Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2022

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại ĐH Harvard (Hoa Kỳ)

Nhân dịp tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, thăm và làm việc tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc, chiều 14/5 theo giờ địa phương, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thăm, phát biểu và dự tọa đàm chính sách tại Đại học Harvard, thành phố Boston, bang Massachusetts.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Đại học  Harvard.

Mở đầu sự kiện, Giáo sư Thomas J. Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam, Trường Harvard Kennedy cho biết Harvard đã thực hiện đối thoại chính sách với phía Việt Nam trong 3 thập kỷ qua, chú trọng vào việc góp phần giải quyết những thách thức lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt trong từng giai đoạn. Giáo sư cho biết các cử tọa rất muốn lắng nghe những quan điểm của Thủ tướng Phạm Minh Chính về những thách thức mới mà Việt Nam phải đối mặt trong giai đoạn phát triển mới.

Hiệu trưởng Trường chính sách công Kennedy, Đại học Harvard, ông Douglas Elmendorf cũng bày tỏ mong muốn lắng nghe những phát biểu của Thủ tướng về triết lý, tầm nhìn và chiến lược phát triển của Việt Nam. Ông cũng nhắc lại những kinh nghiệm rất thành công của Thủ tướng trong điều hành tỉnh Quảng Ninh trước khi trở thành lãnh đạo ở Trung ương.

* Việt Nam đánh giá cao việc Hoa Kỳ ủng hộ một Việt Nam hùng mạnh, độc lập và thịnh vượng

Trong bài phát biểu quan trọng tại đây, sau khi điểm lại những kết quả chính của Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, các cuộc làm việc với các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, Thủ tướng đã dành nhiều thời gian phân tích về chủ đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả tại Việt Nam.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tư tưởng rất quan trọng như trong Bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Thủ tướng khẳng định: "Việc tôi có mặt ở đây cũng thể hiện tư tưởng độc lập, tự chủ cho hai dân tộc; thể hiện tầm nhìn, mối quan hệ giữa hai nước chúng ta đã được tuyên bố năm 2015 khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Hoa Kỳ".

Thủ tướng nhắc lại, ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thể hiện mong muốn thiết lập quan hệ đối tác bình đẳng, toàn diện với Hoa Kỳ trong những bức thư gửi tới chính quyền Hoa Kỳ năm 1946. Đặc biệt, trong bức thư ngày 16/2/1946 gửi Tổng thống Harry Truman, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ".

Theo Thủ tướng, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trải qua những thăng trầm và đột phá, từ khi bắt đầu bình thường hóa quan hệ năm 1995, đã không ngừng phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Mối quan hệ toàn diện này vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Trong 27 năm kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ, đã có 4 vị Tổng thống Hoa Kỳ liên tiếp đến thăm Việt Nam và để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân hai nước. Việt Nam và Hoa Kỳ đã vượt qua được những khác biệt và đạt được những nguyên tắc nền tảng cho quan hệ hai nước, như đã được khẳng định trong Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam-Hoa Kỳ khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ vào năm 2015, trong đó nhấn mạnh tôn trọng "thể chế chính trị, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau". Việt Nam đánh giá cao trong những năm qua Hoa Kỳ luôn ủng hộ một Việt Nam hùng mạnh, độc lập và thịnh vượng.

Thủ tướng Chính phủ và đoàn công tác thăm trường Harvard . 

* Về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế

Thủ tướng nêu rõ, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thế giới hiện nay.

Trong đó, Việt Nam khẳng định chủ trương nhất quán là kiên định đường lối đổi mới, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của doanh nghiệp, đối tác đầu tư, kinh doanh lâu dài, hiệu quả, bền vững trên nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro và tuân thủ pháp luật. Việt Nam mong muốn là bạn tốt, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề khu vực, quốc tế và những thách thức toàn cầu vì sự thịnh vượng chung.

Nhờ đường lối đổi mới, đặc biệt là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, từ một nền kinh tế kém phát triển, sau hơn 35 năm đổi mới Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

Theo đó, quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, năm 2021 đạt trên 362 tỷ USD (so với 4,2 tỷ USD năm 1986); GDP bình quân đầu người đạt gần 3.700 USD, tăng khoảng 26 lần so với năm 1990 (142 USD). Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong ASEAN; một trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; là nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản đứng đầu thế giới; có mạng lưới 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực. An sinh xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn 2,2% năm 2021.

Giải thích vì sao phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, Thủ tướng cho rằng, thời gian gần đây, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, khó đoán định trên nhiều phương diện như cạnh tranh chiến lược, xung đột diễn ra gay gắt; rủi ro tài chính, tiền tệ quốc tế và đứt gãy chuỗi cung ứng gia tăng; phản ứng với mặt trái của toàn cầu hóa, các vấn đề về an ninh truyền thống và phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, già hóa dân số, cạn kiệt tài nguyên, an ninh năng lượng, lương thực, an ninh mạng, an ninh con người…

Bối cảnh đó đòi hỏi các nước phải chú trọng hơn đến xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giảm thiểu tác động trước những cú sốc từ bên ngoài trong quá trình hội nhập; trong đó, khẳng định xu hướng độc lập, tự chủ không có nghĩa là đóng cửa, tự cung, tự cấp mà gắn liền với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế.

Xu hướng chung và mong muốn của hầu hết các nước, nhất là những nước đang phát triển là hướng tới xây dựng nền tảng kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh, đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với hội nhập quốc tế nhằm vươn lên thoát khỏi "bẫy thu nhập trung bình", trở thành nước phát triển.

Thực tiễn cho thấy, để thành công, mỗi nước đều cần cách làm, lộ trình, bước đi phù hợp gắn với đặc điểm, điều kiện cụ thể; nhưng cần đặc biệt lưu ý một số yêu cầu mang tính phổ quát. Theo đó, độc lập, tự chủ về kinh tế gắn liền với độc lập, tự chủ về chính trị, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Việc tôn trọng sự khác biệt về điều kiện, đặc điểm chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa, xã hội sẽ góp phần tạo ra sự đa dạng, phong phú của kinh tế toàn cầu và lợi thế quốc gia. Cùng với đó, phải tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng các quốc gia dựa trên Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế.

Phân tích thêm về sự cần thiết phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam, Thủ tương nêu rõ, đây là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới đã dành cả đời mình phấn đấu cho nền độc lập dân tộc của Việt Nam với tinh thần "không có gì quý hơn độc lập, tự do" gắn liền với "mở cửa và hợp tác" quốc tế.

Thủ tướng đã nêu các dẫn chứng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong Lời kêu gọi LHQ vào tháng 12/1946 và trong thư gửi Tổng thống Harry Truman đề ngày 18/1/1946.

Thủ tướng khẳng định, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng là chủ trương nhất quán, kiên định, xuyên suốt của Việt Nam từ khi giành được độc lập dân tộc vào năm 1945, đặc biệt trong 35 năm đổi mới, nhất là từ đầu những năm 1990 khi Chiến tranh lạnh kết thúc và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Việt Nam vừa hội nhập sâu rộng, vừa nỗ lực vươn lên, nâng cao năng lực nội tại, ứng phó linh hoạt, hiệu quả với các cú sốc từ bên ngoài như: khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, đại dịch COVID-19 từ năm 2020 đến nay.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng xuất phát từ 3 lý do chủ yếu: để góp phần giải quyết những vấn đề lớn đặt ra đối với Việt Nam; để bảo đảm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia; giúp nâng cao thực lực, tiềm lực cho hội nhập sâu rộng, hiệu quả trong hệ thống kinh tế toàn cầu và thực hiện tốt các cam kết quốc tế.

* Những giải pháp lớn để hiện thực hóa mục tiêu phát triển

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, quan điểm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng đã được xác định rõ, là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp của Việt Nam. Thủ tướng nêu rõ mục tiêu chiến lược phát triển đất nước của Việt Nam là đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045: trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nêu trên, mục tiêu chính của việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là: Xây dựng nền kinh tế có cơ cấu hợp lý, hiệu quả, bền vững. Nâng cao sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; thích ứng linh hoạt, hiệu quả với những biến động tình hình quốc tế, khu vực và trong nước. Tận dụng tốt các cơ hội từ hội nhập quốc tế, tạo động lực thúc đẩy phục hồi nhanh trong ngắn hạn và phát triển bền vững trong trung và dài hạn. Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng đến tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống người dân, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: "không 'hy sinh' tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần".

Về những tư tưởng chủ đạo, Thủ tướng nhấn mạnh, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, dựa trên 3 trụ cột là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

 Xác định rõ con người là trung tâm, là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Phát huy tối đa trí tuệ, tài năng và năng lực, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trên cơ sở các yếu tố nền tảng, trụ cột chính là con người, thiên nhiên và truyền thống lịch sử, văn hoá. Phát huy tinh thần đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh và đạo đức con người Việt Nam. Xây dựng và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, để thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển; trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá, thường xuyên; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển hóa ngoại lực thành nội lực. Tăng cường huy động các nguồn lực xã hội dưới hình thức hợp tác công tư, nhất là cho đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội.

Tập trung thực hiện và tạo chuyển biến rõ nét trong 3 đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng, trong đó chú trọng tạo đột phá về thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, Thủ tướng nhắc tới một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trong đó, trước hết là giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị-xã hội, tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đồng bộ, hiện đại, hội nhập, phù hợp với các cam kết quốc tế. Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, hội nhập sâu rộng, thực chất. Tập trung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, tiết kiệm tài nguyên, tăng trưởng xanh. Huy động mọi nguồn lực xã hội, phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Phát triển nguồn nhân lực và quản trị quốc gia hiện đại.

Kết thúc bài phát biểu, Thủ tướng đánh giá cao kết quả hoạt động của Đại học Fulbright và Chương trình Lãnh đạo quản lý cấp cao (VELP) do Đại học Harvard và các cơ quan Chính phủ Việt Nam phối hợp triển khai. Thủ tướng bày tỏ Việt Nam mong muốn nhân rộng mô hình này với các trường đại học nổi tiếng khác của Hoa Kỳ và thế giới, với cách làm mới hơn, hiệu quả hơn.

