Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

Nghệ thuật ngoại giao việt nam thời đại hồ chí minh

 Chuyến thăm ngoại giao chính thức của Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Mỹ đang gây tiếng vang trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, bài phát biểu của Thủ tướng tại Viện nghiên cứu Chiến lược quốc tế Hoa Kỳ (CSIS) ở Washington D.C đã thể hiện được tinh thần và nghệ thuật ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Bài thuyết trình của Thủ tướng Phạm Minh Chính có đoạn: “Giữa độc lập và phụ thuộc, chúng tôi luôn chọn độc lập với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; giữa thương lượng và đối đầu, chúng tôi chọn thương lượng; giữa đối thoại và xung đột, chúng tôi chọn đối thoại; giữa hoà bình và chiến tranh, chúng tôi chọn hoà bình; giữa hợp tác và cạnh tranh, chúng tôi chọn hợp tác và cạnh tranh thì phải lành mạnh, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau”.

Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới bị kéo vào vòng xoáy tranh chấp giữa các cường quốc trên thế giới thì Việt Nam vẫn thể hiện một đường lối ngoại giao tự chủ, độc lập và quan hệ hài hòa với các quốc gia trên thế giới. Độc lập, tự chủ là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cuộc sống ấm no cho người dân. Đó là nền tảng ngoại giao vì nhân dân, vì con người, vì lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam. Giải quyết mối quan hệ giữa các cường quốc là điều không dễ dàng và nhiều quốc gia đã phải trả giá bằng những cuộc nội chiến, xung đột. Do đó, giữ vững độc lập, tự chủ là một trong những nguyên tắc và điều kiện tiên quyết của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Nghệ thuật ngoại giao “thêm bạn, bớt thù” một lần nữa thể hiện rõ trong bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính. Việt Nam đã phải chịu những tổn thất do chiến tranh gây ra nên hiểu và thấm nhuần giá trị của hòa bình, hợp tác. Việt Nam không tham gia các liên minh quân sự, lên án các cuộc chiến tranh phi nghĩa, không chọn phe phái.

Vị thế ngoại giao và quan điểm trung lập của Việt Nam một lần nữa được sự đồng thuận của các quốc gia trên thế giới và nền tảng để phát huy nội lực của đất nước.


 

Chiêu trò “bới lông tìm vết” của những đối tượng chống phá

 Hiện nay xuất hiện rất nhiều những đối tượng chuyên đào bới những thiếu sót của những cán bộ, đảng viên vi phạm từ đó thổi phồng lên nhằm gây xôn xao dư luận. Điều này gây ảnh hướng trực tiếp uy tín, danh dự của Đảng và Nhà nước.

Sẽ rất nguy hiểm nếu những đối tượng này tung tin, bịa đặt những nội dung có chủ đích nhằm đem những công kích của cá nhân vi phạm đẩy lên thành lên án Đảng, Nhà nước với những lời lẽ như “Chính quyền tắc trách”, “Bộ máy Nhà Nước bao che, giúp nhau cùng sai phạm”,…

Những đối tượng này thường là những người có tiếng nói nhất định, chúng thường dùng danh nghĩa “người đại diện” cho dư luận để lên án, phê phán, bóc mẽ trước những thiếu sót của bộ máy Nhà nước. Trong lúc lực lượng chức năng đang điều tra làm rõ sự việc thì những đối tượng này đã tự động thêm thắt, bịa đặt những thông tin sai sự thật, nhằm bẻ lái dư luận của xã hội.

Nếu mọi người tìm hiểu rõ ràng thông tin một cách đúng đắn, từ đó chỉ ra những khuyết điểm, sai phạm của những cán bộ, đảng viên vi phạm một cách hợp lý, giúp đỡ người khác tiến bộ hơn thì cần được tán dương. Chính vì thế, mỗi người dân cần tỉnh táo, sáng suốt trước những thông tin vu khống trước những bộ phận nhỏ đối tượng bất mãn, chống phá nhà nước.

Nhân quyền của nước mỹ đang bị lãng quên?

 Chính quyền của Mỹ luôn quan tâm đến vấn đề nhân quyền của các quốc gia trên thế giới và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp kể cả quân sự để “đòi lại nhân quyền” cho nhân dân Syria, Ukraina,…Thế giới vẫn thấy Mỹ lên án Trung Quốc, Nga, Triều Tiên…vi phạm nhân quyền. Nhưng nghịch lý là nhân quyền của nước Mỹ đang bị lãng quên.

Nếu bạn search google cụm từ “xả súng tại trường học ở Mỹ” lập tức sẽ có hơn 1,2 triệu kết quả. Đó là con số thực sự đáng báo động. Vụ xả súng tại trường Tiểu học Robb thuộc thị trấn Uvalde, Tây nam bang Texas ngày 24/5/2022 làm 19 học sinh và 02 giáo viên là một trong những cú sốc như thế. Tính ra trong năm 2022, nước Mỹ đã chứng kiến 39 vụ xả súng trong trường học. Mỹ lên án Trung Quốc, Nga, Triều Tiên về các hành vi phi nhân đạo nhưng việc sử dụng súng hợp pháp rộng rãi như ở Mỹ thì hiếm thấy xuất hiện ở các quốc gia khác.

