Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

 

Kế thừa, phát huy giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay

 Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Bài viết làm rõ những giá trị truyền thống của dân tộc cần kế thừa, phát huy trong hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới và những nguyên tắc cần quán triệt trong quá trình đó.

Theo nghĩa chung nhất, lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam là hệ thống quan điểm của Đảng về các quy luật mang tính biện chứng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Lý luận đó dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”(1). Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc không chỉ là vấn đề có tính quy luật, mà còn là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

1. Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam trước hết là kết tinh trí tuệ sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân tộc, phản ánh nhu cầu của cuộc sống và quy luật của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong bối cảnh mới, đồng thời là sự tiếp nối truyền thống cao đẹp của các thế hệ cha ông trong quá trình dựng nước, giữ nước.

Kế thừa và phát huy giá trị truyền thống dân tộc là vấn đề có tính quy luật và là đòi hỏi khách quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới. Nó không chỉ khẳng định, duy trì các giá trị truyền thống cao đẹp đã được sàng lọc qua thời gian và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn, mà còn góp phần bổ sung, phát triển, làm giàu thêm truyền thống dân tộc, tăng thêm sức sống cho những truyền thống ấy, phát huy sức mạnh của chúng trong hiện tại, đồng thời tạo tiền đề vững chắc trên con đường hướng đến tương lai.

Mặt khác, quá trình này còn phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, sự kết nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai thành một thể thống nhất trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam.

Mấy nghìn năm lịch sử với nhiều biến cố, thăng trầm bởi sự tác động của thiên nhiên và con người, đã hun đúc, kết tụ nên những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc ta. Những giá trị truyền thống đó là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, phản ánh bản sắc và cốt cách văn hóa của con người Việt Nam. Đồng thời, góp phần làm phong phú thêm những giá trị văn hóa nhân loại. Thực tế chứng minh, “Chúng ta có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc từ lâu đời, nhiều giá trị truyền thống rất cao đẹp được xây dựng và phát huy, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước, gắn kết các thế hệ người Việt Nam trong cộng đồng bền chặt, tạo nên sức mạnh to lớn, đứng vững trước mọi cuộc xâm lăng về văn hóa của nước ngoài”(2).

Từ lịch sử và yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hiện nay cho thấy, những giá trị truyền thống tiêu biểu, được sàng lọc bởi thời gian và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, cần kế thừa, phát huy trong quá trình hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay, bao gồm:

Một là, truyền thống yêu nước và khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường

Trong các yếu tố cấu thành hệ giá trị truyền thống của dân tộc ta, truyền thống yêu nước và khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường là một trong những giá trị tiêu biểu, làm nên nét đặc sắc của nền văn hóa và con người Việt Nam.

Yêu nước, trong truyền thống dân tộc thể hiện trước hết ở ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền, khẳng định sự tồn tại của một quốc gia độc lập. Đó còn là tinh thần tự tôn, tự lực, tự cường dân tộc; là khát vọng về một quốc gia độc lập, tự do, giàu mạnh, nhân dân hạnh phúc. Yêu nước còn là lẽ sống và phương châm xử thế của con người, là tiêu chuẩn để phân biệt nhận thức đúng sai, hành động tốt xấu, đồng thời là căn cứ nhận diện bản chất, phẩm giá con người.

Đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận định, yêu nước là giá trị cao nhất trong thang giá trị của con người và là bản sắc dân tộc Việt Nam. Yêu nước không chỉ là tư tưởng và tình cảm chủ yếu của người Việt Nam xưa nay, mà còn là “sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam”, là “đỉnh cao của các đỉnh cao, như tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị, phổ biến, mẫu mực, làm nền cho mọi sinh hoạt tinh thần của nhân dân ta qua tất cả các thời kỳ”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(4).

Hai là, truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình. Cùng với truyền thống yêu nước, truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình là một trong những nét đặc sắc của văn hóa và con người Việt Nam, là yếu tố cấu thành sức mạnh dân tộc, góp phần gắn kết con người Việt Nam để vượt qua mọi chông gai, thử thách.

Truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình thể hiện trước hết ở tình yêu thương con người, bảo đảm, tôn trọng quyền và phẩm giá con người; tinh thần tương thân, tương ái; trọng nghĩa tình, trọng công lý và đạo lý xã hội. Đó còn là tinh thần bao dung, hòa hiếu không chỉ trong mối quan hệ giữa các cá nhân, mà còn thể hiện trong mối quan hệ bang giao với các quốc gia, dân tộc khác.

Từ xưa đến nay, mỗi khi hòa bình và độc lập dân tộc bị đe dọa, nhân dân ta luôn kiên cường, bất khuất để bảo vệ giang sơn, nhưng khi đã đánh bại kẻ thù thì sẵn sàng “mở lòng hiếu sinh”, thực hiện bang giao hòa hiếu để đất nước được hòa bình, nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc.

Ba là, truyền thống đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng. Thực tiễn cuộc sống đòi hỏi nhân dân ta phải đoàn kết thành một khối vững chắc mới có thể sinh tồn và phát triển.

Đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng không chỉ là nhu cầu mà trở thành lẽ sống của người Việt, phản ánh lợi ích và tình nghĩa thiêng liêng giữa cá nhân và cộng đồng. Vấn đề xây dựng, củng cố khối đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để bảo vệ giang sơn và nòi giống đã được các thế hệ người Việt Nam nhận thức rất sâu sắc và vận dụng thành công trong thực tiễn cuộc sống, trở thành truyền thống quý báu của dân tộc. Đoàn kết dân tộc thể hiện trước hết ở việc xóa bỏ những hiềm khích, bất hòa cá nhân, giữa các nhóm cộng đồng, thực hiện sự thống nhất, đồng lòng trong nội bộ lãnh đạo đất nước, làm nòng cốt cho việc quy tụ sức mạnh toàn dân tộc để chống lại kẻ thù xâm lược. Mặt khác, đoàn kết còn thể hiện ở tinh thần cố kết toàn dân, cả nước một lòng để hướng tới mục tiêu chung của dân tộc.

Tổng kết lịch sử đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta từ quá khứ đến hiện tại, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ...”(5). Đồng thời, Người nêu lên một chân lý bất hủ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

Bốn là, truyền thống cần cù, sáng tạo, trọng dụng nhân tài. Tinh thần chịu đựng gian khó, cần cù và sáng tạo trong lao động là một trong những phẩm chất đặc trưng của người Việt; trọng dụng nhân tài, xem “hiền tài là nguyên khí quốc gia” là truyền thống của dân tộc ta, được tiếp nối và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử. Cơ đồ đất nước hôm nay chính là kết quả hàng nghìn năm lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân qua nhiều thế hệ, gắn với tên tuổi bất hủ của những vị anh hùng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ cụ thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động của đồng bào ta và sự cần thiết phải phát huy truyền thống đó trong xây dựng xã hội mới: “xây dựng chủ nghĩa xã hội phải lấy CẦN làm gốc. CẦN là lao động: Lao động cần cù và sáng tạo”(6). Bên cạnh đó, Người cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của việc trọng dụng nhân tài, thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành phải tìm nhân tài, trọng nhân tài, tập hợp nhân tài, cất nhắc và sử dụng nhân tài hợp lý, đồng thời chú trọng bồi dưỡng nhân tài để phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Năm là, truyền thống trọng dân, vì dân, “lấy dân làm gốc”. Đây là một trong những truyền thống được hình thành từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý của các học thuyết trong tiến trình giao lưu văn hóa. Tuy nhiên, nó không phải sự rập khuôn, sao chép bất cứ học thuyết nào, mà chứa đựng nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Truyền thống trọng dân, vì dân, “lấy dân làm gốc” thể hiện trước hết ở chỗ, trong thời bình, phải dựa vào dân để xây dựng, phát triển quốc gia độc lập, cường thịnh; quan tâm đời sống của dân, coi trọng lòng dân, ý dân để củng cố tiềm lực đất nước. Khi xã tắc lâm nguy phải biết tin dân, phát huy sức mạnh của toàn dân để bảo vệ Tổ quốc. Thực tế tiến trình lịch sử nước ta cũng cho thấy, tin dân, dựa vào dân, biết khơi dậy sự đồng lòng và phát huy ý chí, khát vọng toàn dân tộc mới bảo đảm được sự trường tồn của non sông đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, và “Nước lấy dân làm gốc... Gốc có vững cây mới bền/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(7).

