Thứ Tư, 8 tháng 6, 2022

 HỢP TÁC QUỐC PHÒNG - MỘT TRỤ CỘT QUAN TRỌNG TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM-ẤN ĐỘ

Nhận lời mời của Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Ấn Độ Rajnath Singh thăm chính thức Việt Nam từ ngày 7-10/6.
Sáng 8/6, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Lễ đón Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh. Ngay sau lễ đón, hai Bộ trưởng đã tiến hành hội đàm.
Tại hội đàm, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chào mừng Bộ trưởng Quốc phòng cùng đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Ấn Độ sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam.
Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Ấn Độ, chuyến thăm có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị, truyền thống, Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước nói chung, giữa hai Bộ Quốc phòng và hai Quân đội nói riêng, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh cảm ơn Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã đón tiếp Đoàn, đồng thời bày tỏ mong muốn mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ sẽ tiếp tục phát triển.
Bộ trưởng Quốc phòng Rajnath Singh cho rằng, hợp tác quốc phòng là một trong những trụ cột quan trọng để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước.
Trao đổi về quan hệ quốc phòng song phương, hai bên thống nhất đánh giá, Việt Nam-Ấn Độ có mối quan hệ truyền thống, gắn bó lâu đời, được Thủ tướng Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp và đang ngày càng phát triển vững chắc, đạt nhiều hiệu quả thiết thực.
Cùng với sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hai nước, hợp tác quốc phòng cũng không ngừng được mở rộng, phát triển với nhiều hình thức phong phú, ngày càng thực chất, xứng đáng là một trụ cột quan trọng trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đánh giá cao và cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ của Ấn Độ đối với Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực đào tạo nâng cao nguồn nhân lực, triển khai các gói tín dụng, viện trợ của Chính phủ Ấn Độ dành cho Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Về phương hướng hợp tác trong thời gian tới, trên cơ sở Tuyên bố Tầm nhìn chung Việt Nam-Ấn Độ vì Hòa bình, Thịnh vượng và Người dân được thông qua vào tháng 12/2020, hai bên thống nhất tăng cường thúc đẩy hợp tác, triển khai đầy đủ, hiệu quả các văn bản, thỏa thuận đã ký kết.
Trong đó, tập trung tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp, nhất là đoàn cấp cao; duy trì và nâng cao hiệu quả các cơ chế đối thoại, tham vấn, giao lưu, nhất là cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng; huấn luyện đào tạo; hợp tác quân binh chủng; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; tăng cường phối hợp, tham vấn trên các diễn đàn đa phương...
Trao đổi về tình hình thế giới, khu vực và những vấn đề cùng quan tâm, hai bên thống nhất đánh giá, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu hướng chủ đạo trên thế giới.
Tuy nhiên, hai Bộ trưởng cho rằng, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, với những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; đại dịch Covid-19 đã tác động sâu sắc trên nhiều lĩnh vực và ở phạm vi toàn cầu; môi trường an ninh thế giới, khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn...
Hai bên chia sẻ quan điểm về tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; triển khai đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy đàm phán để sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Nhân dịp này, Đại tướng Phan Văn Giang đã gửi lời mời lãnh đạo Bộ Quốc phòng và các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng Ấn Độ ủng hộ và tham dự Triển lãm Quốc phòng quốc tế do Việt Nam tổ chức, dự kiến diễn ra vào cuối năm 2022.
Kết thúc hội đàm, hai bên ký Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ đối tác quốc phòng Việt Nam-Ấn Độ đến năm 2030 và Bản ghi nhớ về tương hỗ hậu cần giữa Bộ Quốc phòng hai nước.
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Đoàn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ấn Độ đã tới đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ Bắc Sơn, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chào xã giao Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; thăm Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam; Công ty đóng tàu Hồng Hà, Trường Sĩ quan Không quân, Trường Sĩ quan Thông tin.
Theo VN&TG


LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA!

     “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong tác phẩm: “Đạo đức cách mạng”, với bút danh C.B; đăng trên báo Nhân dân, số 460, ngày 06 tháng 6 năm 1955. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước bước vào thời kỳ kiến thiết, xây dựng chế độ xã hội mới - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa đặt ra rất nhiều khó khăn, thử thách, đặc biệt là việc xây dựng đạo đức mới - đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa sâu sắc, vừa nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và nhưng phải giữ được thuần phong, mỹ tục; đây cũng là tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng đạo đức mới. Đồng thời, khẳng định giá trị đạo đức ẩn chứa trong mỗi công việc, gắn liền với phẩm chất năng lực của mỗi con người; nhắc nhở mỗi người phải luôn giữ gìn đạo đức trong sáng dù trong hoàn cảnh nào, làm bất cứ công việc gì, mới là là người cao thượng. Đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã ra sức học tập, lao động, công tác, tu dưỡng đạo đức cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh thi đua ái quốc, kiến thiết nước nhà, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trên nền tảng vững chắc của đạo đức mới - đạo đức xã hội chủ nghĩa.
 Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, lời Bác dạy vẫn giữ nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức xây dựng một xã hội học tập, xây dựng chuẩn mực đạo đức mới, con người mới; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, góp phần xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, vinh dự, tự hào với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn phải không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận, trình độ quân sự, chuyên môn nghiệp vụ, làm chủ vũ khí trang bị; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
Yêu nước ST.

