Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2022

quy định Xử phạt vi phạm về sử dụng mạng xã hộI

 

Công nghệ thông tin phát triển đã đem lại nhiều lợi ích trong cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi để con người thỏa mãn hơn về nhu cầu trao đổi thông tin, giao dịch và phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là công cụ bị lợi dụng để xuyên tạc, đưa những thông tin, hình ảnh không tốt, thiếu lành mạnh, làm ảnh hưởng đến tổ chức, cá nhân, xâm phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm con người. Dưới đây là các hành vi vi phạm và các hình thức xử phạt theo Nghị định số 15/2020, ngày 03/02/2020 của Chính phủ.

Tại Điều 101, Nghị định số 15/2020, ngày 03/02/2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần sô vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử thì người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cá nhân; cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc; cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản ấn phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu; quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.

Phạt tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, việc đưa thông tin sai lệnh nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Làm nhục người khác” theo Điều 155 của Bộ luật hình sự và người phạm tội sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm.

Người nào bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền thì phạm tội “Vu khống” theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật hình sự và người phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm./.

TMT

Luận điệu lạc lõng, xuyên tạc về tư tưởng của Hồ Chí Minh

     Càng gần đến ngày kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực phản động, chống cộng cực đoan, các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, các đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị, có nhận thức lệch lạc thường xuyên tăng cường sử dụng internet, mạng xã hội như: facebook, youtube,... để chống phá. Thậm chí, chúng ngang nhiên lập trang mạng, thành lập “hội đoàn”, “cộng đồng”,… với nhiều tên gọi khác nhau, như: Dân làm báo (danlambao), Quan làm báo (quanlambao), fanpage của Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Ngụy biện, Dân luận,... Đặc biệt, chúng cấu kết với các đài truyền hình, phát thanh tiếng Việt có tư tưởng chống cộng cực đoan ở nước ngoài (BBC, VOA, RFA), để tung tin, bình luận xuyên tạc, kích động, chuyển tải thông tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ cả về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh; chúng dựng chuyện, ngụy tạo tài liệu, phủ nhận tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các công trình nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước về Hồ Chí Minh; bóp méo, cắt xén, xuyên tạc sự thật về Người; đánh đồng hiện tượng với bản chất, thật với giả; chúng đưa ra các luận điệu rằng: “Công lao của Hồ Chí Minh nếu có, thì chỉ là công lao đối với cộng sản chứ không phải công lao đối với dân tộc Việt Nam”; “Đảng sẽ tiếp tục thu hoạch được gì từ Cuộc vận động “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Đây là những thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc, nhằm làm sai lệch bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh, trực tiếp công kích, đả phá nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Xuyên suốt tư tưởng bài viết của họ là phê phán, phủ nhận tính nhân văn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận, hạ bệ uy tín, thanh danh và cuộc đời cách mạng hết mình vì nước, vì dân của Hồ Chí Minh; kêu gọi nhân dân tẩy chay việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, phủ nhận con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chọn lựa.

Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đòi hỏi các cấp ủy Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Kết luận số 21-KL/TW Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Quá trình thực hiện, phải kiên trì, liên tục, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, thiết chế văn hóa từ Trung ương đến địa phương, cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, tuyên truyền thường xuyên với giáo dục theo chủ đề, chuyên đề, mô hình, cách làm cụ thể, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Lấy việc nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp thông qua những hành động cụ thể, hằng ngày để thu hút nhân dân cùng tham gia. Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hành dân chủ, bảo đảm dân sinh, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo sức đề kháng vững chắc trong nhân dân. Các cơ quan, đơn vị cần củng cố kiện toàn và phát huy vai trò của Ban chỉ đạo 35 các cấp trong đấu tranh với các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 847-NQ/TW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Thực hiện tốt công tác quản lý mạng Internet, tăng cường quản lý báo chí, xuất bản, khai thác các ấn phẩm văn hóa, không để văn hóa phẩm xấu độc xâm nhập vào cơ quan, đơn vị.

 ST

Bảo vệ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của Quân đội

Những ngày qua, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vào sự kiện này để “bới lông tìm vết”, họ tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp, bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc những giá trị truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Chúng xuyên tạc về lòng trung thành của Quân đội với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế của Quân đội với những luân điệu hết sức phản động, phản khoa học, hòng làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Nổi bật là một số luận điệu: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và Nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức, lực lượng nào”; “xóa bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Quân đội là chỉ của quốc gia dân tộc” và có nhiệm vụ “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân chứ không phải bảo vệ chế độ nào”. 

Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, chiến sĩ trong quan hệ với nhân dân để ra sức kích động nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Quân đội với nhân dân; chúng vu cáo: “Tuy gọi là Quân đội nhân dân song thực chất chỉ là công cụ bạo lực của một tập đoàn cầm quyền, không phải là quân đội mang lại lợi ích cho dân”.

Những luận điệu trên được chúng “nhai đi nhai lại” nhiều lần, do vậy, nếu không tỉnh táo, sáng suốt, một bộ phận người dân, nhất là thanh niên sẽ bị lôi kéo, dao động tư tưởng, từ đó nghe theo sự xúi dục của các phần tử chống đối chính trị. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết phê phán, đấu tranh với những luận điệu phản động.

Có thể khẳng định, từ khi thành lập đến nay, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, hơn 77 năm qua Quân đội nhân dân Việt Nam luôn: Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thực sự là Quân đội anh hùng của dân, do dân và vì dân; được Đảng và Nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.

Việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, của “Bộ đội Cụ Hồ” là công việc của chính mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, trong đó có những thanh niên ưu tú của quê hương hôm nay đang tràn đầy nhiệt huyết, khí thế quyết tâm và sự hào hứng chờ đến “Ngày hội tòng quân” được khoác lên mình bộ quân phục người lính, chắc tay súng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường của mỗi quân nhân. Do đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

ST


ĐOÀN CÔNG TÁC HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG DÂNG HOA, DÂNG HƯƠNG TẠI KHU DI TÍCH KIM LIÊN!

         Theo chương trình của khoá học, chiều ngày 9/5, Đoàn cán bộ, giảng viên, học viên Lớp đào tạo cao cấp CH-TM cấp CD-CL khóa 11, Học viện Quốc phòng đã đến dâng hoa, dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Kim Liên. Trung tướng Trương Đức Nghĩa, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng làm trưởng đoàn. Đi cùng đoàn công tác, về phía Bộ CHQS tỉnh Nghệ An có đồng chí Đại tá Phạm Văn Đông - Phó Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Nghệ An. 
 
     Trong không khí trang nghiêm, đoàn công tác đã thể hiện lòng biết ơn vô hạn, công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, nhân dân ta. Người đã sáng lập và rèn luyện quân đội ta ngày càng trưởng thành, tinh nhuệ, chính quy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giành lại độc lập, thống nhất và bảo vệ vững chắc chủ quyền của đất nước.
 
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Quốc phòng đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tích, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng quê hương, đất nước; đồng thời nguyện hứa mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người./.





Yêu nước ST.

"TRUNG VỚI ĐẢNG” - PHẨM CHẤT KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC!