Các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Đó là một tài sản vô cùng quý báu do Tổ tiên, Cha ông ta mấy nghìn năm để lại, không phải nơi nào cũng có được; chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy, nếu không là chúng ta có tội với lịch sử, là vong ân bội nghĩa với Tổ tiên, Cha ông chúng ta”(8).

2. Lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới đất nước cũng như trong quá trình xây dựng, từng bước hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định vai trò to lớn và tầm quan trọng đặc biệt của truyền thống dân tộc, được thể hiện tập trung qua các giá trị truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cũng như trong lý luận về đường lối đổi mới trên từng lĩnh vực cụ thể, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được Đảng ta kế thừa, phát huy, đồng thời bổ sung thêm những giá trị mới theo yêu cầu của thực tiễn đất nước và thời đại.

Hiện nay, yêu nước không chỉ là tinh thần dám xả thân trong chiến tranh cứu nước, mà còn là chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; là quyết tâm “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9). Nghĩa là, yêu nước không chỉ thể hiện khi đất nước có chiến tranh, mà yêu nước được thể hiện ngay cả trong thời bình xây dựng đất nước. Hơn nữa, càng phải củng cố, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước để giữ gìn nền hòa bình đó. Yêu nước gắn với khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường trong điều kiện hiện nay là phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để nước ta thực sự “sánh vai với các cường quốc năm châu”, mà trước hết là xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tạo tiền đề vững chắc để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

Kế thừa và phát huy truyền thống nhân văn trong bối cảnh hiện nay là thực sự bảo đảm gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, “không để ai bị bỏ lại phía sau” trên con đường phát triển của đất nước; tạo điều kiện bình đẳng cho mọi người được cống hiến, phát huy tối đa năng lực và hưởng thụ xứng đáng với năng lực và sự cống hiến đó; không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; là ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống; đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện con người, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới có sự gắn kết hài hòa giữa phẩm chất truyền thống và giá trị hiện đại.

Yêu chuộng hòa bình trong bối cảnh hiện nay là phải kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(10).

Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều biến động nhanh chóng, rất phức tạp, khó dự báo hiện nay, yêu chuộng hòa bình không tách rời nhiệm vụ chủ động chuẩn bị về mọi mặt để sẵn sàng và kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống; ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng trong bối cảnh hiện nay là phải không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trên cơ sở giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội. Đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân; thực hiện sự đoàn kết, nhất trí, đồng lòng trong Đảng là hạt nhân và là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy tinh thần đồng thuận xã hội và tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế với tinh thần “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”(11).

Kế thừa và phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo, trọng dụng nhân tài trong giai đoạn hiện nay gắn liền với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế trong bối cảnh mới; xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ lãnh đạo các cấp dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo. Đồng thời, có cơ chế đột phá để “thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(12).

Trong điều kiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh chóng, đòi hỏi phải thực sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gắn với phát triển mạnh khoa học và công nghệ, “nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia”, tạo môi trường thuận lợi để không ngừng củng cố, phát triển tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam.

Kế thừa, phát huy truyền thống trọng dân, vì dân trong điều kiện hiện nay là phải xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân; quán triệt bài học “Dân là gốc”; thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(13). Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phải “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(14); mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội XHCN “Do nhân dân làm chủ”, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

Với tư duy biện chứng duy vật, trong xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, nhiều giá trị truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, phát huy; nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với các đặc trưng “dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” từng bước được hiện thực hóa; “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam góp phần quan trọng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới.

3. Cùng với sự vận động của thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, “lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(15).

Bên cạnh đó, yêu cầu bức thiết đang đặt ra hiện nay là không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, phát triển Cương lĩnh, làm phong phú và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kiến tạo một hệ thống lý luận thật sự khoa học và hiện đại về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Tiếp tục kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là một trong những việc làm thiết yếu để đáp ứng yêu cầu trên, đồng thời góp phần làm nên nét đặc sắc của lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam. Trong quá trình đó, cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh hiện nay để thẩm định, sàng lọc các giá trị truyền thống dân tộc

Thực tiễn đất nước và thời đại luôn trong quá trình vận động tiến về phía trước theo quy luật khách quan của nó. Truyền thống của mỗi quốc gia dân tộc được hình thành từ trong quá khứ, là sản phẩm của các thế hệ và những thời đại đã qua. Do đó, các giá trị truyền thống, suy cho cùng cũng là những cái thuộc về quá khứ, do quá khứ để lại nên cũng mang tính lịch sử - cụ thể. Xã hội ngày nay có những đặc điểm và nhu cầu khác với các xã hội trước đây nên không phải cái gì từng là giá trị, có ý nghĩa tích cực trong quá khứ cũng đều phù hợp với đời sống thực tại. Vì vậy, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của đất nước trong bối cảnh thời đại mới để thẩm định, sàng lọc các giá trị truyền thống với phương châm “kế thừa tinh hoa, thải loại cặn bã”, để không sa vào lối tư duy bảo thủ, phục cổ, nệ cổ.

Hai là, gắn kế thừa với đổi mới, bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nội dung của các giá trị truyền thống dân tộc

Kế thừa là vấn đề mang tính quy luật, phản ánh mối quan hệ tất yếu giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại trong sự vận động, phát triển của mọi sự vật hiện tượng nói chung, của văn hóa, tư tưởng, lý luận nói riêng. Từ quá khứ đến hiện tại và tương lai là một quá trình liên tục; cái mới trong quá trình hình thành, phát triển không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ; mặt khác, kế thừa cũng không đồng nhất với việc phục hồi, duy trì y nguyên cái cũ, cự tuyệt với mọi cái mới theo lối tư duy “bài tân, thủ cựu”. Vì thế, không xa rời nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nhưng cũng cần có cách nhìn các giá trị truyền thống từ hiện đại, vượt lên những gì không còn phù hợp, đồng thời làm giàu nội dung của truyền thống bằng những giá trị mới của xã hội hiện đại.

Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi một mặt phải phê phán, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu cùng những biểu hiện phái sinh của nó đang cản trở con đường đi lên của đất nước, đồng thời phải chuyển đổi các giá trị truyền thống thành các giá trị hiện đại, đem lại cho những giá trị ấy sức sống mới và hướng vào giải quyết những nhiệm vụ của đất nước và thời đại đang đặt ra.

