Thứ Tư, 8 tháng 6, 2022

Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Cần có cách tiếp cận mới.

 - Trong gần ba thập niên qua, Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Mặc dù vậy, kim ngạch xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm cuối, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, phụ tùng và vật liệu nhập khẩu. Trong thời gian tới, cần có cách tiếp cận mới đối với khu vực này để hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững.

Hiện trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam thời gian qua

Trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam hiện nay, các mặt hàng nguyên liệu và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng cao và ít thay đổi trong suốt giai đoạn vừa qua. Việc phụ thuộc lớn vào linh kiện và phụ tùng nhập khẩu đã làm cho giá trị gia tăng tạo ra trong nước của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực. Công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam chỉ đóng góp khoảng 16% GDP so với mức 26% của Thái Lan, 36% của Trung Quốc. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển dịch cơ cấu, tăng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP, nâng cao giá trị gia tăng trong nước và sức cạnh tranh của ngành công nghiệp.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm dây truyền sản xuất tại nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco ở Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam _Ảnh: Tư liệu

Công nghiệp hỗ trợ không phải là một ngành cụ thể được phân loại trong hệ thống ngành kinh tế. Do vậy, phạm vi của công nghiệp hỗ trợ được xác định rất khác nhau, tùy thuộc vào khái niệm và mục đích sử dụng của các nhà hoạch định chính sách. Phạm vi được xác định càng cụ thể thì việc hoạch định chính sách càng trở nên dễ dàng hơn và các chính sách đó cũng minh bạch và có tính khả thi cao hơn. Khái niệm và phạm vi của công nghiệp hỗ trợ được hiểu khác nhau ở các nước khác nhau. Trong khi Nhật Bản, Thái Lan xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ chỉ là các doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện cho các ngành ô-tô, xe máy, điện tử(1) thì ở Việt Nam, công nghiệp hỗ trợ lần đầu tiên được định nghĩa cụ thể tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg, ngày 24-2-2011, của Thủ tướng Chính phủ, “Về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ”, là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Sau đó, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, ngày 3-11-2015, của Chính phủ, “Về phát triển công nghiệp hỗ trợ”, định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là “các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Với định nghĩa này, xét trong tổng thể ngành công nghiệp từ thượng nguồn đến hạ nguồn, công nghiệp hỗ trợ chính là các ngành thượng nguồn và trung nguồn, cung cấp đầu vào để sản xuất sản phẩm cuối cùng ở khu vực hạ nguồn. Như vậy, công nghiệp hỗ trợ chính là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị. Nước nào có công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển mới có thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuyển dịch nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, gia tăng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP.

Tuy nhiên, nếu chỉ xét đến các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, công nghiệp hỗ trợ bao gồm một số nguyên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện - là đầu vào cho các sản phẩm hạ nguồn thuộc các ngành dệt may, da giầy, điện tử, ô-tô, cơ khí và công nghiệp công nghệ cao. Đây là căn cứ để xác định các mã ngành kinh tế tương ứng với phạm vi công nghiệp hỗ trợ trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, ngày 6-7-2018.

Với cách xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ như vậy, số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê (năm 2018) cho thấy, cả nước có gần 5.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, cung cấp nguyên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng trong các ngành ô-tô, điện tử, cơ khí, dệt may, da giầy. Về vị trí địa lý, các doanh nghiệp tập trung phần lớn tại đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Về lĩnh vực hoạt động, ngành cơ khí và dệt may, da giày có số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhiều hơn so với các ngành khác. Xét về quy mô, 88% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa (có 300 lao động trở xuống). Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phân theo ngành, vùng, thành phần kinh tế và quy mô lao động được tổng hợp trong các bảng 1, 2, 3.