Xả súng tại trường học là hành động khủng bố không thể chấp nhận nhưng vẫn thường xuyên xảy ra ở Mỹ. Dư luận hoàn toàn không hiểu về việc vì sao chính quyền vẫn để việc tình trạng sử dụng súng tràn lan trong xã hội. Nỗi đau khi những đứa trẻ bị thiệt mạng do súng đạn là không thể diễn tả và sẽ để lại những hậu quả tinh thần khủng khiếp.

Đã đến lúc Mỹ hãy dành thời gian, lực lượng để nhân quyền nước mình trở nên tốt đẹp hơn trước khi lên án quốc gia khác vi phạm nhân quyền.


 

Đừng cố ăn vạ

  Chuyến công du tới Washington D.C của Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đập tan những luận điệu xuyên tạc, phản động của các đối tượng. Thủ tướng đã rất thành công trong việc đưa hình ảnh Việt Nam lên một tầm cao mới, thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam về nhiều vấn đề khác nhau.

Hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ đã được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá sẽ là bước mở đầu cho một mối quan hệ toàn diện của Mỹ với ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng.

Trong khuôn khổ làm việc của Hội nghị, nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau đã được đưa ra thảo luận, thế nhưng vấn đề mà nhiều đối tượng rận mong chờ nhất đó chính là “dân chủ, nhân quyền” lại không được chú trọng.

Đây là nỗi buồn của nhiều anh em rận cả trong và ngoài nước. Nhiều trang phản động đã hằn học chia sẻ bài viết trên mạng trang báo nước ngoài về việc cần thúc đẩy dân chủ ở các nước ĐNA trong đó có Việt Nam.

Không biết tác giả của bài viết trên có theo dõi chuyến công du của Thủ tướng không nhưng riêng về khoản dân chủ thì Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nói sẽ sẵn sàng đối thoại về vấn đề này. Việt Nam chẳng cần ai thúc đẩy dân chủ, chỉ có những kẻ chuyên đi bới móc, xuyên tạc mới cần điều đó.

Việt Nam sẽ chẳng cần một nền dân chủ theo kiểu mẫu nào hết, chỉ cần nhân dân ấm no là đủ, sẽ chẳng có quốc gia nào có quyền can thiệp, chỉ trích Việt Nam về vấn đề nhân quyền.

Đài RFA tung hỏa mù về vụ tăng giá sách giáo khoa

 Trong khi người dân chưa hiểu hết nguyên nhân vì sao giá sách giáo khoa tăng giá gấp đôi thì đài RFA tiếng Việt đã cắt xén lý giải của người đứng đầu Bộ giáo dục - đào tạo nhằm gây bất bình cho người dân về vấn đề được đặc biệt quan tâm này.

Cụ thể đài RFA trong bài đăng ngày 26/5 vừa qua đã giật tít “Bộ trưởng giải thích giá sách giáo khoa cao vì giấy tốt: dân không đồng ý!” với quan điểm quy chụp không đúng với những gì mà vị Bộ trưởng giáo dục – đào tạo trả lời trước Quốc hội ở phiên thảo luận tại tổ về kinh tế - xã hội ngày 25/5.

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đã giải thích theo dưới góc cạnh các điểm sau:

- Khi so sánh giá sách cần so sánh giá các bộ sách được biên soạn mới theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 với nhau. Trong khi giá sách năm 2018 được Chính phủ trợ giá trong các khâu biên soạn, nghiệm thu thì năm nay do chính sách xã hội hóa các doanh nghiệp tham gia vào các khâu nên sẽ không còn giá rẻ như trước đây.

- Thêm nữa, theo Bộ trưởng thì “Các loại sách này biên soạn với khổ lớn hơn, giấy tốt hơn. Quy trình từ biên soạn cho đến giới thiệu, thử nghiệm, phát hành là các doanh nghiệp hoàn toàn đảm nhiệm việc đó và kê khai giá với Bộ Tài chính. Như giá thành sách các bộ sách lớp 3, lớp 7, lớp 10 của Nhà xuất bản Giáo dục năm nay là giảm được từ 10-15% so với các sách tương ứng mới của năm ngoái, trong khi giá thành vật liệu, nhiên liệu tăng lên. Còn nếu so với các bộ sách cũ thuộc chương trình 2016 thì đấy là các sách mà nhà nước đã bỏ tiền cho rất nhiều các khâu từ biên soạn, thẩm định”.

Chính từ việc xuất bản sách giáo khoa theo điều kiện xã hội hóa và tăng giá nguyên liệu là cốt lõi cho việc tăng giá lần này của sách giáo khoa chứ không phải vì lợi ích của Bộ giáo dục – đào tạo.

Đương nhiên đài RFA muốn dắt mũi dư luận để hướng lái theo chiều hướng lợi ích to, nhỏ trong Bộ giáo dục và người dân là người chịu gánh nặng tài chính cho những lợi ích nhóm này. Điều đó là không đúng với thực tế.

Vấn đề đó là Chính phủ sẽ tìm cách tháo gỡ vấn đề giá sách giáo khoa như thế nào để hài hòa lợi ích giữa người dân – doanh nghiệp.

Còn đối với những điều theo thuyết âm mưu của đài RFA chúng ta cần sự vào cuộc của cơ quan chức năng để không tái diễn nạn vừa đá bóng vừa thổi còi sân sau như một số bộ, ban, ngành đã dính chàm trước đây.

Lật tẩy chiêu trò “thư ngỏ” của những phần tử thiếu thiện chí

 Việt Nam đã được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 77 đại diện cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Sự thành công của Việt Nam ta đã cho thấy những chiêu trò “thư ngỏ” của những phần tử thiếu thiện chí chẳng phát huy được tác dụng.