Rõ ràng, nội dung của yêu nước và khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường; nhân văn và yêu chuộng hòa bình; đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng; cần cù và sáng tạo; trọng dân, vì dân... trong lý luận về đường lối đổi mới phải mang sức sống và hơi thở của thời đại, gắn với nhu cầu của đất nước và nhân dân trong điều kiện hiện nay. Nếu chỉ duy trì nguyên vẹn mà không có sự cải biến, không nâng truyền thống lên tầm thời đại thì nó rất khó có thể thích ứng với hoàn cảnh mới. Sự kế thừa, phát huy phải bao hàm việc tiếp nhận, bổ sung thêm những nội dung vốn không có và không thể có trong quan niệm cũ, làm cho giá trị truyền thống trở thành những nhân tố cấu thành của các giá trị mới trong hệ thống giá trị hiện đại.

Ba là, định hướng xây dựng, hình thành những giá trị mới theo xu thế thời đại, gắn kết với những giá trị toàn cầu, hội nhập quốc tế

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo điều kiện để các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau, giao lưu, tiếp biến văn hóa ngày càng sâu rộng, góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa mỗi dân tộc. Song, những mặt trái của nó cũng tác động tiêu cực đến truyền thống, bản sắc văn hóa mỗi quốc gia. Vì vậy, kế thừa, phát huy giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải đấu tranh với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa, trái với truyền thống cao đẹp của dân tộc; chống tư tưởng sùng ngoại, đồng thời tiếp nhận, thẩm thấu những thành tựu văn hóa nhân loại, biến nó từng bước trở thành những yếu tố nội tại của nền văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, đó không phải là sự tùy tiện bỏ cái này, giữ cái kia, lắp ghép, chắp vá một cách chủ quan duy ý chí mà là quá trình tích hợp biện chứng, vừa tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn minh, hiện đại của các dân tộc khác, vừa giữ gìn, bảo vệ những giá trị chân - thiện - mỹ, khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng trong truyền thống dân tộc, với tinh thần “kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại”(16).

Trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã phát huy cao độ truyền thống dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, lãnh đạo nhân dân ta làm nên những thắng lợi vĩ đại, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng đã “Huy động các giá trị truyền thống để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại, là huy động sức mạnh của hàng mấy mươi thế kỷ, là mấy mươi thế kỷ tổ tiên ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu hoàn thành sự nghiệp dân tộc”(17).

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, việc tiếp tục kế thừa, phát huy giá trị truyền thống dân tộc nghìn năm văn hiến trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới là lựa chọn đúng đắn, giúp đất nước ta vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.

Nguồn: LLCT

(1) ĐCSVN: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

(2) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu nghiên cứu kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.56-57.

(3), (17) Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, tr.93, 52.

(4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.38, 164-165.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.432.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.501-502.

(8), (16) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.175, 170.

(9), (10), (11), (12), (13), (14), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.156, 162, 164, 110, 173, 192, 103.

 

NHỮNG KẺ SOI MÓI

 

Ông bà ta có câu thành ngữ “bới lông tìm vết” hàm nghĩa chỉ những người có tính soi mói, cố tìm điểm yếu của người khác để phê phán, công kích bằng thái độ và dụng ý xấu.

“Bới lông tìm vết” - thói phê bình vơi tình cạn nghĩa

Nếu nghiêm túc tìm hiểu, thẳng thắn chỉ ra công khai những khuyết điểm nhằm góp ý giúp người khác sửa chữa, tiến bộ thì cần được hoan nghênh, nhưng "bới lông tìm vết" thì lại khác.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số cá nhân chuyên tìm những thiếu sót, sơ hở, vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, chính quyền, rồi thổi phồng, "xâu chuỗi", đẩy lên thành vấn đề "nóng" với ý đồ xấu.

Những đối tượng này thường có ảnh hưởng nhất định trên mạng xã hội, tự lấy danh nghĩa là đại diện cho dư luận để phán xét. Nhưng kỳ thực, cái gọi là “dư luận” mà chúng vỗ ngực đại diện ấy chỉ là một bộ phận nhỏ người sử dụng mạng xã hội có quan điểm trái chiều, cổ xúy, tung hê cho nhau.

Trước mỗi sự việc thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm trong bộ máy chính quyền, chúng lại "bới lông tìm vết", thậm chí còn theo kiểu "thầy bói xem voi". Khi các cơ quan chức năng đang tiến hành làm rõ sự việc thì những đối tượng này đã tự thêm thắt nhiều thông tin lượm lặt không chính thống, rồi thêu dệt và ra “phán quyết miệng” trên trang mạng xã hội nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng.

Điều nguy hiểm nhất là chúng lục tìm, tập hợp thông tin có chủ đích, sai sự thật hòng làm thay đổi bản chất vụ việc để từ công kích cá nhân đẩy lên lu loa, phê phán bộ máy công quyền với luận điệu rằng chính quyền tắc trách, sơ hở, bao che cho nhau cùng sai phạm... Từ đây, chúng lợi dụng mạng xã hội và những nhóm người có tư tưởng trái chiều để bẻ lái dư luận, hạ thấp uy tín của cá nhân lãnh đạo và bộ máy chính quyền. Xa hơn, chúng công kích thể chế nhà nước, nói xấu chế độ ta.

Kiểu “bới lông tìm vết” mà các thế lực thù địch, bất mãn thường dùng để chống phá đất nước, chế độ ta là cực kỳ thâm độc, nham hiểm. Mỗi chúng ta cần cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, đấu tranh.

 Theo ĐÔNG A


PHẢN BIỆN VÀ VẠCH MẶT CÁI GỌI LÀ "TỌA ĐÀM KHOA HỌC"!

1. Hội đồng "Nguyễn Phúc tộc" chỉ là một kiểu tập hợp "hội", "nhóm" gia tộc nội bộ, tự phát. "Hội đồng" này không có tư cách pháp nhân để tổ chức cái gọi là "Tọa đàm khoa học". Càng không có tư cách pháp nhân để yêu cầu làm việc với cơ quan này, đơn vị kia. Ở Nhà nước pháp quyền XHCN thì pháp luật thượng tôn, mọi công dân, cá nhân, tổ chức đều bình đẳng. Việt Nam không còn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế, vậy nên các ông đừng đem cái uy "Hoàng tộc" ra mà giễu võ giương oai! Hay là các ông đang có chí nhớn, mơ ước khôi phục chế độ quân chủ tại Việt Nam? Tỉnh lại đi các ông nhé! Nếu có cơ quan nào "lắng nghe", "làm việc" thì họ cũng chỉ "lắng nghe", "làm việc" theo hướng "tiếp công dân", nắm bắt ý kiến Nhân dân mà thôi.

2. Cái gọi là "Tọa đàm khoa học" của "Hội đồng Nguyễn Phúc tộc" có cơ quan nào cấp phép không? Cơ quan nhà nước nào là chủ quản, chịu trách nhiệm pháp lý về cái "tọa đàm" này không? Nếu mà không được cấp phép thì đây chỉ là một cuộc hội họp, tập hợp những tay viết thân quen, nội bộ, "tự sướng", tự sinh hoạt văn thơ với nhau thôi! Nếu vậy thì nói vuông một câu là tổ chức "chui", không được chính quyền, cơ quan chức năng công nhận.

3. Nếu tổ chức "chui" thì cái được gọi là "khoa học" là vô giá trị. Những lập luận hay bằng chứng lịch sử mà các ông này đưa ra chỉ dựa trên sử liệu do triều Nguyễn viết ra - Như vậy thì nói vuông nữa là không thuyết phục, không khoa học. Những kẻ làm trái ý Nguyễn Ánh, có thù với Nguyễn Ánh, viết xấu về Nguyễn Ánh... đều bị vua quan nhà Nguyễn tru di cửu tộc, ném xuống biển hoặc giết hại man rợ hết sạch rồi (trả thù hèn hạ, tàn bạo đối với nhà Tây Sơn, nhân dân yêu nước có cảm tình với Tây Sơn; giết vợ, ném con xuống biển...)

