòi ta mở rộng các quyền tự do của công dân, tạo hành lang cho các tổ chức và phần tử chống đối trong nước hoạt động. Và như vậy, đặt vấn đề “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, cộng đồng” là cách thức mà các thế lực thù địch thường sử dụng để gây sức ép, can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn chủ yếu của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Việt Nam. Ở trong nước, chúng tìm cách móc nối các phần tử bất mãn; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia để làm bình phong, lá chắn; tập hợp những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” tự xưng nhen nhóm hoạt động chống phá một cách công khai, hợp pháp hóa dưới danh nghĩa các hiệp hội, hiệp đoàn, tổ chức “xã hội dân sự” như “hội phụ nữ nhân quyền”, “nhóm công dân tự do”, “đoàn tuổi trẻ yêu nước”... Ở bên ngoài, chúng “tiếp sức” cho các tổ chức phản động quốc tế ráo riết hỗ trợ kinh phí, chỉ đạo đường lối “phục hồi tổ chức”, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, chống đối. Thực hiện “trong đánh ra, ngoài tiến công vào”, lấy đó làm phương cách để tập hợp lực lượng, tạo dựng “ngọn cờ”, gây dựng và hình thành các tổ chức chính trị phản động đối lập với Đảng, Nhà nước nhưng được che đậy tinh vi, núp dưới danh nghĩa “cứu tinh ngoại quốc” để “bảo vệ dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền”, “bảo vệ những người đấu tranh vì tự do, công lý”...

Bốn là, tác động đến quốc hội, chính phủ của các nước, các tổ chức quốc tế, ban hành văn bản xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền của Việt Nam. Mới đây, trước việc Việt Nam với tư cách thành viên của Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) thông báo sẽ tham gia ứng cử vào vị trí thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, các thế lực thù địch tiếp tục núp dưới danh nghĩa “đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam” đã công khai xuyên tạc rằng Việt Nam “không xứng đáng với vai trò đó”, rằng Việt Nam thường xuyên bị các đối tác trong Liên minh châu Âu (EU), các nước phương Tây và nước khác lên án về hoạt động vi phạm nhân quyền. Thậm chí, chúng còn bịa đặt do Việt Nam chưa có dân chủ, vi phạm nhân quyền nên cần thông qua tổ chức này và các thành viên của tổ chức để giúp vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam được hoàn thiện hơn. Trên thực tế, chúng thường xuyên có những tác động đến Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên với nội dung xuyên tạc, vu cáo tình hình dân chủ, nhân quyền của Việt Nam, làm cho cộng đồng quốc tế hiểu không đúng về những vấn đề liên quan đến Việt Nam. Điển hình như báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Mỹ, nghị quyết của Nghị viện châu Âu (EP), báo cáo thường niên của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch  - HRW), Nhà tự do (Freedom House - FH), Phóng viên không biên giới (Reporters sans frontieres - RSF), Ủy ban bảo vệ các nhà báo (Committee to Protect Journalists  - CPJ), Tổ chức Ân xá quốc tế (Amnesty International - AI)... Vô hình trung, các tổ chức này có cái nhìn thiếu thông tin và chỉ nghe một chiều từ phía các thành phần cơ hội chính trị, phản động, chống đối chính quyền nhằm đưa ra những nhận định sai trái về Việt Nam. Ngoài ra, chúng còn tác động đến các chính khách cực đoan, tổ chức các buổi điều trần, hội thảo nhằm xuyên tạc sự thật, mưu toan hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế hay đưa Việt Nam trở lại danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt”, cần áp dụng các biện pháp “trừng phạt” về dân chủ, nhân quyền.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam thường xuyên bảo đảm, bảo vệ và hiện thực hóa quyền con người bằng những quan điểm nhất quán, chính sách thiết thực, việc làm nhân văn

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên nhân dân trong vùng cách ly, phong tỏa chống dịch COVID-19 ở thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh _Ảnh: Tư liệu

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và tiếp cận nhân quyền từ quyền của những con người cụ thể gắn với quyền dân tộc và khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm đầy đủ quyền con người. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chỉ rõ: Làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng xã hội mới tự do, hạnh phúc, nam - nữ bình quyền, phổ cập giáo dục. Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các quyền cơ bản của con người nhưng Việt Nam là một trong những nước sớm tiếp cận vấn đề này. Nghị quyết của Quốc dân Đại hội Tân Trào (tháng 8-1945) xác định: “Ban bố những quyền của dân cho dân: Nhân quyền; Tài quyền (quyền sở hữu); Dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền”(2). Nếu Bản Tuyên ngôn nhân quyền thế giới mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948 đề cao tự do, công lý, hòa bình thì trong Bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam trước đó 3 năm, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(3). Trong những năm kháng chiến, Đảng ta đã gắn sự nghiệp giành độc lập dân tộc với việc mang lại quyền làm người cho nhân dân. Khi đất nước hòa bình, thống nhất, Việt Nam luôn tích cực, chủ động tham gia hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người; ký kết các công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)... Tại Đại hội VI, Đảng khẳng định quan điểm xuyên suốt “bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”(4). Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh “thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”(5). Đến Đại hội XIII, Đảng khẳng định “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”(6). Quan điểm, chính sách, việc làm nhất quán của Việt Nam về bảo đảm, bảo vệ, hiện thực hóa quyền con người được thể hiện:

