Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

Thiếu trách nhiệm - một suy thoái “kép” của cán bộ, đảng viên

 Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, việc thấu hiểu, thể hiện, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có nhiều vấn đề rất đáng cảnh báo.

 Một biểu hiện suy thoái “kép”

Với tư cách là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân, tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” (biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị) và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” (biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống).

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), một trong 4 vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc chung, vì nhân dân, vì đất nước. 

Đã là trách nhiệm thì phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì “thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có hệ lụy xảy ra.

Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn. Những vụ việc sai phạm liên quan đến nhiều cựu cán bộ lãnh đạo ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… đều liên quan đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở các doanh nghiệp, cơ quan, địa phương này. 

Đề cao trách nhiệm nêu gương để phòng ngừa, giảm thiểu suy thoái

Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”.

Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ.

Theo đồng chí Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần có “5 tự”: Phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; Phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; Phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; Phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; Phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao.

Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp.

Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái.


VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN

 Một trong những trăn trở của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi”.

Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh...

Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.

Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

 

Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo.

Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ.

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận.

Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

 

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 “Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết chặt chẽ rộng rãi thêm. Đã cố gắng, ta phải hăng hái mà cố gắng mãi. Mỗi một người phải lấy việc xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của mình, phải cố làm cho được”. 

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, ngày 10-6-1948, nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa to lớn, kịp thời động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động hăng say thi đua ái quốc; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo tiếp tục xây dựng và nhân rộng các phong trào thi đua ái quốc sôi nổi và mạnh mẽ đang diễn ra trên đất nước ta. Các phong trào "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba Nhất", phong trào "Ba Sẵn Sàng", "Ba Đảm Đang", "Cánh đồng Năm tấn" trên đồng ruộng; phong trào "Trống Bắc Lý", "Dạy tốt, học tốt" trong nhà trường; phong trào "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… đã nhân lên gấp bội sức mạnh của quân và dân ta, trở thành lực lượng vật chất, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành những thành tựu mới có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, cả nước tiếp tục công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người Việt Nam đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, lời kêu gọi của Bác càng có giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để quân dân cả nước tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng, đoàn kết, thi đua ái quốc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy cách mạng Việt Nam giành được những thành quả to lớn hơn nữa.

Trong điều kiện mới, Quân đội nhân dân Việt Nam cần phải tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, nhân rộng các mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; coi trọng phát triển các phong trào thi đua của các tổ chức quần chúng, các ngành, tạo ra động lực mạnh mẽ xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

HAIVAN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, công tác tuyên truyền chính là một vũ khí sắc bén trong đấu tranh, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

          Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác tư tưởng. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này như: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 17/4/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõTăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

          Để đổi mới công tác tuyên truyền nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, trong thời gian tới các cấp ủy đảng, từng cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng về ý nghĩa, vai trò tầm quan trọng của công tác tư tưởng đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đồng thời, phải luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng và thường xuyên tuyên truyền đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta. Phải kịp thời nắm bắt, xử lý và định hướng thông tin, phát hiện và ngăn chặn những thông tin xấu; thường xuyên nghe báo cáo tình hình, kết quả và định hướng tuyên truyền.

Thứ hai, mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền; thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên. Gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Thứ ba, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp, đảm bảo tính định hướng, phong phú hấp dẫn. Cần làm tốt công tác lựa chọn thông tin và cập nhật những thông tin mới trong công tác tuyên truyền. Kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

 

VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VỚI ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Là người đầu tiên đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cây bút là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng. Cũng vì hiểu rõ vai trò quan trọng của báo chí trong việc định hướng, phục vụ công tác tư tưởng nên Người dành sự quan tâm rất lớn đối với nghiệp vụ của người làm báo. Các thế hệ nhà báo Việt Nam; Mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác lại nhắc nhở: Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?

Xuất phát từ vai trò của báo chí, tin tức ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.

 Báo chí, tin tức có tác dụng tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

Ngược lại báo trí, và thông tin cũng là mảnh đất mầu mỡ đê các thế lực phản động lợi dụng, viết và tuyên truyền sai, bóp méo sự thật. từ những sự việc rất đời thường nhưng chúng đã lợi dụng, tuyên truyền kích động, tạo nên những dư luận xấu lôi kéo đông đảo người xem, gây tâm lí hoang mang, mất lòng tin vào Đảng và con đương đi lên XHCN.

Do vậy để bài viết được đông đảo người đón nhận, tạo hiệu quả tích cực có giá trị xây dựng và đấu tranh thì không chỉ chú trọng đến số lượng mà còn phải chú trọng đến chất lượng, bài viết phải gần gũi và thân thiện với người đọc, để hướng đến nhu cầu của người đọc chứ không phải là người viết.

Vì cách mạng, vì Đảng, vì nhân dân - đó vừa là mục đích, vừa là điều kiện, vừa là tiêu chuẩn đạo đức trong hoạt động; đó cũng là tính đảng của báo chí, là biểu hiện sự trung thành của báo chí đối với Đảng, là cống hiến của báo chí vào sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Để bài viết thực hiện đắc lực cho cách mạng, phục vụ tốt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân tức là Đảng đã làm tốt vai trò lãnh đạo báo chí.

Trả lời cho câu hỏi viết cho ai? Đối tượng của bài viết là đại đa số dân chúng, vì vậy, cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài; viết “phục vụ nhân dân” thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ cách mạng. Vì vậy, Người nhắc nhở: “Bác biết các chú văn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Viết như thế nào? Trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và trưởng thành của Đảng, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; coi trọng phát tiển toàn diện báo chí, coi báo chí là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí, người viết phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được.

Để viết cho mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bảo vệ, phát triển tiếng nói của dân tộc. Người căn dặn các nhà báo phải có trách nhiệm đừng để cho tiếng mẹ đẻ của chúng ta mỗi ngày mai một đi. Bác chỉ ra 5 cách tìm tài liệu để viết: “Nghe: lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết; Hỏi: hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi; Thấy: mình phải đi đến, xem xét mà thấy; Xem: xem báo chí, xem sách vở, xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài; Ghi: những gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng mà viết, có khi xem mấy tờ báo mà chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như những công tác khác, phải chịu khó”.

Bác còn chỉ rõ: “Phải tránh cái lối viết rau muống, nghĩa là lằng nhằng, tràng giang đại hải, làm cho người xem như là chắt chắt vào rừng xanh”. Tuy nhiên, viết gọn gàng, vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi, ngắn gọn dễ nhớ, dễ hiểu, mà lại lôi cuốn người đọc mới là hay, tuy là vậy nhưng không hề dễ đòi hỏi tất cả chúng ta cần phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa.

 

 

 

PHÁT HUY SỨC MẠNH TOÀN DÂN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong tiến trình lịch sử cách mạng: Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử và cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh của nhân dân là rất to lớn, tuy nhiên nếu được khéo léo tổ chức, tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì sức mạnh đó sẽ là sức mạnh vô địch: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”

Chính vì vậy, để thực hiện tốt và hiệu quả hơn chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn đảng, cần thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

Một là, thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Hai là, xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định dân là gốc, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế, đồng thời luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước hết Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình trong việc xây dựng, triển khai thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là trong công tác cán bộ và thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân. Nhân dân có thể tham gia đóng góp ý kiến ở những khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. 

Ba là, tiếp tục chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Muốn phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ đó vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ ngày càng được khẳng định và hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân cũng được nâng cao hơn.

ĐẤU TRANH BẢO VỀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Những nội dung cơ bản của công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư

tưởng của Đảng: Nền tảng tư tưởng của Đảng theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng được thể hiện trong Nghị quyết số 35- NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 22/10/2018) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo

vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng, Báo cáo chính trị đặt lên hàng đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa[3].

Cuộc sống đang mới lên, chúng ta đang tiến lên bằng những đôi giày vạn dặm, chúng ta đang xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Chúng ta đang thực hiện một nhiệm vụ khó khăn nhất trong lịch sử là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà. Chúng ta đang tiến công vào khoa học. chúng ta đang thay đổi bộ mặt của đất nước và đời sống con người. Tất cả những người bình thường đang xây dựng cuộc sống mới đều là những người anh hùng, có phẩm chất cao quý, tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đang đoàn kết lại để viết những thiên anh hùng ca vĩ đại. Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn chín thập kỷ qua với mười ba lần đại hội, đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng và luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN

 

TƯ TƯỞNG GỐC CÓ VỮNG CÂY MỚI BỀN

 


Đảng ta là Đảng của chính người dân vì vậy Nhân dân tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu khách quan. Là hoạt động thường xuyên được thực hiện nhất quán và đặc biệt quyết liệt từ Trung ương đến địa phương; từ các cấp ủy đảng đến toàn thể Nhân dân.

Cán bộ, đảng viên từ nhân dân mà ra. Dân là gốc của nước, của cách mạng. Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tích cực của lịch sử, để phục vụ sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải "hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng", phải hiểu dân, phải học từ nhân dân. Còn nếu "cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại".

          Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng để dân tin, dân yêu. Cán bộ, đảng viên "Ðặt lợi ích của Ðảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Ðảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc".

      Cán bộ, đảng viên chịu sự giám sát, phê bình của nhân dân. Tai mắt của nhân dân ở khắp nơi, chính vì vậy, họ là lực lượng giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên sát sao nhất. Cán bộ nào xấu, cán bộ nào tốt, ai làm việc gì hay, việc gì dở, nhân dân đều biết rõ ràng. Vì thế trong công tác cán bộ phải đặc biệt quan tâm tới ý kiến của nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: "Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi".phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển tư tưởng “lấy dân làm gốc”, tiếp tục kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng và luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát triển đất nước sớm thành nước công nghiệp hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên, khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

 

 

THẾ TRẬN LÒNG DÂN VỮNG MẠNH ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Đảng và Nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn bao giờ hết. Nhưng! Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn luôn đang diễn ra với những khó khăn, thách thức mới.

Đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sự chỉ đạo tài tình của Đảng. Là nguồn gốc của mọi sức mạnh, là truyền thống quý báu, được hun đúc qua hàng nghàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Sức mạnh đại đoàn kết của Nhân dân ta đã đánh bại những kẻ xâm lược tàn bạo, lập nên những chiến thắng lừng lẫy trong lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, Đảng xác định chủ trương, mở ra đường lối lãnh đạo cách mạng, nhưng chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là người hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra. Sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng, nếu không có nhân dân. Theo Người, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng là sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân, là sự đoàn kết “muôn người như một” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, theo Người: “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”(1). Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc. “Thế trận lòng dân” được hiểu là tinh thần yêu nước, tình đoàn kết gắn bó, khát vọng độc lập tự do, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc được hội tụ, kết tinh, nhân lên tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sàng huy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. “Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng. “Lòng dân” luôn tồn tại khách quan nhưng “lòng dân” có được quy tụ trở thành sức mạnh tổng hợp hay không còn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của con người. Điều này đòi hỏi giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội, trực tiếp là lực lượng chính trị đại diện phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để định hướng, tập hợp, quy tụ “lòng dân” về một mối. Chỉ có như vậy “lòng dân” mới hội tụ trở thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, dân tộc. Thực chất đó chính là vai trò của lực lượng nắm quyền lãnh đạo xã hội trong việc chuyển hóa “lòng dân” thành “thế trận lòng dân”. Khi được xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” sẽ tác động trở lại làm cho “lòng dân” phát triển hài hòa, đúng định hướng.Tuy nhiên, chân lý “đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thành công” mãi mãi không bao giờ thay đổi! Chúng ta luôn giữ vững đoàn kết để thực hiện khát vọng phát triển, vươn lên sánh vai các cường quốc năm châu; đoàn kết toàn dân để mọi người dân, ai cũng được hưởng độc lập, tự do, hạnh phúc và đoàn kết để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và trên toàn thế giới./.

 

 

NHẬN DIỆN BẢN CHẤT THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG CỦA BBC, RFA, RFI, VOA!

         Những cái tên như BBC, RFA, RFI, VOA… dường như đã quá quen thuộc với nhiều người. Vậy có ai từng đặt câu hỏi về sự ra đời của những đài này? Ai đứng đằng sau họ? Nguồn tài chính ở đâu? Và sứ mệnh của họ là gì?…

1. Đài BBC
 (British Broadcasting Corporation)
 là thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. BBC được thành lập năm 1922 do một nhóm các công ty viễn thông cho tới các dịch vụ tin tức phát thanh truyền hình. BBC bắt đầu truyền tin bằng hình năm 1932 và trở thành dịch vụ phổ biến năm 1936. Truyền tin bằng hình ảnh bị dừng lại từ 1-9-1939 tới 7-6-1946 do Thế chiến thứ hai. Mặc dù nguồn tài chính của BBC dựa vào các nguồn thu từ truyền thông, quảng cáo, nhưng thực chất bên trong họ nhận được nhiều nguồn gián tiếp tài trợ của cơ quan ngoại giao và tình báo MI6 của Vương quốc Anh. Nên BBC đành phải “cắn răng” mà chấp nhận tuân thủ “cuộc chơi” này. BBC là một tập đoàn truyền thông lớn, họ có nhiều chuyên trang tin tức và bằng nhiều thứ tiếng. BBC Tiếng Trung và BBC Tiếng Việt là hai trang bản ngữ lớn nhất của họ. Không hiểu hai quốc gia này có phải là một thị trường tiềm năng của BBC hay không mà họ cũng rất chịu chi cho hai trang này?
BBC vẫn luôn tự nhận mình là một cơ quan báo chí, truyền thông, và luôn thực hiện đúng tôn chỉ của truyền thông là đưa tin trung thực, khách quan?… Thế nhưng, trong tất cả bài viết của đội ngũ cộng tác viên thuộc nhà đài này, ở câu kết bài BBC đều đưa ra một luận điểm: “Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả…”. Thật không hiểu cái cách mà người Anh định nghĩa về truyền thông là thế nào? Nếu họ đồng ý nguyên tắc số 1 của truyền thông là đưa tin trung thực và khách quan thì cớ sao lại đưa ra luận điểm trên. Liệu có phải là sự thoái thác trắng trợn trách nhiệm của ban biên tập tờ báo này đối với những thông tin mà họ đăng tải hay không? Chỉ một câu nói, tưởng như là khách quan, trung thực nhưng thực ra lại uẩn khúc một điều không hề trung thực, khách quan!
Dễ thấy, BBC Tiếng Việt đang cố tình che đậy hết tất cả những điều tốt đẹp, những điểm sáng kinh tế của Việt Nam, mà chỉ chăm chăm giật các tít bài “xoi mói” đời sống chính trị Việt Nam? Nếu là khách quan thì bên cạnh tin tức tiêu cực (nếu đúng) sao không có bất cứ một thông tin nào là tích cực về đời sống chính trị Việt Nam? Phải chăng nền chính trị Việt Nam chỉ có cái gọi là đấu tranh vì “dân chủ”, “tự do tôn giáo”, “bất đồng chính kiến”, “tham nhũng”…? Có lẽ người đài BBC nên học lại bài học đầu tiên về tư cách người làm báo! Tiếc thay, hiện có khá nhiều người Việt Nam vì tò mò bởi những tin tức “độc, hot” nên đã vội tin vào những thông tin từ phía nhà đài BBC.