Ngay từ khi thông tin chính thức về việc Việt Nam với tư cách thành viên của Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) và sẽ là thành viên duy nhất của ASEAN tham gia ứng cử vào vị trí thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tới đây, trên diễn đàn của một số cá nhân, tổ chức chống phá, thiếu thiện chí như RFA, BBC Tiếng Việt, “Việt Tân” hay Nguyễn Văn Đài đã ngay lập tức đã đăng tải các bài viết có nội dung kêu gọi các cá nhân, tổ chức quốc tế không bỏ phiếu cho Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và đồng thời xuyên tạc, vu cáo về thực tiễn vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian qua.

Thậm chí, vào giữa tháng 4 vừa qua trên một số diễn đàn đã đăng tải cho rằng đã có 08 tổ chức, đây là những tổ chức phản động, chống phá đất nước khi đã soạn thảo cái gọi là “Thư ngỏ” để nhằm thu thập chữ ký của các cá nhân, tổ chức để nhằm “ngăn chặn Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025”. Mục tiêu “thư ngỏ” mà các đối tượng đưa ra là nhằm thu thập 100.000 chữ ký từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2022 và sau đó, kiến nghị thư này sẽ được gửi tới Liên Hợp Quốc, Đại sứ Mỹ, Anh. Đến nay, sau hơn 1 tháng “nỗ lực” kêu gọi thì họ đã thông báo rằng đã có 300/100.000 người ký tên yêu cầu LHQ loại Việt Nam ra khỏi danh sách ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền. Với viễn cảnh này thì bao giờ họ mới thu thập được đủ mục tiêu 100.000 người ký tên như mục tiêu họ đã đề ra khi thời gian còn hơn 2 tháng và liệu trong 300 chữ ký mà họ thu thập được thì bao nhiêu trong số đó là tài khoản ảo và đó là chưa kể đến việc Liên Hợp quốc hay các vị Đại sứ Mỹ, Anh cũng chỉ xem những “thư ngỏ” này như những tờ giấy vụn đấy thôi.

Thực tế chúng ta có thể thấy rằng, cũng giống như lần trước vào dịp Việt Nam ứng cử và sau đó là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, các phần tử thiếu thiện chí, chống phá Việt Nam cũng rêu rao trên các diễn đàn trang mạng các chiêu trò “thư ngỏ”, “kiến nghị”… để kêu gọi không bỏ phiếu cho Việt Nam. Vậy nhưng Việt Nam đã chiếm tỷ lệ phiếu ủng hộ rất cao và là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 và những năm gần đây Việt Nam đã ngày càng chủ động và tham gia các tổ chức của Liên Hợp quốc, là thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN vào năm 2020. Việt Nam cũng đã ký kết, tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người.

Gần đây Việt Nam cũng đã thực hiện Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, đã khảng định nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự thành công của Việt Nam khi được bầu là Phó Chủ tịch Hội đồng Liên Hiệp Quốc là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người là những minh chứng sống động để bác bỏ những “thư ngỏ” hay những luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam hay kêu gọi không bỏ phiếu Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025.

Khi Việt tân thừa nhận thất bại cay đắng

 Ngày 29/5/2022 tổ chức khủng bố quốc tế Việt Tân tại Orange County đã tổ chức Tiệc Gây Quỹ yểm trợ phong trào đấu tranh trong nước. Buổi tiệc mục đích “bất chấp bạo quyền cộng sản GIÚP DÂN CỨU DÂN” trong tình trạng người dân trong nước đang sống khó khăn của thời kỳ hậu Covid.

Trong phần diễn thuyết của ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch của tổ chức khủng bố Việt Tân đã cay đắng thừa nhận rằng: "Hầu hết ở các nước chuyên quyền, vẫn tồn tại hình thức đối lập chính trị công khai được pháp luật thừa nhận. Nhưng Việt Nam thì không có điều này, do đó rất khó để huy động quần chúng tham gia đấu tranh".

Nói đúng hơn là do ở Việt Nam Việt Tân được coi là tổ chức khủng bố quốc tế, hầu hết người dân đều nhận thức được việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của tổ chức này, tiếp tay hay ủng hộ bằng thái độ, bằng hành vi là vi phạm pháp luật, đi ngược với truyền thống văn hóa đạo đức, lòng tự tôn của công dân Việt Nam.

Mặt khác những thành phần cơ sở trong nước của tổ chức Việt Tân đều tham lam, hám tiền nên chỉ mong muốn gây tiếng vang bằng ném bom xăng, khủng bố cơ quan công quyền nên không có được sự ủng hộ của người dân.

Chính vì con đường đi sai trái của Việt Tân nên nhiều năm qua hầu như không có thành viên nào của tổ chức này có thể trụ vững lâu dài ở trong nước, tất cả đều bị người dân phát hiện và báo cho cơ quan Công an đến bắt giữ, xử lý.

Việc Việt Tân thừa nhận thất bại cay đắng này cũng có thể coi là bước ngoặt cho Việt Tân bởi khi tìm cách phá hoại hay cử người về nước đều bị người dân chặt đứt thì có lẽ yên vị dự tiệc ở nước ngoài chém gió tình hình trong nước sẽ an toàn hơn là chi tiền về nước để khủng bố. 