4. Việc yêu sách nhà nước phải thế nọ thế kia, phải rút một di sản văn hóa phi vật thể đã được bao đời Nhân dân lưu truyền, thực hành là việc làm vô pháp, vô thiên, không đủ căn cứ pháp lý. Nghiêm trọng hơn, việc làm này đã chà đạp lên quyền, lợi ích của Nhân dân huyện Côn Đảo nói riêng và Nhân dân cả nước nói chung; xúc phạm anh linh nhân vật mà người dân tôn thờ hàng trăm năm nay. Các người cứ ra Côn Đảo mà tổ chức "tọa đàm" về "vụ bôi nhọ" đi 🤬 nếu Nhân dân ở đây không mời các người "ăn trầu đỏ toe toét mồm" thì anh linh các nhân sỹ yêu nước, anh hùng cách mạng ở đó cũng sẽ không tha cho các ngươi!

5. Những kẻ âm mưu "rửa tội" cho Nguyễn Ánh và triều Nguyễn có thể tự quậy tưng bừng, lồng lộn bày mưu tính kế, lăng xê bằng "báo sạch", các nhà "khoa học", "nhơn sỹ"... nhưng rồi cũng chỉ là sự gào thét vô vọng thôi. Vì rõ ràng bia lịch sử nhân dân vài trăm năm nay vẫn ghi rõ bằng máu về tội bán nước, sự bất tài, hèn mạt và độc ác của Nguyễn Ánh cùng bè lũ vua quan bạc nhược sau này. Càng bới lên thì Nhân dân lại càng căm phẫn, càng có dịp kể tội, lên án, nguyền rủa những kẻ bán nước cầu vinh, quỳ gối trước ngoại bang... càng ô nhục!

6. Điểm mặt, chỉ tên thì quanh quẩn vẫn là những gương mặt thân quen trong làng bị thường xuyên bị dư luận Nhân dân chửi, đó là: thanhnien, tuoitre, danviet... đưa tin và tìm cách rửa mặt, đánh nanh cho những nhân vật lịch sử phản diện, xú danh. Trên maket của cuộc "tọa đàm" này không hề có cụm từ "khoa học" - Như vậy rõ ràng là mấy ông "thợ viết" đã CỐ NHÉT vào, để lập lờ đánh tráo khái niệm, lừa gà... tăng thêm "thanh thế" cho cuộc tọa. Thật lạ, nếu không có thế lực nào yểm trợ, hà hơi... thì một cái "tọa đàm" của hội nhóm gia tộc tự phát có được nhiều "báo nhớn" đưa tin rầm rộ, phình phịch hàng chục bài liền như vậy không? Anh em các "hội nhóm" khác nhìn vào đấy mà học tập nhé! Nhân dân chúng tôi vẫn đang ngày đêm mong chờ các cơ quan chức năng thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.

7. Hãy ngừng ảo vọng đòi đặt tên đường cho Nguyễn Ánh - Gia Long. Mục 2, Chương 2 của Nghị định số 91/2005-CP, ngày 11/7/2005 của Chính phủ "về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường phố, phố và công trình công cộng" đã quy định rõ: "Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì xem xét chưa đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng". Xem lại "Nguyễn Ánh - Gia Long" thì không những "có ý kiến đánh giá khác nhau" mà chính xác hơn là bị Nhân dân, lịch sử phê phán, lên án. Xin nhắc lại mấy câu thơ trong bài "Lịch sử nước ta" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thay cho lời kết:

"Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài,
Tư mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây,
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi giày mả, thiệt là ngu si"./.







Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Bài 1: Mệnh lệnh từ cuộc sống, sự thôi thúc từ trái tim

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, là sự thôi thúc và giục giã từ trái tim của mỗi chúng ta.

Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI (năm 2011), đã được ghi vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân trang trọng kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(1).

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng cách mạng chân chính do Người sáng lập và rèn luyện, dạn dày kinh nghiệm và bản lĩnh trong đấu tranh cách mạng trước đây, trong đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm nhuần và thực hành lời dạy của Người “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm (chữ dùng của Hồ Chí Minh), cố kết sức mạnh “ý Đảng-lòng dân-phép nước” để thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đó cũng là tâm nguyện, hoài bão và khát vọng phát triển của Người, được Người nêu rõ trong Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước khi trở về với tổ tiên, với Mác-Lênin ở cõi vĩnh hằng: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với đạo đức và phong cách của Người trong một hệ thống chỉnh thể, hữu cơ không thể tách rời. Tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn thấm nhuần trong toàn bộ hệ thống chỉnh thể ấy, thể hiện nhất quán trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhất quán giữa tư tưởng và hành động, lời nói đi đôi với việc làm, suốt đời tranh đấu, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất và đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người trên tư cách nhà tư tưởng mác xít sáng tạo, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng Việt Nam.

Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh qua thử thách của thời gian trở thành những giá trị bền vững, được chứng nghiệm qua lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc ta trong thế kỷ 20 đã qua cũng như hiện nay và mai sau, là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân trong đổi mới, hội nhập và phát triển.

Giá trị, sức sống và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được khẳng định ở trong nước mà còn có sức lan tỏa rộng lớn trong đời sống chính trị quốc tế, trong văn hóa của thế giới nhân loại. Việt Nam đến với thế giới và có mặt xứng đáng trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhờ có Hồ Chí Minh-biểu tượng kiệt xuất cho cuộc đấu tranh không mệt mỏi vì Độc lập-Tự do-Hạnh phúc của dân tộc và nhân loại.

Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ chân lý và đạo lý

Thế giới hiểu Việt Nam, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, yêu mến, tin cậy và tự hào về Việt Nam là nhờ có Hồ Chí Minh-vĩ nhân và danh nhân ở tầm vóc tư tưởng và văn hóa, sứ giả của hòa bình và hữu nghị, một biểu tượng kiệt xuất của văn hóa hòa bình, văn hóa khoan dung.

Hồ Chí Minh đi vào lịch sử với dấu ấn không thể phai mờ, là một trong những lãnh tụ hiếm hoi đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống như đánh giá của bạn bè quốc tế.

Khi Người qua đời, 53 năm về trước (ngày 2-9-1969), hàng nghìn bức điện và thư chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi tới Đảng và nhân dân ta, trong đó có Cuba anh em với đánh giá sâu sắc, thấm thía của đồng chí Fidel Castro Ruz: Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt...

“Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”, đó không chỉ là lời ngợi ca thành kính và thiêng liêng dành cho Người mà còn là chứng thực của lịch sử, vượt thời gian và không gian, từ dân tộc tới nhân loại. Đó cũng là sự khẳng định chân giá trị Hồ Chí Minh.

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng mà Người là một tấm gương cao cả để muôn đời noi theo mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, thôi thúc và giục giã tự trái tim của mỗi người chúng ta.

Cuộc sống mách bảo chúng ta, đó là điều cần thiết để phê phán và bác bỏ mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đời tư và phẩm hạnh của Người từ những kẻ chống đối, những thế lực phản động với dã tâm thâm độc, bất minh, bất chính.

Mọi sự xúc phạm Hồ Chí Minh là xúc phạm tới dân tộc, nhân dân và Đảng ta, tới lương tâm, lương tri của cả loài người tiến bộ đã từng tôn vinh những cống hiến vô giá của Người đối với lịch sử. Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất, thước đo khách quan nhất của chân lý.

