Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO CẤP TỈNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Lợi dụng việc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng xấu đã đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, gây phân tâm trong dư luận.
📷
 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ảnh: TTXVN)
Những luận điệu suy diễn, xuyên tạc vô căn cứ
Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc vào chiều ngày 10/5. Hội nghị đã tập trung nghiên cứu, đánh giá, thảo luận và quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng như: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cho ý kiến về Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên… Đặc biệt, Hội nghị đã thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, Ban Chấp hành Trung ương đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Tuy nhiên, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 5 thông qua chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, các đối tượng xấu, phần tử phản động đã đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin tiêu cực, sai trái, xuyên tạc, suy diễn chủ trương của Đảng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, gây phân tâm trong xã hội.
Luận điệu mà các đối tượng này đưa ra đó là: “Tham nhũng tại Việt Nam như một con virus ăn sâu vào tế bào của Đảng Cộng sản, từ trên xuống dưới”; việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ công tác chống tham nhũng ở Việt Nam “không hiệu quả”, “không có chuyển biến”; “Việt Nam chống tham nhũng loay hoay như con kiến đa cành”… Một số đối tượng thì đặt ra những câu hỏi theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen” như: “thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh/thành có giúp xóa được tham nhũng?”, “việc trao quyền cho Bí thư tỉnh làm Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh phải chăng là sai lầm khi tập trung quyền lực quá nhiều cho Bí thư tỉnh?”… Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng thực sự chỉ để “làm khổ người dân”. Đây rõ ràng là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc vô căn cứ nhằm bôi nhọ Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.
Chủ trương của Đảng được hiện thực hóa bằng những bước tiến trong công tác phòng chống tham nhũng
Trước hết cần khẳng định rằng, tham nhũng không phải là “sản phẩm riêng” của Việt Nam hay của một nước nào mà nó diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, là một vấn nạn mang tính toàn cầu. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử, xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự xuất hiện nhà nước. Tham nhũng luôn song hành cùng quyền lực. Do đó, tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội với những biểu hiện và mức độ khác nhau, tùy thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển.
Ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định tham nhũng là “quốc nạn”, là “giặc nội xâm” và lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt vấn đề phòng, chống tham nhũng. Đảng ta xác định phòng, chống tham nhũng là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chính vì vậy, đây không chỉ là nhiệm vụ của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cơ quan, đoàn thể, địa phương. Trong bối cảnh tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa bị đẩy lùi và còn có chiều hướng diễn biến phức tạp, chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết vào lúc này, thể hiện quyết tâm cao hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng.
Thực tế cho thấy, vấn đề tham nhũng, tiêu cực không phải chỉ ở cấp Trung ương mà xảy ra từ cấp xã đến huyện, tỉnh. Do đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” mà còn được xem như là “cánh tay nối dài của Trung ương” nhằm giải quyết một cách kịp thời những vấn đề còn bức xúc trong dân, những vấn đề còn tồn đọng, tiêu cực, tham nhũng ở địa phương. Đồng thời, giúp cho công tác đấu tranh chống tham nhũng liền mạch, chặt chẽ, thống nhất theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương.
Kể từ khi được thành lập năm 2006, đặc biệt là từ khi Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012) quyết định tổ chức lại Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, rõ rệt, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Chẳng những vậy mà kết quả điều tra dư luận xã hội về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam do Viện Dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện) vào cuối tháng 8/2020 cho thấy, có 75% số người được hỏi ghi nhận và đánh giá cao “sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước”; có 93% cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 87.000 cán bộ, đảng viên, trong đó có trên 32.000 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Năm 2021, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật đối với 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.
Từ đầu năm 2022 đến nay, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.264 vụ/2.038 bị can, truy tố 742 vụ/1.594 bị can, xét xử sơ thẩm 737 vụ/1.567 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Trong đó, đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; đã khởi tố 8 cán bộ diện Trung ương quản lý. Điều đó cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang đi đúng hướng và được thực hiện rất quyết liệt, hiệu quả với quyết tâm chính trị cao nhất.
Thêm một “cánh tay nối dài của Trung ương” về phòng chống tham nhũng
Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng được thành lập lần này sẽ hoạt động trên các quy định, quy chế cụ thể. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một lĩnh vực khó, nhạy cảm và cần quyết tâm chính trị rất cao nên thành phần Ban Chỉ đạo phải gồm những người đứng đầu ở cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức hữu quan giữ vai trò trọng yếu ở địa phương. Trưởng Ban Chỉ đạo phải chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Nếu người đứng đầu các địa phương thể hiện sự quyết tâm, quyết liệt trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì công tác này sẽ đi vào thực chất, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân. Ngược lại, nếu người đứng đầu không xứng đáng, không làm được thì sẽ có cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Như vậy, qua phân tích, đánh giá, có thể thấy rõ rằng, những luận điệu suy diễn, xuyên tạc chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa được Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thông qua của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam; phủ nhận quyết tâm, nỗ lực chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.
Chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nhận được sự đồng thuận rất cao. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế và chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”./.
TS Nguyễn Văn Sơn
Học viện An ninh nhân dân
Nguồn: huongsenviet.com
vubao19-st
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG DANG CỘNG A ET NAM HỘI NGHỊ LÂN THỨ NĂM KHOA XIII'