 Không thể mượn danh nhân quyền để dung túng, cổ vũ đối tượng vi phạm pháp luật

Lâu nay, dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thiếu thiện chí thường lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc trao cái gọi là Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals cho một đối tượng vi phạm pháp luật là hành động mới nhất.
Mượn cớ bảo vệ nhân quyền
Mới đây, tại Geneva, Thụy Sĩ, Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals đã được trao cho Phạm Đoan Trang, người mà Ban tổ chức giải thưởng tung hô là “nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền”. Phạm Đoan Trang là ai và có phải là người “bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân” như mô tả của những người tổ chức giải thưởng nhân quyền Martin Ennals hay không?
Với nhiều người, Phạm Đoan Trang không còn là cái tên xa lạ. Đây là người có hành vi chống đối Nhà nước quyết liệt. Ngày 14-12, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Phạm Đoan Trang (43 tuổi, trú quận Đống Đa, Hà Nội, được biết đến là blogger, từng làm việc cho một số trang báo) 9 năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, quy định tại điều 88 Bộ luật Hình sự 1999.
Phạm Đoan Trang là tác giả của nhiều tài liệu có nội dung hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”… Theo hồ sơ vụ án, năm 2013, do xuất cảnh đi nước ngoài không xin phép nên Trang đã bị cơ quan chủ quản kỷ luật buộc thôi việc. Trong chuyến xuất cảnh trái phép này, Trang đã bị một số đối tượng chống đối chính quyền dẫn dắt, móc nối, lôi kéo.
Trở về nước, Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp, đồng thời tụ tập, khuếch trương lực lượng chống đối trong nước, tập hợp lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ, trí thức trẻ. Đoan Trang đã viết, phát tán nhiều bài viết, cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chế độ.
Tòa án nhận định hành vi xuyên tạc đường lối chính sách, phỉ báng chính quyền của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với mục đích cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.
Sự thật rõ ràng như vậy, ấy thế nhưng dưới cái cớ bảo vệ nhân quyền, tự do ngôn luận, một số tổ chức nước ngoài, đại diện trong cơ quan ngoại giao của một số nước lại sẵn sàng dùng nhiều mỹ từ ca ngợi, bênh vực Phạm Đoan Trang. Họ sẵn sàng đăng đàn, công bố những cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền”, “Tự do truyền thông quốc tế”, “Phụ nữ can đảm quốc tế”, “danh sách nạn nhân cần bảo vệ”… dành cho Phạm Đoan Trang. Tất nhiên, đi kèm với những việc làm này là “thông điệp” gây sức ép, phản đối và những cáo buộc vô căn cứ, phi lý với Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.
Lộ liễu chiêu trò, dung túng, cổ vũ cho đối tượng vi phạm pháp luật
Không chỉ Phạm Đoan Trang, thời gian qua, cơ quan bảo vệ pháp luật đã xử lý một số đối tượng khác dựa trên những căn cứ cụ thể của từng bộ luật, trong đó có Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình bắt giữ, xử lý các đối tượng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân đều căn cứ vào những quy định của pháp luật để xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan sai. Vì vậy, có thể nói, bản án dành cho Phạm Đoan Trang cũng như các đối tượng chống đối khác trong thời gian qua là hoàn toàn đúng quy định, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Những luận điệu bóp méo, xuyên tạc rằng Việt Nam xử lý các đối tượng trên bằng “bản án mơ hồ” “theo ý chí chủ quan”, “áp đặt”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến” là hoàn toàn vô căn cứ. Điều này cho thấy một số tổ chức, cá nhân nước ngoài tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để gây sức ép đối với Việt Nam. Với cái nhìn tiêu cực, thiếu thiện chí với Việt Nam, các cá nhân, tổ chức này lợi dụng triệt để việc Việt Nam xử lý số đối tượng vi phạm pháp luật thuộc nhóm chống đối trong thời gian qua, trong đó có Phạm Đoan Trang để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tạo cớ cho một số tổ chức, cá nhân tiếp tục có hoạt động chống phá Việt Nam.
Đây có thể coi là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Những tổ chức và cá nhân này luôn “ngộ nhận” về những giá trị “tốt đẹp” và “cao quý” của nền dân chủ tư sản phương Tây. Vì muốn áp đặt các giá trị này mà họ sẵn sàng can thiệp vào chính sách nhân quyền của quốc gia khác, kể cả những quốc gia có không ít nỗ lực và thành tựu về dân chủ, nhân quyền được cộng đồng quốc tế thừa nhận như Việt Nam. Với học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, họ sẵn sàng ca ngợi, “bao bọc”, trợ giúp những đối tượng có tư tưởng bất mãn, chống đối chính quyền như Phạm Đoan Trang, kể cả khi các đối tượng này đã bị kết án bởi những phiên tòa công khai, khách quan, dân chủ từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam.
Mỗi đất nước có quyền lựa chọn con đường riêng của mình. Sự khác biệt về thể chế chính trị và những đặc thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam và các nước phương Tây đương nhiên sẽ tạo nên những hệ giá trị khác nhau, ngay cả với những vấn đề liên quan đến dân tộc, nhân quyền. Nhưng không vì thế mà các giá trị của phương Tây nghiễm nhiên trở nên ưu việt hơn, nổi trội hơn.
Thực tế thời gian qua cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên trì, nhất quán chính sách đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam trong thời gian qua là không thể phủ nhận. Điều này đã được nhân dân ủng hộ và các tổ chức uy tín hàng đầu quốc tế công nhận.
Vì vậy, việc các tổ chức, cá nhân xuyên tạc, vu cáo vấn đề dân chủ, nhân quyền của quốc gia khác là xâm phạm vào công việc nội bộ của quốc gia đó. Điều này không thể chấp nhận được đối với một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam. Việc ủng hộ, dung túng, cổ vũ cho những đối tượng vi phạm pháp luật, bị đưa ra xét xử, có hành vi chống đối một quốc gia có độc lập, có chủ quyền là điều cần phải lên án.
Đảng và Nhà nước ta luôn hoan nghênh những ý kiến đóng góp xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời nỗ lực bảo đảm quyền tự do, dân chủ, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, mỗi công dân khi thực thi quyền này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Bất kỳ hành vi nào lợi dụng quyền tự do của bản thân mình để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đều chịu xử lý của pháp luật và trật tự, kỷ cương chỉ có thể được giữ vững khi pháp luật được thượng tôn. Đó là cơ sở cho sự phát triển ổn định của đất nước, là tiền đề quan trọng để thúc đẩy, bảo đảm và phát huy các giá trị về quyền con người không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Hoàng Sơn
Có thể là hình ảnh về 3 người, đàn ghi ta và văn bản




Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao: 'Vấn đề biên giới lãnh thổ là thiêng liêng, hệ trọng'

 

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao: 'Vấn đề biên giới lãnh thổ là thiêng liêng, hệ trọng'

Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ, vấn đề biên giới lãnh thổ là thiêng liêng, hệ trọng, nhạy cảm, liên quan chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc phòng, an ninh quốc gia, công tác đối ngoại của đất nước….

Sáng 8/6, Ban Tuyên giáo T.Ư phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị tuyên truyền về công tác biên giới trên đất liền năm 2022. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối tới 25 tỉnh, thành phố có đường biên giới.

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ đã trình bày tổng quan chung về công tác quản lý biên giới của nước ta trên đất liền, công tác quản lý tuyến biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Campuchia; các thuận lợi, khó khăn, hạn chế cần tiếp tục giải quyết trong thời gian tới...

Ông Vũ cho rằng, qua công tác quản lý đường biên giới thời gian qua đã rút ra nhiều bài học quan trọng.

Thứ nhất, theo ông Vũ, vấn đề biên giới lãnh thổ là thiêng liêng, hệ trọng, nhạy cảm, liên quan chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc phòng, an ninh quốc gia, công tác đối ngoại, cần phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước...

Ông Vũ cũng cho rằng, việc đàm phán về vấn đề biên giới, công tác quản lý biên giới liên quan chặt chẽ đến quan hệ chính trị giữa hai nước. Đàm phán, quản lý biên giới điều quan trọng là phải giảm sự khác biệt, tăng sự hiệp đồng để đi đến thống nhất.

Theo ông Vũ, vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia, quyền lợi chính đáng của chúng ta thì phải kiên quyết, kiên trì đàm phán cho bằng được. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, không được nóng vội, phải biết tận dụng các thời cơ để xử lý một cách triệt để.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao cũng nêu, vấn đề biên giới lãnh thổ liên quan đến các yếu tố lịch sử, pháp luật... tác động rất sâu rộng đến người dân khu vực xung quanh biên giới. Vì thế, việc xử lý, quản lý, đàm phán vấn đề biên giới lãnh thổ phải tính tới các vấn đề liên quan. Cùng với đó, phải có sự đồng thuận, phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan...

Tại hội nghị, các đại biểu cho rằng, lực lượng chức năng, nhất là của các địa phương khu vực biên giới cần chủ động nắm chắc tình hình từ sớm, từ xa, kịp thời tham mưu, đề xuất chính quyền địa phương về chủ trương, đối sách, xử lý hiệu quả các tình huống trên biên giới, chú ý các địa bàn trọng điểm, không để bị động, bất ngờ.

Cùng với đó, cần tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới theo đúng các văn kiện pháp lý đã ký kết, duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu; đấu tranh hiệu quả phòng, chống tội phạm, nhất là tổ chức tội phạm quy mô lớn, hoạt động xuyên quốc gia, tội phạm ma túy có vũ trang..; đẩy mạnh hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng.

Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư Lê Hải Bình, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại khẳng định tầm quan trọng của việc cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, thông tin đối ngoại về công tác quản lý, bảo vệ biên giới trên đất liền đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang diễn biến phức tạp hiện nay.

Ông Bình đề nghị các cơ quan hữu quan, địa phương biên giới cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ chính. Theo đó, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác biên giới lãnh thổ quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và các văn bản liên quan: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhất là các tỉnh có biên giới cần chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; bảo đảm vừa tuân thủ các nguyên tắc, chủ trương vừa linh hoạt, ứng phó hiệu quả với các tình huống nhạy cảm mới phát sinh, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, chú trọng tính phù hợp với đối tượng khác nhau của khu vực biên giới. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, trong đó có công tác tuyên truyền bằng tiếng: Trung Quốc, Lào, Khmer, Anh và ngôn ngữ các dân tộc ít người ở khu vực biên giới trên đất liền.

Tiếp tục quan tâm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho các lực lượng làm công tác tuyên truyền, nhất là lực lượng tuyên truyền viên ở cơ sở như, già làng, trưởng bản, trưởng ấp, người có uy tín trong cộng đồng tôn giáo, cộng đồng dân cư khu vực biên giới.

Các địa phương có biên giới phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương đối diện của 3 nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia nâng cao năng lực công tác quản lý biên giới theo các văn kiện đã ký kết; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực xấu lợi dụng vấn đề biên giới để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá chế độ ở mỗi nước và quan hệ truyền thống hữu nghị của các nước láng giềng.

 

Việt Nam được bầu làm phó chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

 

Việt Nam được bầu làm phó chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

Việt Nam vừa qua đã được đồng thuận bầu làm một trong những phó chủ tịch đại diện cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77 với nhiệm kỳ một năm.

Nhiệm kỳ của Việt Nam sẽ bắt đầu từ ngày 13/9, theo thông cáo hôm 8/6 của Bộ Ngoại giao.

Trước đó, trong buổi họp sáng 7/6, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa cũ đã họp để bầu các chức danh chủ tịch và các phó chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Khoá 77. Đại sứ Csaba Kőrösi, người Hungary đã trở thành tân chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Khóa 77.

Quang cảnh cuộc họp bầu chủ tịch và các phó chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa mới. Ảnh: Bộ Ngoại giao.

Ngoài Việt Nam, các nước khác cùng trúng cử phó chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Khóa 77 gồm Benin, Burundi, Kenya, Mauritania, Niger, Zimbabwe (khu vực Châu Phi), Malaysia, Nepal, Tajikistan, Turkmenistan (khu vực châu Á - Thái Bình Dương), Chile, El Salvador, Jamaica (Mỹ Latin), Estonia (Đông Âu), Israel, Australia (Tây Âu và các nước khác).

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc là một trong 6 cơ quan chính của Liên Hợp Quốc và là cơ quan duy nhất của Liên Hợp Quốc có đại diện của tất cả thành viên.

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có thẩm quyền rộng trong các lĩnh vực hợp tác chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, có quyền thảo luận và đưa ra kiến nghị về các vấn đề thuộc phạm vi Hiến chương hoặc bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của các cơ quan của Liên Hợp Quốc, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn cầu.

 

Ngày này năm xưa: ngày 8 tháng 6 năm 1945

Theo chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 8-6-1945, nhân dân Đông Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đã nổi dậy đánh chiếm các đồn Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, lập ra "Đệ tứ chiến khu", tức chiến khu Trần Hưng Đạo. Với các Uỷ ban nhân dân cách mạng và đội du kích chống Nhật.

Chiến khu Trần Hưng Đạo nằm trong vùng giàu có về mỏ, có nhiều công nhân tập trung, có truyền thống cách mạng và có một vị trí quan trọng ở vùng đông Bắc Bộ.

Chính vì vậy, ngay sau khi nổ ra khởi nghĩa, giặc Nhật liên tiếp nmở các cuộc càn quét vào chiến khu. Nhưng chúng đều bị quân và dân ta giáng trả mãnh liệt. Ưu điểm của các trận đánh là biết dựa vào cao trào cách mạng cả nước, biết kết hợp chặt chẽ tác chiến với các công tác vận động binh lính địch. Lực lượng vũ trang và quần chúng đã giành chính quyền tại nhiều địa phương ở Hải Dương và Quảng Yên.

Phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội

Về bản chất, phát triển kinh tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) luôn hướng đến và bao hàm sự tiến bộ, công bằng xã hội. Tiến bộ, công bằng xã hội không chỉ bị quy định bởi điều kiện, trình độ kinh tế mà nó còn là mục tiêu hướng đến, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm cho kinh tế phát triển lành mạnh. Tuy nhiên, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(1), ngay từ khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chọn phương thức thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.

Qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã có những bước chuyển căn bản so với trước đó. Từ chỗ đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản (CNTB) đến thừa nhận giá trị nhân loại của kinh tế thị trường và sáng tạo nên nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khẳng định đây là mô hình tất yếu để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Từ chỗ Đảng, Nhà nước bao cấp toàn bộ trong giải quyết việc làm và thực hiện chính sách xã hội chuyển sang Nhà nước tạo cơ chế để các giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, xã hội cùng tạo việc làm cũng như giải quyết các vấn đề xã hội. Từ chỗ chưa đặt đúng vị trí, vai trò chính sách xã hội trong tương quan với chính sách kinh tế đã đi đến nhận thức về sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất biện chứng giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem phát triển kinh tế là cơ sở, tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội và xem việc thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đây là sự thay đổi căn bản tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Tiếp tục phát triển quan điểm của Đảng, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, trước khi làm rõ thêm đặc trưng của chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, Tổng Bí thư đã chỉ ra bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN). Đó là một xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(2). Tổng Bí thư khẳng định, đó là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN. Đây là sự lý giải gián tiếp tại sao Việt Nam không lựa chọn phát triển đất nước theo con đường TBCN.

Mặc dù không phủ nhận những thành tựu to lớn mà CNTB đã mang lại, đặc biệt là khoa học và công nghệ song Tổng Bí thư cũng chỉ rõ những mâu thuẫn mang tính bản chất của chế độ TBCN. Điều đó được thể hiện rõ nét qua những cuộc khủng hoảng trên quy mô lớn của các nước tư bản phát triển - những cuộc khủng hoảng mà Tổng Bí thư cho rằng nó đã “chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”(3) (tức là phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN). Từ đó, Tổng Bí thư đưa ra quan điểm rất rõ ràng: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”(4). Đây là điểm nhấn quan trọng, vừa là sự cụ thể hóa hơn, vừa cho thấy rõ sự phát triển quan điểm của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn với phát triển kinh tế, bởi lẽ Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm tính ưu việt của chế độ xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Tính ưu việt đó không chỉ được thể hiện trên phương diện lý luận, với những chủ trương, đường lối mà còn được hiện thực hóa thông qua những chính sách quản lý và phát triển xã hội đã và đang thực hiện thời gian qua.

NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CHO HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC ĐẢNG CỘNG SẢN

Ngay khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành vũ khí lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Chính những giá trị khoa học, cách mạng vĩ đại ấy đã khiến giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, công bằng trên thế giới hưởng ứng, nhiệt thành đón nhận và kiên quyết đấu tranh bảo vệ cho chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng như áp dụng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhanh chóng xâm nhập vào phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, và làm thay đổi toàn bộ diện mạo thế giới, cũng như tính chất thời đại.

Thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 là minh chứng hùng hồn khẳng định giá trị hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn. Bằng sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng Nga, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Liên Xô đã cho thế giới biết đến một chế độ xã hội mới và đã biến “bóng ma ám ảnh châu Âu” thành hiện thực. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản và chính quyền Xô viết non trẻ đã đánh bại cuộc tấn công của 14 nước đế quốc, bảo vệ thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Sau đó, tiếp tục đánh bại chủ nghĩa phát xít, giải phóng một phần rộng lớn các nước Đông Âu, đưa chủ nghĩa xã hội từ một nước, trở thành một hệ thống, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, đấu tranh giải phóng vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới - đúng với mục tiêu mà chủ nghĩa Mác - Lênin hướng tới: không dừng lại ở giải thích thế giới mà phải cải tạo cả thế giới. (Trích tuyengiao.vn)

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN: CUỘC CÁCH MẠNG VỀ NHẬN THỨC TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là kết quả đỉnh cao của tư duy khoa học, kế thừa, chọn lọc và phát triển sáng tạo những thành tựu tư tưởng, khoa học của nhân loại mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Các ông đã đứng trên vai những người khổng lồ xây dựng nên học thuyết cách mạng đáp ứng yêu cầu của thời đại. Bằng những luận thuyết tiêu biểu về phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết đấu tranh giai cấp và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, học thuyết hình thái - kinh tế xã hội,... chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra cuộc cách mạng về mặt nhận thức trên phạm vi toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra cách giải thích khoa học về nguồn gốc, động lực phát triển của xã hội loài người; không dừng lại ở việc chỉ “vén bức màn” bí mật mà công khai vạch trần bản chất bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa; đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa duy tâm, mở đường cho khoa học phát triển, tạo tiền đề giải phóng con người, giải phóng xã hội khỏi sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm, của thần quyền và những tư tưởng, định kiến bảo thủ, lỗi thời, lạc hậu vốn dĩ đã tồn tại cố hữu hàng thế kỷ trước đó. Những giá trị khoa học vĩ đại đó “đã cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”(1) để cải tạo thế giới. Kể từ đó đến nay, dù tiếp tục có những học thuyết mới, với những cách luận giải mới, dưới nhiều màu sắc, quan điểm, lập trường khác nhau; song chỉ có học thuyết Mác - Lênin là khoa học và cách mạng, vì mục tiêu giải phóng và phát triển con người. Tính ưu việt, sự hấp dẫn và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin chính vì vậy nằm ngay ở sức thuyết phục khoa học của nó.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin còn là biểu tượng vĩnh hằng cho một học thuyết chính trị - xã hội có tính cách mạng và triệt để nhất. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực sự giải đáp được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đã và đang đặt ra nhưng trước đó chưa học thuyết nào giải quyết được. Bởi trong khi toàn bộ hệ thống lý luận tư sản đều tìm mọi cách biện minh cho chủ nghĩa tư bản, thì chủ nghĩa Mác - Lênin đã tuyên chiến với hệ tư tưởng tư sản, vạch rõ nguồn gốc sâu xa của chế độ người bóc lột người; bản chất của chiến tranh; sự bất bình đẳng giai cấp và dân tộc, khẳng định sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội. Sự khác biệt lớn nhất so với các học thuyết trước đó ở chỗ, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết duy nhất đề cập mục tiêu, con đường, lực lượng, cách thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công một cách đúng đắn nhất; thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng dân tộc và nhân loại. Cũng chỉ có học thuyết Mác - Lênin mới phát hiện và lý giải đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử, phát hiện và xác lập đúng đắn vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ chế độ xã hội áp bức, bất công. Và họ chính là những người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản.