Phần thuyết trình của Thủ tướng Phạm Minh Chính được các học giả, chuyên gia chăm chú lắng nghe, tiếp nhận. Sau phần thuyết trình của Thủ tướng, các vị Bộ trưởng, thành viên đoàn công tác đã phát biểu, tham gia chương trình tọa đàm với các giáo sư Đại học Harvard về định hướng phát triển của Việt Nam.

Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 - Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những điều kiện tiên quyết của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ trong thời gian tới.

Yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong Nhà nước pháp quyền

Theo quan niệm phổ biến, ý thức pháp luật là hệ thống tri thức, quan điểm, học thuyết về pháp luật thể hiện qua nhận thức, tư tưởng, ý chí, tình cảm, niềm tin, thái độ, sự đánh giá của con người (cá nhân, tổ chức, xã hội) về sự cần có của pháp luật, về bản chất và giá trị, tính đúng đắn, hợp lý, công bằng của pháp luật trong quá khứ, của pháp luật hiện hành và pháp luật cần phải có, về các mối quan hệ giữa pháp luật với hành vi của các chủ thể pháp luật trong các quan hệ pháp luật cụ thể(1). Ý thức pháp luật phản ánh quan điểm, trình độ nhận thức, sự hiểu biết, hệ thống tri thức về pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật cũng như thái độ, phản ứng của chủ thể đối với việc thực hiện pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác. Ý thức pháp luật bao gồm tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Tư tưởng pháp luật phản ánh thông qua quan điểm, quan niệm, sự hiểu biết, nhận thức của cá nhân về pháp luật. Tâm lý pháp luật biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác(2).

Để Nhà nước tổ chức và hoạt động, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật (khoản 1, Điều 8, Hiến pháp năm 2013), ngoài yêu cầu phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thì đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần hội đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân vì sự phát triển bền vững của đất nước; tôn trọng pháp luật, có tình cảm và thái độ đúng đắn đối với pháp luật, tự giác và nghiêm túc chấp hành, tuân thủ, bảo vệ pháp luật, có tinh thần đấu tranh chống lại các hành vi coi thường và vi phạm pháp luật, thể hiện tâm lý pháp luật tích cực. Ngược lại, nếu cán bộ, công chức, viên chức không có niềm tin, không đồng tình với pháp luật hoặc không ủng hộ giải quyết vấn đề theo pháp luật thì sẽ phản ứng tiêu cực bằng cách không hành động hoặc phản đối, không tôn trọng pháp luật, người đại diện có thẩm quyền thực thi pháp luật. Nếu thiếu kiến thức pháp luật thì cán bộ, công chức, viên chức khó có thể hướng dẫn, tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân.

Lãnh đạo Bộ Công an kiểm tra việc triển khai cấp căn cước công dân lưu động trên địa bàn thành phố Hà Nội, tháng 12-2020_Ảnh: TTXVN

Ý thức pháp luật đối với người lãnh đạo, quản lý rất quan trọng. Người càng có nhiều mối quan hệ xã hội thì càng bị ràng buộc bởi nhiều quy tắc xử sự. Quyền hạn càng nhiều thì trách nhiệm càng lớn. Đằng sau mỗi quyết sách chính trị, công vụ là sự ràng buộc, trách nhiệm và rủi ro pháp lý. An toàn pháp lý trong quản lý chỉ có được khi người quản lý hành động và quyết định một cách hợp pháp. Việc xử lý hậu quả sẽ phức tạp và mất thời gian hơn nhiều so với thực hiện pháp luật ngay từ đầu một cách hợp pháp. Hơn nữa, khi vi phạm, người cán bộ bị giảm sút uy tín và mất niềm tin của nhân dân. Vì vậy, muốn tránh được các rủi ro pháp lý thì người cán bộ, công chức, viên chức phải có ý thức pháp luật, tôn trọng, nghiêm túc thực hiện, chấp hành và tuân thủ pháp luật.

Thực trạng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức

Một là, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Tư tưởng pháp luật là tiền đề, ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Xây dựng pháp luật bao gồm nhiều bước với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của họ về nội dung của chính sách, về cách thức và kỹ thuật xây dựng pháp luật, về nội dung điều chỉnh của pháp luật và sử dụng các nguồn luật. Hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay ngày càng được hoàn thiện, do ý thức pháp quyền ngày càng nâng cao và sự nỗ lực của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tích cực tham gia xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng pháp luật cũng còn một số hạn chế nhất định, như một số nội dung trong chủ trương của Đảng về công tác cán bộ chưa được thể chế hóa kịp thời; một số quy định trong hệ thống pháp luật thiếu thống nhất với nhau, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn... Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm nêu trên, trong đó có sự nhận thức chưa sâu sắc, thiếu thống nhất một số chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng còn hạn chế…(3).

Hai là, ý thức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện pháp luật.