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng xây dựng, thực thi pháp luật, chính sách về quyền con người. Bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, được ghi trong Cương lĩnh, Nghị quyết, Hiến pháp và được tôn trọng, bảo vệ. Trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người, Đảng, Nhà nước luôn lấy “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(7). Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp nhưng luôn giữ nguyên tắc căn bản nhất là hiến định các quyền cơ bản và bảo đảm lợi ích hợp pháp của con người, đó là “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Khoản 1, Điều 14, Hiến pháp năm 2013). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung và hoàn thiện quy định các quyền mới phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, thể hiện vai trò làm chủ của người dân, như: quyền được giữ bí mật thông tin; quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và danh dự; quyền được sở hữu về thu nhập hợp pháp, về nhà ở; quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa, được sống trong môi trường trong lành... Qua đó tạo hành lang pháp lý đồng bộ để thực thi pháp luật về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Thứ hai, tích cực xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm và thực thi quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các thiết chế bảo đảm quyền con người. Bộ máy nhà nước đã được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng gọn nhẹ, chuyên môn hóa, hoạt động hiệu quả theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế sự lạm dụng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Chú trọng xây dựng các cơ quan chuyên môn, chuyên trách bảo vệ quyền con người như Ban chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ và các địa phương; xây dựng, hoàn thiện tổ chức của các cơ quan chuẩn bị báo cáo tình hình thực hiện các Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, chúng ta đang nghiên cứu và xúc tiến việc thành lập Ủy ban nhân quyền quốc gia để theo dõi, giám sát, tư vấn việc thực thi quyền con người trên các lĩnh vực từ ban hành, thực thi pháp luật đến điều tra, truy tố, xét xử, xem xét về tính tương thích của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người.

Thứ ba, tăng cường giáo dục, tuyên truyền, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội vào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền con người. Thông qua các dự án, chương trình hợp tác, hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành, cơ quan ngoại giao, tư pháp, công an, báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đã tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về quyền con người, trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thực thi pháp luật và nhân dân. Trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, Việt Nam coi trọng phát huy vai trò của hệ thống chính trị, “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên”(8). Các hoạt động giáo dục, tuyên truyền luôn hướng tới tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, trợ giúp pháp lý cho các nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở...

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về bảo vệ và thực thi quyền con người. Là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chủ động tham gia ký kết và phê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế, nghị định thư, đối thoại quốc tế liên quan đến quyền con người. Việt Nam là thành viên Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, có nhiều đóng góp tích cực vào việc thành lập và hoạt động của Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR), Ủy ban Thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em trong ASEAN (ACWC)... Việt Nam nghiêm túc, nỗ lực thực thi trách nhiệm, nghĩa vụ, các cam kết quốc tế trong hiện thực hóa các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật, chính sách và hoạt động thực tiễn; xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách trong nước phù hợp và tuân thủ các quy định của Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên; sẵn sàng đối thoại và kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền con người.

Các thành tựu về bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận

Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng; được bảo đảm trên thực tế và được bảo vệ theo pháp luật; ngày càng phát triển, lan tỏa sâu rộng trong cuộc sống và thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt tiến trình cách mạng, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc và nỗ lực chăm lo, bảo đảm cuộc sống mọi mặt cho người dân và đó là sự khẳng định Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Từ thực tiễn bảo đảm, bảo vệ, thực thi quyền con người đã hình thành hệ thống quan điểm nhất quán: Quyền con người là giá trị chung của nhân loại; quyền con người gắn liền với quyền dân tộc và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia; bảo đảm quyền con người là bản chất, mục tiêu, động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa; quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân kết hợp hài hòa với quyền của tập thể và không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân; quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng pháp luật; trách nhiệm của Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương phải tích cực thực hiện, ngày càng hoàn thiện và nâng cao các quyền con người; chủ động, tích cực hợp tác quốc tế vì quyền con người. Trong quá trình bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền con người, bên cạnh việc triển khai đồng bộ nhiều chương trình, kế hoạch, dự án, xây dựng xã hội học tập, phát triển hệ thống giáo dục, chăm lo y tế, phát triển đường giao thông, lưới điện quốc gia..., Đảng, Nhà nước luôn quan tâm bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cuộc sống của người nghèo, người yếu thế, các đối tượng chính sách, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, là nội hàm của phát triển bền vững, là chương trình hành động quốc gia thể hiện tính nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa và truyền thống tương thân, tương ái tốt đẹp của dân tộc.

Đảng, Nhà nước ta nỗ lực chăm lo, bảo đảm cuộc sống mọi mặt cho người dân, nhất là người yếu thế trong xã hội_Ảnh: Đào Anh Tuấn 

Thành tựu về bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền con người ở Việt Nam trong hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng thể hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực, trước hết là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế - xã hội. Sau 35 năm đổi mới, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô 14 tỷ USD (năm 1985), đến năm 2020 là 343 tỷ USD (tăng 24,5 lần), GDP bình quân đầu người 3.521 USD. Năm 2020, tạp chí The Economist đã xếp Việt Nam trong danh sách 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, thực hiện được “mục tiêu kép”: vừa duy trì kinh tế tăng trưởng dương ở mức khá, vừa đẩy mạnh phòng, chống, kiểm soát thành công đại dịch COVID-19, bảo vệ sức khỏe và bảo đảm cuộc sống của người dân. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2020 do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố là 0,704, xếp thứ 110/189 quốc gia, tăng 7 bậc (năm 2019 là 0,63, xếp thứ 117/189); tuổi thọ trung bình tăng 4,8 năm; số năm đi học tăng 4,3 năm... nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy và thực hiện đồng bộ các chính sách phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng, an toàn, an sinh xã hội. Tỷ lệ người nghèo giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 2,75% (năm 2020), bình quân giảm 1,42% mỗi năm. Năm 2020, cả nước có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí...(9).