Cũng theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, hay những công cụ quản lý sản xuất thông dụng. Chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 9000 (quản lý chất lượng), 9% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 14000 (quản lý môi trường), cũng khoảng hơn 20% doanh nghiệp cho biết có thực hiện 5S tại doanh nghiệp. Trong khi các công cụ khác, như Lean, 6 sigma, hay TQM, TPM, số doanh nghiệp áp dụng chỉ khoảng từ 1% - 2%.
Về trình độ công nghệ, khoảng trên 30% doanh nghiệp cho biết hiện vẫn đang sử dụng hoàn toàn thiết bị điều khiển thủ công, trên 50% có sử dụng thiết bị bán tự động, chỉ hơn 10% doanh nghiệp có sử dụng thiết bị tự động hóa và chưa đến 10% doanh nghiệp có sử dụng rô-bốt trong dây chuyền sản xuất. Điều này cho thấy, năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn khá thấp cả về năng lực quản lý sản xuất và trình độ công nghệ.

Kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa (88%), thiếu thông tin thị trường và cơ hội tiếp cận khách hàng. Xét theo chuỗi giá trị, tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động ở các phân khúc mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị khá thấp, chỉ có khoảng 19% doanh nghiệp dệt may, da giầy và 33% doanh nghiệp điện tử có thực hiện công đoạn thiết kế trong quá trình sản xuất. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tiếp cận được các ưu đãi, hỗ trợ từ các chương trình của Nhà nước vẫn còn khá thấp (17%), điều này cho thấy độ bao phủ của các chính sách, chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có thể là do các chương trình, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ mới được triển khai vài năm trở lại đây, hoạt động tuyên truyền về chính sách, chương trình này còn hạn chế khiến nhiều doanh nghiệp chưa biết đến những chương trình, chính sách này.

Điểm đáng chú ý từ khảo sát đó là mặc dù các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đều thừa nhận không có thế mạnh về khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường, khả năng nghiên cứu phát triển sản phẩm, tầm nhìn chiến lược sản xuất và hệ thống quản lý doanh nghiệp...; các doanh nghiệp cũng xác định khó khăn đối với sự phát triển là tiếp cận khách hàng, thông tin thị trường và nguồn nhân lực,... nhưng khi được hỏi mong muốn của doanh nghiệp về các giải pháp hỗ trợ, phần lớn doanh nghiệp muốn được hỗ trợ về thuế, thủ tục hành chính, vốn, mà không phải là những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, điểm yếu mà doanh nghiệp đã xác định trước đó. Đây chính là thách thức không nhỏ trong quá trình thiết kế và triển khai các chính sách phát triển công nghiệp bởi sự khác biệt này.

Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và cơ cấu công nghiệp của Việt Nam

Khái niệm chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị

Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị thường được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng thực tế hai khái niệm này không tương đương nhau. Trong khi chuỗi cung ứng chỉ bao gồm các liên kết đầu vào - đầu ra của các hoạt động sản xuất tạo ra chuỗi các sản phẩm thì chuỗi giá trị có phạm vi lớn hơn, bao gồm các hoạt động làm gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng và các dịch vụ bổ sung, bao gồm nghiên cứu và phát triển, thiết kế, marketing, logistics, hỗ trợ khách hàng...

Hình 1 chỉ ra sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng dựa trên thực tế là chuỗi cung ứng tập trung vào chuyển đổi vật lý và vận chuyển nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng, trong khi chuỗi giá trị tập trung vào các hoạt động làm tăng giá trị kinh tế cho sản phẩm ở từng giai đoạn nhưng không nhất thiết phải liên quan đến sản xuất hoặc logistics.

Đối chiếu định nghĩa, phạm vi công nghiệp hỗ trợ đã nêu ở trên với khái niệm chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị có thể thấy, định nghĩa và phạm vi công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đang được giới hạn trong khái niệm chuỗi cung ứng, do đó, các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ cũng chỉ giới hạn đối với các hoạt động sản xuất trong chuỗi cung ứng. Trong khi đó, để tăng giá trị gia tăng trong nước, ngoài các hoạt động trong chuỗi cung ứng, còn có thể mở rộng ra nhiều hoạt động khác trong chuỗi giá trị, như các hoạt động thiết kế, nghiên cứu phát triển... nhưng hiện nay, những hoạt động này nằm ngoài phạm vi hỗ trợ của các chương trình, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho công nghiệp hỗ trợ.

Tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị

Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ là phụ tùng, linh kiện, nguyên liệu, vật liệu, là hàng hóa trung gian, đầu vào cho hoạt động sản xuất sản phẩm cuối cùng. Do vậy, bất kỳ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nào cũng đều được lắp ráp vào một sản phẩm cuối cùng, bất kỳ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nào cũng đều phải tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của một hay một vài doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng thông qua những hình thức khác nhau, có thể trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước, hoặc xuất khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ở nước ngoài. Việc trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp nào (nội địa, có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI, hay xuất khẩu) phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Khảo sát của Tổng cục Thống kê cho thấy, 75% doanh nghiệp cung cấp hoàn toàn cho thị trường trong nước (trong đó cung cấp cho FDI chiếm khoảng 5%) và khoảng 8% doanh nghiệp cung cấp hoàn toàn cho thị trường xuất khẩu, 17% doanh nghiệp còn lại vừa cung cấp cho thị trường trong nước, vừa xuất khẩu. Như vậy, có thể nói khoảng 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Trong ngành dệt may, da giầy, 64% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 3% cung cấp cho doanh nghiệp FDI), 9% xuất khẩu và 27% cung cấp cho cả hai thị trường; trong ngành cao-su, nhựa, hóa chất, số doanh nghiệp cung cấp cho trường trong nước chiếm 52% và hoàn toàn cho xuất khẩu là 4%, 44% còn lại cung cấp cho cả hai thị trường; điện tử có 44% doanh nghiệp cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 22% cung cấp hoàn toàn cho FDI), 16% cung cấp cho thị trường xuất khẩu và 40% số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của ngành cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngành cơ khí, ô-tô, 83% doanh nghiệp hoàn toàn cung cấp cho thị trường nội địa, chỉ có 3% doanh nghiệp có doanh thu hoàn toàn từ xuất khẩu và 14% doanh nghiệp có doanh thu từ cả hai thị trường.   

Một gian hàng tại Triển lãm Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 8 và Triển lãm quốc tế công nghệ chế tạo phụ tùng công nghiệp tại Việt Nam năm 2019_Ảnh: TTXVN

Thị trường thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm: Hàn Quốc (25%), Nhật Bản (18,5%), Trung Quốc (14,5%) và Đài Loan (Trung Quốc) (8,9%). Xét theo từng ngành, với dệt may, da giày, thị trường xuất khẩu có nhiều doanh nghiệp tham gia là Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản; với cao-su, nhựa, hóa chất, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu khá thấp (chưa đến 50%), thị trường xuất khẩu chính là Hàn Quốc và Nhật Bản; với ngành điện tử, Hàn Quốc và Nhật Bản là 2 thị trường chủ yếu, có đến 141 doanh nghiệp xuất khẩu sang Hàn Quốc và 53 doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản; thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí, ô-tô cũng chính là những thị trường truyền thống nêu trên, với thứ tự lần lượt là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc.

Để tính toán giá trị một nước tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã xây dựng phương pháp đo lường giá trị gia tăng trong thương mại xác định mức độ tham gia liên kết ngược (đo bằng giá trị gia tăng của nước ngoài trong xuất khẩu) và liên kết xuôi (đo bằng giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu) trong chuỗi giá trị toàn cầu của một ngành/một quốc gia. Số liệu cập nhật đến năm 2016 cho thấy, giá trị gia tăng trong nước (liên kết xuôi) mặc dù tăng về giá trị tuyệt đối, nhưng ngày càng giảm về tỷ trọng; trong khi giá trị gia tăng nước ngoài (liên kết ngược), ngày càng tăng. Điều này cho thấy, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có hàm lượng nhập khẩu từ nước ngoài mỗi năm một tăng, có nghĩa là xuất khẩu của Việt Nam đang phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào nhập khẩu đầu vào từ nước ngoài, hay nói cách khác, tỷ trọng giá trị gia tăng của Việt Nam đóng góp vào chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng giảm dần trong thời gian vừa qua (Hình 2)(2).

