Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2022

 Cảnh giác với cái gọi là “nhân danh nhân dân” của các thế lực chống phá

Nói lên tiếng nói của người dân là cách hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe. Chính vì thế, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng cái gọi là “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để xuyên tạc, kích động, lôi kéo người dân thực hiện các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đây là chiêu trò khá tinh vi, bài bản, đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác để nhận diện và kiên quyết đấu tranh.

Mưu đồ đặt người dân trong mối quan hệ đối lập với chính quyền

Đây vừa là mục đích, vừa là thủ đoạn nguy hiểm nhằm phá hoại một trong những mối quan hệ “rường cột” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch - người đóng vai “đại diện cho nhân dân”. Cách thức phổ biến được các đối tượng chống phá thực hiện là đánh đồng hiện tượng của một hoặc một nhóm người với toàn thể nhân dân. Từ sự việc của một người dân, họ tô vẽ, thổi phồng để tìm sự đồng cảm của nhóm người, sau đó cộng hưởng với quá trình “tam sao, thất bản” trên internet, mạng xã hội, sự việc ấy sẽ bị đẩy lên mang tính toàn thể nhân dân, tạo cớ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

Với thủ đoạn: tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho các hoạt động chống đối chính quyền, cùng với việc xuyên tạc hình ảnh người dân thống khổ, các đối tượng chống phá còn thêu dệt nên hình ảnh của đảng độc tài, xã hội mất dân chủ, chính quyền yếu kém, quan tham,… không dừng lại ở đó, họ còn tìm mọi cách khai thác, nhào nặn, thêm thắt, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đặc biệt, lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, đưa ra xét xử do liên quan đến những vụ án tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng chống phá suy diễn, quy chụp, cho đó là tình trạng phổ biến, hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, là “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo,… gây hoài nghi và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Song, dù có cố tình tô vẽ thế nào, thì các thế lực chống phá cũng không thể che lấp sự thật là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền nhà nước các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân vẫn luôn bền chặt, gắn bó. Mọi hoạt động của chính quyền đều hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Gần đây, với những nỗ lực cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chuyển đổi số,... đã góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân với chính quyền các cấp, chính quyền phục vụ nhân dân tốt hơn, cán bộ, công chức gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc của nhân dân. Từ đó, nhân dân ngày càng phát huy dân chủ, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động, phong trào, cuộc vận động của các cấp chính quyền phát động hiệu quả hơn.

Ngụy tạo hình tượng “người dân thống khổ” để đổ lỗi cho chính quyền

Đây cũng là một chiêu trò khá quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm tung tin giả để dẫn dắt dư luận theo mưu đồ của chúng. Theo đó, hình tượng người dân trong con mắt của các thế lực thù địch rất đa dạng, nhưng chung quy lại đều có hoàn cảnh thống khổ theo nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, họ bám vào các đối tượng vi phạm pháp luật1, đã bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội với các tội danh như: “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,... để “phù phép” thành những “người tử tế”, “người hùng”, những “tù nhân lương tâm”,… rồi kêu gọi, lập “hội nhóm”, ra sức kêu oan cho các đối tượng này.

Một chiêu thức khác là họ lợi dụng một số người dân có khiếu kiện với chính quyền để tạo ra “dân oan”. Không cần biết việc khiếu kiện đúng hay sai, một mặt, các thế lực thù địch tiếp cận, kích động để người dân thấy oan ức, tiếp tục các hoạt động khiếu kiện đông người, gây mất an ninh, trật tự xã hội,… mặt khác, họ sử dụng các phương tiện truyền thông để xuyên tạc, quy chụp chính quyền không vì lợi ích của người dân. Chúng còn hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối trong các tôn giáo tạo cớ kêu gọi đòi đất đai trái pháp luật, gây chia rẽ tôn giáo với chính quyền, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Gần đây, xuất hiện một số trí thức, học sinh, sinh viên có nhận thức chính trị hạn chế, bị các thế lực thù địch lôi kéo, dụ dỗ tham gia bình luận, viết bài, quay video clip cổ súy quan điểm “dân chủ tư sản”, nói xấu chế độ, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi tán phát trên blog, mạng xã hội và được các đài, báo phản động nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng bất bình với chế độ ở trong nước.

Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch cũng không từ một thủ đoạn nào để khắc họa một bức tranh xám xịt, một tương lai không lối thoát cho đồng bào nơi đây. Cùng với đó, mảnh đất màu mỡ là “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” luôn được các thế lực thù địch cày xới để trồng những “mầm non” ảo tưởng về sự áp bức, bất công của chế độ ta.

Họ cũng rất “chịu khó” đi từng ngõ ngách của xã hội, lân la, dò hỏi, góp nhặt thông tin, hình ảnh một số người dân có những tranh chấp dân sự chưa được giải quyết thấu đáo, có hoàn cảnh khó khăn,… để xây dựng nên hình mẫu một người “dân oan” với những ngôn từ khổ sở, thê thảm, rồi kích động, xúi giục mọi người đấu tranh đòi quyền lợi cá nhân. Khi người dân sập bẫy thì những bài viết, video clip xuyên tạc, bóp méo sự thật được xuất hiện và nhanh chóng chia sẻ trên một số trang mạng của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí. Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, khi cả hệ thống chính trị và toàn dân đang căng mình, nỗ lực để vừa chống dịch hiệu quả, vừa chăm lo tốt an sinh xã hội cho người dân thì các thế lực thù địch lợi dụng thời điểm khó khăn của đất nước, “đục nước béo cò” ra sức tung ra nhiều chiêu trò xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận thành tựu chống dịch của đất nước. Thời điểm này, những luận điệu vu khống, sai sự thật, như: “người dân đấu tranh đòi quyền sống giữa đại dịch”, “hàng nghìn người tham gia biểu tình, tuần hành phản đối chính quyền, kéo lên phường cướp kho gạo vì bị bỏ đói hơn tuần nay”,… được chia sẻ rộng rãi trên một số trang mạng, xúi giục, kích động người dân phá rào cách ly, tấn công lực lượng chức năng. “Tát nước theo mưa”, các tổ chức phản động ở hải ngoại cũng ra sức hùa theo với luận điệu kích động, như: “dân đã bắt đầu biết xuống đường đấu tranh bất bạo động”, “Ai chưa nhận được hỗ trợ hãy làm như họ, xuống đường ngay và luôn”, v.v.

Hoàn thành xong công đoạn tô vẽ hình tượng người dân khổ sở, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách vu khống, bóp méo sự thật, ra sức đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước, cho rằng “họ là nạn nhân” của sự “độc tài, độc quyền”, tham nhũng,… của chế độ ta. Như lẽ tất yếu, cái đích mà chúng luôn ngắm tới của những nỗ lực công kích ấy là chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… tiến tới đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng để đấu tranh hiệu quả.