         Để xuyên tạc phẩm chất “Trung với Đảng” của Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi. Họ khẳng định rằng “quân đội không cần trung thành với Đảng có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử”(!). Ở góc độ lý luận, họ cắt xén nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nguồn gốc ra đời và bản chất giai cấp của quân đội, khi dẫn ra luận điểm “Quân đội chỉ xuất hiện khi có nhà nước, là một thành phần của nhà nước, do nhà nước nuôi dưỡng để bảo vệ Tổ quốc”. Từ đó, họ suy diễn ra: “quân đội chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng bất cứ đảng phái nào trong xã hội”(!). Để tăng sức thuyết phục cho lập luận trên và minh chứng cho luận điểm “quân đội chỉ có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc mà không có nghĩa vụ trung thành với bất cứ chính đảng nào”(!), họ viện dẫn các thể chế chính trị phương Tây, với chế độ đa đảng, quân đội ở đó không do đảng nào lãnh đạo. Về cơ sở thực tiễn, họ thường bỏ qua hoàn cảnh lịch sử cụ thể, dẫn ra sự kiện ngày 26-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I) lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân” để cho rằng: “Hồ Chí Minh không yêu cầu Quân đội phải trung thành với Đảng”(!). Dựa vào đó, họ ra sức công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi bỏ quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65, Chương IV Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Họ cho rằng: “yêu cầu Quân đội phải trung thành với Đảng là không đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh; không phù hợp với mô hình xây dựng Nhà nước pháp quyền”(!).
Những thủ đoạn nói trên thật là thâm hiểm, vì nghe thoáng qua có vẻ như đủ cả cơ sở lý luận và thực tiễn, nên đã mê hoặc được một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một số cán bộ, đảng viên. Không ít người cả tin, mất cảnh giác, dao động về lập trường, đã phụ họa với các thế lực thù địch, “tích cực” share (chia sẻ) những luận điệu sai trái đó trên mạng xã hội. Những người này không tỉnh táo để tự hỏi mình rằng: tại sao những luận điệu đó lại được các cơ quan truyền thông quốc tế vốn không có thiện cảm với Việt Nam, cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại lại ra sức tung hô, cổ súy?
Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu của các thủ đoạn đó chỉ nhằm loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam - nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội cách mạng. Qua đó, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang lập trường chính trị tư sản; không giữ được bản chất cách mạng, là công cụ bạo lực sắc bén để “bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa” như Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác định. Những thủ đoạn đó không có cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn, cần phải được vạch trần, bác bỏ.
Trước hết, về lý luận, Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin về quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Theo đó, Quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Quân đội sẽ mất phương hướng chính trị và mục tiêu chiến đấu, không còn là quân đội cách mạng chiến đấu vì nhân dân. Đúng là quân đội là một thành phần của nhà nước, nhưng nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp của lực lượng chính trị cầm quyền, chịu sự chi phối của chính đảng cầm quyền. Ngay trong thể chế chính trị tư sản, dưới chế độ đa đảng, đảng nào cầm quyền thì đảng đó vẫn chi phối sự hoạt động của quân đội; Bộ trưởng Quốc phòng thường là người của đảng cầm quyền, hoặc thân đảng cầm quyền. Đó là chưa kể thực chất chế độ đa đảng ở những quốc gia đó không làm thay đổi được tính chất tư sản của nhà nước. Ở đó vẫn là sự cầm quyền của các đảng tư sản và nhà nước pháp quyền ở đó là nhà nước tư sản, nên quân đội ở nơi đây là công cụ bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản là chủ yếu.
Ở khía cạnh thực tiễn, cần phải hiểu đúng bối cảnh lịch sử đặc biệt của sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân” để không mắc mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đó là thời kỳ Đảng ta đã rút vào hoạt động bí mật từ tháng 11-1945, nên không thể công khai yêu cầu “trung với Đảng” trong bối cảnh bấy giờ. Tách rời bối cảnh lịch sử đặc biệt đó để cho rằng Hồ Chí Minh không yêu cầu Quân đội phải trung thành với Đảng là sự xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự thật là nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; bởi theo Người: “Quân đội ta… là một quân đội nhân dân, do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”1. Tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, tháng 8-1948 (khi Việt quốc và Việt cách đã tan rã sau vụ Ôn Như Hầu tháng 7-1946), Bác Hồ đã giải thích từ Trung trong 6 nhiệm vụ (trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung) của người tướng trong Quân đội. Người nói: “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”2. Tại lễ phong quân hàm cho cán bộ cao cấp Quân đội, ngày 22-12-1958, Bác nói: “Trải qua 14 năm phấn đấu, Quân đội ta đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho; đã có truyền thống vẻ vang là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”3. Tại lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-1964, Người khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”4. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Quân đội nhân dân Việt Nam “trung với nước, hiếu với dân” và “trung với Đảng, hiếu với dân” là thống nhất; là quan điểm xuyên suốt của Người về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam và mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân với Tổ quốc và Đảng Cộng sản.
Thực tiễn lịch sử 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam chứng minh rằng: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu hết mực trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó được thể hiện: ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được đặt dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Bằng công tác tư tưởng, Quân đội ta lấy nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của mình; lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chiến đấu của Quân đội. Bằng công tác tổ chức, hệ thống tổ chức Đảng từ Quân ủy Trung ương đến chi bộ trong Quân đội, cùng hệ thống cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng của Đảng cũng được thiết lập, đảm bảo cho sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội luôn được giữ vững. Thông qua công tác cán bộ, công tác đảng, công tác chính trị đã xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Cùng với đó, thông qua các mặt công tác: chính sách, dân vận, địch vận, bảo vệ,… công tác đảng, công tác chính trị đã đảm bảo cho Quân đội luôn thực hiện nghiêm túc mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Nhờ thế mà mọi hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ đúng “con đường chính trị” của Đảng, nhiệm vụ quân sự luôn “phục tùng nhiệm vụ chính trị” của Đảng; đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nghĩa vụ quốc tế trước đây, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.
Yêu nước ST.

TRƯỜNG SA - HOÀNG SA VÀ NHỮNG CHUYỆN CHƯA BAO GIỜ KỂ!