Ý thức thi hành (chấp hành), áp dụng, sử dụng, tuân thủ pháp luật là nội dung quan trọng nhất trong ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Ý thức pháp luật thấp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiệu quả thực hiện pháp luật thấp. Thông qua hành động thực hiện pháp luật của họ, pháp luật đã hiện thực và phát huy vai trò trong cuộc sống. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức nhận thức rõ nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, có ý thức tổ chức kỷ luật. Ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong thời gian qua đã có chuyển biến tích cực. Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội. Điều này góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương, phép nước có nơi còn bị xem nhẹ. Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời. Ý thức chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật vẫn còn hạn chế. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp. Một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước(4).

Ba là, ý thức bảo vệ pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức.

Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước đều hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, có ý thức bảo vệ pháp luật. Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của tổ chức, cá nhân. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, hạn chế các trường hợp khởi tố oan và bỏ lọt tội phạm là đáng ghi nhận. Qua đó cho thấy, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, tạm giữ, tạm giam, thi hành án ngày càng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật(5). An ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Những kết quả đó phản ánh sự cố gắng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, của đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp trong công tác bảo vệ pháp luật.

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa tuyên án tại một phiên tòa_Ảnh: TTXVN

Cùng với các thành tựu nêu trên, cũng còn một số hạn chế trong ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ pháp luật. Đó là việc xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Công tác tuyên truyền, phòng ngừa tội phạm một số nơi còn hình thức. Một số cán bộ thực thi pháp luật có ý thức kỷ luật kém, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Vẫn còn một số quyết định không khởi tố vụ án bị hủy, quyết định khởi tố vụ án thiếu căn cứ pháp luật, bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung do vi phạm tố tụng. Một số trường hợp oan, kháng nghị phúc thẩm có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận. Những khuyết điểm nêu trên một phần do nhận thức, đánh giá không đúng về hành vi, mức độ phạm tội, sai sót trong áp dụng pháp luật và do cố ý, với động cơ vụ lợi của một số cán bộ tư pháp.  

Tiếp tục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức

Ý thức pháp luật hình thành từ sự tự giác của cán bộ, công chức, viên chức; nhưng tiền đề, điều kiện để xây dựng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh. Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền; nâng cao năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra(6). Cùng với nâng cao năng lực xây dựng thể chế, cần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong thực thi chức trách, nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải giữ vững nguyên tắc luật định, có kỹ năng sử dụng pháp luật, chọn lọc, tiếp thu và phản biện, vận dụng sáng tạo và áp dụng linh hoạt pháp luật để vừa đạt được mục đích trong giải quyết công việc nhưng vẫn bảo đảm tính hợp pháp của quá trình ra quyết định.

Cần bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật để công lý và trật tự pháp quyền được thực thi; bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Pháp luật nghiêm minh tạo niềm tin và sự tôn trọng của cán bộ, công chức, viên chức đối với pháp luật; đồng thời răn đe, phòng ngừa làm cho họ không dám vi phạm pháp luật. Sự nghiêm minh của pháp luật đòi hỏi các hành vi vi phạm cần được xử lý kịp thời, triệt để, xác định đúng người, đúng hành vi vi phạm, không có ngoại lệ và vùng cấm, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho cán bộ, công chức, viên chức.

Để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, cán bộ, công chức, viên chức phải tự trang bị cho mình kiến thức, tri thức nền tảng, trong đó có tri thức, hiểu biết về pháp luật, kiến thức, tri thức theo ngành, lĩnh vực chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ được giao. Đổi mới giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý theo yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, có ý thức trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tôn trọng và chấp hành pháp luật. Nhiệm vụ giảng dạy pháp luật, bồi dưỡng pháp lý không chỉ giúp người học hiểu rõ, hiểu đúng pháp luật mà còn trang bị cho người học phương pháp, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề pháp lý, cách tư duy lô-gíc, hệ thống, sáng tạo và liên ngành. Thu hút sự tham gia giảng dạy của các nhà khoa học, luật sư, luật gia, người làm thực tiễn. Trong nội dung đào tạo pháp luật cần tăng hàm lượng tri thức về pháp luật quốc tế, cung cấp cho người học tư duy sáng tạo ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng phó với biến đổi xã hội do tác động của đại dịch COVID-19 và chủ động định hình quá trình chuyển đổi của xã hội, chuyển đổi số. Chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội, tôn trọng và chấp hành pháp luật, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ, công chức, viên chức. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại, đồng thời chú trọng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của hoạt động bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp(7).

Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của các sở, ban, ngành và nhân dân tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng chính trị và ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”, sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, đảng viên. Ngoài ra, để tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức thì cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Phong cách lãnh đạo, quản lý, điều hành, đạo đức, văn hóa ứng xử của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Nếu người đứng đầu biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến tham mưu, tư vấn đúng pháp luật, những ý kiến phản biện hợp lý có tính xây dựng, biết đánh giá đúng năng lực, sở trường của cán bộ, công chức, viên chức, biết động viên, khích lệ, tạo thuận lợi cho họ cống hiến, quan tâm lợi ích và công bằng trong đãi ngộ thì sẽ phát huy được năng lực, sở trường của họ; ngược lại sẽ khiến giảm sút động lực phấn đấu. Nếu người đứng đầu tôn trọng và làm việc đúng pháp luật thì sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho cộng sự và cả hệ thống giúp việc. Vì vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong tôn trọng, chấp hành, tuân thủ và bảo vệ pháp luật, duy trì kỷ luật lao động, nội quy cơ quan, văn hóa công sở.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa công sở văn minh, lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn.