Đời đời biết ơn những những anh hùng liệt sỹ, liệt sỹ vô danh

 Chiến tranh đã đi qua hơn hàng chục năm, nhưng còn đó vẫn là nỗi đau, nỗi mất mát cho những người ở lại. Những gia đình vẫn còn tàn dư của chất độc da cam, những gia đình liệt sĩ vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Để có được hoà bình như ngày hôm nay, cha ông chúng ta đã kiên quyết đấu tranh để rồi hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước.

Tuy nhiên vẫn có những người lính hy sinh trên chiến trường nhưng bị thất lạc nên khi các thế hệ mai sau tìm thấy hài cốt thì chẳng tìm thấy danh tính. Họ là những mộ liệt sỹ vô danh. Nhưng chiến công của các anh là bất diệt và đời đời các thế hệ mai sau sẽ luôn được dạy về lịch sử hào hùng kháng chiến cứu nước.

Trên toàn quốc có hơn 1 triệu liệt sỹ, các anh đã để lại cuộc đời mình trên chiến trường vì lý tưởng cao cả, vì độc lập của dân tộc Việt Nam. Những thanh niên tuổi 18, đôi mươi, các anh đi chẳng tiếc đời mình. Những trận đánh lịch sử, những chiến công oanh liệt như những móc son chói lọi của trang sử hào hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Nhìn về lịch sử để biết rằng cha ông ta đã đổ biết bao xương máu mới có được hoà bình như ngày hôm nay. Khi mà những thế hệ anh hùng của chúng ta dần rời bỏ trần thế để về với thế giới người hiền thì việc giáo dục lịch sử, giáo dục cho giới trẻ về sự hào hùng của cha ông ta. Để giới trẻ biết ơn các anh hùng liệt sỹ, những chiến sĩ vô danh đã chiến đấu vì hoà bình dân tộc.

Ngày mai đây, thời gian sẽ trôi theo cùng năm tháng, những những gì các anh đã chiến đấu vào sự nghiệp giải phóng dân tộc vẫn sẽ luôn được nhắc đến mỗi ngày trong những bài giảng trên lớp, trên những con phố, qua những hương thơm của nén nhang ngày lễ, qua những hình ảnh, sách báo, truyền hình. Bởi vì chiến công của các anh là bất diệt.

Âm mưu kích động chia rẽ dân tộc

 Tại Việt nam chúng ta, tư tưởng phân biệt chủng tộc, dân tộc đã gần như biến mất hoàn toàn kể từ khi chủ nghĩa thực dân bị diệt trừ. Tuy nhiên, sự kì thị dân tộc thường được các đối tượng chống phá tuyên truyền, xuyên tạc, kích động trực tiếp đến người dân từ đó gây ra những cuộc bạo loạn, biểu tình làm ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết dân tộc.

Để đạt được mục đích của mình, những đối tượng chống phá thường vận dụng tất cả những thủ đoạn và phương tiện truyền thông, mạng xã hội để đăng đàn kêu gọi những người dân tộc thiểu số, người thiếu hiểu biết để cho họ chỉ thấy được quyền lời của dân tộc mình từ đó chà đạp lên những dân tộc khác, rồi gay gắt hơn là đòi lật đổ Nhà nước, thành lập các quốc gia riêng.

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc. Ở Việt Nam, các dân tộc anh em sống xen kẽ với nhau chứ có những khu vực sống, lãnh thổ riêng như các quốc gia khác. Chính vì thế, những đối tượng chống phá có những cách thức hoạt động rất tinh vi nên dù cho đã bị lực lượng chức năng phát hiện và ngăn chặn thì chúng vẫn không từ bỏ mà vẫn tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Những người có tư tưởng phân biệt dân tộc là những người hẹp hòi, bảo thủ, không nhìn thấy những tiến bộ, phát triển của dân tộc khác mà chỉ tung hô dân tộc mình. Từ đó, những đối tượng này thường dễ bị lôi kéo nhằm gây chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc với nhau. Vì thế Đảng và Nhà nước cần tăng cường tuyên truyền, giúp người dân nâng cao cảnh giác, và hiểu được trách nhiệm của bản thân trong việc đấu tranh, phòng ngừa làm thất bại những âm mưu của những đối tượng chống phá.

Dù là một quốc gia đa dân tộc, đa sắc tộc, nhưng Việt Nam đã cho thế giới thấy dân tộc Việt Nam là một dân tộc đoàn kết, bình đẳng và luôn giúp đỡ lẫn nhau. Đây được xem là “bức tượng vững chắc” để ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn của những đối tượng chống phá nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội là thống nhất, không đối lập, mâu thuẫn