     "Hôm trước, mình đặt câu hỏi về việc các bạn suốt ngày phê phán Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam "nhai đi nhai lại" các thông điệp phản đối khi Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, vậy theo các bạn chúng ta phải làm gì? Thật bất ngờ khi câu hỏi này thu hút một số lượng lớn các bạn vào thảo luận và đưa ý kiến cực kỳ nghiêm túc. Theo đó, hàng trăm comments đã được gửi lên. Tổng hợp lại thì có các ý lớn thế này:
1- Việc "nhai đi nhai lại" này là cần thiết để mai mốt nếu Việt Nam có kiện ra tòa án Quốc tế thì cũng có bằng chứng.
2- Các bạn tin tưởng tuyệt đối vào sách lược của Chính phủ trong vấn đề biển đảo. Dù có những cái các bạn vẫn thấy "mơ hồ" nhưng các bạn cho rằng nếu làm cho mọi thứ "rõ ràng" hơn thì không còn gì gọi là bí mật và khi đó Trung Quốc có thể dễ dàng đối phó.
3- Ủng hộ việc dùng vũ lực
4- Kiện ra tòa án quốc tế
5- Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế
6- Tăng cường hỗ trợ giúp ngư dân bám biển
7- Thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc về kinh tế, chính trị và văn hóa
8- Tăng cường năng lực quân sự
Mình cực kỳ trân trọng các ý kiến đóng góp kèm theo những giải thích, lập luận xác đáng của tất cả các bạn. Còn trong phạm vi những gì mình hiểu biết thông qua tự tìm tòi nghiên cứu, phỏng vấn những người có ảnh hưởng, có uy tín trong xã hội và Chính phủ, thông qua thực tế mắt thấy tai nghe khi ra Trường Sa và tiếp xúc với các chiến sĩ, mình xin được cung cấp thêm thông tin thế này để các bạn tham khảo nhé.
1.
Trung Quốc là nước lớn, mạnh hơn Việt Nam về mọi mặt như Kinh tế, Quân sự, Vũ khí, Đạn dược và tiếng nói trong Cộng đồng Quốc tế. Nếu "đánh nhau" tay đôi, thắng thua không biết, nhưng chắc chắn phía chịu thiệt hại nặng nề là Việt Nam của chúng ta. Khi nói chuyện với các tướng lĩnh từ cấp thấp đến cấp vừa, cấp cao của Việt Nam, mình phải ghi nhận một điều là chẳng ai "run sợ" nếu buộc phải sa vào tình thế chiến tranh. Chúng ta "anh hùng" 1, họ anh hùng gấp 1 triệu lần. Khi chúng ta hứa hẹn này kia trên bàn phím, họ đã và đang anh hùng bằng những hành động và việc làm thiết thực.
Các bạn có biết trong một chuyến đi đón công binh làm nhiệm vụ xây dựng từ một đảo chìm về lại đất liền, tai nạn đã xảy ra. Không rõ vì lý do gì mà chiến sĩ công binh này mất tích (có giả thiết trượt trân ngã rơi xuống biển khi đang câu cá). Rất nhiều tàu cứu hộ đã được phái ra vùng biển đó cấp tốc tìm kiếm trong nhiều ngày trước khi chấp nhận mất đi 1 người đồng đội. Dù đó là điều không ai mong muốn nhưng toàn bộ các chiến sĩ có mặt trên tàu cũng như các cấp chỉ huy tại đất liền đã bị kỷ luật từ quân đến tướng. Mất vạch, mất sao và nhiều hình thức kỷ luật cộng thêm khác nữa. Kể chuyện này để các bạn hiểu rằng mạng sống con người không phải là thứ để mang ra làm chuyện mua vui như vậy được. Mình nhấn mạnh, đó là sự mất mát của chỉ duy nhất 1 người.
Các bạn có biết khi Trung Quốc cử tàu hộ tống mang giàn khoan khổng lồ cao cả trăm mét ra tìm cách thả xuống Biển Đông để khai thác dầu khí, chiến sĩ của chúng ta trên các nhà giàn đã phải thay nhau theo dõi ngày đêm, kết hợp chặt chẽ với chỉ huy tại đất liền để giám sát nhất cử nhất động của tàu địch. Nếu bất cứ khi nào đội tàu hộ tống này có dấu hiệu ngưng lại tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam thì lập tức chúng ta phải cử tàu chấp pháp ra "xua đuổi" không cho giàn khoan này được thả xuống dù với bất cứ lý do gì. Chúng ta ''tuyệt đối yếu'' hơn đối phương, trong khi chúng lại thường xuyên gây hấn, kích động để Việt Nam "ra tay" trước. Khi ấy, chúng sẽ có lý do hợp pháp để đánh chiếm vào những hòn đảo của chúng ta.
Nếu tình huống xấu nhất là Trung Quốc chiếm thành công 1 đảo của Việt Nam (điều này khó có khả năng xảy ra) thì chúng ta sẽ làm gì? Lên tiếng nhờ cộng đồng quốc tế ủng hộ mình ư? Cũng được, nhưng Trung Quốc sẽ ngay lập tức la làng lên rằng họ không đi xâm lược, không đi đánh chiếm đảo của Việt Nam. Họ chỉ đang "đòi lại" những gì thuộc về ''chủ quyền bấy lâu nay'' của họ. Trung Quốc sẽ ngay lập tức ngang ngược nói rằng chính Việt Nam mới đi chiếm đảo của Trung Quốc và bây giờ "bị lấy lại". Hãy nhìn vào những gì Trung Quốc đang ngày đêm bắc loa tuyên bố một cách trơ trẽn về Hoàng Sa sẽ hiểu điều mình nói. Tất cả những gì Trung Quốc CẦN, CẦU MONG VÀ CHỜ ĐỢI LÚC NÀY chính là một hành động thiếu kiềm chế bất kỳ từ phía Việt Nam để họ có thể đàng hoàng phát pháo. Và đó cũng chính là điều mà tất cả chiến sĩ của chúng ta ngoài hải đảo phải thuộc nằm lòng. Phải luyện chí rèn gan, giữ vững lập trường và kiên định để tránh tuyệt đối phạm vào sai lầm như vậy.
2.
Còn về vấn đề kiện tụng, ngay khi ngồi ở trên tàu ra Trường Sa mình đã hỏi một luật sư có tiếng. Cô ấy nói Việt Nam không thể nào làm như vậy được. Thứ nhất, chúng ta đang bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc (bạn nào có comment ý này vô cùng chuẩn xác). Nếu chúng ta chỉ cần "lên gân" với Trung Quốc thì có thể hàng chục triệu gia đình sẽ lâm vào cảnh lầm than bằng những đòn đánh vào kinh tế. Để thoát ra khỏi sự lệ thuộc này, cần rất nhiều nỗ lực và thời gian. Thứ hai, ngay cả nếu chúng ta "kiện thắng" thì tòa án Quốc tế cũng không có chức năng hành pháp. Họ CHỈ CÓ THỂ KÊU GỌI bên "thua kiện" thực hiện điều ABC nào đó. Tòa án Quốc tế không giống như tòa án trong nước để có thể có chế tài buộc ông A bà B nào đó phải vào tù hay ông C phải bồi thường cho bà D vài chục triệu, trả lại tang vật trong vụ án v.v... Tức là đừng quá kỳ vọng việc tòa án Quốc tế sẽ giúp chúng ta bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Ai đó nói rằng chúng ta cần ''đánh động'' thì xin thưa, việc đi kiện tụng như thế chẳng đánh động được cái gì ngoài việc khiến cho Trung Quốc có cớ sử dụng các đòn trừng phạt phi quân sự nhắm tới Việt Nam. Cùng với đó, họ sẽ dùng ảnh hưởng của mình để gây sức ép lên cộng đồng Quốc tế và cô lập Việt Nam, bao vây kinh tế v.v... Trong khi đó, cái mà chúng ta cần nhất bây giờ là tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế. Thế nên phương án kiện là KHÔNG NÊN VÀ KHÔNG THỂ, vì chúng ta sẽ bị hại nhiều hơn lợi. Và cũng cần nói thêm rằng việc "tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế" không đồng nghĩa với việc phụ thuộc hoàn vào vào một "Quốc gia đồng minh" nào cả. Thật ngây thơ khi cho rằng Mỹ, hay Nga hay Nhật sẽ giúp chúng ta một cách vô tư và họ chẳng có ý đồ gì trong đó. Nên nhớ, tiền của dân nước ngoài người ta đóng thuế, máu của binh sĩ người ta không có mang qua "cúng chùa" cho Việt Nam đâu ạ. Điều này sẽ rất dễ để hình dung ra được khi các bạn tránh được việc đồng nhất giữa việc bảo vệ chủ quyền biển đảo với việc "chống một mình Trung Quốc".
Các ý như tăng cường sức mạnh quân sự, tăng cường trợ giúp ngư dân bám biển thì Việt Nam đã và đang làm rất tốt. Còn phải làm đến thế nào mới thỏa lòng tất cả mọi người thì đó là câu hỏi không thể có đáp án chung. Cách đây 4 năm, việc di chuyển từ tàu hải quân vào tiếp cận nhà giàn được thực hiện bằng... dây thừng! Hiện nay chúng ta đã có xuồng CQ có thể vào tận nơi một cách dễ dàng. Trước kia các chiến sĩ phải phấn đấu cả 6 tháng trời để được một lần gọi bộ đàm về liên lạc với đất liền thì ngày nay, 100% đảo nổi đảo chìm và nhà giàn của chúng ta được trang bị trạm thu phát sóng vệ tinh của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel. Chúng ta có cả hệ thống Telemedicine đủ mạnh để thực hiện họp online, chữa bệnh từ xa. Đời sống ở Trường Sa giờ đây đã hoàn toàn thay đổi.
3.
Ngày trước, mỗi khi đọc tin Trung Quốc khai trương một tòa nhà nào đó ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà họ đang chiếm đóng phi pháp, mình rất cay cú và tự hỏi "tại sao một việc đơn giản thế mà Việt Nam không làm, cứ để cho Trung Quốc một mình một chợ?". Ngày hôm nay thì thấy nó khởi công xây nhà. Ngày mốt thì thấy nó rồng rắn đưa người ngựa ra đốt pháo khánh thành. Ngày sau nữa lại thấy nó làm sân bay. Ngày sau sau nữa lại thấy nó đưa khách ra tham quan du lịch? VẬY TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG CHỊU LÀM NHƯ VẬY MÀ CỨ PHẢN ĐỐI LÊN PHẢN ĐỐI XUỐNG LÀM GÌ???
Và đến khi mình được nghe chuyện về lực lượng công binh, là những người đi phá mìn mở đường xây nhà trên đảo thì mình đã tự có câu trả lời rồi. Tóm lại một cách đơn giản và dễ hiểu thì xây nhà trên đất liền khó 1 thì đặt một viên đá trên mặt biển khó gấp 1 vạn lần. Mình ước gì tất cả các bạn có thể tận mắt chứng kiến nhà giàn có 8 cây cột thép choài ra làm "chân chống" với mỗi cây cột có đường kính khoảng chừng nửa mét, lại được giằng thêm hàng chục cây thép nhỏ hơn để đan kết vào nhau sừng sững giữa bạt ngàn sóng nước. Và nếu các bạn biết rằng cách đó 4 năm, những nhà giàn vững chắc kiên cố như một tòa lâu đài thép đã bị kéo đổ nhào xuống biển, mang theo cả một tiểu đội mãi mãi không bao giờ trở về được đất liền, các bạn sẽ "cảm" được một phần của công việc xây cất ở nhà giàn cũng như trên các đảo.