Bộ mặt “Rắn độc giả lươn”

Không khó để tìm các bài viết, video clip mang nội dung kêu gọi hãy “cứu dân”, bảo vệ “dân oan”, “thương cho người Việt phải chịu đựng cái đảng cầm quyền bất lực, tham lam, tàn ác đến bao giờ”,… mà các thế lực thù địch đăng tải trên các trang mạng xã hội. Thoạt nghe, người ta dễ lầm tưởng họ đang “thương cho dân, lo cho nước”, song thực chất là họ cố tình che đậy bản chất phản động đằng sau những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân; làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “liên đoàn lao động Việt tự do”,… các đối tượng chống phá tổ chức nhiều diễn đàn như: “tiếng nói người dân”, “người dân lên tiếng”, “diễn đàn dân chủ”,… để rêu rao cho cái gọi là “đại diện cho người dân”, đưa ra những yêu sách về tự do dân chủ, tự do ngôn luận,…; thậm chí viết “thư ngỏ”, tham gia “hiến kế” cho Đảng, Nhà nước ta với những nội dung ngông cuồng, phi thực tế. Bỉ ổi hơn, với thủ đoạn “bí mật giật dây”, “sau bức màn che”, chúng mua chuộc, lừa gạt, ép buộc người dân nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn cho những cuộc biểu tình, đập phá, để rồi khi vi phạm pháp luật tất cả hậu quả người dân đều gánh chịu, còn những kẻ tự xưng “đại diện cho người dân” thì ung dung ở trời Tây nhận thưởng với thành tích lừa dân của chúng.

Đóng vai “một người lạ”, những kẻ cơ hội chính trị, có tư tưởng bất mãn cũng lân la tận các ngõ xóm, tìm đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chúng giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm với người nghèo, lao động thất nghiệp, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, dựng lên bức tranh bi thảm về một xã hội bất công rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng.

Song, dù có “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.

Thực tế đã chứng minh, bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của “tổ đồng thuận” không thể đại diện cho đa số người dân xã Đồng Tâm chất phác, lương thiện; hay sự trơ trẽn của “nhóm dân oan” do Cấn Thị Thêu cầm đầu không thể đánh đồng với những người dân đang kiến nghị theo đúng trình tự pháp luật. Những chứng cứ không thể chối cãi cùng những lời thú tội của những kẻ “đại diện cho người dân” này trước tòa cho thấy rõ chân tướng xấu xa của chúng. Và những kẻ ảo tưởng ngông cuồng về quyền lực, sống lưu vong, tị nạn chính trị theo đuôi các tổ chức phản động ở nước ngoài không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của người dân Việt Nam trong nước và người Việt yêu nước ở nước ngoài. Và, rắn độc vẫn mãi là rắn độc, các thủ đoạn, chiêu trò của họ nhằm gài bẫy người dân sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, mỗi người dân cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, tránh trở thành người tiếp tay cho tội phạm, là “con rối” bị các đối tượng chống đối lợi dụng, đưa vào vòng lao lý.

Nguồn: QPVN.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

 

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

          Phải khẳng định rằng: những luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc. Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

          Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” .

          Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

          Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”, và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

          Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

 

NHẬN DIỆN “CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

          Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

          Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”. Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

          Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”. Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”!

          Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

                                                                                                VĐ

Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo định hướng Đại hội XIII của Đảng.

  - Trước những thành tựu, thách thức và cơ hội phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam, Đại hội XIII của Đảng đề ra những chủ trương lớn, tạo ra sự chuyển đổi mang tính cách mạng về tư duy trong nông nghiệp. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả những chủ trương và giải pháp được Đại hội XIII của Đảng đề ra tạo nên động lực mới về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn với một thế hệ hội viên nông dân có tư duy đổi mới sáng tạo, tự lực, tự cường, khát vọng đưa đất nước trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thành tựu và thách thức về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Hội Nông dân Việt Nam thực sự chủ động, tích cực phát huy vai trò trung tâm và nòng cốt trong thực hiện chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững với những thành tựu to lớn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Nông nghiệp có bước chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế; kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành sớm hơn gần hai năm so với kế hoạch đề ra, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân”(1).

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ tới thăm gian hàng giới thiệu nông sản của hội viên nông dân tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam, tháng 10-2020_Nguồn: danviet.vn

Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng khu vực nông nghiệp từ 2,8% đến 3%/năm, là tốc độ cao của thế giới. Đặc biệt, tính đa dạng về sinh thái, thổ nhưỡng, sinh học, đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt dồi dào, nhân lực trẻ khá phong phú, cho phép các hộ nông dân - hạt nhân của hợp tác xã cùng doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn 10 triệu héc-ta đất canh tác nông nghiệp và hơn 14 triệu héc-ta rừng để sản xuất được cả ba nhóm nông sản nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới với hàng nghìn giống cây, con, thổ sản quý hiếm. Hằng năm, Việt Nam sản xuất được trên 45 triệu tấn thóc, 5 triệu tấn ngô, 5,8 triệu tấn thịt các loại, 8 triệu tấn thủy sản cả khai thác tự nhiên và nuôi trồng; gần 20 triệu mét khối gỗ rừng trồng; sản lượng cà-phê thô đứng thứ hai trên thế giới; hạt tiêu đứng đầu thế giới; cao-su đứng thứ sáu trên thế giới; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng cho nhu cầu của gần 100 triệu dân trong nước và dành phần xuất khẩu đạt trên 45 tỷ USD đến 190 nước trên thế giới. Thành tựu đó đã đưa tỷ lệ nghèo giảm đáng kể đem đến những cải thiện trong hầu hết các chỉ số về năng suất, vốn và vốn nhân lực.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong tâm thế Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đang đứng trước những thách thức không nhỏ. Sản xuất nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp) vẫn ở quy mô hộ nhỏ, lẻ, manh mún và thiếu liên kết nên khó cạnh tranh trên thị trường. Hiện nay, mới chỉ có 8% số doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, trong đó, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm khoảng 92%, đồng nghĩa khó có khả năng chi phối chuỗi giá trị ngành hàng và bất cập trong kết nối cung cầu nông sản. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp được hưởng các chính sách ưu đãi về sử dụng đất, thuế nhưng thực tế các chính sách này vẫn chậm đi vào cuộc sống. Các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp đã và đang gặp không ít khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng và nhiều thủ tục liên quan đến đất đai, vay vốn, xây dựng, môi trường, vẫn còn là những điểm nghẽn làm mất nhiều thời gian. Việt Nam có đất nông nghiệp, tài nguyên nước và tài nguyên biển dồi dào với sự đa dạng sinh học phong phú là những lợi thế tự nhiên đã được sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng, nhưng những tổn hại về môi trường ước tính ở mức từ 4% đến 8% GDP mỗi năm. Nước ta đang chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và thiên tai xảy ra trên cả các vùng kinh tế - xã hội. Phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh là khát vọng của hội viên, nông dân Việt Nam, nhưng phần lớn hộ nông dân còn thu nhập thấp, chưa có kỹ năng nghề và chưa thích nghi với thị trường cạnh tranh, nhất là 53 dân tộc thiểu số mới có 6,2% số người lao động từ 15 tuổi trở lên và có 5,9% số người lao động nữ từ 21 tuổi trở lên được đào tạo nghề. Sau hơn 10 năm qua, các chính sách kinh tế đã đưa đến nhiều thành công, nhưng đến nay đang dần mất đi động lực khi nông hộ, nền nông nghiệp quy mô nhỏ, lẻ và manh mún đang đứng trước thách thức thiếu kết nối giữa sản xuất với thị trường và nông dân chưa được đào tạo nghề. Xã hội nông thôn đang đứng trước xu hướng biến đổi cơ cấu mạnh mẽ (giai cấp, nghề nghiệp, dân số, tộc người, tôn giáo) trên cả mặt tích cực (làm thay đổi căn bản một cách sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội của người dân) và tiêu cực (gia tăng khoảng cách giàu nghèo, sự mất bình đẳng giữa lao động chân tay và lao động trí óc, sự mất cân bằng giữa nam và nữ, sự tụt hậu của cộng đồng dân tộc thiểu số so với dân tộc đa số ở Việt Nam về trình độ học vấn và các khía cạnh liên quan đến thị trường, sự khác biệt giữa miền xuôi và miền núi, giữa thành thị và nông thôn).