Thích
Bình luận
Chia sẻ

NỖ LỰC ĐÀM PHÁN ĐỂ GIẢI QUYẾT PHÂN GIỚI CẮM MỐC KHOẢNG 16% ĐƯỜNG BIÊN GIỚI CÒN LẠI

 

- Liên quan đến vấn đề biên giới giữa Việt Nam-Campuchia, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, hiện nay 2 bên đang nỗ lực đàm phán để giải quyết phân giới cắm mốc khoảng 16% đường biên giới còn lại.
Chiều ngày 26/5, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi liên quan đến việc Thủ tướng Campuchia Hun Sen trong chuyến công du châu Âu có phát biểu Campuchia và Việt Nam đạt được thỏa thuận về 6% biên giới chưa phân chia trong số 16% đường biên giới chưa phân định, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, "việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền để xây dựng đường biên giới Việt Nam-Campuchia hòa bình hữu nghị và phát triển bền vững là nguyện vọng chính đáng lâu nay của nhân dân 2 nước".
Người phát ngôn nêu rõ, với tinh thần đó, trong những năm qua, Việt Nam và Campuchia đã hợp tác chặt chẽ, hoàn thành phân giới cắm mốc khoảng 1.045km đường biên giới, tương đương với khoảng 84% chiều dài đường biên giới trên toàn tuyến. Đây là thành quả hết sức quan trọng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao thương, giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước cũng như việc phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước.
"Hiện nay 2 bên đang nỗ lực đàm phán để giải quyết phân giới cắm mốc khoảng 16% đường biên giới còn lại", Người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng thông tin./.
(Nguồn: baoquocte.vn)
vubao17-st
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'BỘ NGOẠI GIAO NƯỚC CHXHCN VÊT BAOQUOCTE.VN'
4

 “TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN LÀ MỘT BỔN PHẬN THIÊNG LIÊNG, MỘT TRÁCH NHIỆM NẶNG NỀ NHƯNG CŨNG LÀ MỘT VINH DỰ CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ TRONG ĐẠO QUÂN QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA.”