Chỉ khi công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển, các doanh nghiệp trong nước mới có thể tăng tỷ trọng thu mua phụ tùng, linh kiện và nguyên liệu trong nước, khi đó Việt Nam mới có thể cải thiện được giá trị đóng góp và nâng cao vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp Việt Nam

Số liệu thống kê trong giai đoạn vừa qua cho thấy, công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với mức đóng góp trong GDP đã tăng từ 12,9% năm 2010 lên 16,7% năm 2020. Nội ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng đang có sự dịch chuyển cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ cao cả về giá trị gia tăng và về kim ngạch xuất khẩu. Nếu năm 2010, giá trị gia tăng ngành chế biến, chế tạo chủ yếu cấu thành từ các ngành khai thác tài nguyên, thâm dụng lao động, như chế biến thực phẩm, dầu khí, dệt may, da giầy thì đến năm 2017, ngành điện tử đã vươn lên đứng đầu, với tỷ trọng đóng góp trong giá trị gia tăng ngành chế biến, chế tạo (MVA) là 25%. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cũng có sự chuyển biến tích cực, với mức đóng góp của các mặt hàng chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ dưới 80% năm 2010 lên 87% năm 2020, trong đó, nội ngành chế biến, chế tạo chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành điện tử, với tỷ trọng tăng từ 12% năm 2010 lên 43% năm 2020. Kết quả này gắn liền với sự bùng nổ về đầu tư trong lĩnh vực điện tử sau khi Việt Nam gia nhập WTO và tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do.

Xét về mức độ ảnh hưởng của các ngành công nghiệp Việt Nam đến thị trường toàn cầu cũng có thể cho biết vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị và cơ cấu của ngành xét trên tổng thể thị trường toàn cầu. Số liệu thống kê về xuất, nhập khẩu cho thấy, Việt Nam có vị thế khá lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành da giầy, với thị phần gia tăng mạnh mẽ từ 4,1% năm 2010 lên 10,4% năm 2020. Vì có vị thế quan trọng như vậy, nên khi dịch bệnh xảy ra, các doanh nghiệp da giày tại Việt Nam phải tạm thời đóng cửa, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam đã định vị được vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành nội thất, may mặc, điện tử, với thị phần toàn cầu của Việt Nam trong các ngành này đang ngày càng được cải thiện.

Dây chuyền may áo sơ mi xuất khẩu tại nhà máy của Tổng Công ty cổ phần May Nhà Bè _Ảnh: TTXVN

Phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm thúc đẩy tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và cơ cấu lại công nghiệp

Những phân tích trên đây cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ để có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy quá trình cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng gợi ý một số giải pháp cần thực hiện để giải quyết một số bất cập hiện nay.

Thứ nhất, cần có cách tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi giá trị, mở rộng phạm vi của công nghiệp hỗ trợ bao gồm các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng như hiện nay dẫn đến các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước không đến được với các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp.

Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác truyền thông để các doanh nghiệp có thông tin và tiếp cận dễ dàng hơn với các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ, từ đó, dần dần thay đổi nhận thức và đồng hành cùng các mục tiêu chung của đất nước. Bên cạnh đó, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả các dịch vụ công cũng là một trong những giải pháp cần thiết đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, để có thể nâng cao năng lực doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững, cần hoàn thiện hệ thống pháp lý và thể chế hóa các biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp mang tính cốt lõi về kết nối kinh doanh, thông tin thị trường, hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý, phát triển thị trường, phát triển nguồn nhân lực... Những giải pháp này cần được triển khai đồng bộ với công tác truyền thông, thay đổi và nâng cao nhận thức của các bên liên quan và cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhằm hướng đến các mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững, qua đó, giúp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thực sự chuyển mình, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể phát triển, vươn ra thế giới./.

------------------------

(1) Kenichi Ohno (Chủ biên): Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, Diễn đàn Phát triển Việt Nam, Hà Nội, 2007
(2) Cụ thể, tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước của Việt Nam đã giảm từ 58,2% năm 2005 xuống 52,5% năm 2016, trong khi Thái Lan tăng từ 55,7% lên 61,3% trong cùng giai đoạn

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: (i) Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; (ii) Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (iii) Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…./.

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”./.

