Về bản chất, phát triển kinh tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) luôn hướng đến và bao hàm sự tiến bộ, công bằng xã hội. Tiến bộ, công bằng xã hội không chỉ bị quy định bởi điều kiện, trình độ kinh tế mà nó còn là mục tiêu hướng đến, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm cho kinh tế phát triển lành mạnh. Tuy nhiên, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(1), ngay từ khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chọn phương thức thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.
Qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã có những bước chuyển căn bản so với trước đó. Từ chỗ đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản (CNTB) đến thừa nhận giá trị nhân loại của kinh tế thị trường và sáng tạo nên nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khẳng định đây là mô hình tất yếu để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Từ chỗ Đảng, Nhà nước bao cấp toàn bộ trong giải quyết việc làm và thực hiện chính sách xã hội chuyển sang Nhà nước tạo cơ chế để các giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, xã hội cùng tạo việc làm cũng như giải quyết các vấn đề xã hội. Từ chỗ chưa đặt đúng vị trí, vai trò chính sách xã hội trong tương quan với chính sách kinh tế đã đi đến nhận thức về sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất biện chứng giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem phát triển kinh tế là cơ sở, tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội và xem việc thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đây là sự thay đổi căn bản tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Tiếp tục phát triển quan điểm của Đảng, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, trước khi làm rõ thêm đặc trưng của chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, Tổng Bí thư đã chỉ ra bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN). Đó là một xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(2). Tổng Bí thư khẳng định, đó là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN. Đây là sự lý giải gián tiếp tại sao Việt Nam không lựa chọn phát triển đất nước theo con đường TBCN.
Mặc dù không phủ nhận những thành tựu to lớn mà CNTB đã mang lại, đặc biệt là khoa học và công nghệ song Tổng Bí thư cũng chỉ rõ những mâu thuẫn mang tính bản chất của chế độ TBCN. Điều đó được thể hiện rõ nét qua những cuộc khủng hoảng trên quy mô lớn của các nước tư bản phát triển - những cuộc khủng hoảng mà Tổng Bí thư cho rằng nó đã “chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”(3) (tức là phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN). Từ đó, Tổng Bí thư đưa ra quan điểm rất rõ ràng: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”(4). Đây là điểm nhấn quan trọng, vừa là sự cụ thể hóa hơn, vừa cho thấy rõ sự phát triển quan điểm của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn với phát triển kinh tế, bởi lẽ Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm tính ưu việt của chế độ xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Tính ưu việt đó không chỉ được thể hiện trên phương diện lý luận, với những chủ trương, đường lối mà còn được hiện thực hóa thông qua những chính sách quản lý và phát triển xã hội đã và đang thực hiện thời gian qua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét