Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

Phát triển kinh tế tư nhân không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội

Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với nước ta. Từ tư duy phải xóa bỏ KTTN, đến nay Đảng ta khẳng định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Đây là chủ trương khoa học, đúng đắn với thực tiễn vận động của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), mang lại thành tựu đột phá cho phát triển kinh tế đất nước, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn luôn đưa ra những luận điệu chống phá, xuyên tạc, bóp méo chủ trương phát triển KTTN, trong đó có luận điệu rất thâm độc: Phát triển KTTN là từ bỏ mục tiêu CNXH. Bằng lý luận và thực tiễn, chúng ta khẳng định: Luận điệu trên là hoàn toàn sai trái.

Bài 1:  Một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 

Trước yêu cầu của thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất (LLSX), xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, Đảng ta chủ trương đột phá phát triển KTTN, coi nó là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Ngày 3-6-2017, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Nghị quyết đánh giá cao vai trò, sự đóng góp to lớn của KTTN về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tỷ trọng đóng góp vào GDP, quy mô doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội... Đồng thời xác định rõ quan điểm, chủ trương, mục tiêu, giải pháp phát triển KTTN đến năm 2030.

Phát triển kinh tế tư nhân để rút ngắn thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Phát triển KTTN là sự phát triển tư duy lý luận về sử dụng các thành phần kinh tế cho mục đích xây dựng CNXH. Tuy nhiên, các thế lực thù địch thường cố tình chống phá, xuyên tạc gây hoang mang, hoài nghi về chủ trương đúng đắn này của Đảng ta.

Một luồng quan điểm chống phá khá phổ biến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế là thừa nhận bóc lột, thừa nhận quan hệ sản xuất (QHSX) tư bản chủ nghĩa (TBCN), là từ bỏ mục tiêu CNXH. Cũng vì bị ảnh hưởng của những luận điệu chống phá đó, do chưa hiểu bản chất của vấn đề mà có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hoài nghi tính đúng đắn của chủ trương này, dẫn tới hoài nghi con đường đi lên CNXH.

Vậy thừa nhận và tạo điều kiện cho KTTN phát triển có phải là Đảng ta đã từ bỏ mục tiêu CNXH? Đây là vấn đề lớn cả về lý luận và thực tiễn cần được luận giải khoa học, thuyết phục.

Dựa trên lý luận kinh tế của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, chúng ta có đủ cơ sở khoa học để khẳng định rằng chủ trương phát triển KTTN không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH, mà ngược lại là sử dụng chính nó để rút ngắn hơn chặng đường ở thời kỳ quá độ (TKQĐ) đi lên CNXH. Điều đó được luận giải trên các vấn đề sau đây:

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra trong TKQĐ cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế phi XHCN cho mục đích xây dựng CNXH. Về xây dựng QHSX trong TKQĐ lên CNXH, V.I.Lênin đã khẳng định: “Không thể quá độ trực tiếp lên CNXH mà phải qua con đường gián tiếp, không thể quá vội vàng, thẳng tuột, không được chuẩn bị”(1). V.I.Lênin chỉ rõ cần xây dựng QHSX mới thông qua con đường gián tiếp là CNTB nhà nước: “Việc chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, thì cần thiết phải có những bước quá độ như CNTB nhà nước”(2).

Bước quá độ thông qua CNTB nhà nước thể hiện trong chính sách kinh tế mới, trong đó, cần thiết phải có sự nhượng bộ tạm thời và cục bộ đối với CNTB nhằm phát triển LLSX, từng bước xã hội hóa sản xuất trên thực tế. V.I.Lênin chỉ ra một số hình thức CNTB nhà nước như: Tô nhượng, đại lý, cho thuê xí nghiệp, khu mỏ....(3). 

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin cũng đã chỉ dẫn rằng trong TKQĐ cần phải sử dụng cả thành phần kinh tế phi XHCN như tư bản nhà nước, tư bản tư nhân cho mục tiêu phát triển LLSX. V.I.Lênin coi đó là biện pháp tối ưu để khơi dậy động lực, giải phóng sức sản xuất, tăng năng suất lao động, nhờ đó giải quyết được khó khăn kinh tế sau chiến tranh, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.

Đối với Việt Nam, nền kinh tế thị trường nước ta được xác định là nền kinh tế có “nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế”. Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, được xác định là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn, phức tạp... Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN, LLSX rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế-xã hội đan xen nhau”(4).

Thực tiễn cũng cho thấy việc áp đặt QHSX vượt trước rất xa so với trình độ của LLSX còn lạc hậu đã trở thành lực cản. Động lực của sản xuất không được phát huy, sức sản xuất không được khơi dậy, điều đó dẫn tới sự trì trệ không chỉ đối với LLSX mà còn làm méo mó đi mục đích hoàn thiện QHSX. Khi KTTN còn dư địa phát triển trong TKQĐ mà nôn nóng xóa bỏ là một sai lầm cả về lý luận và thực tiễn. Điều cần làm là phải tạo cơ chế cho KTTN phát triển, hay nói cách khác là khơi dậy, phát huy, sử dụng nó cho mục đích hiện đại hóa LLSX, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.

Không xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Việt Nam thừa nhận KTTN không đồng nghĩa với xác lập địa vị thống trị của QHSX TBCN. Thừa nhận KTTN không có nghĩa là chúng ta thừa nhận bóc lột và tạo điều kiện cho bóc lột được hiện diện trong các quan hệ kinh tế ở nước ta. Mục tiêu nhất quán của cách mạng nước ta là xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(5).

Thực tiễn đã chứng minh bản chất của chế độ TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê không thể là cái đích để chúng ta thực hiện mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong TKQĐ chúng ta thừa nhận KTTN vẫn còn cơ sở để tồn tại.

Do vậy, chúng ta không thể không tạo điều kiện cho nó phát triển. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chủ trương xác lập vị trí thống trị của QHSX TBCN. Ngược lại, cần hướng nó đi theo mục đích CNXH, điều đó cũng có nghĩa không phải chúng ta để quan hệ bóc lột tự do phát triển.

KTTN được tự do cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, QHSX hình thành trong thành phần KTTN sẽ chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và quản lý, điều tiết của Nhà nước pháp quyền XHCN nhằm giữ vững định hướng XHCN.

Coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế không đồng nghĩa từ bỏ vai trò là công cụ, là lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, dẫn dắt của kinh tế nhà nước. Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ sự phát triển của từng thành phần kinh tế ở nước ta, trong đó chỉ rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; KTTN là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển”(6).

Vai trò của từng thành phần kinh tế theo đó cũng được xác lập theo đúng vị trí đã xác định. Thành phần kinh tế nhà nước nắm giữ nguồn lực vật chất quan trọng, then chốt được khẳng định là công cụ, lực lượng vật chất để nhà nước ổn định vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường.

KTTN được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Trong đó cũng khuyến khích sự hợp tác liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ, ngoài ra còn khuyến khích phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của người lao động.

Như vậy, KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế, song động lực đó được phát huy trong chế độ kinh tế-xã hội khác biệt về chất với chế độ TBCN. Trong chế độ kinh tế XHCN, thành phần KTTN cũng không còn thuần túy như trong chế độ TBCN mà có sự đan xen, giao thoa, liên kết, hợp tác với các thành phần kinh tế XHCN.

KTTN được quan tâm tạo điều kiện phát triển không đồng nghĩa với từ bỏ mục tiêu CNXH. Là người lãnh đạo xây dựng nền kinh tế XHCN ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đề xuất chính sách kinh tế mới (NEP). Về bản chất, đó chính là nhận thức rõ và đề xuất lý luận về nền kinh tế nhiều thành phần trong TKQĐ từ một nước tiểu nông.

Trong chính sách này, V.I.Lênin kỳ vọng vào khả năng thu hút đầu tư từ các nước tư bản phát triển và từ tư bản tư nhân trong nước cho lĩnh vực công nghiệp non yếu và kiệt quệ sau chiến tranh. Hơn ai hết, V.I.Lênin nhận thức rất rõ chính sách kinh tế mới về hình thức dường như có bước lùi về CNTB nhưng lại rất cần thiết để tiến bước lên CNXH. V.I.Lênin đã luận chứng rằng sự đồng thuận của nhân dân và sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước XHCN sẽ khiến tư bản tư nhân không thể lái nền kinh tế trở về quỹ đạo của CNTB.

KTTN ở Việt Nam thời gian qua đã phát triển cả về quy mô, trình độ, lĩnh vực ngành nghề trong khuôn khổ định hướng XHCN, vì mục tiêu CNXH mà không phải là phát triển tự do như trong thể chế kinh tế TBCN. Điều đó cũng có nghĩa tạo điều kiện cho KTTN phát triển nhưng phải tuân thủ và vận động theo quỹ đạo của CNXH mà không phải là buông bỏ mục tiêu CNXH.

Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ nhà giáo quân đội

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội là lực lượng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước.

Những năm qua, đội ngũ này luôn đi đầu, lan tỏa phong trào học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH), nâng cao trình độ về mọi mặt, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng xây dựng, gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng như xây dựng đội ngũ nhà giáo. Người khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa...”.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, ngành giáo dục nói chung, những người làm công tác giáo dục trong quân đội nói riêng luôn xác định rõ vị trí, vai trò của mình, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vươn lên trong công tác, thực hiện nhiệm vụ. Những năm qua, đội ngũ nhà giáo quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, từng bước chuẩn hóa. Họ luôn ý thức xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp trồng người; được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng, phương pháp sư phạm giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trên từng cương vị, chức trách được giao.

Nhiều đồng chí cán bộ, giảng viên khẳng định rõ vai trò chuyên gia đầu ngành trong giảng dạy và NCKH. Đây chính là lực lượng quan trọng góp phần đào tạo, bồi dưỡng nhân cách người quân nhân cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cho đội ngũ học viên quân đội-nguồn cán bộ nòng cốt của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Theo tinh thần Nghị quyết số 86-NQ/ĐUQSTƯ ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác GD&ĐT trong tình hình mới, các học viện, nhà trường quân đội luôn quan tâm bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng đồng bộ, bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Tính đến nay, tỷ lệ cán bộ, nhà giáo các trường quân đội có trình độ đại học trở lên đạt trên 94%; trong đó gần 35% có trình độ thạc sĩ, trên 10% nhà giáo quân đội có trình độ tiến sĩ. Nhiều giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) trong quân đội được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư và con số này không ngừng tăng theo từng năm, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu về giảng dạy và NCKH trong hệ thống nhà trường quân đội.

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD vẫn còn những bất cập, như: Tỷ lệ nhà giáo có học hàm, học vị chưa đủ so với yêu cầu; một số nhà giáo trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở; số lượng giảng viên đã qua đơn vị ngày càng ít; vẫn còn giáo viên, giảng viên chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa cập nhật kiến thức, phương pháp mới; việc quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo gặp không ít khó khăn...

Bên cạnh đó, những năm gần đây, cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến đội ngũ nhà giáo nói chung, nhà giáo trong quân đội nói riêng. Một bộ phận giáo viên, giảng viên chưa thực sự say mê với nghề. Vẫn còn giảng viên thiếu tinh thần nghiêm túc, cầu thị trong NCKH, chậm đổi mới phương pháp nghiên cứu, giảng dạy. Từ đó, chất lượng của những “cỗ máy cái” trong một số nhà trường chưa thực sự được nâng cao.

Hiện nay, xu thế đổi mới GD&ĐT ngày càng mạnh mẽ. Cùng với đó, nhiều tri thức mới về khoa học quân sự, vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các nhà giáo quân đội trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng, truyền thụ kinh nghiệm cho học viên.

Do đó, bản thân mỗi nhà giáo quân đội cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm và niềm vinh dự, tự hào khi trực tiếp tham gia đào tạo, xây dựng nhân lực cho quân đội. Từ đó, giảng viên, cán bộ QLGD không ngừng phấn đấu học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; chủ động, tích cực tham gia xây dựng, đẩy mạnh phong trào NCKH, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quân sự trong giảng dạy, công tác, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các cơ quan, đơn vị.