Đây là lời căn dặn của Bác với cán bộ, học viên Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Đại học Trần Quốc Tuấn, Bộ Quốc phòng) vào ngày 26-5-1946 khi Bác đến dự lễ khai giảng khoá 8 của nhà trường. Cũng tại lễ khai giảng, Bác đã trao tặng nhà trường lá cờ thêu sáu chữ vàng “Trung với nước, hiếu với dân”. Thông qua những lời căn dặn, Bác muốn truyền tinh thần cao cả đó cho nhà trường và trao trách nhiệm nặng nề, chỉ rõ vinh dự cao quý cho cán bộ, giáo viên và học viên là phải suốt đời vì nước quên thân, vì dân mà học tập, chiến đấu và công tác.
“Trung với nước, hiếu với dân” đã nhanh chóng thấm sâu và được thể hiện trong từng nhiệm vụ của Nhà trường, trong từng suy nghĩ, việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên, học viên. Các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ nối tiếp và không ngừng phát huy những truyền thống tốt đẹp của Nhà trường, giữ vững lời thề son sắt “Trung với nước, hiếu với dân”, một lòng một dạ vì nước quên thân, vì dân quên mình cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo cán bộ quân đội - sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn hiện nay, mỗi cán bộ giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ nguyện trung thành với con đường cách mạng mà Ðảng ta và Bác Hồ đã chọn, trung thành với sự nghiệp đổi mới đất nước, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng nặng nề và phức tạp hơn. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, cán bộ, giáo viên, học viên trong nhà trường quân đội phải luôn giữ vững và phát huy bản chất truyền thống “trung với nước, hiếu với dân”; luôn xứng đáng là đội quân cách mạng, lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng vũ trang sắc bén có sức chiến đấu cao, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực sự là đội quân cách mạng của dân, do dân, vì dân, xứng đáng với phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”./.
vubao16-st

“NỢ NƯỚC NON", MỘT TÁC PHẨM XÚC ĐỘNG VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

“Nợ nước non” (NXB Văn học, 2022), quyển mở đầu bộ ba tác phẩm về thân thế, cuộc đời cách mạng, sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và tiến lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhà văn, nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ ấp ủ thai nghén từ lâu, cuối cùng cũng đã ra mắt với đông đảo độc giả vào trung tuần tháng 5 năm 2022.
Tác phẩm kể về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn ở làng Chùa, làng Sen, rồi mấy lần ra vô Huế, vào Quy Nhơn, Phan Thiết, rồi vào Sài Gòn, trước khi lên tàu Admiral Latouche Tréville một ngày tháng 6 năm 1911, bắt đầu bôn ba hải ngoại, “đi tìm hình của nước”. Quãng thơ ấu chiếm phần lớn dung lượng thời gian của chuyện kể, và đó là quãng thơ ấu của một cậu bé bình thường chứ không phải một thần đồng với những lời nói hay hành động đột xuất.