Hãy thử hình dung, nếu bạn đang ở giữa một đảo san hô, xung quanh ngập nước chừng 1m, xuồng CQ không thể nào tiếp cận, tàu hộ tống chở theo nguyên liệu là xi măng đá tảng buộc phải neo đậu cách đó chừng 5km thì bạn sẽ làm thế nào để mang vác được xi măng, gạch, đá, sắt thép rồi canh thủy triều lên xuống để đổ cho được một cây cọc bê tông đầu tiên xuống rồi "khô lại" giữa lòng biển khơi? Hãy cố hình dung đi. Chỉ cần hình dung với nhiệm vụ là một cây cọc bê tông duy nhất chứ chưa nói tới những gì lớn lao to tát. Khi đã lờ mờ tìm ra một cách làm nào đấy, bạn sẽ tự có câu trả lời cho câu hỏi "đơn giản" được bôi hoa toàn bộ ở phía trên.
Cũng có thể tiết lộ với các bạn rằng ở phạm vi bán kính chừng 1km quanh các đảo (thay đổi tùy theo diện tích) là cơ man các cọc bê tông sừng sững để sẵn sàng "nghênh chiến" với các loại tàu thuyền... [Các chi tiết sâu hơn liên quan đến vũ khí và hệ thống chiến đấu, phòng thủ ở đoạn này đã bị cắt ]. Thực sự, nếu được đặt chân lên một đảo tại Trường Sa, các bạn sẽ biết rằng "Việt Nam tuy không hiếu chiến, nhưng để đánh được vào các đảo của Việt Nam là cả một vấn đề".
4.
Cũng trong chuyến đi 10 ngày lênh đênh trên biển, có một sự bất ngờ tới mức "gây sốc" cho toàn bộ đoàn công tác. Đó là dù quan sát ở bất cứ góc độ nào, cũng chỉ thấy có ta và.. ta và... biển. Thế nhưng ngay khi tàu HQ960 "tình cờ" chạm trán với tàu hải giám Trung Quốc (bẻ lái cắt ngang vuông góc) thì ngay lập tức thấy lù lù 2 tàu chiến của hải quân Việt Nam xuất hiện. Tất cả mọi người đều không biết các tàu chiến này ở đâu ra, và càng sốc hơn nữa khi được cho biết họ đi theo bảo vệ đoàn công tác ngay từ khi rời cảng!!! Chưa hết, khi đặt chân lên tới An Bang, mình còn được tận mục sở thị một buổi huấn luyện của đặc công nước Việt Nam với hành trình bơi hàng chục km mỗi ngày luyện tập mang theo vũ khí đổ bộ vào đảo và hiệp đồng tác chiến với các chiến sĩ tại trận địa. Có thể tin hay không tùy bạn, nhưng họ còn có khả năng nằm im dưới nước sâu trong suốt nhiều giờ đồng hồ cho đến khi được lệnh tiếp tục "hành quân" vào đảo.
Tuy nhiên, tất cả các trang thiết bị vũ khí, súng ống đạn được, quân lính tinh nhuệ… của chúng ta không phải được sinh ra để tấn công mà là phòng thủ. Việt Nam còn yếu, nên chủ trương của chúng ta là đối thoại và hợp tác, dựa trên việc thu thập, củng cố rồi tuyên truyền các bằng chứng lịch sử để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế. Việt Nam không bao giờ đối đầu, không bao giờ dùng vũ lực, không bao giờ "phát pháo" trước trong mọi tình huống để kẻ thù có thể dựa vào làm nguyên nhân gây chiến. Trong khi đó, chúng ta bằng mọi giá bảo vệ chủ quyền tất cả những đảo chìm, đảo nổi, bãi cạn... mà chúng ta đang có. Luôn luôn bày tỏ quan điểm phản đối, nêu rõ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán không thể tranh cãi của Việt Nam với các đảo, quần đảo, bãi cạn mà chúng ta thực sự có chủ quyền, BAO GỒM CẢ NHỮNG NƠI ĐÃ BỊ KẺ THÙ DÙNG VŨ LỰC CHIẾM ĐÓNG TRÁI PHÉP (trong lịch sử). Điều mà các bạn hay gọi là "nhai đi nhai lại".
5.
Liên quan đến việc tàu cá Việt Nam bị Trung Quốc ngăn chặn, xua đuổi, bắn phá khi khai thác trong khu vực quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và tàu cá Trung Quốc ngang ngược tiến vào quần đảo Trường Sa của Việt Nam để đánh bắt trái phép thì do chính những nhà báo của mình NHIỀU KHI không nắm rõ thông tin nên việc tuyên truyền dễ gây ra những nhầm lẫn căn bản.
Đầu tiên phải hiểu thế này. Trường Sa và Hoàng Sa là quần đảo tức là gồm nhiều đảo nhỏ. Với mỗi đảo thì chúng ta lại có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến việc xác lập chủ quyền, nhưng gần gũi nhất có lẽ là "lãnh hải". Nếu chỉ xét riêng về lãnh hải, thì các bạn cứ tạm hiểu như một vòng tròn kim cô xung quanh các đảo. Nếu chúng ta xác lập chủ quyền ở 1 đảo, thì mặc nhiên chúng ta có thêm chủ quyền ở một đường biên lớn hơn chạy xung quanh đó nữa.
Tập hợp các đường viền như vậy ở tất cả các đảo mà chúng ta có chủ quyền nó sẽ là nơi chúng ta mặc nhiên đi lại và khai thác. Chứ không phải cứ lấy cây bút rồi khoanh một vòng "to đùng" bao hết các đảo lại cho rằng đó là vùng bất khả xâm phạm của mình. Vậy nên chủ quyền của chúng ta sẽ là một vùng thực sự rất... loằng ngoằng, có chỗ thì chồng chéo, có chỗ bị "hở" ra. Và theo luật, cái chỗ hở đó là hải phận quốc tế. Dù nhìn vô bản đồ nó có vẻ nằm hoàn toàn trong "khu vực" quần đảo Trường Sa.
Chưa hết, trong lịch sử một số đảo chúng ta đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đi. Cho nên, dù cái đường vòng quanh đảo đó là lãnh hải của Việt Nam nhưng trong thực tế nếu tầu thuyền của ngư dân đi vào đó thì sẽ bị xua đuổi và bắn phá. Tức là các tàu đó bị bắn phá do xâm phạm vào "lãnh hải có được vì chiếm đóng trái phép" của Trung Quốc, nhưng lại là "lãnh hải dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và căn cứ lịch sử không thể tranh cãi" của Việt Nam. Cho nên báo chí sẽ phải đưa tin là tàu cá ngư dân bị bắn trong vùng lãnh hải "của Việt Nam". Thậm chí Bộ Ngoại giao cũng phải tuyên bố như vậy. Và chính sự nhập nhằng này cũng khiến nhiều người cho rằng chúng ta quá hèn kém khi để cho ngư dân bị vạ lây như vậy.
Tương tự với việc Trung Quốc xua đội tàu cá hàng chục chiếc "tràn vào khu vực Trường Sa và Hoàng Sa" của Việt Nam để đánh bắt trái phép. Trong thực tế, quanh năm suốt tháng đều có tàu cá của Trung Quốc "mon men" đến gần các đảo của Việt Nam. Và khi này, chắc chắn 100% chiến sĩ trên đảo sẽ theo quy trình để có hành động xua đuổi thích hợp và mức cao nhất là sẵn sàng chiến đấu không khoan nhượng nếu việc xua đuổi không thành công.
Tuy nhiên, nếu các tàu cá này đi vào những vùng "lỗ thủng" của lãnh hải đan xen giữa các đảo thì thực tế không xâm phạm lãnh hải Việt Nam nhưng vẫn coi là "ùa vào khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam được". Điều tương tự xảy ra nếu các tàu này đi vào lãnh hải của các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị đánh cướp bằng vũ lực và chiếm đóng trái phép trong quá khứ. Chưa kể theo thông lệ quốc tế, nếu tàu họ "vô tình" đi vào một vùng lãnh hải nào đó thực sự hoàn toàn thuộc Việt Nam thì mình cũng không thể nào ra bắn phá mà trước tiên là xua đuổi. Và trong đại đa số các trường hợp, khi mình xua đuổi thì nó sẽ dời đi. Nhưng báo chí vẫn coi đấy là việc ùa vào vùng lãnh hải của Việt Nam.
6.
Tóm lại những việc mà Chính phủ đang làm - THEO CÁ NHÂN MÌNH ĐÁNH GIÁ - là hoàn toàn đúng đắn về đường lối chính sách, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của đất nước. Sau khi đi thực tế, theo cách gọi của đoàn công tác, là "thăm và kiểm tra các đảo" thì phải nói là mình hoàn toàn yên tâm rằng ít nhất là các đảo mình đang giữ sẽ khó mà bị Trung Quốc đánh chiếm. Những sự vi phạm chủ quyền theo dạng quấy nhiễu của Trung Quốc chúng ta đều có quy trình đối phó an toàn nhất.
Về phía cộng đồng quốc tế, chúng ta đang làm cực tốt việc "nhai đi nhai lại bài ca phản đối" mọi lúc mọi nơi, trên mọi phương diện dù sự vi phạm có lớn như con voi hay nhỏ như con kiến. THEO THÔNG LỆ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ, ĐIỀU ĐÓ LÀ CỰC KỲ QUAN TRỌNG! Chúng ta cũng chấp nhận việc "gây hiểu lầm" về năng lực bảo vệ ngư dân hay năng lực phòng thủ khi sẵn sàng ra tuyên bố chủ quyền ngay cả trong trường hợp thực ra chúng ta chỉ bị vi phạm chủ quyền theo lý thuyết. Theo mình, đây là một đánh đổi cực kỳ quan trọng và dũng cảm. Các bạn hãy đọc thật kĩ phần trên để hiểu và cùng đi giải thích cho nhiều người khác cùng hiểu nữa.
Việc tốt nhất mà mỗi người chúng ta có thể chung tay, theo mình chính là nâng cao nhận thức, kiến thức về luật biển, về UNCLOS, phải hiểu được lãnh hải là gì, đường cơ sở là gì, cơ sở xác lập chủ quyền biển đảo thế nào, vùng nội thủy là gì, vùng đặc quyền kinh tế là gì, thềm lục địa là gì, thềm lục địa mở rộng là gì... v.v... và v.v... Chừng nào làm được như vậy chúng ta mới mong hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu về tình hình chiến sự tại Biển Đông. Mới không hoang mang khi tiếp nhận thông tin từ những nhà báo thực ra nhiều khi cũng chưa hiểu sâu về biển đảo, từ những thông tin mà Nhà nước buộc phải nói theo kiểu khiến người dân nghe vô sẽ tự nhiên thấy hoang mang. Và quan trọng nhất là đủ tỉnh táo để phân biệt đúng sai, mức độ chính xác của thông tin từ những nguồn tin không thiện chí"./.