Ngay từ khi mới xuất hiện, chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành kẻ thù đáng sợ nhất, nỗi ám ảnh thường xuyên nhất về mặt tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa tư bản. Nhận thấy, lý luận đó nếu được truyền bá và trở thành hiện thực thì những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp tư sản và các nước tư bản chủ nghĩa đương nhiên sẽ không còn chỗ đứng. Chính vì vậy, kẻ thù luôn tìm cách chống phá điên cuồng, chúng không từ một âm mưu, thủ đoạn đê hèn nào, hòng từng bước làm phai nhạt niềm tin của nhân dân lao động và lực lượng tiến bộ, hòa bình trên thế giới, tiến tới hạ bệ và cuối cùng là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng tiến công ở cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn, từ những vấn đề cơ sở của sự ra đời, từ quá trình vận động, phát triển đến việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn của các Đảng cộng sản, các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Theo đó, chúng xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin; công kích toàn bộ nội dung, các bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin; lợi dụng triệt để việc hiểu chưa đúng đủ, vận dụng sai lý luận Mác - Lênin trong thực tiễn của các Đảng Cộng sản… để phủ nhận giá trị hiện thực lớn lao mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra cho nhân loại. (Sưu tầm)

YÊU CẦU BỘ GIÁO DỤC PHẢI TRẢ LỜI: AI CHO PHÉP THAY ĐỔI TỪ NGỤY TRONG SÁCH GIÁO KHOA???

         Kính thưa quý Bộ, trong một số cuốn Sách Giáo Khoa mà quý vị đã phát hành trong thời gian qua, nhận thấy có một số điểm rất bất hợp lý.
1. Yêu cầu quý Bộ trả lời công khai trước nhân dân cả nước câu hỏi : Căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để quý Bộ dùng 2 cụm từ "chính quyền Sài gòn" và "quân đội Sài Gòn" thay cho cụm từ ngụy quân, ngụy quyền ???

Trong Sách Giáo Khoa lớp 5 hiện hành có những đoạn viết như sau :
- trang 42 : "...chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây ra nhiều vụ th:'ảm sat..."
- trang 48 (phần nói về Tết Mậu thân) : "...làm cho hầu hết các cơ quan từ trung ương đến địa phương của Mĩ và chính quyền Sài gòn bị tê liệt, khiến chúng hết sức hoang mang lo sợ..., ...quân đội Sài gòn thiệt hại nặng nề..."
(có thể còn rất nhiều chỗ sử dụng các cụm từ này để thay cho từ ngụy quân, ngụy quyền)

Chúng tôi yêu cầu Bộ Giáo dục và các cơ quan chức năng hãy trả lời rõ ràng cho nhân dân được biết : dựa vào cơ sở pháp lý nào mà quý Bộ lại ngang nhiên xóa bỏ từ ngụy quân, ngụy quyền trong lịch sử ???