Qua mô tả của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, người đọc hoàn toàn có thể xây dựng một hình dung về cậu bé Nguyễn Sinh Cung: sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo xứ Nghệ, lớn lên trong sự rèn cặp nghiêm cẩn của người cha, trong tình thương yêu và đức hy sinh vô bờ của bà ngoại và mẹ, trong sự chan hòa thân ái với bà con xóm giềng và bè bạn cùng trang lứa. Nhưng tuổi thơ của cậu không êm đềm: nó được đánh dấu bằng những cuộc dịch chuyển liên tục theo cha nay đây mai đó, thực chất là đi học để đỗ đạt cao, hoặc đơn giản là đi dạy học cho thiên hạ, lấy đó làm kế sinh nhai.
Ngay ở cuộc dịch chuyển đầu tiên, cả nhà vào Huế để ông Nguyễn Sinh Sắc theo học Quốc tử giám, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã nếm trải đến tận cùng nỗi đau mất mát: mẹ và đứa em mới chào đời của cậu đã chết, vì ốm và đói, khi cha còn đang bận chấm thi ngoài Thanh Hóa. Ở đoạn văn mô tả thời khắc bà Hoàng Thị Loan qua đời, để lại một hài nhi bấy bớt cho đứa bé mới mười tuổi hơn, Nguyễn Thế Kỷ dùng liên tiếp các câu văn ngắn, nhịp nhanh, tựa như những giọt nước mắt lã chã nối nhau trong nỗi đau xé người. Nỗi đau ấy, trong khung khổ một tuổi thơ như thế, có lẽ chính là điều mà Nguyễn Thế Kỷ muốn nhấn mạnh như một dẫn nhập vào cái cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh sau này: đó là tình thương yêu con người, đau cùng nỗi đau của con người và nỗi đau của nhân loại lao khổ.
Có ba nhân vật có thật của lịch sử đã được Nguyễn Thế Kỷ đưa vào thành ba nhân vật của tiểu thuyết, tạo ra những tình huống đối thoại đa dạng với Nguyễn Tất Thành, từ đó mở rộng tư tưởng và mài sắc thêm cho quyết định xuất dương của nhà cách mạng trẻ tuổi.
Nhân vật thứ nhất chính là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Nguyễn Tất Thành, một nhà Nho ưu thời mẫn thế, nhưng cũng là một nhà Nho bị mắc kẹt trong chính những nguyên tắc truyền thống của Nho gia, yêu nước nhưng đành bất lực ôm mối đau mất nước đến hết đời.
Nhân vật thứ hai là ông giải San, tức Phan Bội Châu, người chủ trương cứu nước bằng con đường thiết huyết, tức đấu tranh bạo động trên cơ sở cầu viện (sau đó là cầu học) đế quốc Nhật Bản, một nước châu Á “đồng văn đồng chủng”.
Nhân vật thứ ba là họa sĩ Lê Huy Miến, một trí thức Tây học uyên bác lịch lãm, người từng thực hiện những bản vẽ thiết kế vũ khí chống Tây theo yêu cầu của vua Thành Thái, người đã nhắc cho Nguyễn Tất Thành phải chú ý đến tính chất hai mặt cùng lúc của nước Pháp: “Có một nước Pháp văn minh bậc nhất, cũng có một nước Pháp thực dân đang dùng mọi chính sách hà khắc, dã man để bóc lột chúng ta”, và rằng muốn đánh bại họ thì cần phải hiểu họ, học họ.
Chính ba nhân vật này đã làm nên một “vi khí hậu” tư tưởng chính trị xã hội với những luồng dịch chuyển rất phức tạp trong tiểu thuyết “Nợ nước non”. Nguyễn Tất Thành cọ xát và phản biện, kín đáo hoặc công khai, với tất cả những luồng dịch chuyển ấy. Và đó có lẽ chính là sự khẳng định của tác giả Nguyễn Thế Kỷ: để chuyến xuống tàu rời cảng Sài Gòn của Nguyễn Tất Thành là một quyết định lịch sử, bước mở đầu cho công cuộc “đền nợ nước” của một vĩ nhân.
Báo Nhân Dân
vubao15-st
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'Chủ tịch Hồ“ Chí Minh. (Ảnh tư liệu)'