Với phương châm “giáo dục toàn diện”, nhà giáo là người bồi đắp, truyền thụ kiến thức, hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng đối với học viên. Những bài học sâu sắc nhất mà đội ngũ cán bộ tương lai có được chính là sự nêu gương của người thầy. Vì thế, hơn ai hết, đội ngũ nhà giáo phải gương mẫu trong giảng dạy, công tác, sinh hoạt, phát huy cao độ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, thực sự là tấm gương sáng để học viên noi theo. 

Nỗ lực của bản thân mỗi giảng viên, cán bộ QLGD khi nhận được sự quan tâm của các học viện, nhà trường, của cấp ủy, chỉ huy các cấp sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Vì thế, việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD cần được các học viện, nhà trường và cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm.

Ngoài lựa chọn những học viên giỏi để tạo nguồn, cần có các chính sách thu hút nhân tài từ bên ngoài vào quân đội; lựa chọn cán bộ giỏi ở đơn vị, kinh qua thực tiễn, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, bổ sung cho các cơ sở đào tạo; tổ chức phối hợp, liên kết với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội để đào tạo, bồi dưỡng...

Ngoài ra, cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang bị, mô hình học cụ phục vụ dạy học sát thực tiễn; tăng cường tổ chức các hội thi, hội thao để cán bộ, giảng viên, giáo viên học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nâng cao trình độ giảng dạy, quản lý và NCKH; có cơ chế, chính sách thúc đẩy các nhà giáo, cán bộ QLGD không ngừng vươn lên trong công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, bảo đảm "vừa hồng, vừa chuyên" sẽ là nguồn lực quan trọng quyết định hiệu quả công tác GD&ĐT trong quân đội. Thông qua công tác chuyên môn và sự nêu gương của mình, cán bộ, giảng viên các nhà trường trong toàn quân đã khẳng định rõ vai trò "cỗ máy cái" trong đào tạo nhân lực cho quân đội và đất nước, góp phần nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ cho cán bộ quân đội ngay từ khi còn là học viên.

Đây là yếu tố then chốt góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới

Lắng nghe và cầu thị

 

“Phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị” là một trong những nội dung cấu thành đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu rõ trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương.

Điều này đã được kiểm nghiệm và chứng minh trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta. Ở giai đoạn cách mạng mới, phẩm chất đó càng cần được gìn giữ và phát huy, xem như một giải pháp căn cốt, nền tảng vững chắc để xây đắp tình đoàn kết đồng chí, đồng đội, tạo nên sức mạnh tập thể để cán bộ, chiến sĩ (CB, CS) đồng lòng vượt khó, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.  

Phát huy dân chủ là một trong những truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Từ khi ra đời đến nay, Quân đội ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của CB, CS trong các nhiệm vụ; coi đó là mặt công tác cơ bản trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhằm tạo môi trường thuận lợi để bộ đội thực hiện tốt quyền lợi, trách nhiệm, nâng cao ý thức kỷ luật và chất lượng, hiệu quả công tác. Minh chứng sinh động về phát huy dân chủ trong quân đội những năm qua, đó là việc triển khai thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở. Mọi CB, CS được nghiên cứu, trao đổi và quán triệt thực hiện tốt các chủ trương, chính sách trên từng lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế trong môi trường quân đội; qua đó xác định quyền làm chủ của mình trên các mặt hoạt động và bảo đảm đời sống; giải quyết được những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra, giữ vững niềm tin, củng cố tư tưởng, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cũng thông qua việc phát huy dân chủ, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp của cấp dưới để xây dựng tập thể, kịp thời khắc phục hạn chế, bất cập trong thực hiện nhiệm vụ cũng như phương pháp, tác phong công tác. Cán binh thêm gần gũi, đồng lòng; đồng chí, đồng đội thêm thấu hiểu, sẻ chia, gắn kết chính là kết quả từ việc cấp trên biết lắng nghe cấp dưới, đồng nghiệp chân thành góp ý và hội tụ chung ở tinh thần xây dựng, cầu thị, tôn trọng lẫn nhau.

Để tăng cường phát huy dân chủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn, quyết định, quy chế, quy định trên các mặt, lĩnh vực công tác, cụ thể hóa việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong quân đội. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nghiêm túc, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Nổi bật là ý thức dân chủ và trình độ làm chủ của quân nhân được nâng cao; các thiết chế dân chủ ngày càng được hoàn thiện; sự đồng thuận, đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị được tăng cường; niềm tin của CB, CS vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được củng cố vững chắc, tạo không khí phấn khởi thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân còn vận dụng linh hoạt nhiều hình thức, biện pháp, kênh thông tin để nắm bắt, lắng nghe CB, CS đóng góp ý kiến, như: Tọa đàm, diễn đàn, đối thoại; trao đổi trực tiếp thông qua thực hiện nhiệm vụ hằng ngày hay các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục-thể thao, văn hóa-văn nghệ... Nhiều cán bộ nêu cao tính tiền phong gương mẫu, gần gũi, sẻ chia, tạo được niềm tin như người ruột thịt trong gia đình, là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm, giãi bày những khó khăn, vướng mắc của bộ đội trong cả công việc lẫn cuộc sống. Phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị không chỉ là đòi hỏi thực tiễn để người cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, mà còn trở thành “bí quyết” để tháo gỡ kịp thời và hiệu quả mọi vướng mắc nảy sinh ở cơ quan, đơn vị.

Không chỉ cấp trên chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của cấp dưới, mà đồng chí, đồng đội cũng thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, thiếu sót của nhau để cùng khắc phục, sửa chữa, không ngừng hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Minh chứng rõ nét cho điều đó là thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình ở các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn quân. Quá trình tự phê bình và phê bình, từng đảng viên, tổ chức đảng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân cấp ủy viên, tránh biểu hiện hình thức, chiếu lệ, nói không đi đôi với làm, nể nang, né tránh, ngại va chạm. Trên cơ sở đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp nghiêm túc tiếp thu, đổi mới công tác lãnh đạo; từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì xây dựng kế hoạch phấn đấu, xác định phương hướng, nội dung, biện pháp khắc phục khâu yếu, mặt yếu được chỉ ra.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc gần gũi, lắng nghe ý kiến, hết lòng phục vụ nhân dân là đạo đức, phong cách của người cách mạng chân chính. Bác cho rằng: Lắng nghe một cách chân thành và nghiêm túc tiếng nói từ bên dưới mới có thể nhận được những thông tin phản hồi chính xác để điều chỉnh và sửa sai nhằm hoàn thiện chủ trương, đường lối, chương trình, kế hoạch; phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên cũng không sợ nghe sự thật. Muốn thành công trong công việc, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết lắng nghe và kiên nhẫn lắng nghe ý kiến của quần chúng, của cán bộ dưới quyền, đặc biệt là những ý kiến phản biện.