Yêu nước ST.

LỊCH SỬ CHÍNH LÀ NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC!

         Xin trích câu câu chuyện về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để chúng ta cùng tham khảo.
Tháng 10/2011, trong một buổi nói chuyện với Tổng bí thư Trung Quốc khi đó là Hồ Cẩm Đào đã nói với đại ý: “Tôi là người Trung Quốc tôi không nói Nam Sa - Tây Sa là của tôi thì tôi không phải là người Trung Quốc. 
Cũng như các đồng chí là người Việt Nam mà không nói Hoàng Sa - Trường Sa là của các đồng chí thì các đồng chí không phải là người Việt Nam”.
Đây có thể nói chính là thứ lý lẽ ngụy biện bởi “một cái gì đó hoặc là của anh, hoặc là của tôi". 
Cũng trong cuộc gặp đó ông Hồ Cẩm Đào còn nói với đại ý rằng: “Tôi không thể bỏ đường 9 đoạn được vì đường chín đoạn là cái lịch sử để lại, nếu chúng tôi bỏ nó thì người dân Trung Quốc không theo chúng tôi”. 
Đáp lại câu nói này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Các đồng chí nói như vậy là sai rồi, "cái đường đó..." đâu phải là đường lịch sử để lại. Đường đó là của Tưởng Giới Thạch. Mà cả chúng tôi và các đồng chí đều không công nhận Tưởng Giới Thạch thì làm sao có thể công nhận sản phẩm của họ được?
Nếu các đồng chí nói lịch sử thì lẽ ra phải nói đến “Nhị thập tứ sử” hay “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ chứ”. Đến đây, Hồ Cẩm Đào chỉ còn biết im lặng… 
Về "Nhị thập tứ sử" là bộ chính sử được các triều đại Trung Quốc thừa nhận. Bộ sử ký này ghi chép từ thời Thượng cổ đến thời nhà Thanh. Trong đó các mục Địa lý đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đảo Hải Nam.
Về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” - Tập bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh, xuất bản năm 1904 trong đó ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Qua câu chuyện trên ta thấy sự thông thái về lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm cho Hồ Cẩm Đào vừa nể phục vừa ngượng ngùng và bẽ mặt, bị chặn họng vì đã đọc được âm mưu...
Màn đối đáp lịch sử đầy trí tuệ, khí chất Việt Nam như một đội quân tinh nhuệ, thiện chiến đẩy lùi và đánh tan sự xâm lăng của quân xâm lược từ trong trứng nước, đồng thời tôn thêm niềm tự hào, tự tôn dân tộc./.
Yêu nước ST.

TÂM NGUYỆN CỦA NHÂN DÂN!

         Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, sẽ cân nhắc các phương án dạy học môn Lịch sử cấp trung học phổ thông trong thời gian sắp tới và xin ý kiến các cấp có thẩm quyền trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia.
Đây là một tín hiệu vui, một tín hiệu tích cực, một niềm tin mãnh liệt đối với người dân; thể hiện sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội nói chung và Nhà nước nói riêng đối với kiến thức, tri thức lịch sử người Việt Nam. 
Chúng ta đã thấy rõ sự cần thiết của môn học lịch sử như thế nào đối với thế hệ trẻ, với tương lai đất nước. 

Có bắt buộc phải học lịch sử chúng ta mới hiểu biết các vị vua Hùng đã có công dựng nước và trải qua 14 cuộc chiến tranh chống giặc phương Bắc, chống cả ngàn năm Bắc thuộc, chống cả trăm năm Pháp - Mỹ xâm lược chúng ta mới có một Việt Nam độc lập, hòa bình từ địa đầu Lũng Cú đến mũi Cà Mau như hôm nay.