Tiếp tục phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Thứ nhất, cần quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và đầu tư công, phát triển lành mạnh các loại thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất, thị trường tài chính tiền tệ, thị trường bất động sản, đất đai, tài nguyên. Trong đó, “thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”(2).

Trong bước chuyển đổi này, cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện thật tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Công nông trí thức hóa. Trí thức công nông hóa. Nghĩa là công nông cần học tập văn hóa để nâng cao trình độ tri thức của mình, trí thức cần gần gũi công nông và học tập tinh thần, nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm của công nông”(3). Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ trương của Đại hội XIII của Đảng đòi hỏi nhìn nhận ngành nông nghiệp không chỉ là ngành sản xuất vật chất mà là ngành kinh doanh nông nghiệp - ngành kinh tế tri thức nông nghiệp và nhu cầu thị trường là mệnh lệnh cho sản xuất nông nghiệp. Từ đó, hội viên, nông dân phải được trang bị bằng kiến thức của nhà kinh doanh, được đào tạo nghề theo hướng trí thức hóa nông dân, tập trung vào việc nâng cao giá trị sản xuất các ngành hàng chủ lực có lợi thế và giá trị gia tăng cao dựa trên công nghệ mới, hiện đại về chế biến nông sản và mở rộng các ngành, nghề phi nông nghiệp ở nông thôn để đồng bào nông dân định canh, định cư bền vững tại miền quê đang sống của mình.

Đồng chí Lương Quốc Đoàn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam thăm mô hình trồng bưởi tại xã Phúc Ninh, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang_Nguồn: danviet.vn

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Cơ cấu lại kinh tế vùng, đổi mới thể chế liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng, phát huy vai trò các vùng kinh tế động lực và các đô thị lớn, quan tâm phát triển các vùng còn khó khăn, thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng”(4). Chủ trương đó yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên phải thoát ra khỏi tư duy trong phạm vi địa giới hành chính huyện, tỉnh, thành phố; tập trung xây dựng chiến lược quốc gia, vùng, miền và chế biến nông sản; đổi mới tư duy từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh doanh nông nghiệp với vai trò “bà đỡ” của doanh nghiệp nông nghiệp với công nghệ mới, hiện đại và cơ chế, chính sách tương thích nhất để hỗ trợ, khuyến khích tập trung đất đai, đầu tư khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản gắn với thị trường. Đây là 5 vấn đề mấu chốt như trục xương sống trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của nước ta.

Thứ hai, từ chủ trương “phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân thông minh”, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Chú trọng phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương”(5).

Ở nước ta, có khoảng 80% diện tích tự nhiên là nông thôn với ba phần tư là miền núi, hệ thống sông đều chạy từ phía Tây sang phía Đông, rất đa dạng về đất đai và thổ nhưỡng, về kỹ thuật canh tác và quản lý sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp của người nông dân có thể phân định theo hai trình độ sau: ở trình độ thấp, sản xuất nông nghiệp chủ yếu phục vụ cho gia đình của mỗi người nông dân, gọi là nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai; ở trình độ cao, sản xuất nông nghiệp có mức độ cơ giới hóa cao, được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất, bao gồm cả việc sử dụng máy móc, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới, hướng đến tăng thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp và sản xuất đầu ra chủ yếu phục vụ mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra thị trường hay xuất khẩu. Theo sự phân định đó, hiện nay hằng năm, Hội Nông dân Việt Nam có khoảng 3,5 triệu hộ hội viên đạt danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp, nhưng mới có khoảng 30% số hội viên biết kinh doanh nông nghiệp. Do đó, để phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, cũng như ở nhiều nước, Việt Nam phải xây dựng nền kinh tế trong đó coi nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng có vai trò làm “trụ đỡ” cho nền kinh tế với nhiều chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, diêm nghiệp.

Trong Chiến lược phát triển nông nghiệp Việt Nam, cần hướng tới mục tiêu tăng trưởng từ 3% - 3,5%/năm với giá trị xuất khẩu đến năm 2025 đạt khoảng 50 tỷ USD và xây dựng những vùng nông thôn định canh, định cư giàu có, tối thiểu 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có ít nhất 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu thực sự đáng sống. Vì vậy, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung nghiên cứu thể chế hóa chủ trương Đại hội XIII về “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Đẩy mạnh tự chủ đại học. Có chính sách đột phá phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Thúc đẩy phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao. Xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp để đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi ngành nghề do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(6). Điều này giúp các chi hội trưởng chi hội nông dân nghề nghiệp và giám đốc hợp tác xã có đủ năng lực trí tuệ và kỹ năng trong thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có và nông thôn văn minh, hiện đại.

Thứ ba, Đại hội XIII của Đảng xác định, phải “Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản trong các chuỗi giá trị”(7) để nâng cao và thực hiện đồng bộ mối quan hệ liên kết sáu nhà (nhà nông, nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà ngân hàng, nhà khoa học, nhà phân phối) nhằm phát huy cao độ vai trò chủ thể của nông dân.

Thực hiện chủ trương này, các nhà quản lý phải phát huy vai trò của mình trong việc đáp ứng sự mong đợi của nông dân, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ chính sách và tài chính, bổ sung những gì còn thiếu để nông dân tiếp cận các kiến thức, kỹ năng sản xuất nông nghiệp và tham gia thị trường. Hiện nay, nông nghiệp không thể thiếu doanh nghiệp làm khâu kết nối sản xuất với thị trường. Thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp là tất yếu. Muốn vậy, các chính sách khuyến khích cần cụ thể, dài hạn, khơi nguồn sáng tạo, tạo được sức hấp dẫn bằng các cơ chế, chính sách thiết thực, quy định pháp lý rõ ràng về phát huy vai trò của nông hộ trong hợp tác xã và doanh nghiệp để tích tụ, tập trung đất đai, đầu tư khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất lao động, phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn gắn với thị trường.