Đảng cầm quyền và Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là thống nhất, hoàn toàn không có chuyện đối lập, mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau như một số người lấy cớ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị dự họp Quốc hội để tung tin, xuyên tạc vấn đề Đảng cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước và xã hội ta, cho rằng “khi Đảng cầm quyền là làm thay chức năng, vai trò của Nhà nước”, “Đảng đứng trên Nhà nước”, “bao biện, làm thay Nhà nước”, còn “Quốc hội cơ quan quyền lực của Đảng”, “nơi hợp lý hóa Nghị quyết của Đảng”...
Chúng ta biết rằng, Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo là Đảng đã giành được chính quyền, xây dựng và sử dụng chính quyền làm công cụ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước ngoặt phát triển của Đảng là từ chỗ chưa nắm được chính quyền đến chỗ cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, quy mô, nội dung, nhiệm vụ và điều kiện hoạt động lãnh đạo của Đảng có sự thay đổi căn bản. Trọng trách của Đảng trước dân tộc, trước nhân dân ngày càng nặng nền hơn; các nguy cơ, mối đe dọa và sự chống phá Đảng của các lực lượng đối lập, theo đó cũng tăng lên.
Trở thành Đảng cầm quyền, Đảng nắm chắc vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, do đó Đảng phải chịu sự giám sát của nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không đứng trên Nhà nước và làm thay Nhà nước vì Đảng có Cương lĩnh, đường lối và sứ mệnh của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, được Hiến pháp hiến định, bảo đảm địa vị pháp lý của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng là hệ thống biện pháp, hình thức, cách thức mà Đảng, các tổ chức đảng và đảng viên tác động vào đối tượng lãnh đạo là Nhà nước và xã hội, thông qua Nhà nước và xã hội, Đảng thực hiện mục đích lãnh đạo của mình: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới nên phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng cũng thay đổi, khác với thời kỳ lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như thời kỳ phát triển đất nước theo cơ chế tập trung, bao cấp (trước 1986).
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn vai trò, tầm quan trọng của phương thức cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Với những đổi mới thiết thực, phù hợp với thực tiễn đất nước, phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đã mang lại những thành tựu quan trọng; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả cầm quyền, lãnh đạo của Đảng, phát huy tốt hơn vai trò của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới.
Thực tế khẳng định rằng, phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Đảng ta xác định: “Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên… Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đấu”. Thông qua lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng định hướng cho sự phát triển đất nước, được thể chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, được nhân dân tự giác thực hiện. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới đất nước đã khẳng định điều đó.
Rõ ràng, phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, nhất là hoạt động của Quốc hội ngày càng được đổi mới, được cử tri cả nước hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ. Quốc hội ngày càng thực quyền hơn, hiệu quả cầm quyền, lãnh đạo của Đảng được nâng lên rõ rệt. Thể hiện ở chỗ:
(1) Văn kiện của đại hội Đảng, của các Hội nghị Trung ương đã xác lập nền tảng tư tưởng, hệ thống các quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn làm cơ sở chính trị - pháp lý cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và các hoạt động của Quốc hội.
(2) Đảng đề ra các chủ trương, nghị quyết, kết luận với những định hướng lớn đưa ra Quốc hội dân chủ thảo luận, xem xét, bổ sung, sửa đổi như Hiến pháp 2013; các định hướng, yêu cầu về tổ chức bầu cử Quốc hội; định hướng xây dựng các đạo luật lớn, các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội quan trọng cho từng giai đoạn, thời kỳ và hằng năm. Sự cầm quyền, lãnh đạo của Đảng thể hiện ở tầm quan điểm, chủ trương, chính sách lớn, bao trùm; Quốc hội thảo luận, quyết định theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ và theo những điều khoản của các đạo luật quy định.
(3) Đảng quyết định việc giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu vào các chức vụ Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội… Đồng thời, lựa chọn và giới thiệu đảng viên có trình độ, năng lực và phẩm chất tốt sang hoạt động ở Quốc hội. Trung ương Đảng và Bộ Chính trị thông qua Đảng đoàn Quốc hội và các đảng viên là đại biểu Quốc hội để lãnh đạo hoạt động của Quốc hội. Những vấn đề lớn Đảng chỉ nêu phương hướng để Quốc hội thảo luận một cách dân chủ, quyết định về mặt nhà nước liên quan đến quốc kế, dân sinh; Đảng không áp đặt.
(4) Đảng lãnh đạo, chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội, các cơ quan có liên quan thực hiện tốt việc chuẩn bị cho các kỳ họp của Quốc hội, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Quốc hội. Nhờ vậy, hoạt động của Quốc hội ngày càng có chất lượng, hiệu quả cao; sôi động hơn, thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận xã hội trong và ngoài nước.
Bên cạnh những kết quả, thành tựu nêu trên, trong phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng còn một số hạn chế cần phải khắc phục, đó là nhận thức về mối quan hệ giữa quyền của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong việc quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội… với quyền quyết định của Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền, lãnh đạo chính quyền còn một số điểm chưa rõ. Chất lượng nhiều dự thảo luật còn chưa cao, năng lực làm luật còn có mặt hạn chế, việc chuẩn bị một số dự án luật còn kéo dài, một số bộ luật chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong điều kiện một Đảng cầm quyền chưa được nghiên cứu sâu, toàn diện về lực lượng và thực tiễn.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhận định: “đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội còn chậm, … có những nội dung còn lúng túng - chưa xác định rõ nội dung và phương thức cầm quyền”.
Để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, cần thực hiện tốt các nội dung sau:
(1) Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó Đảng vừa là một bộ phận vừa là người cầm quyền, lãnh đạo của hệ thống. Qua đó, giúp công dân hiểu rõ hơn vị trí, vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
(2) Tiếp tục nghiên cứu, làm sáng rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của các cơ quan, thiết chế Nhà nước (Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, cơ quan tư pháp, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp); vấn đề phân công, phân nhiệm, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đối với các thiết chế cơ bản của Nhà nước, Đảng cần xác định phương thức lãnh đạo đặc thù, phù hợp với tình hình mới.
(3) Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền, lãnh đạo và Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ biện chứng giữa cầm quyền, lãnh đạo của Đảng và quản lý, điều hành của Nhà nước, giữa vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với tính thượng tôn pháp luật.
(4) Cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong bầu cử các đại biểu dân cử trong bộ máy Nhà nước, cần có cơ chế tranh cử trong thực chất và mở rộng quyền ứng cử của cử tri.
(5) Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác cán bộ trong bộ máy Nhà nước, bảo đảm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ hoạt động trong bộ máy của Nhà nước. Cùng với đó, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Đổi mới cách ra nghị quyết theo hướng “thà ít mà tốt”; đồng thời, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược./.