Đặc biệt, Có học lịch sử chúng ta mới hiểu biết Hoàng Sa là của Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa đã được người Việt Nam khai thiên lập địa từ thế kỷ 16, khi đó chưa 1 quốc gia, vùng lãnh thổ nào chiếm giữ và nó bị chiếm đóng bởi Trung Quốc vào tháng 1/1974 từ tay ngụy quyền Sài Gòn, được sự hậu thuẫn của Mỹ từ những năm 1972 khi chính quyền Washington quan hệ nồng ấm với Trung Quốc thời kỳ đó...

Có bắt buộc phải học lịch sử thì thế hệ trẻ mới nhận thức được lịch sử thăng trầm và rất đỗi vinh quang của dân tộc Việt Nam. Từ đó con cháu biết ơn, tri ân máu xương máu tổ tiên, ông cha đã đổ xuống cho đất nước vẹn toàn, để giữ thành quả đó và khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần bảo vệ Tổ quốc cho lớp lớp người Việt Nam mai sau.

Có kiến thức, tri thức, hồn cốt lịch sử đầy đủ ăn sâu vào nhân cách người Việt Nam thì chúng ta mới khẳng định được: Tôi là người Việt Nam, tôi có Tổ quốc Việt Nam, tôi có cội nguồn lịch sử và không bị mất gốc trong suy nghĩ và hành động, dù anh và gia đình anh có định cư nước ngoài hàng thế hệ.

Và nếu không học lịch sử thì có khi vua Quang Trung - một vị vua kiệt xuất từng đánh tan 29 vạn quân Thanh người ta lại nhầm là Nguyễn Ánh thì không còn gì để nói...

Tóm lại, bất kỳ thời đại nào, lịch sử luôn luôn, mãi mãi là hồn cốt nuôi dưỡng nhân cách, lòng yêu nước của bao thế hệ người Việt Nam đã được chứng minh trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Có lịch sử - kiến thức lịch sử minh tường thì người dân mới biết cội nguồn tổ tiên của mình, non sông bờ cõi dân tộc mình từ khi khai thiên lập quốc tới nay...

Lịch sử còn là bài học, cơ sở pháp lý giữ nước. Mất nguồn gốc lịch sử dân tộc thì văn hóa người Việt Nam sẽ dần bị đồng hóa và văn hóa bị đồng hóa sẽ dẫn đến nguy cơ mất nước...

Phải khẳng định rằng, đa số người dân mong mỏi và cho rằng, môn học lịch sử phải là một trong các môn thi bắt buộc chứ không chỉ là môn học bắt buộc trong các cấp học phổ thông. 
Chúng ta luôn hy vọng mong mỏi ấy sẽ được Bộ Giáo dục và Đào tạo của chúng ta xem xét!
Môi Trường ST.

THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM: SẮC LỆNH BẢO VỆ LỊCH SỬ, TẠI SAO KHÔNG?

         Ngày 19/5/2009, Tổng thống Nga lúc đó là Dmitry Medvedev đã ký sắc lệnh thành lập một ủy ban đặc biệt nhằm chống lại các âm mưu xét lại, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, phá hoại các lợi ích của nước Nga. Ủy ban này trực tiếp do văn phòng Tổng thống phụ trách, bao gồm nhiều thành viên thuộc Văn phòng Tổng thống, Cục An ninh Liên bang, Cục Tình báo Nước ngoài, Duma Quốc gia, các cơ quan khoa học cũng như các bộ ngành như ngoại giao, tư pháp, văn hóa….

Sắc lệnh bảo vệ lịch sử được ban hành đã làm nức lòng hàng trăm triệu nhân dân yêu nước Liên bang Nga và được hàng chục triệu người Việt Nam quan tâm, cổ vũ, bởi những tương đồng trong lịch sử và các vấn đề hiện tại, nhằm bảo vệ những giá trị chân thực với máu xương của hàng chục triệu liệt sỹ của 2 quốc gia.

Tổng thống Nga đã nói sau khi ký sắc lệnh quan trọng này: “Các âm mưu viết lại lịch sử đang trở nên tàn nhẫn, suy đồi và hung hăng hơn. Do ngày càng có ít người trực tiếp tham gia hoặc được chứng kiến cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại còn sống đến ngày nay, nên ngày càng có nhiều cách lý luận và quan điểm gây tranh cãi liên quan đến thế chiến thứ hai”.

Dmitry Medvedev khi đó cũng thuộc lớp người trẻ tuổi, chào đời sau thế chiến thứ hai, nhưng có một quan điểm lịch sử vô cùng đúng đắn, dũng cảm, kiên quyết bảo vệ đến cùng chân lý đầy tự hào của dân tộc Nga.

Nhân dân Liên Xô đã hy sinh 27 triệu người trong tổng số trên 60 triệu người chết trên toàn thế giới để đánh tan Phát xít Đức, chẳng những giải phóng cho đất nước không bị hủy diệt mà còn giải phóng cho các nước Đông Âu và cả thế giới khỏi họa diệt vong. Đất nước Liên Xô anh hùng sau đó đã nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, đưa kinh tế phát triển mạnh mẽ và trở thành một cường quốc vĩ đại, chẳng những lo cho mình mà còn giúp đỡ các nước anh em. Thế nhưng, Liên Xô và Đông Âu bỗng chốc sụp đổ tan tành sau hơn 70 năm có chính quyền Xô Viết, một phần cũng là do sự lãng quên và xét lại, xuyên tạc lịch sử.

Còn ở Việt Nam thì sao? Cũng gần giống như Liên Xô và nước Nga. Hiện có nhiều kẻ đang cổ súy tư tưởng xét lại cuộc trường chinh bảo vệ đất nước của dân tộc, đau đớn hơn nữa là trong số đó có cả những kẻ đã từng được Nhà nước và nhân dân ta nuôi dạy, trân trọng trao nhiều giải thưởng, nhiều danh hiệu cấp quốc gia.

Họ ra sức xuyên tạc sự thật lịch sử, đối với những kẻ đầu hàng, bán nước thì tôn lên là yêu nước, thương dân, có công với đất nước, với ý đồ bóp méo lịch sử. Trái lại, họ xuyên tạc, hạ thấp vai trò các lãnh tụ, đánh đồng cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước với cuộc chiến đánh thuê của những kẻ tay sai ngoại bang xâm lược, đàn áp nhân dân Việt Nam. Họ cho rằng cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của cha anh chúng ta là “nội chiến”, và các lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khiến nhân dân “đổ máu không cần thiết”!!!

Hiện nay, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ, nhân chứng trong nước, ngoài nước tận mắt chứng kiến và tham gia cách mạng vẫn còn sống, nhưng thời gian của họ chỉ còn rất ngắn và cũng không có nhiều điều kiện để phản bác lại các luận điệu xuyên tạc. Thử hỏi, đến khi thế hệ chúng ta - những người ít nhiều còn được chứng kiến và tìm hiểu trực tiếp lịch sử kháng chiến cũng không còn nữa, thì con cháu chúng ta sẽ biết gì về lịch sử dân tộc? Họ có còn trân trọng, hay sẽ thương hại, thậm chí căm hận ông cha?

Loạn lạc sẽ từ đó mà ra. Ngay cả hiện tại, nhân tâm cũng đã bị phân rã bởi những luồng tư tưởng “đánh giá lại lịch sử” như thế! Khiến nhiều người đã lo lắng nghĩ đến viễn cảnh u ám của một cuộc nội chiến thực sự. Hãy trông xem, chế độ nguỵ quân nguỵ quyền sau Diệm (đệ nhị cộng hoà) có để tang hay tưởng nhớ gia tộc nhà ông ta hay không, mà đến giờ một số kẻ ở Việt Nam lại bày trò “tưởng niệm”, y chang đám tàn quân 3 que ở Cali, phản chủ giết hại cả nhà Diệm giờ lại bày trò hương khói, không khác gì diễn tuồng!