Đảng, Nhà nước xác định mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý luôn nỗ lực cao nhất để bảo đảm và gắn kết quyền sung sướng (dân giàu) với quyền tự do (dân chủ) cho nhân dân và đây là cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia, cộng đồng quốc tế thực hiện có hiệu quả những giá trị phổ quát về quyền con người. Quốc hiệu và tiêu ngữ mở đầu văn bản từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay luôn nhất quán “Độc lập  - Tự do - Hạnh phúc” đồng nghĩa với mục tiêu trước sau như một, Đảng và Nhà nước kiên trì bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Từ một xứ thuộc địa lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, một nước đang phát triển có thu nhập trung bình; được cộng đồng quốc tế ghi nhận là quốc gia tiên phong trong bảo đảm quyền con người, là điểm sáng khi thực hiện thành công trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và mục tiêu phát triển bao trùm, bền vững, không ai bị ở lại phía sau của Liên hợp quốc. Dưới góc độ từng người dân, quyền con người không gì quan trọng hơn, cao hơn đó là quyền được sống trong hòa bình, có việc làm, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được bảo đảm an toàn. Trong bối cảnh thế giới đang phải vật lộn trong đại dịch COVID-19 thì ở Việt Nam, mặc dù dịch bệnh diễn biến phức tạp, số ca nhiễm tăng cao, nhưng người dân vẫn được Chính phủ quan tâm, chăm lo bảo đảm cuộc sống. Đây là lý do để Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đánh giá Việt Nam nằm trong tốp 10 “quốc gia đáng sống” nhất thế giới. Điều đó chứng tỏ chúng ta đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện. Đồng thời, đây là những minh chứng cao nhất về quyền con người được bảo đảm và bảo đảm tốt ở Việt Nam. Vì vậy, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế và nhân loại tiến bộ ghi nhận những nỗ lực, sự tiến bộ và kết quả quan trọng của Việt Nam trong bảo đảm và thực thi quyền con người. Trên thực tế, đã có 184/193 nước bỏ phiếu tán thành Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, 192/193 nước nhất trí bầu Việt Nam đảm nhiệm cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Những kết quả trên là sự thật không thể đảo ngược, là sự khẳng định mạnh mẽ rằng quyền con người, quyền công dân đang được bảo đảm vững chắc ở Việt Nam; đồng thời, là lời phản biện thuyết phục đối với những luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Nhằm tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quan điểm, giải pháp về quyền con người, Đại hội XIII của Đảng đã tiếp cận quyền con người trên phương diện chính trị - xã hội; gắn quyền con người với an ninh quốc gia, an ninh con người và quyền của quốc gia - dân tộc; lấy con người giữ vị trí trung tâm gắn với phát triển con người toàn diện và đề cao vai trò chủ thể của con người trong chiến lược phát triển đất nước; coi trọng công tác bảo hộ công dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài; đẩy mạnh đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước và phát huy những thành tựu của công cuộc đổi mới nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy việc thực thi quyền con người trên tất cả các lĩnh vực. Khai thác tối đa các nguồn lực, “phấn đấu sớm hoàn thành các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là trẻ em, nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hòa nhập, tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản”(10). Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng, an sinh và phúc lợi xã hội, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của nhân dân. Triển khai “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”(11). Đặc biệt, coi trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người; đồng bộ hóa các quy định pháp lý và đưa các quy định đó vào thực tiễn cuộc sống của người dân một cách hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội của Việt Nam và các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Mở rộng phạm vi quy mô, đa dạng hóa nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người. Chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu trong bảo đảm, bảo vệ, hiện thực hóa quyền con người trên các diễn đàn quốc tế, khu vực. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác để nâng cao sự hiểu biết, đồng thuận, từng bước thu hẹp bất đồng và sự khác biệt giữa Việt Nam với các đối tác trong bảo đảm và thực thi quyền con người. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ quan điểm, lập trường, lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền con người của nhân dân Việt Nam./.

Tính thống nhất biện chứng giữa quyền con người với quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - Ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh vì quyền con người chân chính hiện nay.

  - Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền con người không chỉ là các quyền thuộc về cá nhân, là giá trị nhân văn vốn có và thiêng liêng của mỗi người, mà còn là giá trị văn hóa của cộng đồng quốc gia - dân tộc. Cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển lý luận về quyền con người và luật quốc tế về quyền con người là đã gắn kết hai chủ thể của quyền (quyền con người với tính cách là cá nhân và với tính cách là quốc gia - dân tộc) vào trong một khái niệm quyền con người. Cùng với thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, hai khái niệm pháp lý trên đã được phát triển lên thành quyền dân tộc cơ bản, bao gồm quyền được tồn tại (quyền sống), độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - giá trị vượt thời đại trong tư tưởng về quyền con người và quyền dân tộc tự quyết

Việc phát triển khái niệm quyền con người (QCN) thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện cô đọng trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của lý luận về QCN cũng như của luật quốc tế về QCN, khi lần đầu tiên trong lịch sử khái niệm quyền sống, quyền tự do của các dân tộc được mở rộng từ quyền sống, quyền tự do của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những luận đề hiển nhiên, được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1); đồng thời, đưa ra sự khẳng định đầy tinh tế và sâu sắc: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Người dẫn tiếp bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một kết luận: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Bằng việc mở rộng QCN chỉ với tính cách cá nhân lên QCN với tính cách quốc gia - dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một tầm cao mới, trên tinh thần thế giới quan khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử và xã hội loài người, phản ánh chân thực quá trình lịch sử và thực tiễn tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam cũng như của các dân tộc bị nô dịch và áp bức trên toàn thế giới. Sự mở rộng chủ thể quyền với nội hàm được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc của cá nhân thành của quốc gia - dân tộc là một bước tiến nhảy vọt về lý luận, nhất là vào thời đại các nước thực dân, đế quốc cố tình hạ thấp, chà đạp và tước bỏ phẩm giá của một dân tộc để tôn vinh phẩm giá của kẻ đi bóc lột và nô dịch. Vì thế, ý nghĩa của “sự suy rộng ra” cùng với việc khẳng định quyền được sống của quốc gia - dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại một quan niệm hết sức đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa tự do cá nhân và tự do của cộng đồng, giữa giải phóng con người và giải phóng xã hội. Trong sự thống nhất đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò giải phóng con người về mặt cá nhân. Người khẳng định rằng, muốn giải phóng toàn bộ những lực lượng xã hội, muốn cho xã hội phát triển, thì trước hết phải giải phóng toàn diện cá nhân, tạo ra những tiền đề cho việc phát huy cao độ khả năng tiềm tàng trong mỗi cá nhân. Và chỉ khi đó, QCN mới được hiện thực hóa.