Ý NGHĨA VÀ LỊCH SỬ LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG CỦA VIỆT NAM.!


Cờ đỏ sao vàng là biểu tượng, là quốc kỳ của đất nước Việt Nam. Lá cờ đỏ sao vàng có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Mỗi khi đến ngày lễ lớn của đất nước là chúng ta lại thấy hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên khắp các nẻo đường, nhưng không phải ai cũng biết về lịch, hiểu hết được ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng. Qua bài viết này, hi vọng các bạn sẽ hiểu thêm về ý nghĩa cũng như lịch sử của lá cờ đỏ sao vàng.
Lịch sử lá cờ đỏ sao vàng
Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp cuối 1940, CỜ ĐỎ SAO VÀNG xuất hiện đầu tiên, tung bay ở nhiều địa phương, và sau đó trờ thành lá cờ của Việt Minh. Người có công vẽ ra lá CỜ ĐỎ SAO VÀNG đầu tiên là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến.
Tháng 5/1941 Mặt trận Việt Minh thành lập, trong Chương trình Việt Minh ghi rõ: “ Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ ngôi sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đó là văn bản đầu tiên nói về Quốc kỳ nước ta.
Trung tuần tháng 8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào ( thuộc tỉnh Tuyên Quang ) quyết định lấy cờ Việt Minh ( CỜ ĐỎ SAO VÀNG 5 cánh) lá cờ khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.
Năm 1976, sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam khóa VI đã lấy cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với vài thay đổi nhỏ so với mẫu cờ nguyên thủy.
Ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng.
Nền cờ đỏ tượng trưng cho nhiệt huyết cách mạng, biểu tượng cho sự chiến đấu và chiến thắng. Màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho linh hồn dân tộc, năm cánh sao vàng tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh cùng đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh - đó là hồn nước, là niềm tự hào, là biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam.
Do đó, việc treo cờ cũng cần phải có ý thức tôn nghiêm:
- Không sử dụng cờ Tổ quốc không đúng quy định về kích thước, tạo hình.
- Không sử dụng cờ Tổ quốc đã phai màu, rách, thủng.
- Không để cờ tuột xuống dưới trụ cờ.
- Không treo cờ ở những nơi khuất, tối.
- Không treo cờ dưới những bảng hiệu, biển quảng cáo.
- Không treo cờ dưới những vật dụng kém mỹ quan như: màn che, tấm che nắng, che bụi, sào (dây) phơi đồ…
- Khi không treo cờ nữa thì đem cờ bảo quản ở nơi sạch sẽ, trang nghiêm.
Lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng, là niềm tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam.!42.

Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền”



Ngày 2/6 vừa qua, tổ chức Freedom House - một tổ chức quốc tế phi chính phủ có trụ sở chính tại Mỹ đã công bố “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong”; trong đó, tiếp tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Nội dung của báo cáo hoàn toàn bịa đặt về tình hình thực tế tại Việt Nam, như: Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các nhà dân chủ”…
Đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Việc đánh giá, xếp hạng của tổ chức này không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình thực tế ở Việt Nam. Thay vào đó, Freedom House bắt tay với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống, quy chụp rằng, ở Việt Nam không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền.
Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tiến công, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm... Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn.
Với những cáo buộc của Freedom House cho thấy, tổ chức này ngày càng lộ rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam.
Chính sách của Đảng và Nhà Nước Việt Nam luôn thực hiện theo tôn chỉ, mục đích là để người dân có cuộc sống ngày càng tốt lên, chứ không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