2. Đài RFA (Á châu tự do-Radio Free Asia) được thành lập trong thời gian Chiến tranh lạnh (1950), dưới sự quản lý của CIA, với mục tiêu chính là tuyên truyền đường lối của Mỹ bằng tiếng địa phương đến các quốc gia Mỹ xem là kẻ thù, tức các nước xã hội chủ nghĩa thời đó. Năm 1971 CIA chuyển quyền điều hành đài RFA sang cơ quan có tên là Board of International Broadcasting (BIB) do tổng thống Mỹ bổ nhiệm và chỉ đạo. Đến năm 1994, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật truyền thông quốc tế, và RFA chính thức trở thành một công ty tư nhân. Tuy trên danh nghĩa là một công ty tư nhân, nhưng ngân sách của RFA lại được Quốc hội Mỹ tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG (Broadcasting Board of Governors). Hiện nay, RFA phát thanh 9 thứ tiếng qua làn sóng ngắn và internet đến các nước Trung Quốc, Tây Tạng, Miến Điện, Lào, Campuchia, Việt Nam, và CHDCND Triều Tiên.
Sứ mệnh chính thức của RFA là “tiếp tục chương trình truyền thông quốc tế của Mỹ, thiết lập một dịch vụ truyền thông đến người Trung Quốc và các nước Á châu khác. Qua đó truyền bá những thông tin và ý tưởng nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu trong chính sách ngoại giao của Mỹ… Đối tượng chủ yếu mà RFA nhắm đến là Trung Quốc. Như vậy, tuy mang danh nghĩa là một công tuy tư nhân, nhưng RFA không dấu diếm rằng nó là một công cụ của chính quyền Mỹ, nhằm phục vụ lợi ích và mục tiêu của chính quyền Mỹ. Thật ra, có thể nói không ngoa rằng những người Việt làm việc và điều hành chương trình Việt ngữ của RFA là những người Mỹ con. Cũng không có gì quá đáng khi nói như thế vì họ là công dân Mỹ cho dù có mang dòng máu Việt Nam. Vì là Mỹ con nên chúng ta phải “thông cảm” là họ phải làm có lợi cho Mỹ, đất nước đang dung dưỡng và nuôi nấng họ.
So với các đài Việt ngữ ở nước ngoài do các nhóm người Việt ở Mỹ điều hành, đài RFA tỏ ra thông minh và “có nghề” hơn. Không như các đài Việt ngữ cực đoan chuyên hành nghề chửi bới và xuyên tạc tình hình Việt Nam một cách ngu xuẩn, đài RFA cố gắng tỏ ra có nghiệp vụ hơn: có phóng viên đến Việt Nam thu thập tin tức, phỏng vấn các quan chức trong chính phủ Việt Nam. Để tỏ ra mình là cơ quan ngôn luận nghiêm túc, RFA gọi các quan chức trong chính phủ Việt Nam bằng chức danh rõ ràng. Họ tránh tối đa sử dụng các ngôn từ cảm tính như “Cộng sản Việt Nam”. RFA cũng tránh cách nói xách mé hay xấc láo của các đài Việt ngữ khác hay dùng. Nói chung có lẽ vì do người Mỹ quản lý cho nên RFA thông minh, tinh vi, và tuyên truyền có bài bản.
Với lối làm truyền thông theo kiểu Chiến tranh lạnh, không ngạc nhiên khi phần lớn các chương trình phát thanh của RFA hoàn toàn tập trung vào mục tiêu gây bất ổn định cho Việt Nam. Những chiêu bài mà RFA đặc biệt quan tâm khai thác tối đa là tự do, dân chủ, và tôn giáo. Họ rất thích chơi bẩn Việt Nam bằng cách tung tấm hình Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng khi la hét trước tòa, nhưng lại ém nhẹm tấm hình những tù nhân trần truồng ở nhà tù Guantanamo bị chó berger dọa cắn, những bức hình mà tù nhân bị tra tấn dã man. Thậm chí, họ cũng không ngại dựng chuyện, biến từ chuyện không có thật thành những chuyện như thật. Họ không xấu hổ khi sẵn sàng nói sai sự thật. Khách quan của RFA là như thế đó?!.

3. Đài RFI (Radio France internationale) là một đài phát thanh trong hệ thống phát thanh của Nhà nước Pháp, phủ sóng phát thanh tại Paris và toàn thế giới. Với 45 triệu thính giả vào năm 2006, RFI là đài phát thanh quốc tế được đón nghe nhiều thứ 3 trên thế giới, sau BBC và Đài tiếng nói Hoa Kì (VOA), ngang với đài phát thanh Deutsche Welle của Đức. Đài RFI phát sóng chương trình tiếng Việt từ tháng 6-1990. Ban Việt ngữ được chính thức thành lập vào ngày 9-7-1990. Từ tháng 6-2008 trang web tiếng Việt đã được phát triển, mang nhiều thông tin so với trước đó chỉ là thông tin vắn tắt về lịch phát và nghe trực tuyến hoặc tải chương trình phát thanh. Hiện tại RFI phát thanh bằng tiếng Việt 2 giờ mỗi ngày, với chương trình 1 giờ và phát lại 1 giờ.
Nói đến RFI là chúng ta nghĩ ngay đến sự thù hận đối với một số nước, trong đó có Việt Nam, đài này tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa. Gần đây là bài viết xuyên tạc làm xấu đi quan hệ của ba nước Việt Nam–Lào–Campuchia. Đây là một loại đài phát thanh mà đội ngũ biên tập viên chỉ dựa vào chủ yếu những nguồn tin lá cải để biên tập tin tức. Thậm chí không cần biết nguồn gốc cũng như mức độ tin cậy chính xác của nguồn tin đến đâu. Nói cách khác RFI chẳng khác gì “cái loa phường đặt bịa tạc của Châu Á”. Nói theo kiểu “tự do thả phanh” thiếu đi tính chân thực. Bao nhiêu năm ra đời cũng là bao nhiêu năm đưa tin sai sự thật, có nhiều tin tức bị định hướng chính trị của tư bản cũng như bị bơm lên để lừa bịp… Trong đó có việc RFI thường xuyên đưa tin xuyên tạc về tình hình dân chủ nhân quyền tại Việt Nam và một số nước khác nhưng không ai làm gì được. Vì thế nên cần nhìn nhận lại tất cả các bản tin mà RFI phát đi trên thế giới.