Bác Hồ thăm lớp học vỡ lòng (tranh của họa sĩ Đỗ Hữu Huề) _Nguồn: nhandan.vn

Bản Tuyên ngôn Độc lập được kết thúc bằng luận điểm đanh thép, hùng hồn, như một lời hiệu triệu quyết tử để bảo vệ quyền tự do vốn có, thiêng liêng và tối thượng của mỗi người và của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(2). Lời tuyên thệ bất hủ ấy cho thấy khát vọng cháy bỏng về tự do và tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đại diện. Tư tưởng về quyền tự do, dân chủ của bản Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành nguyên tắc hiến định. Các quyền và tự do cơ bản của mỗi người luôn gắn liền với các quyền độc lập và tự do của dân tộc, quốc gia, không ngừng được mở rộng về khái niệm và nội hàm thông qua các bản hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, với sự phát triển vượt bậc các chế định về QCN. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,... cũng chính là thực hiện và phát triển những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về QCN.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền và tự do cơ bản của con người trước hết là giá trị nhân văn cao quý của loài người, dù chủ thể của quyền là những con người khác nhau về chủng tộc, màu da, lãnh thổ,... Điều này đã được thể hiện rõ trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương”: “Hỡi những người Pháp!... Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do. Lòng yêu nước thương nòi này làm vẻ vang các bạn vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người... Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”(3). Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, QCN là giá trị nhân văn, mang tính phổ biến đối với mỗi người, mỗi dân tộc, là sự khẳng định những giá trị thiêng liêng, cố hữu và bất khả xâm phạm. Giá trị nhân văn sâu sắc của QCN không phải do một lực lượng siêu nhiên nào ban phát hay tước đi, mà được sản sinh ra từ trong lịch sử hình thành, đấu tranh và phát triển của con người, hay là kết quả của lịch sử con người, lịch sử nhân loại mà có.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN là sự thể hiện, đúc rút và kế thừa biện chứng giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, giá trị dân tộc và nhân loại. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “quyền được an ninh và chống áp bức” được nhấn mạnh ở đây chính là quyền dân tộc tự quyết, bất khả xâm phạm, không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ một dân tộc, quốc gia nào, tức là khẳng định quyền dân tộc thiêng liêng và hiển nhiên. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và mở rộng nội hàm của khái niệm “nhân quyền”, nâng khái niệm “nhân quyền” lên tầm cao mới về chất khi được áp dụng cho thành tố quan trọng, không thể tách rời của QCN là quyền dân tộc tự quyết, quyền của các dân tộc.

Quyền con người được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập ở đây hoàn toàn không phải là sự sáng tạo của đấng tạo hóa theo nhãn quan của các nhà tư tưởng phương Tây chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa hữu thần, mà là việc đem trả lại cái bản thể nguồn cội của QCN là thuộc về mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc và toàn thể nhân loại. Cái bản thể ấy được cô đọng từ giá trị nền tảng, bao gồm phẩm giá, bình đẳng, không phân biệt, tự do và độc lập. Chính những giá trị ấy đòi hỏi con người cần phải được đối xử một cách bình đẳng, được thừa nhận, tôn trọng sự tự trị và tính toàn vẹn với tính cách là một cá nhân độc lập, trong mối quan hệ với những cá nhân khác và với xã hội. Với một quốc gia - dân tộc, trước hết là sự mở rộng của tập hợp cộng đồng bao chứa các cá nhân, đồng thời là sự khái quát hóa và tổng hòa của những cá nhân với những giá trị cố hữu của họ. Theo lô-gíc ấy, đặc tính về phẩm giá, tự do, tính tự trị, tự quyết (độc lập) của mỗi cá nhân cũng chính là đặc tính của mỗi quốc gia - dân tộc. Quốc gia - dân tộc là sự mở rộng của các cá nhân. Do đó, yêu sách về tự do cho mỗi cá nhân là yêu sách về giải phóng dân tộc, là tự do, độc lập cho dân tộc.

Sự phát triển lý luận và pháp luật quốc tế về quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN nói chung, quyền dân tộc tự quyết nói riêng đã và đang đóng góp to lớn, cả về lý luận và thực tiễn vào sự phát triển và hiện thực hóa QCN.