Tất cả đều do cùng từ luận điểm “đổi mới phương pháp đánh giá lịch sử” mà ra, để coi chế độ tay sai Pháp Mỹ ở miền Nam không phải là nguỵ, mà là chính danh, thậm chí còn “hy sinh xương máu vì chủ quyền đất nước”!!!

Loạn! Hãy xem những “sử gia” có quan điểm đó bắt đầu phát tác từ thời điểm nào sẽ hiểu ra nhiều vấn đề!

Từ bài học của Liên Xô cũ, Việt Nam cần phải kiên quyết không để cho bóng đen ma quỷ xét lại lịch sử xâm thực vầng sáng chói lọi mà cả dân tộc ta đang ra sức giữ gìn, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai. Vầng sáng đó chính là máu của biết bao thế hệ cha anh chúng ta, không thể để bị hoen ố!

Đó chính là phẩm giá cao nhất của mỗi con người và đất nước này! Những giá trị của dân tộc sẽ trường tồn hay tàn lụi, con cháu chúng ta sẽ vinh quang hay nhục nhã - Tất cả là do những người còn sống hôm nay quyết định!

Thiết nghĩ, Việt Nam cũng cần có một sắc lệnh bảo vệ lịch sử!




Ảnh: Các lực lượng “cận vệ thanh niên” bảo vệ lịch sử ở Nga hoạt động rất mạnh.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CÓ MỘT TRẬN ĐÁNH "TRẢ THÙ CHO HÀ NỘI"!

         Suốt 28 năm ròng không quản khó khăn, gian khổ bà Phạm Thị Thảnh - vợ Anh hùng liệt sĩ Bành Văn Trân đã khăn gói lặn lội đi tìm hài cốt chồng khắp các tỉnh Miền Đông Nam bộ, đến Nha Trang, Đà Nẵng… Năm 1996, bà đã tìm thấy hài cốt ông tại trường đua Phú Thọ (quận 10, TP Hồ Chí Minh). Tên của Anh hùng, liệt sỹ Bành Văn Trân được đặt tên cho một con đường và một trường học ở quận Tân Bình ngày nay.
 Trên con đường nhỏ nằm ở ngoại ô Sài Gòn buổi sáng cuối năm 1966, Năm Vững gọi đứa bé bán dạo đến mua một tờ báo đang giật tin “nóng hổi” về chiến sự xảy ra tại sân bay Tân Sơn Nhất làm chấn động dư luận. Trận tập kích như một đòn “trời giáng” vào ngay căn cứ không quân, quân sự quan trọng bậc nhất Sài Gòn và Đông Nam Á. Hình ảnh tướng 4 sao Westmoreland đến thị sát hiện trường với dáng vẻ tiều tụy, mệt mỏi, khi nhìn thấy cảnh tan hoang, của hàng trăm chiếc máy bay, xe quân sự, xe tăng, kho vũ khí… đã phải ngán ngẩm thốt lên: “Đây là một trận đánh tệ hại nhất”.

Chiến công vang dội của đơn vị biệt động F100 đã được báo giới loan tin: Việt Cộng phá hủy 260 máy bay các loại, 1 kho bom 300 tấn, 13 xe quân sự, tiêu diệt 600 sĩ quan và lính Mỹ, ngụy đã làm nức lòng đồng bào cả nước và bạn bè trên thế giới. Báo chí Sài Gòn cũng nháo nhác đưa tin với dòng tít lớn ở trang nhất về “biến cố Tân Sơn Nhất” sau hàng loạt vụ tấn công liên tiếp của biệt động Sài Gòn - một lực lượng “xuất quỷ nhập thần” giữa lòng thành phố.

Sân bay Tân Sơn Nhất rộng gần 2.000 ha, có tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược trong mạng lưới phòng thủ của địch ở miền Nam Việt Nam và Sài Gòn. Căn cứ không quân hỗn hợp này có nhiều đường băng cho đủ loại máy bay quân sự và dân sự với những hầm chìm, ụ nổi chứa từ 400 đến 500 máy bay đậu thoải mái.

Trong sân bay, có hàng chục kho bom, đạn đủ cỡ được trang bị kỹ thuật hiện đại. Khu nhà ở phía nam sân bay là hang ổ của bọn chỉ huy quân sự Mỹ gồm: Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ thứ 7, Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ và nhà Đại tướng Westmoreland - Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Bộ Tư lệnh Không quân Sài Gòn cùng nhà riêng của Nguyễn Cao Kỳ - Tư lệnh Không quân. Căn cứ quân sự này được bao bọc bằng một lớp “vỏ cứng” bảo vệ với 22 lớp rào kẽm gai kiểu Mỹ, từ rào đơn, rào kép, rào bùng nhùng, mắt cáo...

Giữa các loại rào là đủ các loại mìn chiếu sáng nằm ẩn trong các đám cỏ dại và cây mắc cỡ đầy gai. Đây là những bãi mìn “gài chết” mà địch đã nghiên cứu rất công phu để chống đặc công ta xâm nhập, nhất là ở các mục tiêu xung yếu.

Bên ngoài các vòng rào, một hệ thống đường nhựa giáp vòng cho xe cơ giới tuần tra, tuần bộ, chó bécgiê, ngỗng cảnh giới. Phía bên trong là những tuyến lô cốt, tháp canh dày đặc ken nhau được trang bị từ đại liên đến đại bác và những đèn pha cao áp cực mạnh chiếu sáng quét ra xa tới gần 3.000 mét. Bên trong được ngăn cách nhau bằng 3 lớp rào và những hào sâu 1 mét, rộng 8 mét. Trên những đường nhựa ngang dọc trong chu vi sân bay, cứ 15 phút lại có một tốp xe chở lính tuần tiễu chạy qua.

…Ngày 2-12-1966, mặt trời vừa lặn xuống sau cánh rừng và đồng cỏ dại um tùm, đơn vị đặc công nhận lệnh Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bình Tân đồng chí Lê Minh Xuân lập tức rời khỏi khu căn cứ Vườn Thơm Lý Văn Mạnh (Bình Chánh), vượt qua lộ 10, rồi băng về phía “ấp chiến lược” Tân Hòa. Các chiến sĩ đặc công hóa trang với trang phục rằn ri của lính “biệt động quân” Sài Gòn, tiến thẳng về hướng sân bay Tân Sơn Nhất. Tại vị trí tập kết cuối cùng, các mũi xung kích triển khai đội hình tiếp cận địch. Lúc này, các đơn vị trợ chiến, chặn viện, dân công tải đạn, tải thương cũng đã có mặt tại các vị trí sẵn sàng cho trận đánh ác liệt vào sân bay Tân Sơn Nhất.

 Chính trị viên Bành Văn Trân (Năm Vững) và Đội trưởng phụ trách lực lượng F100 Nguyễn Văn Kịp (bí danh “Đồng Đen”) cùng trong đội hình xung kích số 1. Từ lâu, Năm Vững và Đồng Đen thân thiết và hiểu nhau như anh em ruột. Đêm nay vào trận, cả hai cùng nhiệm vụ chỉ huy trực tiếp đánh vào mục tiêu quân sự quan trọng, đầu não của địch với nhiều lớp rào, mìn và bảo vệ nghiêm ngặt. Nhìn thấy ánh đèn pha địch quét trên nền trời, Năm Vững đưa mắt nhìn Đồng Đen rồi nắm tay nhau thật chặt, ngầm tỏ ý phải quyết tâm, thành công trận đánh dù có phải hy sinh…

Đây là cơ hội hiếm có, chỉ huy cấp trên đã giao cho đơn vị đặc công nhiệm vụ quan trọng, khi tin mật báo có 5.000 quân Mỹ từ các căn cứ quân sự nước ngoài vừa đổ xuống trong và ngoài sân bay Tân Sơn Nhất, để chuẩn bị cho trận càn lớn Cedar Falls vào vùng “Tam giác sắt Củ Chi - Bến Cát”. Trước khi xuất trận, Đồng Đen đã nói: Từ đây (Tân Sơn Nhất) bọn chúng bay ra Bắc giết hại đồng bào ta. Vậy mà ta để chúng yên ổn, ngang nhiên phá hoại? Phải đánh dập đầu chúng ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Thế là một trận đánh “Trả thù cho Hà Nội” đã được tổ chức và đánh thắng. Trận đánh còn đọng lại trong lòng anh em về hình ảnh chiến sĩ Nguyễn Văn Mao, dựa vào chiếc máy bay đã bị tiêu diệt để bắn trả với kẻ thù đang vây chặt. Anh hy sinh, nhưng không gục xuống mà vẫn dựa lưng vào chiếc máy bay, sừng sững trước mặt kẻ thù.