Thời gian là sự kiểm nghiệm, sự sàng lọc khách quan nhất, chân thực nhất giúp cho sự phân biệt tốt xấu, đúng sai, thật giả. Sự xuyên tạc thâm độc, thậm chí bỉ ổi của các thế lực thù địch, phản động, kể cả những kẻ phản bội, tự bán rẻ nhân cách của mình, tự tách mình ra khỏi cộng đồng nhân dân và dân tộc nhằm vào Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người không thể che lấp sự thật, không thể lung lạc được niềm tin và tình cảm của chúng ta đối với Hồ Chí Minh.

Đó là niềm tin khoa học bắt nguồn từ giác ngộ chân lý, là tình cảm bền chặt đã trở thành máu thịt làm nên sự sống, trong từng nhịp đập của trái tim, của tâm hồn mỗi người chúng ta.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Nó phản ánh lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nó phản ánh cả một thời đại lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta và của thế giới”(3)...

Người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, người đã sống, làm việc, chiến đấu bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm, người thấu hiểu và thấu cảm Hồ Chí Minh đã nói hộ lòng ta về niềm tin và tình cảm đối với Người...

GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO, Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), CTQG, H.2011, tr.32.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, CTQG, H.2011, tập 15, tr.624.

(3) Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Tinh hoa và khí phách của dân tộc, CTQG, H.2012, tr.89.


ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA NHỮNG KẺ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác-Lê nin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

TS ĐẶNG VIẾT ĐẠT

(Học viện Chính trị khu vực IV, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị quốc gia-Sự  thật, Hà Nội, tr. 21

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.7-8

(3) C.Mác và Ph.Ănghen (2008), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.105.

(4) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.312

(5) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.289

(6) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.12, tr.11

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.88

(8) Lê Hữu Nghĩa, “Về một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện nay”, trong sách Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.23


Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam

 Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu Quân đội từ gốc

 Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.

Câu chuyện kỷ luật: Mắc lỗi bởi sự vô tâm

 

Gần 12 giờ đêm, trên đường đi gác về, Binh nhất Nam thấy một chiến sĩ ngồi một mình trên ghế đá ở góc vườn hoa đơn vị. Lại gần, nhận ra Long ở cùng trung đội đang... khóc, Nam vỗ vai, hỏi:

MỸ GIẢI QUYẾT “BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG” TỐT HƠN VIỆT NAM?

         Nhân có vụ "bạo lực học đường" xảy ra trong một trường Quốc tế ở Việt Nam vừa rồi, mấy anh của cái đài hóng hớt BBC, lập tức bình luận khen chê quá lố, bằng việc trích stattut của một cậu du học sinh có tên James Thạnh Nguyễn nào đó. Bản đài BBC thì ai cũng biết rồi, anh ta nói gì thì nên hiểu ngược lại mới đúng của một phần câu chuyện, nên bỏ qua không tính. Ở đây muốn nói đến cái cậu du học sinh người Việt tên Jemes kia, học ở Việt Nam bao nhiêu năm, sang bển lâu chưa, mà có cái nhìn phiến diện, mù mờ đến vậy !? 

Cậu ta cho rằng: tại Mỹ giải quyết vấn đề bạo lực học đường rất tốt, còn ở Việt Nam thì chậm trễ; ở Mỹ bạo lực học đường không có chốn dung thân (!!?).

Tốt? Tốt sao lại các vụ "bạo lực học đường" ở Mỹ nhiều đến thế, thậm chí có cả "thảm sát học đường" liên tiếp xảy ra, mà thủ phạm vốn là học sinh của chính ngôi trường đó gây ra? Tốt mà sao nạn kỳ thị chủng tộc nặng nề đè nặng trong các trường học, dẫn đến gây án đau lòng như vậy? Tốt mà sao dùng đến cảnh sát còng tay lôi xềnh xệch các cháu vị thành niên trong trường học như thế? Đáng lẽ tốt thì tình trạng "bạo lực học đường" phải ít đi chứ, phải từ gốc của vấn đề là kỷ cương, đạo đức, nhân văn của nền tảng giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội chứ.

 Còn nhanh hay chậm còn tùy từng trường hợp cụ thể, chứ không phải chuyện bắt cướp, để "hình sự hóa" mọi sự phát sinh dẫn đến va chạm của các cháu. Tất cả đều phải hướng tới tương lai tốt đẹp, sau những va chạm, hoặc "bạo lực học đường" đó, chứ không phải nhanh chậm bất chấp tổn thương, nguy hại sau đó.

 "Bạo lực học đường không có chốn dung thân ở Mỹ", vậy thì ở đâu hay ở Việt Nam thì "có chốn dung thân " ? Ý này được hiểu theo nghĩa nào đây? Là sự khuyến khích, bao che hoặc có hay không có tình trạng "bạo lực học đường"?! 

Tình trạng "bạo lực học đường" là điều không ai muốn, cũng không quốc gia nào muốn; không có bất kỳ ở đâu, chế độ nào lại đi khuyến khích, bảo vệ hiện tượng phản giáo dục này cả; vậy mà cậu Jemes người Việt nào đó lại nói như chỉ có ở Mỹ mới có điều đó hay sao ?

Thật đáng buồn đến xấu hổ với những kẻ cuồng đến mức nhìn mà không thấy, không hiểu đến mức lố bịch, phiến diện như thế./.
Yêu nước ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA!

THẦY VÀ TRÒ
HỌC SỬ, GIẢNG SỬ
Tôi xin kể 2 câu chuyện liên quan đến môn Sử mà hiện nay tôi may mắn dạy cho SV năm thứ 2:
- Câu chuyện thứ nhất:
Năm 1970 tôi là SV năm thứ 2, khoa Toán, ĐHTH HN.
Một lần tôi lên Thư viện của Trường mượn tài liệu, bất chợt tôi thấy thầy tôi, GS. Hoàng Hữu Như, (cố Chủ nhiệm Khoa Toán, ĐHTH HN)
đang chăm chú đọc SGK Lịch sử lớp 8,9,10 (thời tôi học hệ 10 năm). Tò mò và hơi chút ngạc nhiên, tôi hỏi thầy: Thưa Thầy, thầy đọc cái này để dạy thêm cho con thầy ạ? Gỡ cặp kính dày cộp, thầy nhẹ nhàng: mình đọc cho mình đấy, Toàn ạ! Hồi kháng chiến chống Pháp, mình không được học hành đầy đủ như bây giờ và mình thấy còn thiếu nên đọc bổ sung. Hồi mình làm NCS nước ngoài, bạn bè họ hỏi về Lịch sử VN, mình rất xấu hổ vì nắm không chắc nên trả lời không đúng.
Chuyện đã già nửa thế kỷ nhưng nó làm tôi nhớ mãi và luôn nhắc nhở tôi: "Dân ta phải biết sử ta...".