4. VOA (VOICE OF AMERICA) được thành lập năm 1942 thuộc Văn phòng thông tin thời chiến. Năm 1947 VOA phủ sóng phát thanh trên lãnh thổ Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh VOA được đặt dưới sự quản lý của Cơ quan thông tin Hoa Kỳ. Vào những năm thập niên 1989 VOA tăng thêm dịch vụ truyền hình cũng như các chương trình khu vực đặc biệt nhắm và Cuba như Radio Marti, TV Marti… VOA là 1 trong những cơ quan dưới quyền của Hội đồng quản lý phủ sóng BBG. BBG là 1 cơ quan thuộc Chính phủ Hoa Kỳ và nhận sự tài trợ của Chính phủ Hoa Kỳ. Điều đặc biệt đáng ngờ ở đây chính là VOA bị cấm phát thanh trực tiếp đến công dân Mỹ. Liệu có điều gì mờ ám đằng sau điều luật cấm đó?
Truyền thông của VOA chủ yếu đưa các tin chống các nước Xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, các nước Đông Âu Xã hội chủ nghĩa, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên…Đối với Việt Nam nói riêng thì VOA tiến hành đăng tải các thông tin chống phá chính quyền nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa nhiều hơn là việc phục vụ chính sách ngoại giao Việt Nam – Mỹ. Các thông tin, luận điệu của VOA đăng tải chứa nội dung kích động, gây mâu thuẫn mất đoàn kết trong nội bộ quần chúng nhân dân với nhà cầm quyền Cộng Sản.
Tóm lại, đứng sau đài BBC là cơ quan Ngoại Giao và cơ quan tình báo MI6 của Vương quốc Anh; Ngân sách của RFA được Quốc hội Mỹ tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG; và RFI được tài trợ trực tiếp bởi Bộ ngoại giao Pháp. Tuy nhiên, sứ mệnh chung của các đài BBC, RFA, RFI, VOA là gây xáo trộn xã hội để kích động quấy rối an ninh Việt Nam. Ngay cả những bản tin có vẻ như là “khách quan”, nhưng kỳ thực là được phát thanh cùng với những bản tin ngụy biện và xuyên tạc khác nhằm cho người nghe thấy Việt Nam đang rất lạc hậu và sự lạc hậu là do chế độ. Cái thông điệp mà các nhà đài này hướng đến vẫn là muốn thay đổi chế độ. Thay bằng ai? Bằng những “nhà dân chủ” kiểu Lê Chiêu Thống tân thời mà Mỹ, Pháp, Anh đang cố gắng hà hơi tiếp sức nuôi dưỡng.
Bài viết này muốn nhắc nhở đến những người nào còn lầm tưởng BBC, RFA, RFI, VOA đang đấu tranh cho quyền lợi của người Việt? Rằng BBC, RFA, RFI là những tổ chức phục vụ cho quyền lợi của Anh, Mỹ, Pháp, và có một nhóm người Việt lưu vong làm việc tại đây góp sức làm suy yếu sự đoàn kết dân tộc của Việt Nam và gây bất ổn chính trị xã hội ở Việt Nam để người nước ngoài có cơ hội “thừa nước đục thả câu”. Những người ở trong nước đã và đang cộng tác với họ hoặc do bị lừa gạt hoặc tự nguyện cần ý thức được rằng BBC, RFA, RFI, VOA, vì sứ mệnh chính trị của họ - chưa bao giờ khách quan, chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Do đó, cộng tác với họ cũng đồng nghĩa với việc hợp tác với những người chống lại quyền lợi của Việt Nam./.
Yêu nước ST.

CẦN PHẢI CÓ NHIỀU HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP ĐỂ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC, CHỈNH ĐỐN LẠI BÁO CHÍ NGUY HẠI!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn:

“Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Bài báo là tờ hịch cách mạng”. Do đó người làm báo phải hiểu rõ mục tiêu và nhiệm vụ của mình trên mặt trận tư tưởng văn hoá. 

Hơn nữa Người cũng từng nhắc nhở “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo”, và “không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”. 

Trước khi đặt bút viết, người viết phải trả lời được 2 câu hỏi: “Viết cho ai?” (đối tượng), “viết để làm gì?” (mục đích), từ đó mới xác định: “viết cái gì?” (nội dung) và “viết như thế nào?” (hình thức). 
Trong thời gian gần đây, một số báo chí xuất hiện xu hướng viết lại xét lại lịch sử đi ngược lại với tôn chỉ, mục đích hoạt động rất nguy hại. Do đó cần có nhiều kênh đấu tranh phản bác để chỉnh đốn!

Yêu nước ST.

"BÊN CÓ LIÊN QUAN" LÀ BÊN NÀO? TỪ GÓC NHÌN CỦA HIỆP ĐỊNH PARIS!

         Để hiện thực hóa "chủ nghĩa thực dân mới" ở Miền nam, Việt nam, người Mỹ đã dựng lên cái gọi là Vnch, để làm tay sai cho họ. Người Mỹ đã nuôi dưỡng, trang bị, điều hành cái bộ máy tay sai đó, rồi trực tiếp đưa quân vào xâm lược Việt nam. Mỹ đã sử dụng tối đa khả năng hiện có lúc bấy giờ, từ sức ép của cả hệ thống đồng minh, bom đạn, khoa học kỹ thuật, đến cả chất độc hóa học, cũng không làm lay chuyển được ý chí quyết tâm của toàn dân tộc Việt nam kiên quyết bảo vệ độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của mình. Trước sau Hiệp định Paris được ký kết, thì cuộc chiến tranh đó cũng vẫn là cuộc chiến giữa một bên là kẻ xâm lược, một bên là chống lại sự xâm lược và tay sai. 