Công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam hiện nay

  - Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, quan hệ dân tộc xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới được xem là một trong những nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của các cấp, các ngành trên địa bàn biên giới, trong đó công tác đối ngoại giữ vai trò tiên phong, nòng cốt.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang và các đại biểu thăm cột mốc quốc gia tại cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh trong chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 6, tháng 4-2021 _Ảnh: TTXVN

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới để chống phá nước ta

Quan hệ dân tộc xuyên biên giới là mối quan hệ của một tộc người trong nước với đồng tộc hoặc khác tộc ở các quốc gia có chung đường biên giới. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam là mối quan hệ diễn ra từ lâu đời trong lịch sử. Hiện nay, quan hệ dân tộc xuyên biên giới không chỉ bó hẹp trong phạm vi Việt Nam với quốc gia có chung đường biên giới mà còn với nhiều quốc gia khác có người đồng tộc, đồng tôn giáo. Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở Việt Nam biểu hiện phong phú và đa dạng, từ quan hệ về nguồn gốc lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội đến tín ngưỡng, tôn giáo. Các mối quan hệ này tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong nước theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Bên cạnh những tác động tích cực (tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa giữa nhân dân hai bên biên giới, nâng cao tình đoàn kết và tương trợ thông qua các mối quan hệ kinh tế; thắt chặt và làm giàu thêm sự gắn kết tình cảm, giảm thiểu các xung đột giữa nhân dân hai bên biên giới, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...), quan hệ dân tộc xuyên biên giới cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn ở khu vực đa tộc người, đa tôn giáo vùng biên giới (di cư tự do, kết hôn không giá thú, lao động Việt Nam sang các nước láng giềng tìm việc làm, buôn lậu, buôn bán người, truyền đạo trái phép...). Các vấn đề này gây khó khăn trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc - tộc người hai bên biên giới nói riêng và quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng nói chung, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá nước ta.

Âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng để chống phá Việt Nam, nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các dân tộc, các tôn giáo chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; mưu toan gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp, kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Âm mưu đó được các thế lực thù địch thực hiện ráo riết với những thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, lợi dụng chính sách thông thoáng đối với việc đi lại, thăm thân; lợi dụng tình trạng kết hôn không giá thú, hoạt động tội phạm xuyên biên giới, để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên, xâm nhập trái phép, gây bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong những năm qua, cùng với hiện tượng di cư tự do nội địa của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng di cư tự do và hôn nhân không giá thú xuyên biên giới, vượt biên, xâm nhập trái phép ở biên giới Việt Nam có xu hướng gia tăng. Lợi dụng tình hình này, một mặt, các thế lực thù địch đã tìm cách hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực biên giới thúc đẩy, tạo “làn sóng” di cư trái phép đến một số địa bàn “trọng điểm”(1)mặt khác, ra sức tuyên truyền, kích động, mua chuộc, lôi kéo người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép, “đưa người dân tộc thiểu số” về từng khu vực theo ý đồ chính trị để có điều kiện xây dựng căn cứ phản cách mạng, khiến vấn đề dân tộc trở thành “ngòi nổ”, tạo cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hai là, lợi dụng những vấn đề phức tạp trong lịch sử quan hệ tộc người, nhất là các tộc người cư trú ở khu vực biên giới, tuyên truyền, kích động đòi “ly khai”, “tự trị” và tìm cách “luật pháp hóa”, “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Bên cạnh việc tổ chức các cuộc hội thảo, thu thập, phát tán nhiều tài liệu trái phép, các thế lực thù địch với sự trợ giúp của nước ngoài còn đưa ra nhiều “luật” với chế tài mang tính áp đặt vô lý nhằm hỗ trợ, khích lệ tinh thần cho các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta; hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài thành lập nhiều tổ chức dưới danh nghĩa nghiên cứu lịch sử, văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm khơi dậy những tồn tại trong quá khứ để kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” của các dân tộc thiểu số trên một số địa bàn chiến lược của nước ta.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo đồng bào là người dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo chống phá chính quyền Việt Nam. Đây là một trong những thủ đoạn mới hết sức tinh vi, khó nhận biết mà các thế lực thù địch đã và đang công khai sử dụng để hỗ trợ các lực lượng phản động, cực đoan trên địa bàn biên giới hình thành các nhóm tổ chức, tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động chống phá nước ta. Đáng chú ý, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược của Việt Nam thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tiếp cận, chỉ đạo lực lượng phản động, cực đoan tiến hành những hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “ly khai”, “tự trị” nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội và tạo cớ can thiệp.