- Chuyện thứ hai:
Từ học sinh chuyên Toán, tốt nghiệp Khoa Toán, làm Toán rồi do yêu cầu của Đảng, Nhà nước và xã hội, tôi sang học 5 năm và tốt nghiệp 1 ngành KHXH-NV. Giờ đây thầy Hoàng Hữu Như yêu kính của tôi đã mất hơn 20 năm, còn tôi đã 73 tuổi, vẫn đứng vững là Giảng viên cơ hữu của một trường đại học tên tuổi. Thật may mắn trên bục giảng, tôi được giảng cho SV năm thứ 2 về Lịch sử Văn minh thế giới và lịch sử Việt Nam. Tôi nhận thấy các em hổng rất nhiều kiến thức về lịch sử thế văn minh thế giới và đặc biệt là lịch sử Việt Nam. Tôi cố gắng thổi vào hồn các em phương pháp khoa học khi học Sử, rằng cái gì nên nhớ, cái gì thì Google nhớ cho, cách Seach tài liệu, truyền cảm hứng cho các em sự say mê yêu thích môn sử, tự đọc thêm, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy. Và tôi cũng nói với các em rằng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Big Data (Dữ liệu lớn), Internet of Things (vạn vật kết nối), Artificial Intelligence(Trí tuệ nhân tạo - AI) and Cloud (Đám mây lưu trữ) có thể và sẽ thay thế các em rất nhiều công việc. Rằng, các em có thể học rất giỏi về khoa học kĩ thuật và công nghệ nhưng robot có thể nó còn giỏi hơn các em. Vậy các em hơn robot ở điểm nào? đó là lịch sử đất nước mình, tình yêu quê hương đất nước mình, xác định được mình là ai và mình làm gì trước những sự biến động trong xã hội Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung./.
Ảnh: Hoàng Hữu Như (1932 - 2009) ông là một Giáo sư, Tiến Sĩ Toán học Việt Nam, ông là một trong những người nghiên cứu Lý thuyết Xác suất và Thống kê Toán học hiện đại đầu tiên ở Việt Nam.
Yêu nước ST.

Cùng học, giúp nhau học để xây dựng xã hội học tập


"Khi người dân, xã hội còn quan tâm, góp ý thì đó là may mắn cho những người làm công tác giáo dục có động lực để sửa mình, để phát triển", Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao đổi tại hội thảo quốc gia với chủ đề "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ thông qua việc thực hiện các mô hình học tập", tổ chức vào sáng 24/5, tại Hà Nội, do Hội Khuyến học Việt Nam phối hợp Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ GD&ĐT tổ chức.
Tham dự hội thảo có đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; GS.TS. Nguyễn Thị Doan, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam và lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, hội khuyến học 63 tỉnh, thành phố, các chuyên gia, nhà khoa học giáo dục…
Trong những năm qua, Việt Nam đã chú trọng đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tuy nhiên, hiện nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Theo thống kê, tỉ lệ lao động có bằng cấp chứng chỉ của Việt Nam mới đạt được 30%, năng suất lao động chất lượng cao còn thấp so với nhiều nước trên thế giới. Do đó, xây dựng mô hình "Công dân học tập", "Đơn vị học tập" là một trong những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực tại chỗ.
Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản quan trọng nhất trong sự phát triển. Trong bối cảnh kinh tế số, hội nhập quốc tế, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực tại chỗ cần phải được đẩy mạnh. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phụ thuộc vào đầu tư phát triển nền giáo dục hiện đại, giáo dục mở thời đại số, tạo ra sự bình đẳng ai cũng có thể học hành. Do vậy, mỗi tổ chức, cơ quan, cần có biện pháp phù hợp để thúc đẩy với chủ trương mô hình công dân học tập, học tập suốt đời trong nhân dân. Đặc biệt là đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ cho các cấp quản lý, cán bộ trong các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: "Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ chỉ đạo hệ thống tuyên giáo phối hợp chặt chẽ với Bộ GD&ĐT, Hội Khuyến học và các cơ quan có liên quan cùng nhau chắt lọc những kết quả nghiên cứu, cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn tham mưu với Đảng, Nhà nước về các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để nâng cao ý thức học tập, ý thức tự học thường xuyên, học suốt đời… học mọi nơi mọi lúc, để nâng tầm trí tuệ, trình độ kỹ năng của từng công dân học tập, thành tố hạt nhân, yếu tố cơ bản của gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập".
Các đại biểu tại hội thảo đã tập trung làm rõ thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực theo mô hình "Công dân học tập" ở các ngành, các lĩnh vực, các nhóm đối tượng lãnh đạo, quản lý, người lao động, nhất là chất lượng nhân lực đội ngũ cán bộ trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, đội ngũ nhà giáo trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Để cụ thể hóa việc thúc đẩy học tập suốt đời, xây dựng "Xã hội học tập" từ cơ sở, nâng cao nguồn nhân lực tại chỗ, các đại biểu cho rằng, việc chuyển đổi mô hình đào tạo giáo dục cần phải được chú trọng ngay từ các cấp cơ sở, để thuận lợi nhất và tạo điều kiện cho mọi người đều có thể học tập. Đồng thời triển khai đồng bộ các mô hình học tập phù hợp từng ngành, từng lĩnh vực làm nòng cốt lan tỏa tới "Công dân học tập" .
Thực tế cho thấy, những khó khăn về công nghệ lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, môi trường bị ô nhiễm... sẽ được giải quyết nếu biết sử dụng, bồi đắp, làm giàu nguồn vốn là lực lượng nhân lực dồi dào và đầy ắp trí thông minh - những người đủ năng lực làm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: Đổi mới giáo dục là một quá trình, có những việc phải 10 năm sau mới có kết quả. Trong quá trình đổi mới giáo dục từng bước một, khi chưa hoàn thành thì vẫn còn điểm này, điểm kia. Nhưng điều quan trọng là khi nghị quyết của Trung ương, những nghiên cứu khoa học đủ chắc chắn, phù hợp với xu thế thế giới thì phải có kiên định chiến lược, kiên nhẫn thực hiện. Đồng thời, phải gắn chặt với điều kiện trong nước về hệ thống chính trị, truyền thống văn hoá, trình độ phát triển kinh tế-xã hội.
"Khi người dân, xã hội còn quan tâm, góp ý thì đó là may mắn cho những người làm công tác giáo dục có động lực để sửa mình, để phát triển", Phó Thủ tướng chia sẻ.
Theo Phó Thủ tướng, nhìn lại suốt mấy chục năm qua, đặc biệt từ khi có Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục tiếp tục có những bước phát triển vững chắc, toàn diện. Các bậc học (mầm non, phổ thông, dạy nghề, đại học) đều có bước tiến bộ. Các giải pháp đổi mới đã theo xu thế rất tốt.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Nghị quyết 29-NQ/TW đề ra rất nhiều giải pháp toàn diện. Bên cạnh việc tập trung vào các nhiệm vụ đổi mới trong nhà trường, thì liều lượng dành cho các giải pháp xây dựng xã hội học tập ở bên ngoài nhà trường cần được chú trọng hơn nữa.
Qua các ý kiến tại hội thảo, Phó Thủ tướng nhận định các cấp, các ngành đang tích cực thực hiện Quyết định 1373/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030".
Trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị, chính quyền, đoàn thể cần vào cuộc, bằng các giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải học tập suốt đời. Không chỉ người dân mà từng cơ quan, đơn vị cũng thấy rằng phải học tập để duy trì, đáp ứng được yêu cầu công việc, nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cho rằng phải làm sao để mỗi người thích học, thông qua nhiều giải pháp như xây dựng phong trào vận động xây dựng xã hội học tập, tôn vinh những người có kiến thức, hiểu biết, khơi dậy sự sáng tạo, đóng góp của người dân trong mọi hoạt động của đời sống văn hoá, xã hội.
Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành làm tốt hơn nữa việc tạo điều kiện thuận lợi để người lớn học tập, từ xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế chính sách để hệ thống giáo dục mở thực sự, phát huy tối đa các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề, cho đến chương trình để người lao động được học tập thuận lợi, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.
Đồng thời cần lưu ý đến những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội như người khuyết tật, người có khó khăn, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa.