Thực hiện lời dạy của Người, việc phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị đã được quân đội nói chung, các cơ quan, đơn vị, CB, CS toàn quân nói riêng luôn coi trọng, đề cao và thực hiện hiệu quả. Thế nhưng, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, tính toán thiệt hơn... như Nghị quyết 847 đã chỉ rõ. Hạn chế nêu trên có nguyên nhân không nhỏ từ việc thiếu dân chủ, quân phiệt, bảo thủ, duy ý chí, áp đặt, độc đoán, chuyên quyền, coi thường ý kiến người khác, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Có nơi, tập thể chỉ là “bình phong” để hợp thức hóa quyết định của người đứng đầu. Một số cán bộ chủ chốt vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể hoặc lợi dụng tập thể để thực hiện mục đích tư lợi cá nhân. Tình trạng đó xuất phát từ việc tập thể cấp ủy, cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu sức chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không dám nói khác hay làm trái ý kiến người đứng đầu, khiến dân chủ bị lợi dụng, thậm chí bị vô hiệu hóa.

Trong giai đoạn cách mạng mới, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị không chỉ là đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mà mỗi CB, CS cần nhận thức sâu sắc rằng, sự phát triển, vận động đi lên không có chỗ cho sự bảo thủ, duy ý chí. Thực tiễn đã kiểm nghiệm, nhiều chủ trương, chính sách của quân đội được bàn thảo, lấy ý kiến đóng góp rộng rãi đã ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của đông đảo CB, CS, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Ở những cơ quan, đơn vị có người đứng đầu luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến đóng góp của cấp dưới thì ở đó dân chủ được phát huy, tập thể đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Để làm được điều đó, người đứng đầu phải công tâm, khách quan, cầu thị, có phương pháp lãnh đạo tốt, phong cách gần gũi quần chúng, sâu sát cơ sở. Ngược lại, những cán bộ cấp dưới, đảng viên, quần chúng cần phát huy dân chủ, tính chiến đấu, thẳng thắn đóng góp ý kiến trên tinh thần xây dựng. Sự tương tác hai chiều giữa lắng nghe và góp ý xuất phát từ động cơ trong sáng, ý thức vì tập thể mới tạo được mạch nguồn nuôi dưỡng dân chủ thực chất, vững bền trong mỗi cơ quan, đơn vị.

Gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi CB, CS cần bồi đắp tố chất biết lắng nghe, dám nghe những điều phản biện, cầu thị sửa mình để ngày mai tiến bộ hơn ngày hôm nay, đó cũng là hành động thiết thực góp phần xây dựng Quân đội ta ngày càng vững mạnh.

ĐẶT NGƯỜI DÂN TRÊN LỢI ÍCH KINH TẾ

 

Theo phân tích của các chuyên gia UNDP, những gì Việt Nam đạt được trong đại dịch COVID-19 là minh chứng mới nhất, sống động nhất về tinh thần “vì người dân” cũng như thành tựu bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đáng ghi nhận. “Việt Nam ứng phó thành công đại dịch COVID-19 là một câu chuyện truyền cảm hứng”, trong đó tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn kết xã hội là chìa khóa thành công, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh. 

Cộng đồng quốc tế đã gọi Việt Nam là "điểm sáng", "hình mẫu" về ứng phó hiệu quả với đại dịch. Một số tờ báo phương Tây còn viết rằng: “Với quan điểm nhất quán chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, Chính phủ Việt Nam đã kiên định chiến lược then chốt: Ngăn chặn; phát hiện; cách ly; khoanh vùng dập dịch; điều trị hiệu quả cùng những biện pháp kịp thời, quyết liệt, công khai và phù hợp với điều kiện đất nước…”. Nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á David Hutt trên đài BBC News nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân lên làm mối quan tâm hàng đầu”. Đồng quan điểm này, trang liberationnews.org (Mỹ) viết rằng, Việt Nam, một chính phủ xã hội chủ nghĩa "đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế"...

Những thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được cả thế giới công nhận còn được thể hiện ở việc Việt Nam là một trong những quốc gia điển hình trong tiến trình thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ và Mục tiêu phát triển bền vững. 

Cụ thể, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, ở mức 14 tỷ USD năm 1985, sau 35 năm, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp gần 19 lần với 262 tỷ USD và trở thành một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Chính phủ Việt Nam chăm lo, thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội; thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 hôm 11/12 cũng cho thấy, mặc dù ngân sách còn nhiều khó khăn nhưng Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã tăng nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo gấp 2 lần so với giai đoạn trước. 21% ngân sách Nhà nước đã dành cho phúc lợi xã hội, là mức cao nhất trong số các quốc gia khu vực Đông Nam Á. 

Trong đại dịch COVID-19, Việt Nam có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho 13 triệu người với nhiều góc độ khác nhau. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách, trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam đã giảm từ 9,88% (năm 2015) còn 3,75% vào năm 2019 và dự kiến dưới 3% trong năm 2020, đưa Việt Nam thành quốc gia đầu tiên về đích trước Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ về giảm nghèo. Đến nay 100% các xã đã có đường ôtô đến trung tâm, 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện. 100% đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo có bảo hiểm miễn phí. 

Hệ thống giao thông, đặc biệt là ở miền núi, đã rút ngắn thời gian đi lại, thúc đẩy thương mại dịch vụ, tạo việc làm. Nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên ở nhiều địa phương đã giúp người dân chuyển đổi việc làm, thoát nghèo, “ly nông bất ly hương”. Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí… 

Đặc biệt, phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” thời điểm tháng 10-2020, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam nhận định, các chính sách kinh tế và xã hội của Việt Nam đã giúp đạt được những kết quả to lớn trong mục tiêu giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo của các dân tộc thiểu số Việt Nam tiếp tục giảm xuống là kết quả rất đáng khích lệ. Trong giai đoạn 2014-2016, tỷ lệ nghèo của nhóm này đã giảm tới 13%, giảm mạnh nhất trong một thập niên vừa qua. 