Bốn là, lợi dụng địa bàn biên giới của các nước láng giềng để hỗ trợ, chỉ đạo các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài lôi kéo một bộ phận người dân tộc thiểu số từ Việt Nam tham gia thực tập vũ trang cướp chính quyền, xâm nhập, phá hoại các địa bàn chiến lược ở nước ta. Các tổ chức, đứng đầu là những phần tử cực đoan, đã và đang liên kết chặt chẽ với lực lượng phản động trong nước để tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Lực lượng phản động không chỉ tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động sử dụng danh nghĩa tôn giáo ở nước ngoài chuyển hướng hoạt động vào trong nước; ra sức cổ xúy, hỗ trợ các tổ chức phản động mang danh nghĩa tôn giáo ở trong nước để chống phá, mà còn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc để mưu toan kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố gây mất ổn định, bạo loạn, biến vấn đề dân tộc, tôn giáo thành vấn đề chính trị...

Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc nói chung, quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng, với tính chất vô cùng nguy hiểm, vừa công khai, vừa bí mật, diễn ra cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm gây mất ổn định, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam với các nước láng giềng, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn; ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước láng giềng.

Bộ đội Biên phòng Đồn Biên phòng A Nông (huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) phối hợp cùng người có uy tín tuyên truyền, vận động nhân dân vùng biên giới tăng cường đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế, xã hội, tích cực xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân _Ảnh: TTXVN

Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta

Đại hội XIII (tháng 1-2021) của Đảng xác định, trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(2). Điều đó khẳng định, công tác đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng.

Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện ở các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, lực lượng trong thực hiện công tác đối ngoại. Xét trong tổng thể công tác đối ngoại của các cấp, các ngành, các lực lượng liên quan, gắn với thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới, công tác đối ngoại giữ vai trò “tiên phong”, là lực lượng nòng cốt góp phần quan trọng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới thể hiện cụ thể trên những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, trực tiếp góp phần nhận diện, phát hiện “từ sớm, từ xa” âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là vai trò quan trọng, đồng thời là thế mạnh của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Do tính chất phức tạp, nhạy cảm và liên quốc gia trong quan hệ dân tộc xuyên biên giới mà các tổ chức, lực lượng hoạt động trong phạm vi nội địa khó nắm bắt kịp thời âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch, dẫn tới bị động trong giải quyết những vấn đề nảy sinh. Thực tế những năm qua, công tác đối ngoại đã “phát huy được thế mạnh để hóa giải, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, nhất là thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa, tận dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”(3). Trên cơ sở đó, kịp thời thông tin đến các tổ chức, lực lượng và quần chúng nhân dân nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, chủ động xây dựng phương án và tổ chức đấu tranh hiệu quả, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Thứ hai, thông qua hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân của các cấp, các ngành, công tác đối ngoại đã trực tiếp tham gia đấu tranh, làm thất bại các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới trên tất cả các bình diện, ở mọi phạm vi và quy mô. Những năm qua, công tác đối ngoại đã phát huy tốt vai trò trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nói chung, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta nói riêng, qua đó vừa giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trong nước, vừa giải tỏa thành công sức ép của các nước phương Tây trong một số vấn đề; “ngăn chặn, vô hiệu hóa những âm mưu, thủ đoạn móc nối, lôi kéo, phá hoại nội bộ Đảng và Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động”(4), góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định đất nước, phát triển bền vững khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta.

Thứ ba, phối hợp hiệu quả với các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách quản lý và bảo vệ vùng biên giới, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở phối hợp triển khai công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực hiện quản lý biên giới và cửa khẩu theo các văn kiện pháp lý, thỏa thuận về biên giới đã ký kết với các nước; thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại theo Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”, công tác đối ngoại phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa các cơ quan, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bổ sung, kiện toàn các phương án xử lý những tình huống nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới.