Đình Nam 

KHÔNG THỂ XÉT LẠI CUỘC CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM!

         Kể từ ngày nó kết thúc, vào năm 1975, đã có những nỗ lực xét lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam, để làm cho nó có thể chấp nhận được, thậm chí là để có danh dự. Rốt cuộc, có rất nhiều khía cạnh của câu chuyện. Nó rất phức tạp, rất nhiều sắc thái. 

Hiện đang có áp lực rất lớn và rất nhiều tiền bạc để thay đổi lịch sử liên quan đến Việt Nam, khiến chúng ta phải mặc cảm và xấu hổ về nó. Nhưng chính cảm giác tội lỗi của người dân, sự xấu hổ của họ trước những gì được thực hiện dưới danh nghĩa của họ, và lòng dũng cảm tố cáo điều đó sẽ khiến chính phủ không thể thực hiện hành vi dã man này nữa
 
Điều rõ ràng là luôn thực sự tồn tại chủ nghĩa anh hùng, trong quân đội của các bên. Tất nhiên, điều này là đúng, như nó vẫn đúng với mọi cuộc chiến, nhưng không phải vì thế mà nó có thể là lý do cứu rỗi cho bất kỳ cuộc chiến nào. Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là không thể cứu chuộc, cần phải được ghi nhớ và lên án về thảm họa mà nó đã gây ra. “Chiến tranh Việt Nam là một trong những thảm họa chính sách đối ngoại lớn nhất của Mỹ trong thế kỷ XX” - Đó không phải là lời của một nhà bác học cánh tả hay một người có tinh thần chống Mỹ mới chỉ biết đọc biết viết, mà đó là lời của HR McMaster, cố vấn An ninh Quốc gia đương nhiệm của Tổng thống Hoa Kỳ.
 
Tại sao cuộc chiến tranh ở Việt Nam cần phải được ghi nhớ và lên án vì sự thất bại của nó?
 
Thứ nhất, Mỹ đã phản bội lý tưởng của chính mình vẫn thường đưa ra để biện minh cho chiến tranh. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam đã đến gặp Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman để yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ trong việc đuổi người Pháp đã chiếm Việt Nam làm thuộc địa từ những năm 1860. Chẳng phải chính Hoa Kỳ cũng đã từng tiến hành một cuộc chiến tranh giành độc lập để thoát khỏi sự thống trị của thực dân châu Âu hay sao?
 
Thật vậy, những lời mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đã được Hồ Chí Minh lấy cảm hứng từ Tuyên ngôn Hoa Kỳ. Chúng vang vọng đến mọi người Mỹ yêu nước: “Tất cả mọi người (đàn ông) được tạo ra bình đẳng. Họ được Tạo hóa ban tặng cho một số quyền bất khả xâm phạm, và trong số đó là Sự sống, Tự do và theo đuổi Hạnh phúc".

(Ở đây, người dịch xin phân tích thêm: những lời đó đã được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm tiến bộ hơn hẳn nội dung trong Tuyên ngôn Hoa Kỳ. Người khẳng định quyền bình đẳng thuộc về tất cả các dân tộc và các quyền con người cơ bản là quyền của cả nhân loại chứ không chỉ là “all men” – tất cả mọi người, thực tế chỉ là quyền của riêng đàn ông da trắng ở Mỹ khi đó, mà không phải “all humans” - tất cả con người hay “Human” - nhân loại).

Nhưng Hồ Chí Minh là một người cộng sản. Và chỉ vì vậy, mà Truman đã từ chối ông và thay vào đó là hỗ trợ cho người Pháp. Đó chính là “nguyên tội” khiến Mỹ không thể nào “thu phục nhân tâm” của người dân Việt Nam. Đó cũng là nguyên nhân sâu xa nhất khiến Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên, đó cũng không phải là tội lỗi đạo đức duy nhất mà Hoa Kỳ phạm phải chống lại những lý tưởng giả định của chính họ.
 
Eisenhower đã vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Genève 1954, dàn xếp cuộc chiến tranh cùng với người Pháp và thiết lập chế độ bù nhìn ở miền Nam. Do đó, chế độ “miền Nam” Việt Nam, không có gì đáng ngạc nhiên, đã nhanh chóng thất bại ngay sau khi người Mỹ phải cuốn cờ. Ông ta đã nhồi nhét một quan chức Công giáo giàu có từ New Jersey - Ngô Đình Diệm - vào vị trí cai trị những người dân mà đa số là dân nghèo, theo Phật giáo và là nông dân.
 
Diệm, với sự chúc phúc của Eisenhower, đã tẩy chay các cuộc bầu cử thống nhất đất nước được quy định rõ trong Hiệp định. Sau đó, chính Eisenhower tiết lộ rằng lý do của sự tẩy chay là "thằng con trai của chúng ta sẽ thua trong cuộc bầu cử". Và khi Diệm không còn có thể trấn áp được cuộc nổi dậy bùng phát chống lại chế độ chia rẽ và quá áp bức của mình, Kennedy đã ám sát ông ta.
 
Thứ hai, Mỹ đã tiến hành “bạo lực ngày tận thế” đối với Việt Nam, vượt quá mọi tiêu chuẩn đạo đức có thể hình dung được. Nó đã thả số bom xuống Việt Nam nhiều gấp ba lần so với lượng bom được tất cả các bên sử dụng tại tất cả các chiến trường trong Thế chiến II cộng lại. Như “bắn cá trong thùng”, bởi Việt Nam chỉ có diện tích tương đương với New Mexico và vào thời điểm đó, có dân số lớn hơn cả New York và California cộng lại.
 
Hoa Kỳ đã mất hơn 58.000 sinh mạng trong cuộc chiến tranh này. Nhưng hơn bốn triệu người Đông Nam Á - Việt Nam, Campuchia, Lào - đã bị giết hại, hầu hết là dân thường. Cứ 1 người Mỹ thì có 69 người Đông Nam Á bị giết. Đó không phải là một cuộc chiến. Đó là một cuộc thảm sát, và trên quy mô gần với Holocaust (cuộc diệt chủng do phát xít Đức tiến hành - người dịch).
 
Mỹ đã rải 21 triệu gallon chất khai quang gây ung thư xuống Việt Nam, trong đó có chất độc da cam khét tiếng. Hơn một nửa số rừng của quốc gia này đã bị phá hủy. Việt Nam là thảm họa môi trường do con người cố ý gây ra lớn nhất trong lịch sử thế giới. Cho đến nay, trẻ em ở đất nước này vẫn đang được sinh ra với dị tật bẩm sinh do ảnh hưởng của chất độc còn sót lại.
 
Trên đất nước láng giềng Lào, năm 1965 có dân số 2,4 triệu người, nhưng Mỹ đã thả tới 270 triệu quả bom bi. Tức là 113 quả bom bi cho mỗi người đàn ông, phụ nữ và trẻ em của đất nước này. Hơn 80 triệu quả bom vẫn chưa nổ cho đến ngày nay. Điều quan trọng cần nhớ là cả Việt Nam, Lào hay Campuchia đều chưa bao giờ tấn công Hoa Kỳ. Họ không bao giờ muốn tấn công. Họ không bao giờ cố gắng tấn công. Họ không bao giờ có khả năng tấn công. Họ chỉ đơn giản là muốn có cuộc sống của riêng họ.
 
Cuối cùng, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã được thiết lập và tiến hành với sự nối tiếp không ngừng của những lời nói dối cần phải bị truy tố. Mẹ bạn đã từng dạy bạn, như tất cả những bà mẹ tốt đều làm, rằng nếu bạn phải nói dối về điều gì đó thì rõ ràng điều đó là sai.
 