Văn hóa tác động rất lớn đến tâm lý pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng môi trường làm việc văn minh, lành mạnh, kỷ luật, dân chủ, đoàn kết, chân thành, thân thiện, mọi người tự giác làm việc, tôn trọng, tin cậy, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ giá trị và phấn đấu vì mục tiêu chung giúp cho cán bộ, công chức, viên chức có tâm lý thoải mái, yên tâm công tác, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Ngược lại, nếu trong cơ quan có cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật lao động, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, không còn uy tín đối với quần chúng nhưng không bị xử lý kịp thời thì sẽ gây ra phản ứng tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức, giảm niềm tin vào sự nghiêm minh của pháp luật và ảnh hưởng không tốt đến tâm lý pháp luật của họ.

Nhà nước pháp quyền cần có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có ý thức thượng tôn pháp luật. Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân thủ pháp luật vừa là trách nhiệm, sự rèn luyện của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của các cấp ủy, chính quyền các cấp. Việc xây dựng và thực hiện Chiến lược hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, chiến lược pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới cần rất quan tâm nội dung về tăng cường ý thức pháp luật nói chung, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức nói riêng./.

 

Đoàn công tác số 7 dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Gạc Ma

Trong khuôn khổ chuyến thăm Quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK1, sáng 9/5, tại xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà, Đoàn công tác số 7 đã tổ chức Lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài Liệt sĩ chiến sĩ Gạc Ma.

Tham gia Lễ dâng hương có các đồng chí: Chuẩn đô đốc Phạm Văn Quang, Phó Chủ nhiệm Chính trị Hải quân, Trưởng đoàn công tác số 7; Nguyễn Đức Phong, Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương, Phó trưởng Đoàn công tác; đại diện lãnh đạo các cơ quan Trung ương và địa phương cùng 224 đại biểu thuộc 25 bộ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương và phóng viên báo, đài.

Tại Đài Liệt sĩ, Đoàn đã đặt vòng hoa mang dòng chữ “Đoàn công tác số 7 của Bộ Công an, Bộ Nội vụ và các tổ chức, địa phương, đơn vị kính viếng” và tưởng niệm trước anh linh các anh hùng liệt sĩ!

Cách đây hơn 34 năm, ngày 14/3/1988, trong trận hải chiến bảo vệ chủ quyền tại các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa, 64 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ quyền chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng của các anh đã được khắc họa thành cụm tượng đài “Những người nằm lại phía chân trời” kiêu hãnh ở khu tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma (xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa). Đây là một trong những địa chỉ đỏ giáo dục về truyền thống cách mạng, bản lĩnh, ý chí của người chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam kiên trung, thà hy sinh tất cả để bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.


Ghi nhận chiến công và sự hy sinh của các đồng chí, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho các tàu HQ505, 604, 605, những tập thể kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không chịu lùi bước trước sự uy hiếp của quân thù, nắm vững đối sách, dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma. Các anh hùng liệt sĩ như Trung tá Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146; Đại uý Vũ Phi Trừ, Thuyền trưởng tàu HQ605; Thiếu uý Trần Văn Phương, Chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma...; những đảng viên Cộng sản, những cán bộ chỉ huy ưu tú đã tạm gác riêng tư, sẵn sàng hiến dâng tuổi đời thanh xuân và xương máu của mình cho sự trường tồn của quần đảo Trường Sa - mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc.

“Không được lùi bước trước quân thù, phải để máu mình tô thắm thêm là cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của Quân chủng” - câu nói của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương trên đảo Gạc Ma đã trở thành một lời kêu gọi hành động cho cán bộ, chiến sĩ bất chấp mọi hiểm nguy, đoàn kết một lòng, bám trụ kiên cường, chiến đấu, anh dũng hi sinh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo thân yêu của Tổ quốc.

Đến viếng các anh hùng liệt sĩ, trong niềm xúc động sâu sắc và biết ơn vô hạn, các đại biểu trong Đoàn công tác số 7 đã dành một phút mặc niệm các anh hùng liệt sĩ an nghỉ ngàn thu trên vùng biển Trường Sa của Tổ quốc; thể hiện sự quyết tâm bảo vệ và xây dựng huyện đảo Trường Sa trở thành một trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội trên biển của cả nước./

Những điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

  - Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chiến lược, trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Đây là một trong những vấn đề lớn, hệ trọng, liên quan đến vận mệnh, tương lai của dân tộc nên luôn được xác định rõ trong các nghị quyết của Đảng. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán nhiệm vụ đó và bổ sung rõ hơn, rộng hơn, toàn diện hơn về nhiều vấn đề mới, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc với các sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc_Ảnh: TTXVN