Thứ tư, công tác đối ngoại góp phần quan trọng trong quản lý biên giới quốc gia, tạo môi trường hòa bình, ổn định khu vực biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng biên giới; tham gia xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới của các thế lực thù địch, phản động. Trong những năm qua, cùng với những hoạt động khác, các cấp, các ngành luôn phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại; chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương huy động nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững mạnh; tạo thế chủ động trong phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. 

Có thể nói, vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam, đã được khẳng định và phát huy mạnh mẽ trong thực tiễn thời gian qua. Tuy nhiên, có những thời điểm nhất định, vai trò của công tác đối ngoại ở một số tổ chức, lực lượng chưa thực sự được phát huy đầy đủ. Đặc biệt, “nhận thức của một số sở, ngành địa phương và một số cán bộ, đảng viên về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số chưa sâu sắc, toàn diện. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc thiếu đồng bộ, việc nắm bắt thông tin từ cơ sở chưa đầy đủ, còn chậm, thiếu và chưa sát với tình hình thực tiễn”(5). Hơn nữa, trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, vấn đề dân tộc ở Việt Nam được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của công tác đối ngoại nhằm đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.

Bộ đội Biên phòng Ðồn Biên phòng Cửa khẩu Sóc Giang (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) cùng đồng bào các dân tộc tuần tra biên giới _Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp pháp phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh, phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá nước ta

Một là, quán triệt, nâng cao nhận thức cho các tổ chức, lực lượng làm công tác đối ngoại, lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới và cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn khu vực nắm chắc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhất là đối với các nước láng giềng. Mỗi tổ chức, lực lượng cần bám sát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trên cơ sở đó triển khai phối hợp, hiệp đồng hiệu quả. Tập trung quán triệt các quy định của luật pháp quốc tế về vấn đề biên giới lãnh thổ, các văn kiện pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, trong đó trọng tâm là ba văn kiện biên giới trên đất liền với Trung Quốc; Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia và Thỏa thuận về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới với Lào; Hiệp ước bổ sung năm 2019  Nghị định thư phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền với Cam-pu-chia. Nắm chắc tình hình dân tộc, quan hệ dân tộc, tình hình hoạt động, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nhằm chống phá Việt Nam ở cả trong và ngoài nước. 

Hai là, hoàn thiện cơ chế phối hợp, hiệp đồng giữa các tổ chức, lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới. Huy động sự tham gia của các tổ chức và các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động đấu tranh chống lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước(6). Để thực hiện được điều đó, việc đẩy mạnh cơ chế phối hợp, hiệp đồng hiệu quả giữa lực lượng chuyên trách làm công tác đối ngoại với các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, với lực lượng vũ trang trên địa bàn đóng vai trò hết sức quan trọng. Trên cơ sở thực hiện Quy chế số 272 về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa công tác đối ngoại với quốc phòng - an ninh, tạo thế “chân kiềng” vững chắc ở khu vực biên giới. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, cơ quan có liên quan và chính quyền địa phương đề xuất chủ trương, chính sách và các biện pháp quản lý về biên giới quốc gia; thực hiện quản lý nhà nước, hướng dẫn lực lượng nòng cốt, chuyên trách về nghiệp vụ đối ngoại biên phòng, qua đó, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế, cụ thể hóa các khung khổ pháp lý đã ký kết giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước láng giềng, làm cơ sở pháp lý quốc tế để xử lý, đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Vận dụng nhuần nhuyễn các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế vào những trường hợp cụ thể. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân khu vực biên giới, góp phần giúp nhân dân thế giới hiểu rõ hơn về đất nước, truyền thống và con người Việt Nam; chính sách đối nội, đối ngoại; chính sách dân tộc, tôn giáo... của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tăng cường giao lưu, kết nghĩa giữa các địa phương, cơ quan chức năng của nước ta với các nước láng giềng, góp phần thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, qua đó tạo nền tảng sâu rộng, bền chặt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.