Về lý luận, quan điểm của Người về QCN được hun đúc trong suốt quá trình đi tìm đường cứu nước và đặc biệt, được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945; một mặt, là sự kết tinh nhân phẩm và giá trị của con người Việt Nam trong lịch sử; mặt khác, là sự kế thừa những giá trị nhân văn của loài người. Đó là sự kết hợp một cách biện chứng giữa giá trị truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và thời đại, để từ đó khẳng định hùng hồn các quyền cơ bản của con người gắn liền với quyền dân tộc thiêng liêng: Độc lập, tự do, chủ quyền quốc gia, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ... Bằng sự “suy rộng ra”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho bước phát triển lý luận về QCN. Người đã nâng những lý tưởng truyền thống của thế kỷ XVIII - XIX lên ngang tầm với lý tưởng của thời đại mới: Thời đại giải phóng dân tộc, đập tan xiềng xích của chủ nghĩa thực dân, thời đại của các dân tộc bị áp bức, bóc lột giành lại quyền sống, quyền độc lập, tự do, quyền dân chủ và phát triển; đã ý thức sâu sắc được vấn đề then chốt của quyền con người là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự giải phóng con người đích thực; đề cao tính quyết định và không tách rời của quyền dân tộc tự quyết, của độc lập, tự do cho dân tộc với QCN. Tư tưởng tiên phong ấy đã trở thành kim chỉ nam cho lý luận đương đại về QCN: Quyền cá nhân gắn liền với quyền của cộng đồng, quyền tập thể; độc lập, tự do cho dân tộc và phát triển là những quyền cơ bản của con người; QCN không bao giờ có thể cao hơn và thoát ly chủ quyền quốc gia.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN không chỉ tạo nền tảng cho việc xây dựng và hiện thực hóa các văn bản pháp lý mang tính chất hiến định và pháp định của Việt Nam, mà còn trở thành một trong những cơ sở của pháp luật quốc tế hiện đại trong việc thiết lập phạm trù “quyền dân tộc cơ bản”. Ngay từ giữa thế kỷ XX, nhiều nước Á - Phi đã thừa nhận đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào việc xác lập một định chế pháp lý quốc tế mới bảo vệ các quyền tự do và bình đẳng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là quyền thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; đóng góp lý luận về quyền dân tộc tự quyết (đặc biệt là quyền được tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,...) và quyền của những nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội (phụ nữ, trẻ em, người già, người nghèo,...). Đánh giá về ý nghĩa và tầm vóc quốc tế đối với tư tưởng về QCN trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, tại Lễ trao bằng Tiến sĩ Luật khoa danh dự cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1959, Giám đốc Trường Đại học Tổng hợp Băng-đung (In-đô-nê-xi-a) khẳng định: “Đó là một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc lập bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức”(4).

Về thực tiễn, trong thời đại ngày nay, bảo vệ QCN luôn gắn liền với các mục tiêu lớn của loài người, là chủ đề nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế. Quyền con người, mặc dù là đặc quyền vốn có của con người, nhưng không tự nhiên hiện hữu ở tất cả mọi người, mọi dân tộc và mọi nền văn hóa; trái lại, phải trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh đầy bi tráng của con người trước sự thống trị của những lực lượng tự nhiên và xã hội mới giành được.

Quyền con người là vấn đề chính trị quốc tế mang bản chất lợi ích giai cấp, quốc gia - dân tộc sâu sắc. Trong quan hệ chính trị - pháp lý quốc tế, QCN bị khúc xạ qua lăng kính “tiêu chuẩn kép” về quyền (đang bị xem là dạng thức của “chủ nghĩa đế quốc mới về văn hóa”) mà các siêu cường đã và đang áp đặt cho các quốc gia đang phát triển; là nội dung then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” và “can thiệp nhân đạo” cũng như cuộc chiến “chống chủ nghĩa khủng bố” của một số cường quốc thông qua việc hoạch định chính sách đối ngoại, vấn đề an ninh toàn cầu, hòa bình và phát triển.

Cuộc chiến tranh ủy nhiệm tại Syria đã gây ra cuộc khủng hoảng tị nạn lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai (Trong ảnh: Phụ nữ và trẻ em Syria tại trại tị nạn Kafr Lusin ở Idlib, gần cửa khẩu Bab al-Hawa, biên giới Syria - Thổ Nhĩ Kỳ) _Ảnh: AFP/TTXVN

Các chính sách ấy đã phớt lờ và chà đạp lên luật pháp quốc tế (vốn xác lập nguyên tắc nền tảng là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế) bằng việc can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền. Vì vậy, hơn lúc nào hết, tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN đang rọi chiếu và chỉ lối cho nhận thức và hành động của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch về QCN cũng như trong sự nghiệp chăm lo, bảo vệ và thúc đẩy việc tôn trọng và hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản cho nhân dân đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng. Thực tế đã chứng minh, đối với một dân tộc không có chủ quyền thì không thể có tự do và ngược lại, một dân tộc dùng sức mạnh của mình đi thống trị, nô dịch, áp đặt, chà đạp lên một dân tộc khác thì dân tộc đó cũng không thể là dân tộc nhân danh cho tự do đích thực. Sự thờ ơ, chối bỏ hay tước đi các giá trị thiêng liêng về quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc mà mỗi người dân xứng đáng được hưởng đều đi ngược lại tư tưởng vĩ đại của Người. 

Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn, một con đường phát triển không chỉ của một số quốc gia - dân tộc, mà thực sự là hiện thực và tương lai của nhân loại, là chân lý xác thực đối với các quốc gia bị áp bức, nô dịch, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có đóng góp quan trọng trong phát triển lý luận mác-xít nói riêng, lý luận và hệ thống pháp luật quốc tế nói chung về QCN và quyền dân tộc tự quyết. Cuộc đấu tranh vì quyền phổ thông đầu phiếu, công bằng xã hội, các quyền và tự do cơ bản của người lao động, đặc biệt là của giai cấp công nhân và những nhóm yếu thế trong xã hội, do những người xã hội chủ nghĩa khởi xướng, đã được áp dụng trong xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới tại nước Nga Xô-viết vào năm 1917 và Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam vào năm 1945. Những thành tựu to lớn về QCN ở các nước xã hội chủ nghĩa đã được đưa vào trong hệ thống pháp luật quốc tế, thể hiện trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) và hai công ước quốc tế cơ bản về QCN: Công ước quốc tế về quyền dân sự - chính trị và Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (năm 1966). Không phải ngẫu nhiên, nhóm soạn thảo của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người vào năm 1948, bao gồm Rene Cassin (Giáo sư luật và nhà lập pháp người Pháp) và phu nhân Tổng thống Mỹ Elenor Roosevelt - đại biểu cho quan điểm phương Tây, là hai trong số những đại biểu thừa nhận sự mang ơn các lý tưởng xã hội chủ nghĩa, của các nhà xã hội chủ nghĩa và phong trào xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới, sự đóng góp vô giá của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với sự hình thành và phát triển các QCN phổ quát và toàn cầu ngày nay(5). Những tư tưởng tiến bộ về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại và giải phóng các nhóm xã hội yếu thế của những người cộng sản đã lan tỏa sang những người phi mác-xít, những trào lưu, xu hướng giải phóng dân tộc và các phong trào xã hội khác không theo đường lối xã hội chủ nghĩa.

Bình đẳng và không phân biệt đối xử được xem là nguyên tắc nền tảng, hạt nhân của luật nhân quyền quốc tế hiện đại. Về điểm này, công lao của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những người cộng sản là rất đáng lưu ý. Không phải ai khác, chính những người cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa đã kế thừa và phát triển di sản của các cuộc cách mạng xã hội thời kỳ Phục hưng và Khai sáng.

Đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các nhà cộng sản lỗi lạc tiền bối, như C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin là đã lan tỏa sức sống mãnh liệt của hệ tư tưởng mác-xít về con người và giải phóng con người, giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại; đồng thời, góp phần quan trọng vào việc phát triển lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội nói chung và phát triển lý luận về QCN và hệ thống pháp luật quốc tế về QCN nói riêng. Với việc “suy rộng ra” từ QCN của mỗi cá nhân thành quyền tự quyết của mỗi quốc gia - dân tộc, được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 bất hủ, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục bổ sung, làm sâu sắc thêm hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về QCN và giải phóng con người ở những điểm chủ yếu sau: 1- Cách tiếp cận duy vật và lịch sử về quyền con người - điều không thể có ở những học giả tư sản và bảo hoàng của thời kỳ phong kiến, vốn xem các QCN nảy sinh từ yếu tố tự nhiên thuần túy hay được thần thánh hóa; 2- Đấu tranh vì các quyền phổ thông đầu phiếu, bình đẳng về kinh tế và các quyền xã hội cơ bản khác. Các học giả tư sản thời kỳ này chỉ nhấn mạnh đến các quyền dân sự - chính trị, sự bình đẳng chính trị; trong khi đó, những người cộng sản đòi hỏi một thứ bình đẳng thực chất cho tất cả tầng lớp nhân dân lao động; 3- Quyền dân tộc tự quyết. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã cho thấy sự thống nhất chặt chẽ giữa các quyền và tự do cơ bản của cá nhân với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đem lại các quyền đích thực cho mọi người, đặc biệt là cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa mà những người cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa đấu tranh và khẳng định từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX là một thành tựu lớn lao làm thay đổi hệ thống pháp luật quốc tế về QCN. Chính cách tiếp cận duy vật, lịch sử về QCN đã đem lại cho QCN sức sống hiện thực trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội đã chỉ ra rằng, những bước tiến của con người về tự do, bình đẳng, dân chủ đích thực phải được đo bằng bước tiến về bảo đảm tự do, bình đẳng về kinh tế, các chuẩn mực phúc lợi và an sinh xã hội được dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhân dân lao động.

Cán bộ, chiến sĩ quân y thăm, khám bệnh cho đồng bào ở Tây Nguyên _Nguồn: vapa.org.vn

Chủ nghĩa xã hội hiện thực, với hệ tư tưởng dẫn đường của các nhà mác-xít tiền bối, như C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin, và sau này là tư tưởng Hồ Chí Minh, đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc giải phóng về chính trị và kinh tế là hai thuộc tính cố hữu, vốn không thể tách rời của mọi cuộc giải phóng và cách mạng xã hội; các QCN không thể tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội trước hết là giải phóng chính trị để xác lập sự giải phóng thực sự về kinh tế. Chính vì vậy, trong gần hai thập niên tranh luận và đấu tranh (từ năm 1948 đến năm 1966) kể từ khi Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ra đời năm 1948, các nước xã hội chủ nghĩa đã đưa được các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa vào hệ thống pháp luật quốc tế về nhân quyền. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa đã đưa ra ràng buộc pháp lý đối với tất cả các nhà nước, chính phủ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý trong việc bảo đảm và hiện thực hóa các QCN cơ bản trên thực định cho tất cả mọi người. Đó là các quyền có việc làm, quyền được giáo dục, chăm sóc, chữa bệnh, được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, nghỉ ngơi, quyền có nhà ở, quyền có nước sạch, quyền được vui chơi, giải trí, quyền được hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa...