Về mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt, nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn cả về nội hàm và phạm vi bảo vệ. Điểm nhấn ở đây được văn kiện lần này chỉ rõ: Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để ứng phó với chiến tranh; mà vấn đề quan trọng và thiết yếu hơn là, tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Bảo vệ phải gắn với xây dựng, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ. Mục tiêu của bảo vệ là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; và, xây dựng, phát triển đất nước sẽ tác động trở lại tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Mục tiêu là, giải quyết mối quan hệ biện chứng sâu sắc giữa việc bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội trong tính chỉnh thể thống nhất; chỉ rõ hướng đích phát triển đất nước là theo định hướng xã hội chủ nghĩa; vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Mục tiêu đó cũng khẳng định rõ lập trường và ý chí của toàn dân tộc quyết tâm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây là quan điểm biện chứng khách quan, cụ thể, lịch sử và phát triển, đáp ứng sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Điểm mới được bổ sung trong văn kiện lần này là việc xác định rõ: Bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Đây là vấn đề mới, quan trọng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản ánh đúng xu thế và đặc điểm tình hình đất nước. Bởi lẽ, con người là vấn đề có tính chiến lược, là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước và bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng cũng hướng đến bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhân dân là vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được tập trung thực hiện. Một điểm mới trong văn kiện lần này là các nội dung, vấn đề trong mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh được đặt trong một tổng thể chung, có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời. Đây là những định hướng quan trọng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới trong tư duy về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(2). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Điều đó thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các “điểm nóng”, các nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng gia tăng và đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia và toàn cầu hiện nay. Thực tế hiện nay, đại dịch COVID-19 đã và đang diễn ra phản ánh rõ tính chất phức tạp và đặc biệt nguy hiểm của an ninh phi truyền thống, mà mọi quốc gia, dân tộc đều phải chung tay giải quyết.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(3). Quan điểm trên thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, nhưng có sự nhấn mạnh rõ hơn là phải: phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đây, nét mới trong phương thức, giải pháp bảo vệ Tổ quốc chính là: Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc.

Một nét mới khác về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đó là việc Đảng ta xác định rõ: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; vừa có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đó là bước phát triển mới về mặt tư duy trong định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp cho cả quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ khác, tạo ra nguồn lực lớn cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.

Cán bộ, chiến sĩ Hải quân vùng 4 chia tay người thân lên đường ra nhận nhiệm vụ tại huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa_Ảnh: TTXVN

Về lực lượng và sức mạnh quốc phòng, an ninh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(4). Sức mạnh tổng hợp tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, là sức mạnh, lực lượng của toàn thể dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Đó còn là sức mạnh bên trong, kết hợp với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, điểm mới trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(5); trong đó, tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”.

Quan điểm trên thể hiện ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt nhiều nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ở văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể là: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng trong thời gian tới để phát triển tiềm lực và sức mạnh của quân đội và công an, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện phải lấy xây dựng lực lượng vững mạnh về chính trị làm cơ sở; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch.

Một điểm mới và điểm nhấn quan trọng nữa là, trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(6). Trải qua quá trình nghiên cứu và tổng kết không ngừng từ thực tiễn, các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện đã được xây dựng một cách tổng thể và đồng bộ. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng, an ninh toàn diện. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

 - Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến những thảm họa thiên tai, môi trường, dịch bệnh là do ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu. Do đó, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững là một trong những vấn đề nhiều quốc gia quan tâm, trong đó có Việt Nam.

Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc, phát triển bền vững “là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” và “Để thực hiện sự phát triển lâu bền, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó”(1). Theo nghĩa đó, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, để phát triển bền vững tất yếu phải bảo vệ môi trường và bảo vệ môi trường phải vì mục tiêu phát triển bền vững.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và lãnh đạo các nước tham gia Tuyên bố rừng và sử dụng đất tại sự kiện “Hành động về rừng và sử dụng đất”.

Nhận thức tầm quan trọng của mối liên hệ này, Đảng ta luôn đề cao bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, mối quan hệ lớn “Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” được bổ sung thêm thành tố: “bảo vệ môi trường”; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2026 tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh và bền vững…; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”(2).

Ngay từ năm 1991, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 - 2000. Tiếp theo đó, quan điểm về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã được lồng ghép xuyên suốt trong các chiến lược, kế hoạch, như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, 2021 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015,  2016 - 2020, 2021 - 2025. Bên cạnh đó, trên cơ sở 17 mục tiêu phát triển bền vững của thế giới trong giai đoạn 2015 - 2030 được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc vào tháng 9-2015, ngày 10-5-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 622/QĐ-TTg, “Về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững”, xác định 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030, trong đó có tới 4 mục tiêu trực tiếp về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững” (khoản 2 Điều 4) và giải thích: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu” (khoản 2 Điều 3). Có thể thấy, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm và luôn được xác định trong công cuộc phát triển đất nước.

Thực trạng bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đánh giá, thời gian qua, việc bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu, đó là:

Thứ nhất, đã thực hiện tương đối tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững, trong đó có Quyết định số 1788/QĐ-TTg, ngày 1-10-2013, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020”, Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 7-5-2018, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”, Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, ngày 5-5-2020, của Chính phủ, “Quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải” và các Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030… Do vậy, hoạt động xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường có nhiều tiến bộ. Hoạt động xử lý nước thải, chất thải rắn đã được tăng cường thực hiện và giám sát. Không phát sinh các sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, kiểm soát chặt chẽ các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Đã “xử lý kịp thời nhiều vụ việc, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”(3).