Những nỗ lực tập trung vào việc tăng cường thu nhập cho các dân tộc thiểu số có thể gia tăng cơ hội cho những nhóm người này và giảm sự bất bình đẳng kéo dài. Còn bà Caitlin Wiesen thì cho hay, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói giảm nghèo những thập kỷ qua. Việt Nam đã nỗ lực rất cao trong sử dụng phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói, giúp xóa đói giảm nghèo một cách toàn diện hơn và ở nhiều khía cạnh hơn không chỉ cải thiện thu nhập.

Như vậy, từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau 75 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập; được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về phát triển con người, thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo; thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. 

Việc đạt được những kết quả ấn tượng này là nhờ tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam mang tính bao trùm, đại đa số người dân được tham gia vào tăng trưởng và hưởng lợi từ quá trình này. Báo cáo Chỉ số hạnh phúc năm 2020 của LHQ dựa vào 6 chỉ số gồm: Thu nhập, tự do, tin tưởng, tuổi thọ, hỗ trợ xã hội và sự hào phóng, cũng cho thấy, Việt Nam đã liên tục thăng hạng và năm nay, tăng 11 hạng so với năm 2019.

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 

Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020 với tiêu đề “Giới tuyến tiếp theo: Phát triển con người trong kỉ nguyên con người tác động lên khí hậu và môi trường” do Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố hồi trung tuần tháng 12 cho thấy, Việt Nam lần đầu tiên vào nhóm các nước có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao trên thế giới. 

Cụ thể, với HDI là 0,704, Việt Nam xếp thứ 117 trong số 189 quốc gia và vùng lãnh thổ và là một trong những quốc gia đã, đang thực hiện tốt bình đẳng giới với chỉ số phát triển giới (GDI) là 0,997 (đứng thứ 65/162 quốc gia và nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới). Như vậy, từ năm 1990 - 2019, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng gần 46%, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. UNDP đánh giá rằng, về chất lượng phát triển con người, Việt Nam thực hiện tốt các chỉ số y tế, giáo dục, việc làm và phát triển nông thôn… 

Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, bà Caitlin Wiesen nhận xét: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”.

Trên thực tế, Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay luôn nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Và từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Để đạt được những sự tiến bộ như vậy, trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện hàng loạt biện pháp và điều chỉnh hàng loạt luật, thực hiện tốt các chỉ số về giáo dục, y tế, việc làm, các vấn đề phát triển nông thôn… 

Cũng theo phân tích của các chuyên gia UNDP, những gì Việt Nam đạt được trong đại dịch COVID-19 là minh chứng mới nhất, sống động nhất về tinh thần “vì người dân” cũng như thành tựu bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đáng ghi nhận. “Việt Nam ứng phó thành công đại dịch COVID-19 là một câu chuyện truyền cảm hứng”, trong đó tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn kết xã hội là chìa khóa thành công, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh. 

Cộng đồng quốc tế đã gọi Việt Nam là "điểm sáng", "hình mẫu" về ứng phó hiệu quả với đại dịch. Một số tờ báo phương Tây còn viết rằng: “Với quan điểm nhất quán chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, Chính phủ Việt Nam đã kiên định chiến lược then chốt: Ngăn chặn; phát hiện; cách ly; khoanh vùng dập dịch; điều trị hiệu quả cùng những biện pháp kịp thời, quyết liệt, công khai và phù hợp với điều kiện đất nước…”. Nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á David Hutt trên đài BBC News nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân lên làm mối quan tâm hàng đầu”. Đồng quan điểm này, trang liberationnews.org (Mỹ) viết rằng, Việt Nam, một chính phủ xã hội chủ nghĩa "đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế"...

Những thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được cả thế giới công nhận còn được thể hiện ở việc Việt Nam là một trong những quốc gia điển hình trong tiến trình thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ và Mục tiêu phát triển bền vững. 

Cụ thể, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, ở mức 14 tỷ USD năm 1985, sau 35 năm, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp gần 19 lần với 262 tỷ USD và trở thành một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Chính phủ Việt Nam chăm lo, thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội; thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 hôm 11/12 cũng cho thấy, mặc dù ngân sách còn nhiều khó khăn nhưng Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã tăng nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo gấp 2 lần so với giai đoạn trước. 21% ngân sách Nhà nước đã dành cho phúc lợi xã hội, là mức cao nhất trong số các quốc gia khu vực Đông Nam Á. 

Trong đại dịch COVID-19, Việt Nam có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho 13 triệu người với nhiều góc độ khác nhau. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách, trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam đã giảm từ 9,88% (năm 2015) còn 3,75% vào năm 2019 và dự kiến dưới 3% trong năm 2020, đưa Việt Nam thành quốc gia đầu tiên về đích trước Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ về giảm nghèo. Đến nay 100% các xã đã có đường ôtô đến trung tâm, 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện. 100% đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo có bảo hiểm miễn phí. 

SINH HOẠT TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.

Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.

Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.

Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta

Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

 

CÀNG ĐIỀM TĨNH CÀNG BẢN LĨNH

 

Những người điềm tĩnh, trầm lặng thường là người ít nói nghe nhiều, biết rõ giới hạn của mình ở đâu, cũng hiểu rõ bản thân cần làm gì để trở nên mạnh mẽ hơn từng ngày.

Trong đám đông, người nào càng im lặng, thường lại là người có thực lực rất cao; càng hiểu cách sống độc lập, càng là người có bản lĩnh; người càng lợi hại, càng biết sống khiêm tốn.

Người điềm tĩnh, biểu hiện bên ngoài không có gì nổi bật, nhưng nội tâm lại vô cùng mạnh mẽ và phong phú, khiến người ta có cảm giác không dễ bắt nạt. Chỉ cần một ánh mắt của người đó, cũng đủ khiến bạn nhận rõ họ không hề tầm thường chút nào.