NHỮNG ĐIỂM MỚI, ĐỘT PHÁ TRONG QUY ĐỊNH 57

 
Ngày 8/2/2022, Ban Bí thư ban hành Quy định số 57-QĐ/TW về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị (gọi tắt là Quy định 57). Quy định 57 thể hiện sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo lý luận chính trị, phù hợp với đối mới công tác cán bộ nói chung. Quy định 57 bao quát tất cả 3 cấp đào tạo lý luận chính trị, gồm sơ cấp, trung cấp và cao cấp; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng bên liên quan trong việc hoạt động đào tạo lý luận chính trị từ Trung ương tới cơ sở. Quá trình nghiên cứu xây dựng Quy định 57 được tổ chức công phu, khoa học và dựa trên những chứng cứ khách quan, có sự tiếp thu ý kiến của nhiều bên liên quan(3).
Nội dung Quy định 57 được bố cục gọn, rõ, mạch lạc trong 4 chương, 12 điều, bao quát tổng thể đối tượng, tiêu chuẩn, phân cấp và trách nhiệm các bên liên quan trong công tác đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Những điểm mới, mấu chốt, đột phá của Quy định 57 cụ thể như sau:
Thứ nhất, thẩm quyền ban hành Quy định 57 là Ban Bí thư. Lần đầu tiên trong lịch sử công tác đào tạo lý luận chính trị của Đảng, Ban Bí thư ban hành Quy định 57, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với công tác này trong tình hình mới. Chính vì thế, hiệu lực thực thi rất cao, yêu cầu sự tuân thủ thực hiện từ Trung ương tới cơ sở, trong toàn hệ thống chính trị. Quy định này thay thế các điều khoản trong các quy định trước đây không còn phù hợp.
Trong Chương 1, Quy định 57 xác định rõ khái niệm (thuật ngữ) về đào tạo lý luận chính trị,sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị, phân cấp đào tạo lý luận chính trị. Có thể nói đây là chuẩn mực để chúng ta tham khảo, hiểu thống nhất trong quá trình triển khai Quy định này, đồng thời để chiếu dẫn cho các văn bản khác và nghiên cứu học thuật.
Thứ hai, Quy định 57 mang tính hệ thống, tổng hợp. Quy định này bao quát đầy đủ 3 cấp học sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị trong một văn bản. Điều này khắc phục được những hạn chế, bất cập trước đây là có những quy định riêng lẻ, tản mạn về sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị của các cơ quan, ban đảng như đã nêu trên. Việc xác định mạch lạc các cấp học thể hiện tính hệ thống của đào tạo lý luận chính trị, có tính liên thông về nội dung từ thấp tới cao cho từng đối tượng cán bộ.
Thứ ba, Quy định 57 xác định rõ, cụ thể, mạch lạc từng loại đối tượng tham gia 3 cấp học. Đối tượng học từng cấp không trùng lắp, chồng chéo với nhau, bảo đảm sự tách bạch, nâng cao hiệu lực công tác tổ chức thực hiện. Điều 4 quy định về đối tượng học sơ cấp lý luận chính trị. Đối tượng học sơ cấp lý luận chính trị là rất rộng, đa dạng, có những đối tượng rất đặc biệt nhưng rất phù hợp với thực tiễn cơ sở như “người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; một số đối tượng khác có nguyện vọng phù hợp với yêu cầu chung”.
Điều 5 và Điều 6 quy định về đối tượng học trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Trong đó đáng lưu ý một số điểm mới. Cụ thể, 1) Lần đầu tiên, có tiểu mục riêng quy định đối tượng cán bộ thuộc Ngành Công an và Quân đội. Điều này xuất phát từ thực tiễn đặc thù của lực lượng vũ trang, nhiều chức danh, chức vụ không đồng nhất tên gọi như khu vực dân sự nên cần xác định rõ, cụ thể để tiện cho việc tổ chức thực hiện và quản lý. 2) Quy định 57 bổ sung một số đối tượng phù hợp với nhu cầu thực tiễn hiện nay, gồm cán bộ có nhu cầu có đủ điều kiện thi nâng ngạch, đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị trong các cơ sở đào tạo lý luận.
Thứ tư, Quy định 57 xác định rõ việc phân cấp đào tạo lý luận chính trị đối với các cơ sở đào tạo, các cơ quan liên quan.
Điều 7 xác định rõ việc phân cấp nhiệm vụ đào tạo, cụ thể: (1) Trung tâm chính trị cấp huyện đào tạo sơ cấp lý luận chính trị; (2) Trường chính trị cấp tỉnh đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ của địa phương và của các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương làm việc trên địa bàn. Một số học viện, trường của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lực lượng vũ trang. (3) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo cao cấp lý luận chính trị. Riêng các trường chính trị cấp tỉnh được giao thêm nhiệm vụ là đào tạo cán bộ của các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương làm việc trên địa bàn. Đối với một số học viện, trường của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lực lượng vũ trang, cần phải có khảo sát, đánh giá và lựa chọn cụ thể. Ban Bí thư giao cho Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan sẽ quyết định sau.
Thứ năm, Quy định 57 xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm các bên liên quan trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện công tác đào tạo lý luận chính trịsơ cấp, trung cấp và cao cấp. Điều 8, 9 và 10 quy định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan tham mưu, cơ sở đào tạo trong công tác đào tạo lý luận chính trị, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, cơ quan, không trùng lặp, chồng chéo.
Thứ sáu, Quy định 57 xác định rõ lộ trình cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc các ban, bộ ngành, đoàn thể phải dừng đào tạo trung cấp lý luận chính trị. Quy định 57 xác định “Các cơ sở đào tạo thuộc các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương hiện đang đào tạo trung cấp lý luận chính trị sẽ kết thúc nhiệm vụ đào tạo trung cấp lý luận chính trị từ ngày 1/1/2024. Các cơ sở này phải xây dựng lộ trình để kết thúc khoá học đối với các lớp khai giảng mới và các lớp đang đào tạo trung cấp lý luận chính trị trước ngày 31/12/2023”.

Chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” - căn bệnh nguy hại, kẻ thù mỗi người cán bộ, đảng viên