Thứ hai, việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng tiết kiệm và hợp lý. Việt Nam đã tiến hành điều tra cơ bản đánh giá tiềm năng, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên. Kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động khai thác tài nguyên, hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô. Tăng cường đầu tư phát triển năng lượng tái tạo nhằm làm cho tăng trưởng kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, tài nguyên được bổ sung, hoàn thiện, nhất là đất đai và khoáng sản. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được tăng cường. Các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có nhiều chuyển biến rõ rệt”(4).

Thứ ba, công tác bảo vệ rừng, trồng rừng và bảo tồn đa dạng sinh học có nhiều chuyển biến tích cực. “Công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm hơn”(5). Đảng ta đã nỗ lực lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này đã được ban hành, tuyên truyền rộng rãi trong các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và nhân dân.

Thứ tư, Việt Nam là nước đang phát triển, phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính ở mức độ còn thấp so với mức trung bình của thế giới(6), nhưng lại là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Vì vậy, nước ta đã “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sẵn sàng phòng, chống thiên tai kịp thời, hiệu quả”(7), tích cực triển khai xây dựng Chương trình cập nhật phân vùng rủi ro thiên tai, lập bản đồ cảnh báo thiên tai, đặc biệt là các thiên tai liên quan đến bão, nước biển dâng, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn. Triển khai chương trình mục tiêu ứng phó với bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh, chủ động cam kết giảm thiểu phát thải nhà kính. Tập trung xây dựng chương trình phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu vùng, khu vực, như vùng đồng bằng sông Cửu Long. “Một số chỉ tiêu môi trường đạt và vượt kế hoạch. Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đến năm 2020 đạt khoảng 90%, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ sinh ước đạt 90,2%, tăng mạnh so với năm 2015 (86,2%). Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường năm 2020 là 90%. Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 khoảng 42%, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra”(8). Đây là những kết quả đáng khích lệ trong công tác bảo vệ môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta hiện nay.

Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ một số hạn chế, bất cập trong công tác bảo vệ môi trường, làm cho phát triển ở Việt Nam thời gian qua chưa thực sự bền vững. Cụ thể:

Thứ nhất, xử lý, khắc phục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ở một số khu vực, lĩnh vực chưa triệt để, dẫn tới chất lượng môi trường sống của người dân chưa cao. Chất lượng không khí ở các đô thị có dấu hiệu suy giảm. Ô nhiễm môi trường vẫn diễn ra khá phổ biến ở một số khu công nghiệp, làng nghề. “Chưa có cơ chế thúc đẩy việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải một cách hiệu quả”(9) trong khi Việt Nam là quốc gia đang phát triển, lượng rác thải nhựa, rác thải điện tử, rác thải xây dựng và rác thải nguy hại đang tăng rất nhanh. Chỉ tính riêng rác thải nhựa, Việt Nam đứng thứ tư thế giới với hơn 1,8 triệu tấn/năm(10).

Thứ hai, quản lý tài nguyên thiên nhiên chưa thực sự hiệu quả. “Khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa cao”(11). Vẫn còn tình trạng xuất khẩu tài nguyên ở dạng thô (các loại quặng, dầu thô, than…) với giá rất rẻ nhưng sau đó phải nhập khẩu nguyên, nhiên liệu, như điện, xăng, dầu… với giá cao để phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, ở nhiều nơi, khai thác khoáng sản chưa theo quy hoạch, kế hoạch và khai thác trái phép vẫn diễn ra với công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thậm chí trở thành những “điểm nóng” về môi trường. Tình trạng nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị lạc hậu, nguyên vật liệu không đạt chuẩn về môi trường chậm được khắc phục.

Thứ ba, hoạt động bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học diễn ra chậm. “Tình trạng phá rừng, khai thác cát, đá, sỏi trái phép ở một số nơi ngăn chặn chưa hiệu quả”(12), dẫn đến “Các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học tiếp tục suy giảm”(13). Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, nhưng thực tế, rừng và đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị tàn phá và suy giảm nghiêm trọng. Diện tích rừng tăng hằng năm, nhưng chủ yếu là rừng trồng, còn rừng tự nhiên tiếp tục suy giảm cả về diện tích và chất lượng. Số lượng các loài động vật và thực vật đều bị suy giảm, mức độ đe dọa sự sinh tồn các loài động vật hoang dã tiếp tục tăng. Nguồn gen tự nhiên chưa được bảo tồn hợp lý, đặc biệt là các nguồn gen bản địa, quý hiếm.

Thứ tư, biến đổi khí hậu tiếp tục gây ra những tác động rõ rệt đến môi trường tự nhiên, làm gia tăng các loại thiên tai cả về số lượng và quy mô. Đó là các trận bão, mưa lớn, lũ lụt, lũ quét, hạn hán, nước biển dâng, làm giảm diện tích trồng trọt diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng xâm nhập mặn, phèn hóa, sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và công tác khắc phục còn chậm, hiệu quả chưa cao. Những vấn đề này đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp, là nguy cơ hiện hữu cho các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, cũng như thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và phát triển bền vững đất nước.