Bốn là, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc. Thực tế cho thấy, những vấn đề phức tạp nảy sinh từ quan hệ dân tộc xuyên biên giới thường xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khu vực biên giới nước ta còn nhiều khó khăn. Mặc dù trong giai đoạn 2013 - 2018, bình quân mỗi năm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm 0,7%, nhưng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở các hộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn khá cao, nhất là ở khu vực biên giới. Thực trạng này đòi hỏi cần tập trung phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vững chắc, tạo nền tảng, điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội để các lực lượng làm công tác đối ngoại phát huy tốt vai trò trong đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam.

Năm là, nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách đối ngoại, bộ đội biên phòng và cấp ủy, chính quyền các địa phương khu vực biên giới. Đây là biện pháp quan trọng, trực tiếp quyết định việc phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới hiện nay. Bởi lẽ, vai trò của công tác đối ngoại nói chung, trong đấu tranh phòng ngừa hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng, phụ thuộc không nhỏ vào năng lực tiến hành và đấu tranh ngoại giao của các chủ thể, trong đó nòng cốt thường xuyên là các lực lượng trên địa bàn biên giới. Mặt khác, các yếu tố quốc tế cũng là một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới chống phá Việt Nam. Do vậy, cần nâng cao năng lực đấu tranh ngoại giao của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, nhất là cán bộ, nhân viên bộ phận lãnh sự - quản lý biên giới, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh ngay từ bên ngoài; tập trung vào những đối tượng phản động cốt cán, cầm đầu trong các tổ chức tôn giáo hải ngoại và người dân tộc thiểu số lưu vong. Nâng cao năng lực dự báo, nắm tình hình hoạt động của các đối tượng, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới “từ sớm, từ xa”; xác định nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.

----------------

(1) Như khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cũ của địch, các địa bàn chiến lược...
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 162
(3) Bùi Thanh Sơn: “Công tác đối ngoại nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và những định hướng đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Tạp chí Cộng sản, số 959, tháng 2-2021
(4) Xem: Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 15
(5) Ủy ban Dân tộc: Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 và một năm thực hiện Chỉ thị số 28/CT-TTg, ngày 9-10-2014, của Thủ tướng Chính phủ, số 13/BC-UBDT, ngày 20-1-2016
(6) Xem: Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 6-7-2011, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới”

Một số giải pháp để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay

Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Cần tập trung làm tốt một số giải pháp sau:

Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. 

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động./. 

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cục diện thế giới hiện nay.

 - Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.

Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong (Trong ảnh: Biểu tình chống chính phủ đụng độ với cảnh sát chống bạo động trong cuộc biểu tình ở Caracas, Venezuela năm 2017) _Nguồn: nytimes.com

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.

"Cuộc chiến tranh lai ghép" ở Syria bắt nguồn từ “Mùa xuân Ả rập” nhằm thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 _Ảnh: Reuters

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Các thế lực thù địch lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” _Ảnh: shutterstock.com

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

---------------------

(1) Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 303
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,
tr. 30 - 31

(3) Học thuyết này dựa trên nội dung cuốn sách “Từ độc tài đến dân chủ” (From dictatorship to democracy) do Giên Sáp-pơ - một nhà hoạt động xã hội ở Mỹ, Giáo sư Đại học Massachusettes Dartmouth (Mỹ) viết về phong trào dân chủ ở Mi-an-ma năm 1993 sau khi bà A-ung San Su Ky, lãnh tụ phe đối lập, Chủ tịch Đảng Liên minh quốc gia vì dân chủ Mi-an-ma bị chính quyền cầm tù
(4) “198 methods of nonviolent action” - Đây cũng là một cuốn sách đã xuất bản của Giên Sáp-pơ
(5) Một dạng thức chiến tranh mà chủ thể tiến hành sử dụng chủ yếu các biện pháp phi quân sự được hỗ trợ bằng hành động quân sự với mục đích lật đổ chính quyền đương nhiệm của một quốc gia không cùng quỹ đạo; bắt đầu bằng “diễn biến hòa bình” tạo bất ổn, gây biến động, bạo loạn, khủng bố, xung đột, nội chiến, can thiệp quân sự... và kết thúc bằng hành động xâm lược quy mô lớn 
(6) Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ an ninh quân đội, hiện nay, các thế lực thù địch đang sử dụng trên 40 đài phát thanh, truyền hình; 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt; 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống phá Việt Nam