Cần tập trung đào tạo các kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới và kỹ năng quản trị kinh doanh cho hội viên nông dân, đặc biệt lấy các nhà nông thành công trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp làm gương và làm theo phương châm “nông dân dạy nông dân” bằng phương pháp dạy học thực hành theo quy trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi mà các nhà khoa học của nhà nông đóng vai trò như “thư viện của nông dân”. Có hình thức tổ chức, tập hợp các nhà khoa học nông nghiệp và tiếp tục tôn vinh danh hiệu “Nhà khoa học của nhà nông” để mang đến cho hội viên, nông dân không chỉ niềm tự hào mà quan trọng hơn là những tâm đức và kiến thức quý báu của họ. Hỗ trợ hội viên, nông dân các trang thiết bị thông tin, kết nối, liên kết, hợp tác theo chuỗi sản xuất gắn với thị trường để làm tốt các khâu từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản.

Mô hình khởi nghiệp từ sản xuất nông nghiệp sạch ở tỉnh Hải Dương_Ảnh: TTXVN

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, xây dựng đời sống văn hóa kiểu mẫu với hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đồng bộ và bảo vệ môi trường sinh thái.

Cùng với phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều xu hướng tiêu cực tác động vào xã hội Việt Nam nói chung, nông thôn nói riêng, đã và đang nảy sinh những vấn đề lớn trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị tinh thần, chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc. Đó là, sự thiếu tôn trọng các mối quan hệ đạo đức truyền thống, chủ nghĩa cá nhân phát triển, coi trọng kinh tế và coi nhẹ văn hóa. Cùng với đó, cơ cấu xã hội biến đổi mạnh mẽ trên cả mặt tích cực và tiêu cực, vốn tự nhiên suy giảm liên tục và môi trường ngày càng dễ bị tổn thương bởi thiên tai và biến đối khí hậu ngày càng tăng lên.

Trước tình hình nhiệm vụ mới, Hội Nông dân Việt Nam phát huy vai trò trung tâm và nòng cốt trong vận động hội viên, nông dân xây dựng người nông dân mới giàu lòng yêu nước, đoàn kết, trách nhiệm, trọng nghĩa tình và có trình độ chuyên môn và kỹ năng sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Đây cũng là trọng tâm của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu luôn ổn định, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc và kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đồng bộ. Cán bộ, hội viên, nông dân phải đi đầu đấu tranh ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức và từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam, nêu cao vai trò và nhiệm vụ trong cải tạo cảnh quan nông thôn và sản xuất nông sản thực phẩm an toàn, giữ vững an ninh, trật tự và môi trường xã hội nông thôn.

Cán bộ, hội viên, nông dân chủ động, tích cực tham gia sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhất là sử dụng đất và nước tiết kiệm nhất, giám sát và kiến nghị xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường, ngăn chặn suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và thiên tai, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn bằng công nghệ hiện đại, tiệm cận gần hơn với nền nông nghiệp thông minh có năng suất và chất lượng cao để thực hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao. Hội Nông dân và người nông dân thấy rõ ràng hơn tác động của suy thoái môi trường đến người dân, mong muốn hiện thực hóa chủ trương “Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững” theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” và “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25-9-2012, của Thủ tướng Chính phủ, thành các hành động cụ thể và kết quả hữu hình bằng cả ba yếu tố tầm nhìn, năng lực và động lực.

Thứ năm, tiếp tục hướng dẫn hội viên, nông dân nghiệp vụ xây dựng dự án phát triển nông nghiệp hàng hóa, vay và sử dụng vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Quỹ Hỗ trợ nông dân theo hình thức nhóm hộ nông dân gắn chặt với xây dựng tổ hội nông dân, chi hội nông dân nghề nghiệp và hợp tác xã kiểu mới hoạt động theo phương thức “5 tự” (tự giác, tự nguyện, tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm) và “5 cùng” (cùng ngành nghề - lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, cùng mối quan tâm, cùng có sự chia sẻ, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng thụ).

Phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân theo văn bản số 4035/KTTH, ngày 26-7-1995, của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 773/CV-NH1, ngày 23-2-1995, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để hỗ trợ, giúp đỡ hội viên, nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo hướng ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, làm giàu chính đáng và giảm nghèo bền vững. Hiện nay, Quỹ Hỗ trợ nông dân Việt Nam, ngoài cấp Trung ương còn có 63 Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, 654 Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp huyện đang quản lý trên 3.740 tỷ đồng và hoạt động có hiệu quả. Đồng thời, Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương Hội đang quản lý cho vay 135.000 tỷ đồng vốn ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam hoạt động theo phương châm “thấu hiểu lòng dân, tận tâm phục vụ” và “giao dịch tại nhà, giải ngân tại chỗ”. Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại ngành nông nghiệp trên cơ sở phát huy tiềm năng lợi thế của từng vùng và dựa trên tăng năng suất, chất lượng nông sản và nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và năng lực cạnh tranh; phát triển kinh tế hộ, kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới gắn chặt với chi hội nông dân nghề nghiệp và doanh nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm vì sức khỏe cộng đồng. 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hội Nông dân các cấp tiếp tục chủ trì, phối hợp nghiên cứu đổi mới công tác định hướng về vay vốn của nông dân theo yêu cầu phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hướng xanh hóa, xây dựng chi hội nông dân nghề nghiệp và tổ hội nông dân nghề nghiệp gắn với xây dựng hợp tác xã kiểu mới hoạt động theo phương thức “5 tự” và “5 cùng” để nâng cao năng lực tổ chức liên kết “sáu nhà” hay liên kết chuỗi và nâng cao nhận thức, phổ cập kiến thức mới và đẩy mạnh trí thức hóa nông dân. Chỉ có vậy, 8 triệu hộ nông dân trong đó có 3,5 triệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp mới phát triển được vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thâm canh, gắn với cơ sở công nghiệp chế biến để đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta đạt được cả “ba cao” về năng suất, chất lượng, giá trị theo chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại./.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.

  - Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu hiện đang tạo ra những thách thức to lớn, ảnh hưởng đến nhiều mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các nhà lãnh đạo tham dự Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP26) _ Ảnh: TTXVN

Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về phát triển bền vững, các quốc gia đã thông qua Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững theo Quyết định số 622/QĐ-TTg, ngày 10-5-2017, của Thủ tướng Chính phủ, trong đó khẳng định: “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia”. Kế hoạch đề ra các mục tiêu cụ thể nhằm phát triển bền vững là: Xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững; bảo đảm nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người; đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái; bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, liên tục; tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người… Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đặc thù, Việt Nam là đất nước dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, với những biểu hiện, như: lũ lụt bất thường, hạn hán, nước biển dâng, hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiệt độ tăng cao... Theo đánh giá hằng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan giai đoạn 1997 - 2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn(1). Điều này cản trở việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, nổi bật là:

Một là, ảnh hưởng đến mục tiêu chấm dứt nghèo.