Một số nhiệm vụ cơ bản thời gian tới

Thả cá hô giống - loài cá đặc hữu của sông Vàm Nao và đồng bằng sông Cửu Long - về với thiên nhiên_Ảnh: TTXVN

Mục tiêu tại Đại hội XIII của Đảng đề ra là: “Đến năm 2030, cơ bản đạt các mục tiêu phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”(14). Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra một số nhiệm vụ cơ bản sau: 

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân về bảo vệ môi trường, từ đó dẫn đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của từng cá nhân, cộng đồng. “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”(15). Tích cực tuyên truyền, giáo dục trong các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường; đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên truyền, làm cho nhân dân hiểu rõ hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đối với sự phát triển bền vững của đất nước, sức khỏe con người, đời sống xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững. Các văn bản pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay có khá nhiều, nhưng chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn, nhất là giữa các Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Khoáng sản và Luật Đa dạng sinh học. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất. Đồng thời, đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên khoáng sản, đất, nước, rừng, biển, đa dạng sinh học, ô nhiễm và suy thoái môi trường. Xây dựng lộ trình, cơ chế, chính sách, pháp luật để hình thành, vận hành mô hình kinh tế tuần hoàn.

Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến cơ sở. Chú trọng phát triển tổ chức quản lý môi trường ở các tập đoàn kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng về bảo vệ môi trường.

Thứ ba, tập trung khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, các cụm công nghiệp, làng nghề... “Có kế hoạch khắc phục căn bản tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân”(16). Có biện pháp bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường không khí, hạn chế ô nhiễm tiếng ồn, nhất là ở các đô thị lớn. Tập trung xử lý nước thải ở thành thị và các khu công nghiệp, xử lý rác thải ở nông thôn. Thúc đẩy tái chế sử dụng, sản xuất, thu hồi năng lượng từ chất thải gắn với hình thành chuỗi sản xuất tiếp nối, liên tục. Kiểm soát tốt tác động môi trường của các dự án khai thác tài nguyên. Thực hiện nguyên tắc đối tượng gây ô nhiễm môi trường phải chi trả chi phí xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo, phục hồi môi trường; đối tượng được hưởng lợi từ tài nguyên, môi trường có nghĩa vụ đóng góp để đầu tư trở lại cho bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm soát các hoạt động khai thác tài nguyên, các ngành, doanh nghiệp dựa nhiều vào tài nguyên, các nguồn phát thải nhà kính.

Thứ tư, quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên; phát triển, nâng cao chất lượng rừng; tăng độ che phủ rừng gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Tăng cường bảo vệ, ngăn ngừa, kiểm soát, giảm ô nhiễm môi trường biển; bảo vệ, phát triển bền vững các hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển, đặc biệt là các rặng san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển. “Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng trồng rừng, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển”(17). Trồng rừng và tích cực phục hồi rừng tự nhiên cũng là một cách hữu hiệu nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bởi 80% đa dạng sinh học nằm trong rừng tự nhiên.

Thứ năm, nâng cao năng lực nghiên cứu, giám sát biến đổi khí hậu, dự báo khí tượng, thủy văn và cảnh báo thiên tai; năng lực chủ động phòng, tránh, giảm nhẹ, năng lực chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này trước mắt cần xây dựng năng lực giám sát, cảnh báo khí hậu, thiên tai thông qua việc mở rộng, phát triển, hiện đại hóa hệ thống quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn; tăng cường phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu về khí hậu và biến đổi khí hậu phục vụ hoạch định chính sách và triển khai thực hiện các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; tiếp tục cập nhật, hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu công bố trước khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để lồng ghép, điều chỉnh kế hoạch kịp thời. Bên cạnh đó, cần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, phát triển và sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo trong công nghiệp, xây dựng và giao thông. Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng các-bon thấp, tái cấu trúc các ngành kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu tốn ít năng lượng, từng bước hạn chế phát triển các ngành kinh tế tiêu tốn nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả kinh tế thấp. 

Thứ sáu, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, đó là duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Để thực hiện thành công Chương trình này, cần hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển bền vững, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển bền vững quốc gia. Đồng thời, huy động sự tham gia của tất cả các bộ, ngành, cơ quan từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cơ quan báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể người dân tham gia thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ bảy, “Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”(18) nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn vượt khỏi khả năng của một quốc gia. Mở rộng hợp tác quốc tế về môi trường trên tinh thần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế mà nước ta đã ký kết, tham gia; đồng thời tiếp thu, vận dụng những kinh nghiệm quốc tế trong bảo vệ môi trường. Tranh thủ sự hỗ trợ về mặt tài chính, kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường, nhất là các dự án từ GEP (Quỹ môi trường toàn cầu), nhằm thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó, tích cực đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường đối với tội phạm môi trường quốc tế nhằm góp phần đẩy lùi tình trạng gây ô nhiễm, xâm hại môi trường, suy thoái môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học của Việt Nam./.

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

          Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”. Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

          Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

          Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

          Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

                                                                                                     N.Đa