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”. Thực tiễn cho thấy, thắng lợi của cách mạng Việt Nam có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng. Song, nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng. Trong đó, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” - một trong các biểu hiện, căn nguyên làm “hư hỏng” đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy yếu bản chất cách mạng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Sa vào chủ nghĩa cá nhân là sa vào lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, khi suy nghĩ, hành động hoặc làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là quá trình người cán bộ, đảng viên từng bước suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có những suy nghĩ, hành vi trái với đạo đức cách mạng, xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên; thậm chí phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc. Hay nói cách khác, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là hiện tượng “tha hóa” về phẩm chất đạo đức và nhân cách của người cán bộ, đảng viên; nó không chỉ có hại đến từng cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng hiện nay. Để trở thành người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò lãnh đạo của mình trước quần chúng, thì mỗi người phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện công phu về mọi mặt cả về phẩm chất, năng lực và để giữ vững bản chất người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện suốt cuộc đời “cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tuy nhiên, nếu không giữ được đạo đức cách mạng, sẽ dễ “sa vào chủ nghĩa cá nhân” và nếu điều đó xảy ra, thì người cán bộ, đảng viên ấy đã nhiễm một loại “vi rút rất độc”; từ đó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh từ tham lam, lười biếng đến bè phái, cục bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phai nhạt lý tưởng, v.v. Trên thực tế, đã có “Một bộ phận cán bộ, đảng viên,… chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”. Các biểu hiện như: - “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” làm cho Đảng suy yếu từ bên trong cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. - “Sa vào chủ nghĩa cá nhân”, tạo lực cản lớn của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đảng ta là cơ thể sống, trong đó mỗi đảng viên là một tế bào của cơ thể ấy, mỗi tế bào khỏe mạnh thì Đảng sẽ khỏe mạnh, ngược lại, mỗi tế bào mà mang mầm bệnh - “chủ nghĩa cá nhân”, thì cơ thể Đảng sẽ yếu, kém. Nếu trong cơ thể của Đảng mà có nhiều “tế bào hư hỏng”, thì sớm hay muộn Đảng sẽ mục ruỗng từ bên trong, thoái hóa, biến chất, mất vai trò lãnh đạo. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là biểu hiện suy thoái đã và đang diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và gây nguy hại rất lớn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Những biểu hiện của “chủ nghĩa cá nhân” rất dễ nhận biết, nhưng để đấu tranh, khắc phục triệt để là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, bởi nó nằm sâu, bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đấu tranh chống biểu hiện này hiệu quả, cần tiến hành quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, cả tư tưởng, tổ chức, cán bộ; trong đó, nêu cao tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương và tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên là vấn đề căn cơ, cốt lõi, lâu dài, góp phần xây dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Không có chuyện 'khai tử' môn Lịch sử

 

 Trước một số ý kiến cho rằng môn Lịch sử là tự chọn dẫn đến bỏ hoặc “khai tử”, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định "không phải như vậy".

NGĂN CHẶN SUY THOÁI TỪ SỚM, TỪ XA

 

Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Bộ Y tế); Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội), Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...
Suy thoái không trừ một ai
Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...
Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.
Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.
Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.
Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.
Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.
Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.
Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.
Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan
Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.
Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.
Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...
Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.
Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa
Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.
Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.
Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.
Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Quốc tế đề cao quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề biển Đông!


Quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.
Tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông
Trong các cuộc tiếp xúc cấp cao, giới chức nhiều nước đã bày tỏ nhất trí với quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này. Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Chủ tịch Quốc hội Singapore Tan Chuan-Jin... trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua, tại các cuộc hội kiến, hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982; thực hiện đầy đủ, toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Quan điểm này cũng được nêu rõ khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nhân dịp Thủ tướng tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ, thăm và làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc giữa tháng 5 vừa qua.
Nhiều nước cũng bày tỏ phản đối các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải tại Biển Đông, như việc Trung Quốc quân sự hóa trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa hay ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong hơn 3 tháng (từ ngày 1-5) tại Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt Nam.
Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio và Tổng thống Mỹ Joe Biden hồi tháng 5, hay trong cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Đức Olaf Scholz với người đồng cấp Nhật Bản Kishida hồi tháng 4 tại Tokyo, các nhà lãnh đạo đã phản đối mọi nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Đông. Trong tuyên bố chung sau cuộc hội đàm cấp cao Đức-Ấn Độ, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng khẳng định cần bảo đảm thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, ở tất cả các vùng biển, trong đó có Biển Đông.
Đô đốc John Aquilino, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ, cho biết Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn một số đảo đá ở Biển Đông, cụ thể là quần đảo Trường Sa mà Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền phù hợp với luật pháp quốc tế. Trước đó, tháng 1-2022, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác “các yêu sách phi pháp” của Trung Quốc ở Biển Đông. Tài liệu nghiên cứu dài 47 trang nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định những yêu sách này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quy định của luật pháp quốc tế được ghi nhận trong UNCLOS năm 1982. Bộ Ngoại giao Mỹ đã kêu gọi Trung Quốc “ngừng các hoạt động trái pháp luật và gây sức ép ở Biển Đông”.
Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế
Dư luận quốc tế cũng đề cao nỗ lực của Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Trong bài viết mới đây trên trang mạng Infox.ru (Nga) có nhan đề: “Việt Nam - ngọn cờ đầu của ASEAN”, tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia về chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, khẳng định lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại. Chuyên gia Nga đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong các vấn đề khu vực, khẳng định Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế.
Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia Valeria Vershinina của trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga nêu bật vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông, khởi động đàm phán về COC. Nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của các văn bản pháp lý quốc tế, bao gồm UNCLOS, đối với các tranh chấp ở Biển Đông, cũng như việc thúc đẩy quá trình đàm phán thông qua COC, chuyên gia Anton Viktorovich Bredikhin - Tiến sĩ Lịch sử, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội “Các vấn đề chính trị - xã hội hình thành EAEU” Viện Hàn lâm khoa học Nga - đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm kinh tế biển, đặc biệt là ở Biển Đông, với phương châm “hòa bình - hữu nghị, hợp tác - phát triển”.