Những năm gần đây, do biến đổi khí hậu, Việt Nam thường xuyên xuất hiện hiện tượng thời tiết cực đoan, như: bão, hạn hán, giông, lốc, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất…, tàn phá nghiêm trọng cây lương thực và tài sản của người dân; đồng thời, gây khó khăn trong quá trình trồng lúa và các cây lương thực, gia tăng chi phí cho sản xuất nông nghiệp, kéo theo hệ lụy về nghèo đói gia tăng. Tổng hợp thiệt hại do thiên tai năm 2019 của cả nước cho thấy, diện tích cây lương thực bị ảnh hưởng là 40.017ha(2). Năm 2020, thiệt hại lên tới 209.378ha(3). Điều này cho thấy, thiệt hại do thiên tai năm 2020 lớn hơn nhiều so với năm 2019. Sau những đợt thiên tai, bão lũ, nhiều hộ gia đình đã rơi vào cảnh “trắng tay”, nợ nần, thiếu đói; đồng thời, tỷ lệ tái nghèo diễn ra mạnh hơn. “Hiện nay cứ 3 người thoát nghèo lại có 1 người tái nghèo, chủ yếu do hậu quả thiên tai”(4).

Hai là, ảnh hưởng đến nền giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng bất lợi đến triển vọng đạt được mục tiêu giáo dục theo nhiều cách khác nhau, làm gia tăng thiên tai, dịch bệnh… ảnh hưởng đến sức khỏe, thời gian, cơ hội đến trường của trẻ. Báo cáo của UNICEF thực hiện cùng tổ chức “Fridays for Future” công bố năm 2021 cho thấy, có khoảng 1 tỷ trẻ em - gần một nửa trong số 2,2 tỷ trẻ em trên toàn thế giới - sống tại 33 quốc gia được phân loại là có “nguy cơ cực kỳ cao” bởi tác động của biến đổi khí hậu(5).

Báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) ngày 20-8-2021 cho thấy, thanh, thiếu niên Việt Nam là một trong những nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất trước các tác động của biến đổi khí hậu(6). Trong phân tích này, các quốc gia được xếp hạng dựa trên nguy cơ rủi ro của trẻ em trước các cú sốc về khí hậu và môi trường, chẳng hạn như lốc xoáy và các đợt nắng nóng; cũng như mức độ dễ bị tổn thương của trẻ em trước các cú sốc, dựa trên khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của trẻ em. Điều này đe dọa đến sức khỏe, giáo dục và sự an toàn của các em.

Tại Việt Nam, sau những trận mưa, bão, lũ, lụt, phần lớn cơ sở vật chất, các trang thiết bị giảng dạy nhiều trường, lớp bị hư hỏng, nên nhiều học sinh không thể đến trường hoặc phải học chậm hơn.

Ba là, ảnh hưởng tới mục tiêu bình đẳng giới, tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái.

Biến đổi khí hậu gây ra những tác động khác nhau đối với phụ nữ và nam giới. Các nghiên cứu cho thấy, khoảng 80% số người chịu các tác động tiêu cực của tình trạng biến đổi khí hậu là phụ nữ(7). Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số phụ nữ và trẻ em tử vong bởi các thảm họa thiên nhiên cao hơn 14 lần so với nam giới(8). Biến đổi khí hậu tác động lên cuộc sống và sinh kế của người dân theo những cách thức khác nhau và phụ nữ luôn được coi là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu. Trên thực tế, biến đổi khí hậu có thể làm tồi tệ thêm những bất bình đẳng giới, tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ. Báo cáo thảo luận chính sách của Liên hợp quốc và Oxfam khẳng định, nhiều thiên tai xảy ra do biến đổi khí hậu dẫn đến di cư tăng lên ở Việt Nam. Phụ nữ di cư thường kiếm được việc làm ít hơn nam giới và nếu họ ở lại khi các thành viên khác trong gia đình di cư thì họ sẽ phải gánh vác trách nhiệm của nam giới. Một tình trạng phổ biến khác là nam giới trong gia đình thường làm việc xa nhà, nên khi thiên tai tàn phá thì phụ nữ buộc phải gánh vác hầu hết các hậu quả của rủi ro thiên tai.

Sinh kế của người nghèo, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em nông thôn, phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, sản xuất nông nghiệp, đánh bắt hải sản gần bờ. Cuộc sống của họ phụ thuộc khá nhiều vào các hệ sinh thái có sẵn trong tự nhiên. Nhưng biến đổi khí hậu đang làm mất đi nhiều khu rừng tự nhiên, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Điều này ảnh hưởng đến phụ nữ, trẻ em, vốn cuộc sống chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn trong tự nhiên. Hơn nữa, phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, thường phải gánh vác nhiều công việc nặng nhọc, đóng vai trò người chủ gia đình và lao động chính ở những nơi khí hậu khắc nghiệt, tài nguyên khan hiếm, các vùng bị nhiều thiên tai, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, khiến họ bị giảm cơ hội được giải phóng và bình đẳng. 

Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm giảm chất lượng nước và trữ lượng nước sạch, nguy cơ gia tăng các bệnh truyền nhiễm và đây chính là các yếu tố đe dọa sức khỏe sinh sản, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc bà mẹ và trẻ em. 

Lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ giúp người dân trong mưa lũ_ Ảnh:cand.com.vn

Bốn là, ảnh hưởng tới mục tiêu bảo đảm việc làm, thu nhập thường xuyên.

Biến đổi khí hậu với những biểu hiện bất thường của thời tiết cực đoan đang làm hoang mạc hóa, đất đai bị xói mòn, gia tăng diện tích đất ngập mặn, ngập úng do lũ lụt hoặc hạn hán, làm thiếu đất canh tác, mất đất cư trú, gây ra những thay đổi trong đời sống xã hội và ảnh hưởng tới mục tiêu bảo đảm việc làm bền vững cho tất cả mọi người. Thống kê gần đây cho thấy, do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, trong 10 năm trở lại đây, đã có 1,7 triệu người di cư ra khỏi đồng bằng sông Cửu Long vì thiếu đất canh tác, không có việc làm ổn định, tỷ lệ di cư này là gấp hai lần trung bình cả nước(9).