Các cơ quan “tình báo” đã không ngớt lời nói dối chúng ta về mối đe dọa từ một quốc gia của những người nông dân thời kỳ tiền công nghiệp ở phía bên kia thế giới, những người sau gần một thế kỷ chịu ách thống trị thuộc địa, chỉ đơn giản là muốn được các thế lực đế quốc phương Tây để họ được yên...
 
Năm đời tổng thống kế tiếp sau đã nói dối người dân Mỹ về sự cần thiết của cuộc chiến tranh và khả năng chiến thắng của nó. Không ai trong số họ muốn tỏ ra “mềm mỏng với chủ nghĩa cộng sản”. Không ai muốn trở thành "tổng thống Mỹ đầu tiên thua trận".
 
Báo cáo của Lầu Năm Góc tiết lộ rằng quân đội đã bị bão hòa với những lời dối trá, cả từ các đơn vị cấp thực địa đến các cơ quan điều hành chiến lược. Những người nói ra sự thật đều bị loại bỏ, nhằm đảm bảo rằng chỉ có những lời dối trá mới lọt được vào dây chuyền. Những lời nói dối sẽ không bị phát hiện cho đến khi trở nên quá muộn.
 
Trên thực tế, chính sự dối trá của chúng ta về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cả lúc bấy giờ và bây giờ, và sự hiểu biết của chúng ta về những lời nói dối đó, mà chưa bao giờ công khai, phủ nhận chúng một cách rõ ràng, đã tiếp tục làm cho chiến tranh trở nên đáng ghê tởm hơn.
 
Tất nhiên, nỗi nhục không thuộc về hàng triệu binh lính đã phục vụ ở đó mà thuộc về chính Cuộc chiến tranh. Nó thuộc về hệ thống các tổ chức - cả công và tư - hưởng lợi từ Chiến tranh và liên tục nói dối để biện minh cho nó, và cho những người mà sự im lặng và chấp nhận đã khiến họ trở thành đồng lõa với những lời nói dối.
 
Nỗi nhục nhã đó thuộc về những người đã đặt những người lính của chúng ta, con cái của chúng ta, trong hoàn cảnh éo le không phải để làm những điều danh dự một cách danh dự, mà phải cố gắng làm những điều ô nhục. Bởi vì, bất chấp những động cơ cao cả nhất mà họ viện ra để có thể tạo ra sự khởi đầu của nó, không thể nghi ngờ gì nữa, Cuộc chiến tranh cuối cùng đã trở thành “cái gì”.
 
Vào tháng 3 năm 1965, trước khi quân đội Mỹ đưa quân trên bộ vào khiến Chiến tranh không thể đảo ngược được nữa, trước khi phần lớn các vụ đánh bom và giết chóc sẽ được thực hiện, tại một cuộc họp ngắn của Lầu Năm Góc, Johnson đã tuyên bố rằng mục tiêu thực sự trong Chiến tranh là: “… 70% để tránh một thất bại nhục nhã của Hoa Kỳ; 20% để giữ miền Nam Việt Nam (và các vùng lãnh thổ liền kề) khỏi tay Trung Quốc; và 10% để cho phép người dân Việt Nam có một cuộc sống tốt hơn, tự do hơn”.
 
Đó là những gì mà sự tàn bạo loạn thần ở Việt Nam đã từng xảy ra. Chúng tôi tin rằng những người có khả năng nhận thức lịch sử sẽ không thể tin tưởng vào ý đồ xóa mờ lịch sử một cách vụng về. Bởi cuộc chiến tranh đó không phải để mang lại dân chủ; không để chống lại chủ nghĩa cộng sản; không phải để giúp đỡ nhân dân Việt Nam. Mà nó là "để tránh một thất bại nhục nhã của Hoa Kỳ". Đó là những lời chính thức, mặc dù vào thời điểm bí mật khi đó, của chính phủ Hoa Kỳ.
 
Chúng ta có thể triệu tập một người có thẩm quyền lớn hơn HR McMaster để xác nhận rằng Cuộc chiến tranh đã sai. Robert McNamara từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ trong cả nội các của Kennedy và Johnson. Ông ta là kiến ​​trúc sư và chiến lược gia chính của Cuộc chiến tranh.Trong hồi ký của mình, McNamara đã viết: “Chúng tôi, trong chính quyền Kennedy và Johnson, những người tham gia vào các quyết định về Việt Nam đã hành động theo những gì chúng tôi nghĩ là nguyên tắc và truyền thống của quốc gia chúng ta. Chúng tôi đã đưa ra quyết định của mình dựa trên những giá trị đó. Vậy mà chúng tôi đã sai, sai một cách khủng khiếp. Chúng tôi nợ các thế hệ tương lai việc giải thích lý do tại sao”.
 
Không có hai nhà chính trị nào có thể đại diện cho những khác biệt trong nhận thức về cuộc chiến tranh ở Việt Nam hơn hai người này (HR McMaster và McNamara – người dịch). Họ đại diện cho cái cũ và cái mới, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, dân thường và quân nhân, diễn viên và nhà phê bình, thực tế và hồi tưởng. Tuy nhiên, họ đều đã đi đến cùng một kết luận đáng nguyền rủa.
 
Đang có một áp lực rất lớn và rất nhiều tiền bạc để xét lại cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, khiến chúng ta phải mặc cảm và xấu hổ về nó. Nhưng trước đây, chính cảm giác tội lỗi của người dân, sự xấu hổ của họ trước những gì đã được thực hiện dưới danh nghĩa của họ, và lòng dũng cảm tố cáo điều đó đã khiến chính phủ của họ không thể thực hiện hành vi dã man này nữa. Liệu rằng trong chúng ta ngày nay có còn cảm giác tội lỗi, xấu hổ và can đảm như vậy nữa hay không?
 
Hãy nhớ rằng: nếu chúng ta phải nói dối về điều gì đó, thì rõ ràng điều đó đã sai. Logic này vẫn luôn đúng, với ngày nay cũng như những ngày đó, phải không? Và điều sai không thể trở thành đúng chỉ bởi sự lặp lại lớn hơn hoặc lặp đi lặp lại của những lời nói dối ban đầu. Hoặc, chỉ bởi sự liên kết “đầy nghệ thuật” của những cái mới hơn, bóng bẩy hơn, cá tính hơn.
 
Quên bài học đó, hoặc tệ hơn, rửa sạch nó khỏi ký ức của chúng ta để chúng ta có thể tiếp tục với lương tâm đã được thanh tẩy và lòng nhiệt thành được củng cố cho những kẻ săn mồi tàn ác hơn nữa, sẽ là một sự phản bội chính mình. Điều này chính những người dân Mỹ chúng ta mới có thể chống lại.
Trong khi đó, sách của một số "xử ra" cuốc sử nhà ta và cả phim ảnh của các hãng phim “chính thống” ở Việt Nam lại vô tư, trơn tuột sử dụng khái niệm “Vietnam War - Chiến tranh Việt Nam” theo chiêu bài tâm lý chiến của Mỹ ngụy xưa, bê gần như nguyên xi bộ phim “The Vietnam War” của Mỹ với cả lời bình vào các tập phim của mình, và... nhận giải. Trong khi đó, chính tại nước Mỹ, bộ phim này đã nhanh chóng chính thức bị ném vào sọt rác vì các chi tiết sai lệch, tẩy xoá lịch sử./.
Ảnh: bìa cuốn sách “Cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam - Tội ác hay sự kỷ niệm” của tác giả Mỹ John Marciano.
Môi trường ST.