  Sau những cuộc ném bom hủy diệt Miền bắc & cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu thân 1968, người Mỹ xác định đã bị sa lầy hoàn toàn, đó là sự thất bại tất yếu. Để tìm giải pháp "rút lui trong danh dự", người Mỹ đã đẩy mạnh triển khai chiến lược "Việt nam hóa chiến tranh", để thay màu da trên xác chết và chấp nhận "đàm phán" với Chính phủ VNDCCH. Cuộc đàm phán được bắt đầu từ tháng 5/1968, giữa hai chủ thế của cuộc chiến tranh xâm lược và chống lại sự xâm là: HCQ Hoa kỳ và VNCDCH ! 
   Đến tháng 1/1969, thì có sự tham gia của hai bên có liên quan, là VNCH & CPCMLTCHMN VN cùng tham dự. Cuộc đàm phán lịch sử đó, đã kéo dài hơn 5 năm, với 201 phiên công khai, 45 phiên cao cấp, giữa các bên tham gia hội nghị. Nhưng tất cả các văn bản trước khi đưa ra các phiên công khai, đều đã được bàn bạc, thống nhất giữa hai chủ thể, là chính phủ Mỹ và chính phủ VNDVCH quyết định. Một quan chức cấp cao của chính quyền ngụy Vnch, có tham gia đàm phán, là Nguyễn Tiến Hưng đã nhắc lại trong hồi ký của mình: "Trong qúa trình đàm phán, Hoa kỳ gần như phớt lờ ý kiến của Vnch và tự sắp đặt mọi chuyện trong các họp kín với VNDCCH" (Khi đồng minh tháo chạy, 2005, t162). Ngược lại, về danh nghĩa đoàn CPCMLTMN VN & VNDCCH là hai đoàn, nhưng thực chất chỉ là một, được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp quyết định là "cố vấn" Lê Đức Thọ, UVBCT TƯ ĐCSVN. 
  Ngày 22/1/1973 phái đoàn Mỹ (Kicsxinhgo) và phái đoàn VNDCCH (Lê Đức Thọ), đã ký tắt Hiệp định, trước khi chính thức ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. 

  Như vậy, ngay trong qúa trình đàm phán, quyết định để đi đến ký kết Hiệp định Paris, thì chủ thể của qúa trình đó vẫn là Hoa kỳ và VNDCCH. Bởi cuộc chiến đó là giữa người Mỹ và nhân dân Việt nam, quyết định giải pháp để chấm dứt cuộc chiến đó, là của chính phủ hai nước VNDCCH & HCQ Hoa kỳ. Đó là hai chủ thể của cuộc chiến, các bên có liên quan ở MN Vn lúc bấy giờ, là VNCH & CPCMLTCHMN VN ! Đã liên quan thì đều có nghĩa vụ và trách nhiệm ký vào bản Hiệp định đó. Điều đó không có nghĩa là công nhận Vnch là một "quốc gia" hợp pháp, bởi dầu là "bất hợp pháp" mà có liên quan cũng có "tư cách" liên quan sự việc. Cũng như các nhóm "phiến loạn", "khủng bố" hiện nay ở một số quốc gia, dầu là "bất hợp pháp", thậm chí được xác định là "đặt ngoài vòng pháp luật"; thì khi tìm một giải pháp chấm dứt, nó cũng có "tư cách liên quan" để ký vào các văn bản cam kết chung. 
  Điều đó đã chứng minh một cách rõ ràng, đúng đắn nhất, để đập lại những ngụy biện của nhóm "lật sử", cố tình bóp méo sự thật, như Vũ Minh Giang cho rằng "trong cuộc chiến đó, Mỹ là bên thứ ba có liên quan" (!!). Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Đức Nhuệ, Dương Trung Quốc và những kẻ a dua như Lê Văn Cương, Lê Mã Lương , Phạm Đức Bảo...cho rằng Vnch là một "quốc gia" hợp pháp, bởi nó có ký vào Hiệp định Paris (!!). 

   Điều 1, Hiệp định Paris tôn trọng sự khẳng định về một Nước Việt nam độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Thì sao có thể nói được rằng Vnch là một "quốc gia", một Nước như những kẻ nêu tên trên đã cố tình ngụy biện !? Nói như vậy có khác gì Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài phát thanh ngày 23/10/1972 rằng: "phải công nhận tồn tại thực tế có HAI NƯỚC VIỆT NAM" (!!). Đó có phải là chân lý Việt nam trước sau chỉ có một, chỉ một đất nước Việt nam thống nhất hay không!?

  Đến đây, chúng ta càng rõ hơn ai là "chủ thể", ai là "bên có liên quan" và mục đích gì của các nhà "lật sử" cố tình bóp méo sự thật lịch sử, với góc nhìn từ Hiệp định Paris!

P/s: Ảnh toàn cảnh hội nghị Paris và hội đàm hai bên Mỹ & VNDCCH.
Yêu nước ST.

Vì sao các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta?

 

Vì sao các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta?

          Gần đây, ở Việt Nam xuất hiện một số tổ chức được gọi là “tôn giáo”, có tôn chỉ, mục đích hoạt động đi ngược lại đường hướng của Đảng, Nhà nước, với mục đích chống phá cách mạng nước ta. Tại sao họ lại lợi dụng tôn giáo, coi đó là “chiêu bài” nguy hiểm để hiện thực hóa mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam?

          Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Những năm qua, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, được đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo trong nước và các tổ chức quốc tế đồng tình hưởng ứng và thừa nhận. Trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Trong 15 năm qua, cả nước đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, nâng cấp được 7.916 cơ sở thờ tự, v.v. Đồng thời, coi trọng củng cố mối quan hệ đoàn kết lương - giáo, cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thôn, bản, địa phương vững mạnh, giàu đẹp, văn minh, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Thế nhưng, các thế lực thù địch đã không chỉ phủ nhận kết quả đó, mà còn lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai. Vậy tại sao họ lại lợi dụng tôn giáo để chống phá chúng ta? Điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của chúng, mà trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Phương thức của chúng là tập hợp, liên kết lực lượng lấy danh nghĩa tôn giáo, thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ lương - giáo, tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo để dễ bề can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Qua nghiên cứu thực

 

Gây nhiễu loạn thông tin - chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch

 

Nhận diện thủ đoạn gây nhiễu loạn thông tin

Những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt. Trong đó, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa là “mũi đột phá”.  Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin; gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, v.v.     

Nhằm xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, họ cố tình lớn tiếng cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, nên cần phải thay đổi bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản cho “phù hợp với xu thế phát triển của thời đại”. Đồng thời, ra sức tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, tự ngộ nhận rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột, v.v. Thông qua đó, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước cũng như mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, chúng ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhất là khi Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh xử lý các vụ án tham nhũng về kinh tế, cho rằng đó là “thanh trừng phe phái”, “đấu đá nội bộ”, “trả thù cá nhân”, vì “lợi ích nhóm”, v.v. Ngoài ra, chúng còn bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp. Lợi dụng việc các cơ quan thực thi pháp luật bắt giữ, điều tra, xét xử những người có hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn chính trị đã vu cáo, lu loa rằng, Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo. Nguy hiểm hơn, chúng còn cắt ghép, dàn dựng, lấy những thông tin ở nước ngoài gán ghép cho sự kiện trong nước. Hoặc, trước những sự việc, hiện tượng diễn ra mặc dù chưa có kết luận rõ ràng của cơ quan chức năng, nhưng các đối tượng đã quy chụp, kết luận, hướng lái theo ý chủ quan của chúng.

Đáng chú ý, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị, các ban, ngành, đoàn thể trong cả nước đang dồn sức, đồng lòng phòng, chống đại dịch Covid-19 thì chúng tạo nên một “đại dịch” khác trên mạng xã hội, đó là “đại dịch tin giả”, nhằm làm lẫn lộn đúng, sai, thật, giả. Chúng chỉ trích, rêu rao rằng: “Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam là do cấp ủy, chính quyền thiếu quan tâm đến tính mạng, sức khỏe người dân; năng lực quản lý, điều hành của chính quyền yếu kém nên không có các chủ trương, biện pháp quyết liệt trong phòng, chống dịch bệnh,…”; hay “Việt Nam quá lạc quan với kết quả phòng, chống dịch bằng biện pháp hành chính nên “thiếu chủ động” trong tiêm vaccine,…” khiến cho thế giới hiểu không đúng về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những nỗ lực trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng, Nhà nước, Nhân dân; gây khó khăn cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Y tế, các ban, bộ, ngành, địa phương trong phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua.

Về phương tiện, chúng thường lợi dụng các đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài có chương trình phát bằng tiếng Việt, như: BBC, VOA, RFA, RFI,… lập ra hàng trăm báo, tạp chí cùng hàng nghìn trang web phản động để đăng tải tin, bài, video clip; xuất bản các ấn phẩm có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam. Sử dụng internet, mạng xã hội, nhất là tính năng livestream để phát, truyền hình trực tiếp âm thanh, hình ảnh nhằm lôi kéo, thu hút người theo dõi, tin theo. Thậm chí, các thế lực thù địch còn lợi dụng những người nhẹ dạ, cả tin hoặc vì lợi ích kinh tế đứng ra “làm chim mồi”, đóng vai “nhân chứng” chứng minh “độ tin cậy” của thông tin xuyên tạc. Chúng sử dụng công nghệ sửa chữa, chèn đường dẫn đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xuyên tạc; chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên website của các cơ quan nhà nước, đưa hình ảnh, nội dung xấu độc hoặc thay đổi nội dung thông tin chính thống hòng tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Chủ thể tiến hành, chủ đạo vẫn là Việt Tân cùng một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài và một số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Ngoài ra, một số người dân do nhận thức lệch lạc, không hiểu đúng bản chất vấn đề hoặc vì động cơ vụ lợi, mục đích cá nhân, tham gia câu like, câu view, thu hút số lượng lớn người theo dõi để bán hàng online, v.v.

Xử lý nhiễu loạn thông tin

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Cấp ủy, người đứng đầu một số địa phương, cơ quan, tổ chức nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng mức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót; tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là “miếng mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu. Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại cơ sở, nhất là ở những địa phương phức tạp về an ninh chính trị; không để phát sinh “điểm nóng”. Chủ động nghiên cứu, dự báo các phương thức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch, triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là kết quả đạt được trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng xã hội với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa “xây và chống”. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, bản chất của hoạt động gây nhiễu loạn thông tin; thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc. Từ đó, thúc đẩy mọi người tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, có khả năng nhận diện, tự “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, nguy hại. Hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tiếp cận thông tin chính thống, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Chú ý giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, các vụ đình công, lãn công,… ngay từ cơ sở, không để kẻ địch lợi dụng chống phá.

Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài, video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. NTC.ST

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam

 

Trong âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được các thế lực thù địch coi là một mũi tấn công gây sức ép lớn. Nhưng những gì mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

 Mỗi chúng ta cần nhận thức đúng đắn,  luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu xuyên tạc của các thế lực, thù địch, phần tử xấu (Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: TL)

Nhiều năm qua, vấn đề nhân quyền đã và đang được các thế lực thù địch sử dụng như một thứ vũ khí, một vỏ bọc cho các hoạt động chống phá, chuyển hóa Việt Nam theo phương thức “diễn biến hòa bình”. Ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền còn được các thế lực thù địch, phản động xem như là một mũi tấn công chính, là một trong bốn “đột phá khẩu” nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt và nguy hiểm. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để tác động chuyển hóa nội bộ, gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam; kích động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội và an ninh, trật tự ở Việt Nam; hậu thuẫn, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo tiền, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Có thể nhận diện một số thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam:

Thứ nhất, lợi dụng sự khác biệt trong quan điểm, nhận thức về vấn đề quyền con người để công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ XHCN Việt Nam, đả kích vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thể chế chính trị Việt Nam. Chúng quy kết học thuyết Mác - Lênin là độc tài, mất dân chủ, vi phạm quyền con người; tuyên truyền công kích vào Hiến pháp, pháp luật và thể chế chính trị, từ đó đòi thay đổi cương lĩnh, đường lối của Đảng, kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ hai, ra sức xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền ở nước ta, triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp như tham nhũng, khiếu kiện, đình công, phân hóa xã hội, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống đối chính trị… để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Hàng năm chính phủ một số quốc gia, một số tổ chức quốc tế thường đưa ra những cái gọi là “báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới” (trong đó có phần đề cập đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam), “báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam”, “dự luật nhân quyền Việt Nam”...; ra các tuyên bố, thông cáo báo chí xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Thứ ba, lợi dụng tính phổ biến của vấn đề quyền con người, quan hệ quốc tế trong vấn đề quyền con người để tuyệt đối hóa, tuỳ tiện áp đặt các “chuẩn mực” nhân quyền nhân danh “tinh thần thời đại”, “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; đặt ra các “điều kiện”, “tiêu chuẩn” về nhân quyền trong quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... từ đó gây sức ép, tác động chuyển hóa nội bộ Việt Nam, thúc đẩy Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo chuẩn mực, giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản phương Tây.

Thứ tư, lợi dụng chiêu bài “thúc đẩy dân chủ”, “bảo vệ quyền con người” để tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam ở cả trong và ngoài nước nhằm hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cá nhân, tổ chức nước ngoài thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa các nhân vật trong chính giới, nhân viên cơ quan ngoại giao, các phái đoàn của chính phủ các nước với các đối tượng chống đối ở cả trong và ngoài nước để hậu thuẫn, khuyến khích chúng tăng cường hoạt động chống nhà nước Việt Nam; thông qua chiêu bài nhân quyền để can thiệp, bảo vệ cho số đối tượng chống đối chính trị bị bắt, xử lý, kêu gọi trả tự do cho các đối tượng…

Thứ năm, gắn vấn đề nhân quyền với vấn đề tôn giáo, dân tộc, lợi dụng những thiếu sót, hạn chế trong quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam để kích động hoạt động chống nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài đòi “tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo”, “quyền tự quyết dân tộc”; gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân; kích động một bộ phận quần chúng hoạt động chống chính quyền nhân dân như gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn…

Có thể thấy rằng, nhân quyền là sản phẩm kết tinh của nền văn minh nhân loại, có ảnh hưởng rộng lớn và ngày càng trở thành mối quan tâm chung của nhân loại. Hiểu một cách chung nhất, nhân quyền là quyền con người, thế nhưng cho đến nay quan niệm, cách hiểu, cách tiếp cận về nhân quyền giữa các quốc gia lại thường không có sự thống nhất.

Tuỳ theo góc độ tiếp cận, quan điểm chính trị, lợi ích giai cấp mà các quốc gia có những quan niệm khác nhau về quyền con người. Ở Việt Nam, nhân quyền được hiểu là những giá trị cơ bản mà con người giành được trong lịch sử đấu tranh cải tạo tự nhiên và xã hội nhằm khẳng định địa vị chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp lý của mình. Đó là tổng thể các nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người với tư cách cá nhân và cộng đồng xã hội được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

 

Quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là không ngừng mở rộng dân chủ XHCN, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người. Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”. Nghị quyết Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người còn được cụ thể hóa trong các đạo luật quan trọng của Nhà nước như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Báo chí, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật An ninh mạng… Hơn nữa, thực tế cũng cho thấy, trong những năm qua Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng trong đảm bảo quyền con người, nhất là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do báo chí, tự do ngôn luận, hội họp… Cùng với đó, rất nhiều chính sách an sinh xã hội đã được Đảng, Nhà nước triển khai nhằm hướng tới người nghèo, người yếu thế, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là tại các địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo.

Mới đây nhất, nhân dịp Quốc khánh mùng 2/9, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho 3.035 người, trong đó có cả người nước ngoài. Đây không chỉ một việc làm mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trao cơ hội thứ hai cho những người đã một thời lầm lỡ có cơ hội làm lại cuộc đời mà còn tiếp tục phản ánh rõ nhất ưu tiên bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, là minh chứng rõ nét nhất bác bỏ lại mọi luận điệu xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền” của các thế lực, đối tượng thù địch, phản động.

Nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn, hiểu đúng, đầy đủ về nó và luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./. NTC.ST