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nếu mực nước biển dâng 100cm sẽ có 16,8% diện tích đồng bằng sông Hồng, 4,79% diện tích tỉnh Quảng Ninh, 1,47% diện tích đất các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,8% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh, 4,79% diện tích tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguy cơ bị ngập. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao (38,9% diện tích)(10). Hiện nay, diện tích đất gieo trồng của Việt Nam là khoảng 9,4 triệu héc-ta (trong đó có 4 triệu héc-ta đất trồng lúa). Nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng hơn 2 triệu héc-ta đất trồng lúa (khoảng 50%)(11). Điều này đồng nghĩa với việc người dân mất đất sản xuất, mất đi sinh kế, kéo theo đó là gia tăng nghèo, đói. Theo số liệu của Tổng cục Thủy lợi, vụ đông - xuân năm 2015 - 2016 có 104.000ha lúa bị ảnh hưởng nặng đến năng suất do xâm nhập mặn, chiếm 11% số diện tích gieo trồng của 8 tỉnh ven biển(12). Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhiễm mặn ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và giảm năng suất lúa, trung bình giảm tới 20% - 25%, thậm chí tới 50%. Người dân trồng lúa, trồng cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản đứng trước nguy cơ bị mất sinh kế, mất việc làm, mất thu nhập và rất có thể sẽ bị buộc phải trở thành người dân “tị nạn môi trường”, những người buộc phải di cư kiếm sống do không thể canh tác trên chính mảnh đất của mình… 

Phát triển bền vững vừa là nhu cầu cấp bách, vừa là xu thế tất yếu của phát triển xã hội. Trong hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng to lớn tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trong những năm tới, để giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mục tiêu phát triển bền vững, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế. Xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phù hợp với những định hướng lớn được Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”(13). Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tìm kiếm lợi nhuận một cách thân thiện với môi trường và được UNEP quan niệm là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người, công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro về môi trường và khủng hoảng sinh thái. Thực chất của xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là làm giảm phát thải các-bon, giảm phát thải nhà kính, tiết kiệm tài nguyên, góp phần làm giảm các xung đột về môi trường. Đồng thời, cần chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên hệ sinh thái, tôn trọng các quy luật tự nhiên. Theo đó, chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phương thức canh tác phù hợp với đặc điểm sinh thái của các vùng và địa phương nhằm chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; chuyển đổi sinh kế, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, tăng cường hệ thống bảo hiểm rủi ro trong nông nghiệp, thủy sản, đặc biệt là các khu vực dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu.

Thứ hai, chủ động thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 5-12-2011; đồng thời, “xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu; dự báo, cảnh báo thiên tai… Huy động, ưu tiên các nguồn lực, thực hiện đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình để bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao năng lực nghiên cứu, giám sát biến đổi khí hậu, dự báo khí tượng, thủy văn và cảnh báo thiên tai; năng lực chủ động phòng, tránh, giảm nhẹ, năng lực chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu”(14).

Thứ ba, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng, trồng rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Đây là nhiệm vụ thiết yếu cung cấp nguồn sống cho con người, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phát triển, cân bằng sinh thái thiên nhiên trên Trái đất và tạo sự thịnh vượng, phát triển bền vững của loài người... Do vậy, cần thực hiện tốt nhiệm vụ: “Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng rừng trồng, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển”(15). Thực hiện hiệu quả Quyết định số 524/QĐ-TTg, ngày 1-4-2021, của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Đề án “Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025”; trong đó, 690 triệu cây xanh trồng phân tán ở khu đô thị và vùng nông thôn; 310 triệu cây trồng tập trung trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng rừng sản xuất, nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện cảnh quan, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ tư, biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng trên diện rộng, tác động mang tính xuyên vùng, xuyên quốc gia, vì vậy, cần tiếp tục duy trì mối quan hệ bền vững với các đối tác truyền thống và mở rộng hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế về biến đổi khí hậu. Tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để thực hiện các chương trình, dự án bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu trong huy động nguồn vốn, tăng cường năng lực khoa học - công nghệ. Thúc đẩy hợp tác với các đối tác song phương, các tổ chức quốc tế và các đối tác đa phương khác, tìm kiếm cơ hội tiếp nhận hỗ trợ tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Thứ năm, các chiến lược quốc gia về phòng, chống biến đổi khí hậu nhằm phát triển bền vững chỉ có thể thành công nếu như khuyến khích được sự tham gia của các ngành, các cấp, các địa phương và các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp. Do đó, cần tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người dân, đặc biệt là cần sử dụng những kênh truyền thông và thông điệp truyền thông thích hợp đối với các “nhóm” dễ bị tổn thương, như phụ nữ và trẻ em gái, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, những người sống ở vùng sâu, vùng xa và khu vực dễ bị thiên tai…, về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự an toàn và sinh kế của họ (cũng như của thế hệ tương lai). Đồng thời, huy động được đông đảo các đối tượng, tầng lớp tham gia hành động để thực hiện hiệu quả chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững./.

Thủ tướng: Giữ vững hòa bình, duy trì ổn định phải được coi là quan tâm hàng đầu của ASEAN và Hoa Kỳ.

 Tối ngày 12-5 (giờ địa phương), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng Lãnh đạo các nước ASEAN dự Tiệc chiêu đãi do Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden chủ trì tại Nhà Trắng.




Tổng thống Hoa Kỳ Joseph Robinette Biden Jr. và Thủ tướng Phạm Minh Chính lại buổi lễ - Ảnh: VGP.

Tổng thống Biden bày tỏ vui mừng và hân hạnh được chào đón các nhà Lãnh đạo ASEAN, coi đây là cơ hội tuyệt vời để các bên cùng đánh giá và định hướng quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ. Đặc biệt, sự kiện này diễn ra vào thời điểm đầy ý nghĩa, hai bên kỷ niệm 45 năm quan hệ.

Các nhà lãnh đạo nhất trí quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ phát triển năng động, mạnh mẽ trong 45 năm, cùng vượt qua không ít thử thách và đạt được nhiều thành quả quan trọng trong hợp tác trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, văn hóa - xã hội và hợp tác phát triển. Cả ASEAN và Hoa Kỳ đều khẳng định coi trọng vai trò của nhau cũng như tầm quan trọng của mối quan hệ đối tác ASEAN - Hoa Kỳ với hoà bình, an ninh, hợp tác và phát triển thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các nhà Lãnh đạo ASEAN dự tiệc chiêu đãi của Tổng thống Hoa Kỳ - Ảnh: VGP.

Tổng thống Biden khẳng định coi trọng và mong muốn nâng tầm quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ và cam kết ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và Quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP). Tổng thống Hoa Kỳ công bố gói các sáng kiến trị giá hơn 150 triệu đô-la Mỹ để từ đó thu hút khu vực tư nhân đầu tư hàng tỷ đô-la Mỹ vào các dự án hợp tác trong các lĩnh vực như trao đổi thương mại - đầu tư, ổn định chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực y tế, hợp tác biển, phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển bền vững.

Lãnh đạo các nước ASEAN đánh giá cao và trông đợi Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác tích cực, xây dựng cùng ASEAN thúc đẩy đối thoại, hợp tác, chung tay xử lý hiệu quả các thách thức tại khu vực. ASEAN cũng mong muốn, bên cạnh kinh tế, thương mại, hai bên sẽ mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng bền vững, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống như dịch bệnh, biến đổi khí hậu…

Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao ý nghĩa Hội nghị, thể hiện rõ nét cam kết hai bên đồng hành cùng hướng tới hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung. Nhìn lại 45 năm, Hoa Kỳ, cường quốc hàng đầu thế giới và ASEAN, khu vực có nền kinh tế phát triển năng động bậc nhất đã phối hợp rất tích cực trên tinh thần tôn trọng luật pháp và vai trò trung tâm ASEAN, từ đó xây dựng nền tảng cho lòng tin, cùng xây dựng cấu trúc khu vực mở, minh bạch, bao trùm và dựa trên luật pháp quốc tế. Cùng với đó, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư phát triển mạnh mẽ và là sợi dây gắn kết tình hữu nghị nhân dân ngày càng bền chặt. Với những thành quả đó, Thủ tướng khẳng định đây là thời điểm phù hợp để ASEAN và Hoa Kỳ cùng bàn tới các mốc phát triển mới, tốt đẹp hơn.

Chia sẻ về định hướng quan hệ hai bên, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh giữ vững hòa bình, duy trì ổn định phải được coi là quan tâm hàng đầu của cả ASEAN lẫn Hoa Kỳ. Thủ tướng trông đợi Hoa Kỳ luôn ủng hộ ASEAN giữ vai trò trung tâm trong các tiến trình ở khu vực châu Á - Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương; cùng đóng góp xây dựng đường hướng mới cho các khuôn khổ hợp tác do ASEAN chủ trì, tạo môi trường cân bằng, hài hòa ở khu vực; cùng ASEAN đối thoại chân thành trên cơ sở lòng tin và trách nhiệm, ủng hộ giải quyết các khác biệt, bất đồng, dựa trên các biện pháp hoà bình, phù hợp luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hiệp quốc và Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

Nhấn mạnh nhu cầu khôi phục dòng chảy thương mại, đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tiếp theo, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam sẽ áp dụng những biện pháp tốt nhất hỗ trợ các nhà đầu tư, doanh nghiệp Hoa Kỳ, nhanh chóng mở rộng kinh doanh tại thị trường Việt Nam, kết nối với thị trường ASEAN đầy tiềm năng.

Thủ tướng cũng đề nghị Hoa Kỳ với kinh nghiệm và nguồn lực của mình, hỗ trợ ASEAN phát triển xanh và bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, phát triển năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường, đẩy nhanh các nỗ lực phục hồi toàn diện và bền vững. ASEAN cũng trông đợi Hoa Kỳ thúc đẩy các sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ Đối tác Mê Kông - Hoa Kỳ, góp phần bảo đảm chất lượng phát triển, hỗ trợ phát triển đồng đều và bền vững tại khu vực.

Trước những tác động và hệ lụy phức tạp của các thách thức phi truyền thống, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần xây dựng cách tiếp cận toàn cầu trong giải quyết các vấn đề toàn cầu. Các nước ASEAN mong tiếp tục nhận sự hợp tác và hỗ trợ của Hoa Kỳ củng cố và nâng cao năng lực y tế, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ sản xuất vắc-xin, đồng thời ứng phó hiệu quả với các thách thức khác như suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu,…

Nhìn về tương lai, Thủ tướng bày tỏ lạc quan về sự bứt phá mạnh mẽ của quan hệ chiến lược ASEAN - Hoa Kỳ, và khẳng định Việt Nam sẽ tích cực đóng góp nâng tầm quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững của các nước ASEAN và Hoa Kỳ, cũng như cả khu vực và thế giới.

Các nhà Lãnh đạo ASEAN và Hoa Kỳ nhất trí ủng hộ thiết lập Đối tác Chiến lược Toàn diện và bày tỏ trông đợi mối quan hệ này phát triển thực chất, hiệu quả và cùng có lợi.

Dự kiến Hội nghị Cấp cao Đặc biệt ASEAN - Hoa Kỳ sẽ diễn ra trong ngày 13-5 với các phiên làm việc giữa Tổng thống Biden, Phó Tổng thống Harris với Lãnh đạo các nước ASEAN.

 Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Campuchia lần thứ nhất

Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất được tổ chức tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (Việt Nam) và huyện Snoul, tỉnh Kratie (Campuchia).

*Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5

Đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu và đoàn đại biểu Campuchia do Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Samdech Pichey Sena Tea Banh dẫn đầu cùng tham dự giao lưu.

Trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, thiết thực, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước, như: Chào cột mốc chủ quyền, trồng cây hữu nghị, chứng kiến tuần tra chung của lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, khánh thành Trạm Y tế Quân dân y hữu nghị Việt Nam-Campuchia, thăm và tặng quà học sinh tại các trường học Việt Nam và Campuchia...

Cũng tại giao lưu, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước sẽ tiến hành hội đàm nhằm đánh giá tình hình thế giới, khu vực, kết quả hợp tác quốc phòng song phương thời gian qua và phương hướng hợp tác quốc phòng song phương thời gian tới.

Chào mừng ngài Quốc vụ khanh Thường trực và đoàn Bộ Quốc phòng Campuchia sang Việt Nam tham dự Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh, đối thoại lần này có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra ngay trước thềm Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất. Kết quả đối thoại sẽ được báo cáo lên hai Bộ trưởng để xem xét quyết định tại cuộc hội đàm trong khuôn khổ chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất giữa hai nước.*Chiều 14/5, tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (tỉnh Bình Phước) đã diễn ra Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng đoàn Việt Nam và Đại tướng Neang Phat, Quốc vụ khanh Thường trực Bộ Quốc phòng Campuchia, Trưởng đoàn Campuchia đồng chủ trì đối thoại.

Đây cũng là một hoạt động trọng điểm trong “Năm hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam 2022”, kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (24/6/1967 - 24/6/2022); kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022).

Đại tướng Neang Phat cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Việt Nam, đồng thời đánh giá cao công tác chuẩn bị Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 của Bộ Quốc phòng Việt Nam. Đại tướng Neang Phat khẳng định, Campuchia luôn coi trọng thúc đẩy quan hệ với Việt Nam.

Đại tướng Neang Phat cũng nhất trí với ý kiến của Trưởng đoàn Việt Nam về tầm quan trọng của việc tổ chức Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 ngay trước thềm Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất.

Tại đối thoại, hai bên trao đổi về tình hình thế giới, khu vực và những vấn đề cùng quan tâm; hai bên thống nhất đánh giá, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực hiện đang có nhiều biến động phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn, trong đó có thách thức an ninh biển; nhấn mạnh hai nước cần tăng cường hợp tác cùng nhau giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Hai bên chia sẻ nhận thức chung về những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, sự nổi lên của các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đang đặt ra những thách thức lớn đối với hòa bình, ổn định ở khu vực, thế giới. Hai trưởng đoàn nhấn mạnh, trong bối cảnh đó, ASEAN tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực, thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia nội khối cũng như các đối tác bên ngoài vì hòa bình, ổn định khu vực.

Hai bên đánh giá cao kết quả hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian qua. Hai trưởng đoàn khẳng định, dịch Covid-19 bùng phát ảnh hưởng trên mọi lĩnh vực, tuy nhiên hợp tác giữa quân đội hai nước vẫn đạt được những kết quả tích cực.

Hai bên tiếp tục duy trì gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao với các hình thức linh hoạt; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác về công tác tuyên truyền, giáo dục về quan hệ hữu nghị hai nước, hai quân đội; tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia; phối hợp bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực biên giới hai nước, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thăm hỏi lẫn nhau, đầu tư, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; duy trì tốt tuần tra chung giữa Cảnh sát biển, Hải quân hai nước; thúc đẩy hợp tác quân y, đào tạo...

Về phương hướng hợp tác trong thời gian tới, hai bên thống nhất thúc đẩy các nội dung hợp tác: Phối hợp triển khai hiệu quả Kế hoạch tổ chức các hoạt động trong “Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam 2022”; tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp với hình thức phù hợp, duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương hiện nay, nhất là Đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giữa các lực lượng quản lý biên giới thông qua các hình thức như: Giao lưu, kết nghĩa, chia sẻ thông tin, tuần tra chung, phòng, chống, trấn áp tội phạm, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép; phối hợp phòng, chống dịch bệnh; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai nước nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa hai Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước nhân dịp các ngày lễ, các sự kiện chính trị lớn của hai nước và hai quân đội; nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo; hợp tác chặt chẽ trong các cơ chế, diễn đàn đa phương...

Nhân dịp này, Trưởng đoàn Việt Nam chúc mừng Bộ Quốc phòng và Quân đội Hoàng gia Campuchia vừa qua đã chủ trì rất thành công các hội nghị ASEAN theo hình thức trực tiếp (sau hai năm bị ảnh hưởng do dịch Covid-19, các hội nghị phải tổ chức trực tuyến). Trưởng đoàn Việt Nam khẳng định, Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ để Campuchia đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2022.

Nguồn: qdnd.vn

 Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Campuchia lần thứ nhất

Hôm nay (15/5), Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất được tổ chức tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (Việt Nam) và huyện Snoul, tỉnh Kratie (Campuchia).

*Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5

Đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu và đoàn đại biểu Campuchia do Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Samdech Pichey Sena Tea Banh dẫn đầu cùng tham dự giao lưu.

Trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, thiết thực, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước, như: Chào cột mốc chủ quyền, trồng cây hữu nghị, chứng kiến tuần tra chung của lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, khánh thành Trạm Y tế Quân dân y hữu nghị Việt Nam-Campuchia, thăm và tặng quà học sinh tại các trường học Việt Nam và Campuchia...

Cũng tại giao lưu, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước sẽ tiến hành hội đàm nhằm đánh giá tình hình thế giới, khu vực, kết quả hợp tác quốc phòng song phương thời gian qua và phương hướng hợp tác quốc phòng song phương thời gian tới.

Chào mừng ngài Quốc vụ khanh Thường trực và đoàn Bộ Quốc phòng Campuchia sang Việt Nam tham dự Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh, đối thoại lần này có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra ngay trước thềm Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất. Kết quả đối thoại sẽ được báo cáo lên hai Bộ trưởng để xem xét quyết định tại cuộc hội đàm trong khuôn khổ chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất giữa hai nước.*Chiều 14/5, tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (tỉnh Bình Phước) đã diễn ra Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng đoàn Việt Nam và Đại tướng Neang Phat, Quốc vụ khanh Thường trực Bộ Quốc phòng Campuchia, Trưởng đoàn Campuchia đồng chủ trì đối thoại.

Đây cũng là một hoạt động trọng điểm trong “Năm hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam 2022”, kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (24/6/1967 - 24/6/2022); kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022).

Đại tướng Neang Phat cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Việt Nam, đồng thời đánh giá cao công tác chuẩn bị Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 của Bộ Quốc phòng Việt Nam. Đại tướng Neang Phat khẳng định, Campuchia luôn coi trọng thúc đẩy quan hệ với Việt Nam.

Đại tướng Neang Phat cũng nhất trí với ý kiến của Trưởng đoàn Việt Nam về tầm quan trọng của việc tổ chức Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 ngay trước thềm Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất.

Tại đối thoại, hai bên trao đổi về tình hình thế giới, khu vực và những vấn đề cùng quan tâm; hai bên thống nhất đánh giá, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực hiện đang có nhiều biến động phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn, trong đó có thách thức an ninh biển; nhấn mạnh hai nước cần tăng cường hợp tác cùng nhau giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Hai bên chia sẻ nhận thức chung về những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, sự nổi lên của các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đang đặt ra những thách thức lớn đối với hòa bình, ổn định ở khu vực, thế giới. Hai trưởng đoàn nhấn mạnh, trong bối cảnh đó, ASEAN tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực, thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia nội khối cũng như các đối tác bên ngoài vì hòa bình, ổn định khu vực.

Hai bên đánh giá cao kết quả hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian qua. Hai trưởng đoàn khẳng định, dịch Covid-19 bùng phát ảnh hưởng trên mọi lĩnh vực, tuy nhiên hợp tác giữa quân đội hai nước vẫn đạt được những kết quả tích cực.

Hai bên tiếp tục duy trì gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao với các hình thức linh hoạt; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác về công tác tuyên truyền, giáo dục về quan hệ hữu nghị hai nước, hai quân đội; tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia; phối hợp bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực biên giới hai nước, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thăm hỏi lẫn nhau, đầu tư, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; duy trì tốt tuần tra chung giữa Cảnh sát biển, Hải quân hai nước; thúc đẩy hợp tác quân y, đào tạo...

Về phương hướng hợp tác trong thời gian tới, hai bên thống nhất thúc đẩy các nội dung hợp tác: Phối hợp triển khai hiệu quả Kế hoạch tổ chức các hoạt động trong “Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam 2022”; tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp với hình thức phù hợp, duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương hiện nay, nhất là Đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giữa các lực lượng quản lý biên giới thông qua các hình thức như: Giao lưu, kết nghĩa, chia sẻ thông tin, tuần tra chung, phòng, chống, trấn áp tội phạm, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép; phối hợp phòng, chống dịch bệnh; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai nước nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa hai Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước nhân dịp các ngày lễ, các sự kiện chính trị lớn của hai nước và hai quân đội; nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo; hợp tác chặt chẽ trong các cơ chế, diễn đàn đa phương...

Nhân dịp này, Trưởng đoàn Việt Nam chúc mừng Bộ Quốc phòng và Quân đội Hoàng gia Campuchia vừa qua đã chủ trì rất thành công các hội nghị ASEAN theo hình thức trực tiếp (sau hai năm bị ảnh hưởng do dịch Covid-19, các hội nghị phải tổ chức trực tuyến). Trưởng đoàn Việt Nam khẳng định, Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ để Campuchia đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2022.

Nguồn: qdnd.vn

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

NÊU CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG

 Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết mang quan điểm

sai trái của các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc đường lối, chính sách

đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhất là sau cuộc bỏ phiếu tại Liên hợp quốc về

vấn đề cuộc chiến giữa Nga và Ucraina.