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng, được cô đọng qua những danh ngôn: “Một dân tộc nô lệ không thể có con người tự do” và “nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì”. Giải phóng dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, ai cũng có cơm no, áo mặc, ai cũng được học hành,... luôn là lý tưởng và lẽ sống của Người. Đó cũng chính là lý tưởng và lẽ sống của dân tộc và nhân loại. Tuyên ngôn Độc lập là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao không chỉ về tính nhân văn sâu sắc, giá trị đạo lý và chính trị to lớn đối với các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động trên toàn thế giới, mà còn ở tính khoa học - pháp lý chặt chẽ, sáng tạo, là phương pháp luận đúng đắn về giải phóng dân tộc, giải phóng con người, hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người. Tư tưởng ấy đã, đang và sẽ soi đường cho sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh và bền vững, phấn đấu vì mục tiêu cao cả “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Những yếu tố tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

  - Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định, đây là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nhận diện những yếu tố tác động đến việc thực hiện nhiệm vụ này là việc làm cần thiết để thấy rõ hơn những thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Tại Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,... thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”(1). Đây là một nhiệm vụ đầy khó khăn, thử thách bởi có nhiều yếu tố tác động đan xen, cả thuận lợi và thách thức, trở ngại, từ bên trong và bên ngoài, đặc biệt là những yếu tố chủ yếu sau:

Đường lối lãnh đạo của Đảng

Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng là yếu tố quyết định bảo đảm thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (Trong ảnh: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra mắt Đại hội) _Ảnh: Tư liệu

Đường lối lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua các cương lĩnh, nghị quyết. Hơn 90 năm qua, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng trên cơ sở vận dụng, kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn nước ta qua mỗi thời kỳ lịch sử. Những thành quả cách mạng vĩ đại, đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới đất nước chính là bằng chứng thuyết phục, chứng minh việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Điều này đã được khẳng định rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(2). Từ đây, Đảng ta đã đưa ra một nhận định quan trọng mang tính tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đường lối đổi mới đất nước: “Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”(3).

Thực tế cho thấy, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng là yếu tố quyết định bảo đảm thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta hiện nay. Một mặt, đường lối lãnh đạo sáng suốt, mang lại những thành quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chính là một bằng chứng thuyết phục nhất để khẳng định việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là đúng đắn; mặt khác, những thành quả mà nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhân dân với Đảng để tạo thành sức mạnh đấu tranh phản bác những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch muốn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Dựa vững vào đường lối của Đảng, thực hiện đúng đường lối của Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch

Đây là đối tượng của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; do đó, cần nhận diện rõ và đấu tranh kiên quyết, trực diện.

Tình hình chính trị quốc tế, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc cùng với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước là những yếu tố ngược chiều có tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta. Thực tiễn cho thấy, cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu lâm vào thoái trào và tan rã, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta đã gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Không chỉ những người có lập trường tư tưởng phi mác-xít, mà ngay cả một số người trước đây vốn đi theo chủ nghĩa Mác, luôn ủng hộ chủ nghĩa xã hội, thì thời điểm đó cũng tỏ ra hoài nghi, dao động, lên tiếng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phủ nhận giá trị cốt lõi trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến vô cùng nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tuy hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ yếu, song thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, như: “Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên”(4), các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn, đại dịch COVID-19 vẫn có những diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu... Đặc biệt, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”(5). Điều này tiếp tục gây nên những khó khăn, cản trở rất lớn đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những “điểm nóng” trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm xuyên tạc tình hình phát triển của đất nước, mưu toan hướng lái những tư tưởng và hành động sai trái, gây chống đối, “bất tuân dân sự”, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội; từ đó lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã tận dụng tối đa phương tiện truyền thông, như in-tơ-nét, mạng xã hội cùng với hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở hải ngoại để phát tán các bài viết tuyên truyền xuyên tạc sai sự thật về Việt Nam, đồng thời đăng tải nhiều video clip xấu, độc lên Facebook, Youtube..., thư gửi, kiến nghị, tuyên bố, hội thảo của các tổ chức, cá nhân; trao giải thưởng của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và của các tổ chức phản động, đối lập; trả lời phỏng vấn, bình luận của các báo, đài... Sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt đó đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tâm lý, thái độ của một bộ phận nhân dân, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên

Trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên được Đảng ta đặc biệt chú trọng. Đây chính là điều kiện đặc biệt quan trọng, là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Chỉ trong 10 năm (2011 - 2021), đã có nhiều nghị quyết, quy định quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành; trong đó, tiêu biểu là Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết số 04/NQ-TW, ngày 30-10-2016, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”... Những nghị quyết, quy định đó đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta, như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Trung ương và cấp ủy các cấp đặc biệt coi trọng, triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt và đạt được nhiều kết quả rõ rệt, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng”(6).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, “những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... còn diễn biến phức tạp”(7). Nghiêm trọng hơn, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(8). Trong nhiệm kỳ qua, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”(9). Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là mơ hồ, hoài nghi về mục tiêu, lý tưởng, con đường phát triển của đất nước; cùng với tệ tham ô, tham nhũng, lãng phí chính là những thách thức lớn cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay. Điều đó dẫn đến một hệ lụy vô cùng nguy hại như Đảng ta đã từng cảnh báo, “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(10).

Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên để móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, cơ hội chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các đồng chí lãnh đạo của Đảng nói riêng và công tác nhân sự của Đảng nói chung. Do đó, đây thực sự là một yếu tố bất lợi, tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật

Cơ chế, chính sách cùng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật là những điều kiện bảo đảm cần thiết và rất quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nếu cơ chế, chính sách tác động đến việc huy động lực lượng, tổ chức triển khai thì cơ sở vật chất, kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của việc phát hiện, đấu tranh với những thủ đoạn của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương trao giải A cho các tác giả tại Lễ trao giải cuộc thi viết chính luận khoa học “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” _Ảnh: TTXVN

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, vì “địch đứng trong bóng tối, ta đứng ngoài ánh sáng; địch có năm, bảy kẻ thù với nhiều âm mưu, thủ đoạn, được sự hậu thuẫn của tài chính, khoa học - kỹ thuật còn ta vẫn chỉ là một nước đang phát triển”(11). Tuy nhiệm vụ khó khăn như vậy, nhưng thực tế cho thấy, những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ vẫn còn nhiều hạn chế, “chưa có cơ chế, chính sách hữu hiệu về vật chất, tinh thần thỏa đáng để thu hút đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh”(12).