Để nói rõ hơn về vấn đề này, xin nói rõ hơn về chữ ngụy như sau :
Chữ ngụy là 1 từ có yếu tố Hán Việt. Nghĩa đúng và đầy đủ nhất của từ ngụy là Giả, là không có thật. Ví dụ : ngụy tạo, ngụy quân tử..., ngụy là 1 loại tính từ nên không thể viết hoa từ này.
Từ ngụy cũng có nghĩa đối lập và trái ngược với từ Chân và từ Chính, nghĩa của 2 từ này là Thật. Ví dụ : chân nhân, chân thật..., chính chuyên, chính trực, chính nhân quân tử...
Chính quyền tay sai cho đế quốc ở miền Nam trước năm 1975 là một chính quyền giả tạo do nước ngoài dựng lên và điều khiển, không có thực quyền, không phải do nhân dân lập ra, không phải là của dân tộc Việt Nam.
Một thực thể giả tạo như vậy phải được gọi là ngụy quyền là đúng với bản chất giả tạo của thực thể đó mà không được phép gọi là "chính quyền Sài gòn", vì sai bản chất.
Không được phép dùng chữ Chính để thay cho chữ ngụy, vì đã vi phạm nghĩa đúng của câu từ.
Tương tự như vậy, quân đội của một thực thể tay sai phải được gọi là ngụy quân chứ không được phép gọi chúng là "quân đội Sài gòn"
Như vậy, các nhà biên soạn Sách Giáo khoa, không rõ vô tình hay cố ý nhưng đã vi phạm quy tắc nghĩa đúng của câu từ để định danh cho một thực thể giả tạo.
Nguy hiểm hơn, chính sự vi phạm này là tiền đề để tẩy trắng tội ác của bọn bán nước ngụy quyền. Xa hơn nữa, việc sử dụng từ theo kiểu đánh tráo này, là ngòi nổ tiếp sức cho những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực phản động.
Mặt khác, việc cố ý sử dụng những cụm từ như trên là có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp.
Điều 1, điều 2 Hiến Pháp của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam quy định : Nước CH XHCN Việt Nam là 1 nhà nước thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,..., Nhà nước XHCN là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...
Điều 119 Hiến pháp cũng quy định : "Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp".
Như vậy, thực thể tay sai cho Mỹ ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 hoàn toàn KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN để được gọi là một chính quyền.
Việc sử dụng các cụm từ "chính quyền Sài gòn, quân đội Sài gòn" cũng hoàn toàn không phù hợp với hiến pháp Việt nam.
Với những vấn đề rõ như ban ngày đã nêu trên chúng tôi KIÊN QUYẾT YÊU CẦU Bộ Giáo dục phải trả lại ngay lập tức giá trị đúng của lịch sử. Không được phép làm sai lệch Lịch sử của dân tộc Việt Nam. Phải trả lại ngay cụm từ ngụy quân, ngụy quyền để định danh cho những thực thể tay sai của để quốc.

2. Dấu hỏi về chương trình cải cách:
Dù muốn thừa nhận hay chối cãi thì chương trình Giáo dục hệ 10 năm của Việt Nam đã ghi dấu ấn rất ấn tượng trong quá trình giữ nước và xây dựng đất nước.
Những nhà khoa học, những nhà văn nhà thơ bình dị của chúng ta, sản phẩm của họ đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn ngàn bão tố để bảo vệ độc lập và dựng xây Tổ quốc. Tại thời điểm hiện tại, chính những nhà trí thức cổ lỗ năm xưa vẫn đảm đương những vị trí xương sống trong xã hội mà thế hệ tiếp theo chưa thể hoàn toàn đảm đương được.
Điều này là bằng chứng không thể chối cãi, mô hình chưa cải cách không phải là một nền giáo dục tồi.
Còn thành tựu của 30 năm cải cải cách cách thì sao ? Xin nói thẳng ra là rất mờ nhạt, nếu không muốn nói là thất bại. Cứ nhìn vào chất lượng nguồn nhân lực của chúng ta bị đánh giá thấp thì đủ thấy, chất lượng đào tạo của chương trình cải cách rất đáng báo động. Và nếu nhìn vào cách thanh niên bu theo Khá Bảnh và rầm rầm gây quỹ ủng hộ diễn viên Tàu thì rõ ràng là giáo dục con người của chúng ta đã không đạt được mục tiêu.
Tuy nhiên, cú "đổi mới giáo dục" lần này, sau những phẫn nộ của quần chúng về Trần Đình Sử thì Sách Giáo Khoa có khá hơn không ?
Xin lấy 1 vài ví dụ ở Sách Giáo khoa Ngữ văn lớp 6, tập 2. 
Trong sách hệ 10 năm thì luôn đầy ắp những vần thơ những trích đoạn chứa chan tình người, tình cách mạng, tình đồng chí đồng bào, và thể hiện bằng những những thủ pháp nghệ thuật mẫu mực nhất.
"Hoan hô anh Giải phóng quân.
Kính chào anh con người đẹp nhất.
Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất
Sống hiên ngang bất khuất trên đời...",
....
Rồi bài thơ Gửi Miền Bắc của chúng tôi đâu ??? Bài văn ca ngợi con người lao động mới, anh hùng Hồ Giáo của tôi đâu??? Những người nông dân hay lam hay làm của chúng tôi đâu ???
Thay vào đó, tại sao lại có rất nhiều áng văn xa lạ ?
Riêng tập 2 sách Ngữ văn 6 chỉ có 1 bài Đêm nay Bác không ngủ là 1 áng văn cách mạng trọn vẹn. Các chủ đề tương tự như vậy đều rất mờ nhạt và trích những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật tồi.
Bàng hoàng hơn nữa, trong sách lại in một bài thơ nước ngoài nói về 1 chú gấu chân vòng kiềng:
"Có con sáo trên cành.
Hét thật to trêu chọc
- E Gấu, chân vòng kiềng.
Giẫm phải đuôi hả nhóc"...
Bộ Giáo dục hãy cho chúng tôi biết: bài thơ này có tác dụng giáo dục gì??? 
Ai nhìn vào đây cũng thấy nội dung rất phản cảm, nghệ thuật rất tầm thường, gieo vần rất tệ hại. Vậy căn cứ vào điều gì để được chọn đưa vào sách giáo khoa ???
Chưa hết, tập này còn in bài thơ: Sao Không Về Vàng Ơi, của nhà thơ Trần Đăng Khoa:
"Rồi mày lắc cái đầu.
Khịt, khịt mũi rung râu.
Rồi mày nhún chân sau.
Chân trước chồm, mày bắt...".