HUYỀN THOẠI VỀ TRUNG ĐỘI NỮ LÁI XE DUY NHẤT VƯỢT TUYẾN LỬA TRƯỜNG SƠN.

 

Đó là câu chuyện đầy xúc động cách đây 54 năm của những cô gái tuổi đôi mươi lái xe Zin130, Gaz 51, Gaz 69....thuộc Trung đội nữ lái xe Nguyễn Thị Hạnh. Trước khi trở thành dũng sĩ lái xe, họ là thanh niên xung phong (TNXP), y tá, nuôi quân... đã tình nguyện nhận một nhiệm vụ lịch sử: vượt tuyến lửa Trường Sơn vào chiến trường.
Ngày ấy chiến trường đang ác liệt, những chuyến xe vượt Trường Sơn ít khi trở về. Tiền tuyến kêu gọi, một trung đội nữ gồm 40 cô gái tuổi đôi mươi đã tình nguyện nhận nhiệm vụ lịch sử: ôm vô-lăng băng mình qua tuyến lửa để chở đạn dược, hàng hóa ra chiến trường và tải thương binh về hậu cứ. Đó là trung đội vận tải cơ giới nữ duy nhất trong những tháng năm chống Mỹ.
VÀO TUYẾN LỬA
Trong căn nhà nhỏ nằm trên đường Ngọc Thụy, Long Biên (Hà Nội), lần giở lại những tấm hình đã cũ chụp trong thời chiến của đồng đội, thiếu úy Vũ Thị Kim Dung - thành viên trung đội nữ lái xe Nguyễn Thị Hạnh - xúc động nhớ lại: “Quyết định thành lập trung đội nữ lái xe tải phục vụ chiến trường đang trong giai đoạn ác liệt khi đó được xem là một quyết định đầy táo bạo và vô cùng nguy hiểm. Bởi tất cả bọn tôi đều xuất thân là tay ngang, người đang là TNXP mở đường, người là y tá, người là chị nuôi tại các kho trạm... Tất cả gặp nhau ở tinh thần xung phong tình nguyện và được binh đoàn tuyển chọn để đưa đi đào tạo lái xe cấp tốc chỉ trong vòng 45 ngày”.
Vũ Thị Kim Dung quê ở Kim Động, Hưng Yên. Năm 17 tuổi, Dung cùng người bạn đồng hương Nguyễn Thị Nguyệt Ánh đăng ký nhập ngũ. Vào TNXP, họ được điều động phục vụ trong Tổng đội TNXP 59 công trường Yên Bái, xây dựng công trình sân bay dã chiến Yên Bái.
Đang lo nhiệm vụ đổ đất, xúc cát, làm đường... trong bom đạn đánh phá thì cuối tháng 12-1967, họ nghe tin binh đoàn Trường Sơn tuyển chọn những chị em gan dạ, nhanh nhẹn tình nguyện ra chiến trường để lái xe phục vụ chiến trường miền Nam. Họ đã đi tìm chỉ huy để viết đơn tình nguyện vào chiến trường.
39 cô gái trẻ khác, người quê Nam Định, người ở Hải Phòng, Thái Bình... đều ở lứa tuổi đôi mươi, chưa chồng, chưa người yêu, đang là TNXP, chị nuôi ở các đơn vị... cũng đồng loạt tình nguyện tham gia trung đội nữ lái xe vào tuyến lửa.
Đầu tháng 3-1968, một khóa đào tạo lái xe cấp tốc dành riêng cho 40 cô gái trẻ được mở tại Thọ Xuân (Thanh Hóa) trong vòng 45 ngày. Giáo viên là những tay lái nam kỳ cựu của các binh trạm cũng đang phải gấp rút với những nhiệm vụ cấp bách, đào tạo căn bản cho các cô gái xong là họ cũng vào ngay các điểm nóng ở chiến trường.
Những buổi đầu, cứ nhìn những cô gái trẻ, vóc người hầu hết đều thấp bé, chân yếu tay mềm phải “vật lộn” với vôlăng, cần số, đề, ga... của những chiếc “đại xa”, “trung xa”, mọi người không khỏi ái ngại, lo rằng quá sức các cô. Cả trung đội hầu như người nào cũng gầy, nặng không quá 42-43 kg, ngồi lên xe phải lót gối, lót đệm cho vừa tầm nhìn.
“Chúng tôi bảo nhau rằng chiến trường đang khẩn cấp, thể hiện lòng yêu nước là phải vượt qua chính khó khăn ban đầu này đây”, cựu nữ lái xe Đặng Thị Như Xuân, quê ở Cầu Giấy, Hà Nội - “cô em út” của trung đội - nhớ lại. Kết quả sau 45 ngày học tập, 40 cô gái trẻ đều đạt kết quả xuất sắc và được đưa vào binh trạm 12 đoàn 559 đóng ở vùng rừng núi tỉnh Quảng Bình để chính thức thành lập trung đội nữ lái xe Nguyễn Thị Hạnh chuyên chở hàng hóa chi viện cho chiến trường dọc theo con đường huyết mạch Trường Sơn.
KHÔNG CÓ SỐ LUI