Các trinh sát đặc công lẫn trong màu đất và cỏ đêm tối, lần lượt trườn mình, cắt rào vượt qua các lớp rào kẽm gai với rất nhiều thiết bị báo động và dày đặc mìn gài, nhiều hào sâu, trùng trùng nguy hiểm tử thần đang chực chờ. Đích thân Bành Văn Trân và Đồng Đen đã cắt hết mấy lớp hàng rào, gỡ mìn, dọn đường cho đơn vị tiến lên với các loại vũ khí, thuốc nổ mang theo... lê nhích người từng tấc đất.

Hơn 10 giờ đêm trôi qua, tất cả các chiến sỹ đặc công đã lọt vào vị trí an toàn, áp sát mục tiêu mà địch không hề hay biết, sẵn sàng chờ lệnh tấn công. Năm Vững bần thần thoáng chốc, nhìn về phía tường sân bay phía tây, nơi ấy gia đình anh từng sống trọn tuổi thơ với bao cay đắng, cơ cực… Bất ngờ, một xe Jeep quân cảnh tuần tra phát hiện ra đám lính rằn ri bất bình thường, nhận ra bị lộ, Đội trưởng Đồng Đen ra lệnh nổ súng tấn công trong lúc địch còn bàng hoàng.

Các mũi xung kích khác đồng loạt nổ súng dữ dội vào các mục tiêu, cùng các đơn vị phối hợp bên ngoài thuộc các đại đội của Tiểu đoàn 6 Tân Bình, làm cho cả sân bay Tân Sơn Nhất rối loạn, còi báo động thất thanh rú lên cấp cứu hòa với tiếng súng bộ binh, đạn cối 60 ly của phân đội hỏa lực cấp tập rót xuống đài chỉ huy sân bay, khu thông tin và trước nhà ở của bọn phi công, ngăn không cho chúng tiếp cận để lên máy bay tẩu thoát... Khu vực giữa sân bay chính là nơi xảy ra trận đánh ác liệt nhất. Những trận đấu nhau làm rung chuyển cả thành phố Sài Gòn, từng mét đất, ụ chắn, lô cốt các chiến sỹ trinh sát, đặc công chiến đấu dũng cảm với từng bầy địch quân, có xe tăng yểm trợ.

Bành Văn Trân, Đồng Đen vừa chiến đấu vừa bình tĩnh chỉ huy đơn vị diệt từng tốp máy bay và đánh trả bộ binh, xe tăng địch. Có chiến sỹ đã phá hủy tới chiếc máy bay thứ 20 mà vẫn chưa hề thấm mệt, còn xông xáo đánh tiếp sang những chiếc khác. Có chiến sỹ bắn hết đạn lại lao lên lấy súng đạn của giặc, tiếp tục chiến đấu.

Tình thế càng lúc trở nên nguy hiểm hơn khi địch tung nhiều lực lượng và thiết giáp cố chặn các cửa thoát. Được các đơn vị tiếp ứng, các chiến sỹ đặc công anh dũng của Bành Văn Trân và Đồng Đen đã vượt qua nhiều hào sâu, nhiều lớp kẽm gai trên đầu là pháo sáng, máy bay và xe tăng, bộ binh địch quần thảo khắp khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, nhưng các chiến sỹ anh hùng đã thoát ra ngoài sân bay an toàn, một số đồng chí đã anh hũng hy sinh…

…Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, mọi người nô nức đón người thân trở về. Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Trọng, nhìn thấy ai đi qua hơi giống con trai mình liền rối rít: “Thằng Trân nó về kia...”. Còn cha ông phút lâm chung, không nói ra hơi mà dùng 4 ngón tay ra hiệu mọi người hãy đi báo tin cho 4 con trai về, nhưng cả 4 người con trai đều vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường.

Hai năm sau giải phóng (năm 1977), 9 năm sau ngày ông hy sinh, bà Thảnh mới nhận được giấy báo tử của chồng ghi “Hy sinh tháng 5-1968, không tìm thấy hài cốt”. Dù biết chồng không còn nữa, nhưng bà vẫn quyết tìm cho bằng được, dẫu chỉ còn nắm xương tàn. Bà đi khắp nơi, từ Bà Điểm - Hóc Môn, đến căn cứ Trung ương Cục ở Tây Ninh, ra tận Đà Nẵng tìm chồng...

Đồng chí Bành Văn Trân bí danh Năm Vững, sinh năm 1933, tại xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, Gia Định, nay là TP Hồ Chí Minh. Năm 16 tuổi, ông đã phải đi vắt sữa bò thuê để kiếm tiền phụ giúp gia đình. Cha của ông từng tham gia Việt Minh đánh Pháp, bị thực dân Pháp bắt tù đày tra tấn mang trọng bệnh. Năm 1961, Bành Văn Trân chính thức gia nhập lực lượng đặc công Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và 4 năm sau được phân công làm Chính trị viên Đại đội 10 Đặc công Sài Gòn - Gia Định.

Năm 22 tuổi, ông lập gia đình với cô thôn nữ Phạm Thị Thảnh cùng tuổi, người làng Tân Quý, nay thuộc phường Tân Quý, quận Tân Phú là con một gia đình nông dân nghèo, chuyên trồng rau bán các chợ. Hai ông bà có 4 người con trai.

Sau trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất, Bành Văn Trân và Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Bành Văn Trân sau đó bị địch bắt đày ra Côn Đảo và hy sinh trong tù. 
Ngày 17-9-1967, ông được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ký sắc lệnh tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân giải phóng.

Còn Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen), trong trận đánh ngày 26-9-1967, bị địch bao vây ở ấp Tân Hòa 2, xã Vĩnh Lộc, Bình Chánh, hai đồng đội cùng đi với anh hy sinh. Kịp bị thương, nhưng anh nhảy lên khỏi hầm bí mật dùng lựu đạn và súng ngắn chiến đấu rất quả cảm, diệt 11 tên địch, sau đó anh hy sinh. Trong 9 năm, Đồng Đen chiến đấu 83 trận, diệt được 153 tên, phá hủy 25 máy bay, 15 xe quân sự của địch, được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công, 8 bằng Dũng sĩ diệt Mỹ, 3 năm là Chiến sĩ thi đua. Ngày 6-11-1978, Nguyễn Văn Kịp được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng những chiến công vang dội của các chiến sỹ đặc công, biệt động Sài Gòn năm xưa vẫn vẹn nguyên trong ký ức và lịch sử người dân thành phố hôm nay. Mỗi đận qua con đường mang tên Bành Văn Trân và Đồng Đen (Tân Bình) lòng lại bùi ngùi nhớ về những chiến công lừng lẫy của hai người anh hùng biệt động./.



----------------------------------------
Ảnh 1: Đội đặc công trước giờ xuất phát.
Ảnh 2: Bà Phạm Thị Thảnh - vợ Anh hùng LLVTND Bành Văn Trân với bức ảnh kỷ niệm.
Ảnh 3: Đơn vị đặc công F100 xuất trận.
Ảnh 4: Cảnh tan hoang tại sân bay Tân Sơn Nhất ngày 4-12-1966. (Ảnh Tư liệu)./.
Môi Trường ST.