Chỉ nhìn qua cũng thấy đây có thể là 1 bài thơ tồi nhất của ông này. Không thấy có giá trị giáo dục gì ở những câu thơ kể về sự giao tiếp của loài ch\0' ???
Tại sao không chọn 1 bài có chất lượng nghệ thuật cao hơn, tại sao trẻ con lại phải học những vần thơ thô thiển như vậy ?
Thiết nghĩ, Sách Giáo Khoa là nền tảng mẫu mực nhất để đi đến tri thức và nhân cách của con người.
Vậy quý Bộ đưa những vẫn thơ tầm thường như vậy vào sách vở để nhằm mục đích gì?
Chúng tôi yêu cầu phải trả lại sự trong sáng mẫu mực của nền giáo dục cũ. Không chấp nhận những thứ chất lượng thấp được đưa lên bục giảng.
Những kẻ chống lại sự lãnh đạo của Đảng, đòi xóa điều 4 của Hiến Pháp là những kẻ suy thoái về đạo đức không được phép tham gia công tác trồng người. Yêu cầu rà soát, loại bỏ ngay bọn chúng ra khỏi bộ máy.
Khẩn thiết đề nghị Quốc hội và các cơ quan Trung ương vào cuộc khẩn cấp.
Nếu để tình trạng này vẫn tiếp diễn thì con cháu Tiên Rồng nguy to lắm rồi./.




Môi trường ST.

VỤ VIỆT Á, VÀI SUY NGẪM!

         Vụ đại án Việt Á đang từ từ khép lại. Tôi tự suy ngẫm và nhận ra rằng đây là một vụ án đau buồn với 5 điều nhất.
1. Số quan chức dính án đông nhất.
2. Quy mô và phạm vi vụ án rộng nhất.
3. Số tiền móc túi của dân nhiều nhất.
4. Thời gian hành dân dài nhất.
5. Ngành Y Tế mất niềm tin của dân nặng nhất.
Cũng như một cái ung nhọt lâu ngày. Nay phải giải phẫu dẫu đau buồn. Nhưng thà kết thúc bằng một nỗi đau còn hơn kéo dài nỗi đau mà không biết khi nào mới kết thúc.
Giải phẫu xong dẫu để lại một nếp sẹo nhớ đời, nhưng da thịt yên lành, vẫn tốt và dễ chịu hơn nhiều.

Từ khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhóm lửa đốt lò, chức danh, học hàm, học vị, trình độ, thâm niên công chức, viên chức… của các “Phạm nhân” tăng rất nhanh. Đó là một nghịch lý đáng buồn.
Thực tiễn đã mách bảo rằng mọi đồng tiền chân chính luôn giúp con người làm những điều chân chính. Mọi đồng tiền nhơ bẩn sẽ nhuộm bẩn chính mình.
Năng lực của cán bộ lệ thuộc rất nhiều thứ như: Năng khiếu, sở trường, khát vọng, đào tạo, thực tiễn. Nhưng phẩm chất của cán bộ chỉ phụ thuộc đạo đức và bản lĩnh của chính mình. Chỉ cần nhớ một điều rất cốt lõi là: đừng bao giờ cầm tiền của ai khi mình không có công và chỉ cầm tiền đúng công sức của mình thì nhất định sẽ an toàn.
Làm dân thì cố bảo vệ cho được hai chữ “Công dân“, làm cán bộ thì phải giữ thêm hai chữ “An toàn“. Có lẽ đó là điều thiêng liêng nhất trong đạo làm người./.
Môi trường ST.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Giá trị lý luận đặc sắc của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

 


 

Hồ Chí Minh còn đem lại những kiến giải khoa học sâu sắc về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam. Người đặt nền móng cho lý luận CNXH khoa học và xây dựng CNXH trong tính đặc thù Việt Nam, ở Việt Nam, đem lại câu trả lời sáng tỏ nhất cho những câu hỏi lớn nhất: CNXH là gì? Vì sao lại lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa như một tất yếu và xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Bằng những biện pháp, phương pháp nào? với những điều kiện và bước đi cụ thể ra sao? Tính dân tộc, tính nhân dân, tính sáng tạo và đổi mới được thể hiện đậm nét trong lý luận Hồ Chí Minh về CNXH.

Nhận diện và đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân

 


Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.