Người trầm lặng, điềm tĩnh tuy không hay bàn luận, nhưng thực chất trong lòng họ, đã có hàng ngàn lập luận để đánh bại những tiếng bàn tán ồn ào của đối phương. Nhìn qua có vẻ thờ ơ, nhưng thực tại họ đang tập trung quan sát tỉ mỉ vấn đề. Mọi người cho rằng họ không có chí cầu tiến, nhưng chẳng ai biết họ chỉ đang điệu thấp bản thân, tìm thời cơ mà hành động.

Một khi họ tìm thấy cơ hội phù hợp với mình, họ nhất định sẽ tránh đi những tiếng ồn vô vị xung quanh, gia nhập vào vòng cơ hội mà hành động, khiêm tốn nhưng không hèn nhát, tự chủ mọi vấn đề.

Theo sự gia tăng của tuổi tác, con người ta càng ngày càng trở nên thích sống điềm tĩnh, trầm lặng hơn, nội tâm lắng động nhiều kinh nghiệm phong phú, tâm tính dần tĩnh lặng và muốn tìm đến cuộc sống bình yên, dần dần thoát li sự bốc đồng thuở thiếu thời.

Im lặng là phương thức tốt nhất khi sống độc lập. Trong yên tĩnh, ta có thể suy nghĩ, nhìn thấu vấn đề, khiến bản thân có thêm nhiều tự tin đối mặt với những vấn đề trong xã hội.

Im lặng là thời gian tốt nhất để chúng ta tự giao tiếp với thế giới nội tâm của bản thân, tìm hiểu chính mình. Bởi vì chỉ khi chúng ta có thể hiểu rõ chính mình muốn gì và có gì, chúng ta mới có thể làm tốt mọi việc.

Khi đang ở trong hoàn cảnh thuận lợi, đừng quá phấn khích mà quên đi những việc cần phải làm, duy trì một góc nhỏ yên tĩnh cho tâm thức, để chúng ta có thể giữ vững sự tỉnh táo và sáng suốt trong mọi hành động. Quá đắc ý chỉ khiến tiểu nhân đố kị, sinh ra thêm một đối thủ không đáng có.

Trong nghịch cảnh thì sao? Đó là nấm mồ của kẻ yếu nhưng lại là nấc thang cho kẻ mạnh. Làm người trầm lặng, hãy cho bản thân thời gian cá nhân riêng để tiêu hóa vấn đề, không thụ động chờ việc qua, cũng không lười biếng hay suy sụp tinh thần. Cách giải quyết tốt nhất chính là bản thân hãy can đảm đối mặt với nó, tìm ra cách giải quyết triệt để nhất.

Cuộc sống yên tĩnh và cô độc luôn là bước đường trưởng thành khó tránh khỏi trong cuộc đời mỗi người, đừng vì những tham muốn sai trái mà đánh mất bản thân.

Chỉ khi bạn ở một mình, cơ thể mới có thể thoải mái thư giãn, cảm nhận hạnh phúc và bình yên nơi tâm. Muốn hạnh phúc, khi sống đừng đòi hỏi quá nhiều!

Trong cuộc sống hiện nay, có quá nhiều người vì để có cuộc sống sung túc mà bận rộn tối mặt từ rạng sáng đến giữa đêm, không có chút thời gian riêng tư nào cho bản thân yên tĩnh và suy ngẫm, hay cảm thụ về thế giới này.

Mà khi tâm một người không tịnh, dù cơ hội có đến đi nữa, cũng chỉ khiến họ cảm thấy sợ hãi và cô đơn bất tận. Loại yên tĩnh này không còn là khoảnh khắc đem lại niềm vui và an ổn cho tâm trí nữa, mà chỉ là những nỗi đau và sự trống rỗng.

Điềm tĩnh, trầm lặng chỉ có lợi khi trái tim bạn được an ổn, đôi mắt nhắm lại và thấy thế giới tươi đẹp của riêng mình, chứ không phải sầu muộn vì nhìn thấy một sấp hồ sơ dày cộm, bao nhiêu giấy tờ chưa xử lí, giấy báo tiền điện nước hay học phí cho con...

Điềm tĩnh, trầm lặng lúc này như khi bạn ngồi thiền định trong yoga, nó giúp bạn xóa tan đi áng mây mù trong cuộc sống, để tâm hồn bạn được du hành và thanh thản, để tương tác với trái tim và tìm hiểu suy nghĩ chân thực của lòng mình, để cuộc đời đi đúng hướng.

Hãy gác lại những phiền muộn của cuộc sống, lắng nghe tiếng nói trong tâm hồn bạn và trò chuyện với nó, để sống cuộc đời trầm lặng chất lượng cao!

Một người có nội tâm càng yên tĩnh, càng có thực lực, làm việc gì cũng dễ thành công. Hơn nữa, nội tâm cũng rất kiên cường, không vì những lời phiến diện bên ngoài mà dễ dàng gục ngã.

Nếu gặp sự cố lại còn hoang mang, sẽ khiến vấn đề chỉ thêm tồi tệ hơn. Tập cách kiềm chế cảm xúc, hít thở sâu, bình tĩnh lại, dành vài phút để ở một mình, suy nghĩ về vấn đề. Nhất định kết quả bạn nhận được sẽ tốt hơn nhiều lúc ban đầu.

Những người trầm lặng thường là người thích ít nói nghe nhiều, biết rõ giới hạn của mình ở đâu, cũng hiểu rõ bản thân cần nên làm gì để trở nên mạnh mẽ hơn từng ngày.

Khi cơ thể được đồng nhất với tâm trí, trở nên yên tĩnh, dù chỉ trong chốc lát đi nữa, nó vẫn sẽ đem đến cho cơ thể bạn một loại sức mạnh quý giá, khiến bản thân nhìn rõ bản thân, cũng khiến bản thân nhìn rõ thế giới. Làm việc thoải mái, có tinh thần, đem lại năng suất cao cho công việc.

Trong cuộc sống, bất kể bạn gặp khó khăn gì đi nữa, chỉ cần bạn biết cách bình tâm lại, mỗi vấn đề khó khăn đều được giải quyết từng cái một. Và bạn, cũng có thể tìm ra cách tốt nhất để loại bỏ những cản trở xấu đó.