Đầu tháng 5-1968, trung đội lái xe nữ Nguyễn Thị Hạnh chính thức được thành lập. Những nữ chiến sĩ lái xe bắt đầu đảm trách nhiệm vụ đặc biệt. Ban đầu cứ hai người lái chung một xe để kèm nhau, sau quen dần, mỗi người tự đảm đương một chiếc.
Nhiều binh đoàn vượt Trường Sơn đi B ngày ấy đã thật sự ngỡ ngàng khi thấy những chiến sĩ điều khiển những chiếc xe tải Gat 53 (1 cầu), Gat 63 ( 2 cầu), Zil giải phóng, Zil 3 cầu... lại là những cô gái còn quá trẻ nhưng rất dũng cảm khi vượt qua tọa độ lửa của máy bay B52 ngày ấy.
Thượng úy Bùi Thị Vân, quê ở Nam Định, hiện ở Định Công, Hoàng Mai (Hà Nội), nhớ lại những năm 1968-1972 đường Trường Sơn rất ác liệt, ngày nào B52 cũng đánh bom rải thảm, bom tọa độ. Nhưng những chuyến xe chở hàng không được chần chừ, ngày cũng như đêm đều phải vượt qua lưới lửa từng phút, từng giờ...
Để tránh tổn thất, ban chỉ huy yêu cầu trung đội lái xe nữ phải chuyển sang chạy xe ban đêm. Đề phòng đối phương phát hiện, những chiếc xe tải ngụy trang cây lá, chạy trong bóng đêm dày đặc mà không được rọi đèn. Mỗi chiếc xe chỉ được đốt một ngọn đèn nhỏ tù mù gắn ở phía trước gầm xe.
Những chiếc đèn gầm, đèn rùa được giẻ bọc lại để chỉ có thể chiếu được vài ba mét. Các nữ chiến sĩ vừa phải điều khiển xe vừa phải dò đường tránh bom, né đạn, tránh vực, vượt ngầm bằng... cảm tính. Bom thả phía sau thì chạy về phía trước, thả phía trước thì rẽ sang đường khác, đoàn xe cứ thế thoắt ẩn thoắt hiện giữa núi rừng...
Mỗi đêm, những chiếc xe tải có nhiệm vụ vượt 200-300km đưa hàng vào chiến trường vượt Khe Tang, Khe Dao, ngầm Khe Ve, ngã ba Đồng Lộc... để đưa hàng đến các binh trạm rồi đón những đồng đội bị thương, đã hi sinh quay trở về. Thượng úy Vân kể: “Đường xấu kinh khủng, xe chỉ chạy được vài ba ngày là nhíp bị gãy, lốp bị nứt vì cán các miểng bom, miểng pháo. Xe bị hỏng hóc giữa rừng, chị em tôi phải tự làm thợ, chui vào gầm thay lốp như cánh tài xế nam. Nói thật bom đạn không sợ mà lại sợ... ma, vừa sửa xe vừa khóc nức nở vì xe bị kẹt giữa thăm thẳm núi rừng, chỉ có tiếng gió rít như hồn ma”.
Cựu chiến sĩ lái xe Nguyễn Thị Thanh, quê ở Tiên Lữ (Hưng Yên), kể: “Cánh nữ lái xe chúng tôi thường hứa với nhau rằng đã lên xe thì không có chuyện lùi bước. Có lần quân Mỹ thả bom dày đặc phía trước ngầm Khe Ve, cánh lái xe nam đi trước lo sợ nguy hiểm cho các nữ chiến sĩ lái xe đi phía sau nên tất cả dừng xe lại và yêu cầu quay đầu. Những cô gái nhảy xuống khoát tay: “Xe bọn em là không có số lui đâu các anh ạ. Đã đi là phải thẳng tiến luôn thôi, bom đạn phải sợ mình chứ sao mình lại sơ bom đạn...”. Nghe các nữ chiến sĩ lái xe bảo vậy, cánh lái xe nam cùng quyết tâm lao về phía trước.
Cả ngày lẫn đêm, cuộc sống của các cô gái lái xe Trường Sơn gắn liền với buồng lái xe thay mái nhà; rừng, núi là nơi che chở sự sống. Một lần được tình cờ gặp các cô gái lái xe, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết rằng: “Em là cô bộ đội lái xe, giặc đuổi bắn dưới bốn bề lửa cháy. Cái buồng lái là buồng con gái, vẫn cành hoa mềm mại cài ngang...”.
Thiếu úy Vũ Thị Kim Dung nói: “Anh Duật viết đúng đấy! Cả tháng chỉ có mỗi một bộ quân phục không thay, nhưng chị em chúng tôi thường lấy hoa lan rừng cài trong buồng lái xe để tạo cảm giác lãng mạn và vơi đi sự căng thẳng của chiến tranh. Niềm vui lớn nhất của chị em là mỗi khi xe về đến binh trạm, gặp lại được nhau, ngồi quây quần kể cho nhau nghe chuyện về quê hương, gia đình và những mơ ước thầm kín của người con gái”.
Thiếu úy Dung còn cho biết trong nhiều chuyến đi, các cô gái đã làm lễ truy điệu sống cho nhau vì biết khó có khả năng quay trở về.
Ảnh: Tư liệu
vubao14-st
2