Về nhân lực, hiện nay nước ta có đội ngũ đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học, trong đó nhiều người có trình độ chuyên môn giỏi, trình độ lý luận chính trị cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông, nhất là in-tơ-nét và mạng xã hội, để đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên không gian mạng, thì một số chuyên gia, nhà khoa học lại chưa thực sự theo kịp sự phát triển của mạng xã hội để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị trong tình hình mới. Hơn nữa, “trình độ khai thác, sử dụng công nghệ thông tin mạng của không ít cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên còn hạn chế, vì thế, đấu tranh trên không gian mạng còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng”(13). Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có các chuyên gia, nhà khoa học, gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, không nắm rõ được những luận điệu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch; thiếu kỹ năng viết bài và chia sẻ tin, bài trên không gian mạng. Do đó, “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(14).

Hiện nay, chúng ta đã chú trọng đến việc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, nhưng thực tế cho thấy, mạng xã hội mới là “trận địa” chính để các thế lực phản động, thù địch tiến hành thực hiện âm mưu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn chưa đáp ứng yêu cầu; việc rà soát, phát hiện các trang mạng, các đối tượng phản động còn chậm; cách thức tiến hành đấu tranh, tác chiến trên không gian mạng, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để vô hiệu hóa thủ đoạn của các thế lực thù địch... còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Một khía cạnh khác là, hiện nay, mới chủ yếu có lực lượng công an, quân đội tham gia sâu vào việc đấu tranh trên không gian mạng, còn ở các cơ quan, đơn vị bên ngoài phần lớn chưa hình thành được lực lượng đấu tranh chuyên trách trên mạng. Điều đó dẫn đến một bất cập trong việc đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là chúng ta chưa thực sự nhận diện đúng và đầy đủ những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch; để chúng hoành hành trên không gian mạng. Các thế lực thù địch đang rất coi trọng các phương tiện truyền thông đại chúng và tuyên truyền kiểu “rỉ tai”, kích động; chúng sử dụng trên 40 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt (trong đó, có khoảng 10 tờ với nội dung rất phản động), 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình... có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam(15).

Những hạn chế về cơ chế, chính sách, các điều kiện về nguồn lực, phương tiện vật chất - kỹ thuật đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta trong thời gian qua. Những hạn chế đó làm cho việc thực hiện nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới được triển khai trên bề rộng. Ở một số nơi, có những thời điểm, việc thực hiện công tác đấu tranh còn chưa đi vào thực chất, chưa có hiệu quả rõ rệt, mới chủ yếu là xử lý tình huống nảy sinh, chứ chưa có chiến lược lâu dài và chưa thực sự giành được thế chủ động, nhất là trên không gian mạng.

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước và quốc tế tác nghiệp tại một buổi họp báo _Ảnh: TTXVN

Năng lực, bản lĩnh, ý thức trách nhiệm, sự tham gia của cán bộ, đảng viên, nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông, báo chí

Tại Nghị quyết số 35-CT/TW, Đảng ta khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí, tuyên truyền các cấp là lực lượng nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Trình độ, năng lực, bản lĩnh, ý thức trách nhiệm của các chủ thể tác động trực tiếp đến hiệu quả việc nắm bắt nội dung, tầm quan trọng của nền tảng tư tưởng; từ đó, có cách thức nhận diện với âm mưu của các thế lực thù địch, có kỹ năng đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá, nhất là trên không gian mạng. Thời gian qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa ý thức đúng và đầy đủ về trách nhiệm của mình trong việc tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nhiều cán bộ, đảng viên còn có tâm lý “lười”, “ngại” học tập lý luận chính trị nên khó có khả năng “tự miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Những hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII khẳng định vẫn còn hiện hữu: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”(16)

Sự tham gia của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ tác động đến việc xây dựng mạng lưới đấu tranh rộng khắp, với hoạt động của nhiều người, trên nhiều mặt trận, nhiều diễn đàn để tạo thành thế trận vững chắc, mà còn nâng cao khả năng giám sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, cấp ủy và chính quyền các cấp. Ngoài ra, hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí cũng có tác động không nhỏ đến hiệu quả thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Nếu các cơ quan truyền thông, báo chí làm tốt vai trò của mình, chủ động phản ánh những thông tin có nội dung tích cực, sắc bén, thì sẽ góp phần lan tỏa, khẳng định giá trị nền tảng tư tưởng của Đảng theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Ngược lại, nếu các cơ quan này không làm tốt vai trò, trách nhiệm của mình, những thông tin xấu, độc sẽ lan tràn, mất kiểm soát, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý, tư tưởng, dư luận xã hội, gây khó khăn, cản trở trong việc nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái, thù địch.

Đánh giá về công tác tư tưởng của Đảng trong thời gian qua, Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Công tác thông tin, tuyên truyền một số đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời, hình thức chưa phong phú... Việc dự báo, nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và định hướng dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời. Kết quả thực hiện một số chủ trương của Đảng về quản lý báo chí, truyền thông, xuất bản, quản lý internet, mạng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu”(17). Đây chính là những rào cản lớn gây nên những khó khăn, bất lợi trong công tác thông tin, tuyên truyền về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta hiện nay.

Như vậy, có rất nhiều yếu tố tác động đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta hiện nay. Những yếu tố đó tác động đa chiều, vừa mang đến cả thuận lợi, vừa gây nên những khó khăn, thách thức không nhỏ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần phải biết tận dụng những yếu tố thuận lợi, mang lại những hiệu quả tích cực; từng bước khắc phục những yếu tố gây cản trở, khó khăn để việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, huy động được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông, báo chí tham gia./.