Cuộc sống không hề dễ dàng chút nào, nếu khi còn nhỏ cảm thấy thế giới quá tốt đẹp, hãy cảm ơn cha mẹ bạn đã bảo bọc bạn quá tốt. Còn bây giờ khi đã trưởng thành, hãy tập sống trầm lặng.

Trên đường đời, khó khăn chỉ có thể quật ngã một người khi tâm họ rối loạn, không còn động lực và cố gắng. Chính vì thế, đừng để phiền não hủy hoại bản thân, giữ tâm luôn bình tĩnh ở mọi lúc mọi nơi mới là điều đáng quý nhất.

"THÉP" TỪ THỦA NHỎ


Trong cuốn hồi ký Gia đình, bạn bè và Đất nước. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình kể lại về vụ ẩu đả đầu tiên của mình thời còn đi học: 

Tôi học Trường Lycée Sisowath, trường trung học lớn nhất của Campuchia. Vì cha tôi làm công chức nên tôi “được” học ở hệ thống “chính quốc” Pháp, không theo hệ thống dành cho người bản xứ. Ở đây phần lớn học sinh là con cái công chức người Pháp hoặc có quốc tịch Pháp. Tinh thần dân tộc của tôi và các em tôi đã biểu hiện trong một số vụ va chạm với “bọn con Tây”. Tôi nhớ một lần ra chơi, mấy đứa bạn học người Pháp nói với nhau về những người giúp việc nhà họ: “Bọn Annamite đều là những tên ăn cắp.” Tôi nghe thấy, không chịu nổi, đến hỏi chúng: “Chúng mày đã nói gì?” Mấy đứa còn đang ngơ ngác, tôi lấy ngay cặp sách nện vào chúng. Các em tôi đến đón tôi cũng nhảy vô tiếp sức chị. Một cuộc ẩu đả xảy ra, may không có ai bị thương đáng kể. Ngày hôm sau, tôi bị ông hiệu trưởng gọi lên, tôi tưởng ông sẽ kỷ luật tôi, nhưng ông chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng.

Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã là 1 cô bé cứng cỏi, có tinh thần dân tộc, và cho đến khi đã trưởng thành, đảm nhiệm vai trò, trọng trách quốc gia, dân tộc, bà cũng không phụ lại sứ mệnh của mình. Madam Bình - người khiến cho phụ nữ Việt Nam vẻ vang với thế giới.

GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG


Khiếp thật trừng phạt gì mà khiến một năm Nga lãi dòng hơn 300 tỷ USD hơn cả GDP của Việt Nam, chắc 3 năm thôi là Nga sẽ ngang kinh tế Đức Nhật.  

AFP dẫn một báo cáo của CREA cho biết, Nga thu được 98 tỷ USD từ xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch trong 100 ngày đầu chiến sự nổ ra ở Ukraine.

Hôm 13/6, Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và không khí sạch (CREA) có trụ sở tại Phần Lan công bố báo cáo cho biết phần lớn trong 98 tỷ USD Nga thu được từ xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch đến từ thị trường Liên minh châu Âu (EU). 

Theo đó, EU chiếm 62% kim ngạch xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch của Nga, trị giá khoảng 60 tỷ USD, trong 100 ngày đầu tiên Moskva phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine.

Những quốc gia nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch lớn nhất từ Nga gồm Trung Quốc với 13,2 tỷ USD, Đức với 12,6 tỷ USD và Italy với 8,1 tỷ USD. 

Doanh thu lớn nhất của Nga từ nguyên liệu hóa thạch đến từ dầu thô với hơn 48 tỷ USD, tiếp đó là khí đốt, các sản phẩm dầu, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và than đá.

Xuất khẩu năng lượng của Nga giảm mạnh trong tháng 5 do một số nước áp trừng phạt đối với Moskva. Tuy nhiên, giá nhiên liệu toàn cầu tăng mang lại nguồn thu lớn cho đối với Nga, với doanh thu xuất khẩu đạt mức cao kỷ lục. Theo CREA, giá xuất khẩu năng lượng trung bình của Nga cao hơn năm ngoái khoảng 60%.

Báo cáo từ CREA cho hay, một số nước tăng cường mua dầu từ Nga gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất (UAE) và Pháp.

Nhà phân tích Lauri Myllyvirta đến từ CREA cho biết: “Khi EU đang xem xét áp đặt các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc hơn đối với Nga, Pháp đã tăng cường nhập khẩu để trở thành nước mua LNG lớn nhất trên thế giới”.

Theo Lauri Myllyvirta, hầu hết LNG mà Pháp mua từ Nga là dưới hình thức mua giao ngay, không phải hợp đồng dài hạn. Ông Myllyvirta cũng kêu gọi các nước "hành động đi kèm với lời nói" trong việc thực thi các biện pháp cấm vận năng lượng Nga.

EU đã bị chia rẽ về các bước đi nhằm chấm dứt sự phụ thuộc vào năng lượng của Nga. Người dân châu Âu đang phải vật lộn với lạm phát, giá năng lượng và lương thực tăng vọt khi EU áp đặt các đòn trừng phạt mạnh tay đối với Nga.

Đến nay, EU tung 6 gói trừng phạt lên Nga. Trước xung đột Ukraine, EU nhập khoảng 45% khí đốt, 25% dầu mỏ và 45% than từ Nga, kinh tế châu Âu được dự báo đối mặt với khó khăn nếu không có nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga.

HÈN NHÁT

Hèn nhát có nhiều cách, ta không bàn ra cho hết được. Ở đây ta chỉ nói một góc nhỏ của sự hèn nhát. 

Thấy ai nói sai mà không dám phản bác, thấy ai nói đúng mà không dám ủng hộ, đó là hèn nhát.

Nhiều khi chỉ trên mạng mà thôi, cũng không dám bảo vệ lẽ phải, đó là hèn nhát. 

Thấy ai chống phá đạo Phật mà tức tức rồi cho qua, thấy ai nói xấu thầy mình mà tức tức rồi cho qua, thấy ai nói xấu nhà nước mình mà tức tức rồi cho qua, thấy ai phản bác đạo lý nhân quả mà tức tức rồi cho qua. Đó là hèn nhát.

Thấy ai nêu ra một lẽ phải mà im lặng, thấy ai góp ý một điều hay mà im lặng, thấy ai kêu gọi một việc nghĩa mà im lặng, đó là hơi hèn nhát. 

Thấy người tốt bị gièm pha mà mặc kệ, thấy sự vu oan mà không lên tiếng, thấy một quan điểm bậy mà phớt lờ, đó là hèn nhát. 

Người hèn nhát sau này bị quả báo mất hết uy đức, hay bị xem thường.

Giải pháp đột phá đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong nội bộ

 Một là, tiếp tục đổi mới nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn Đảng và hệ thống chính trị để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Tăng cường công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện Nghị quyết, tạo sự đoàn kết, đồng thuận, ủng hộ, đề cao cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân; lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp các lực lượng, chủ động trên mọi phương diện tấn công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kẻ xấu, cơ hội chính trị chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, thành quả cách mạng của nhân dân ta.

Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược. Cần xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ; phát hiện và nhân rộng những tấm gương điển hình, tiên tiến. Thực hiện việc giao duyệt các chỉ tiêu về bồi dưỡng quần chúng ưu tú, tạo nguồn phát triển đảng viên. Giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên mới, coi đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Tập trung lãnh đạo phát triển tổ chức đảng, đoàn thể ở các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có công nghệ cao, trong đó quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, các chủ doanh nghiệp để từng bước thành lập được tổ chức đảng trong doanh nghiệp.

 

Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược - khâu then chốt, đặc biệt quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Đổi mới, hoàn thiện, quản lý chặt chẽ quy trình công tác cán bộ, trọng tâm là khâu đánh giá cán bộ. Trong toàn bộ quy trình công tác cán bộ, đánh giá cán bộ là khâu đặc biệt quan trọng; đánh giá đúng thì quy hoạch chính xác, bố trí đề bạt, sử dụng cán bộ đúng; đánh giá sai sẽ dẫn đến hậu quả lớn, khôn lường. Cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ theo hướng: Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể của cán bộ; mở rộng diện tham gia đánh giá, các kênh đánh giá cán bộ, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và vai trò của nhân dân; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, sâu sát, chính xác trong quá trình đánh giá cán bộ. Xây dựng quy định đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, tích cực, đa chiều theo tiêu chí cụ thể bằng sản phẩm, hiệu quả công việc; công khai kết quả và so sánh với các chức danh tương đương, gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Ban hành quy định cán bộ, lãnh đạo quản lý phải xây dựng chương trình công tác năm; cơ quan quản lý cán bộ theo phân cấp thực hiện duyệt, giám sát và đánh giá hiệu quả công tác hàng năm chương trình công tác của các cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Thực hiện phân cấp trong đánh giá cán bộ gắn với trách nhiệm của người đứng đầu theo hướng công khai minh, minh bạch

Đổi mới công tác quy hoạch cán bộ, tạo nguồn cán bộ: Xây dựng và triển khai hướng dẫn bổ sung quy hoạch cán bộ giai đoạn 2020-2025 và xây dựng quy hoạch cán bộ giai đoạn 2025-2030 theo phương châm “động, mở”, giảm về số lượng người quy hoạch một chức danh và tăng cán bộ trẻ để nâng cao chất lượng quy hoạch và tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số. Xây dựng Đề án quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030 đảm bảo chất lượng và có tính khả thi cao.

Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, để đáp ứng các mục tiêu chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới. Xây dựng Quy định quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên phạm vi toàn quốc, để nâng cao chất lượng công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng, khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp như hiện nay.

Đổi mới công tác bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử: Tiếp tục thực hiện chủ trương điều chuyển, thay thế những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ công tác được giao. Tạo môi trường, động lực để cán bộ phấn đấu, sáng tạo, cống hiến và phát triển.

 

Ba là, tăng cường và đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát chặt chẽ quyền lực cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên

Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xẩy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Xây dựng hướng dẫn cụ thể Quy định 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Phát huy vai trò nêu gương trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương.

Kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Hằng năm xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra công vụ các cơ quan, đơn vị, các ngành, các địa phương để nâng cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ và nội quy, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên với kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, kiểm tra đột xuất và kiểm tra dấu hiệu vi phạm; coi trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của các cấp uỷ, tổ chức đảng để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ từ sớm, từ xa để bảo vệ cán bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, làm cho nhân dân thật sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện, xây dựng và phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nhiệm vụ trọng tâm để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong nội bộ

 Một là, tiếp tục quán triệt nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên vềtính tự giác trong nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn chặt với việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.

Thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp; cam kết rèn luyện giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Nâng cao tính thuyết phục trong giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận, trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân, luôn vững vàng trước khó khăn, thử thách và không bị cám dỗ bởi tiền tài, danh vọng để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức trong sáng, có lối sống lành mạnh, tiết kiệm, đặt lợi ích chung, lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết.

 Khơi dậy ý thức tự giác trong nêu gương; tự giác trong nhận diện những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực sự cầu thị trong tự phê bình, “tự soi, tự sửa”; thắng thắn, chân thành trong phê bình đồng chí, đồng nghiệp, cấp trên với tinh thần xây dựng, trên tinh thần đồng chí; tự giác học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mỗi ngày; tự giám sát, kiểm tra, tự nhận trách nhiệm, khuyết điểm và hình thức kỷ luật để tích cực khắc phục, sửa chữa.

Chú trọng nghiên cứu hệ quan điểm lý luận sắc bén để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị.

Đổi mới phương pháp, quy định rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến pháp luật cho cán bộ, đảng viên; thông tin kịp thời, làm tốt công tác định hướng dư luận. Tập trung đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp.

 

  Hai lànâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình công tác kiểm điểm, tự phê bình và phê bình đối với tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên gắn với việc nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ

Phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt tư tưởng, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất trong công tác, nhiệm vụ được giao. Trong công tác kiểm điểm, thực hiện theo trình tự cấp trên kiểm điểm trước để làm gương cho cấp dưới; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau. Sau kiểm điểm, kết quả kiểm điểm phải được thông báo đến những tập thể đã góp ý kiến trước khi kiểm điểm. Cấp dưới báo cáo kết quả kiểm điểm với cấp trên. Những nơi kiểm điểm không đạt yêu cầu, cấp uỷ cấp trên chỉ đạo kiểm điểm lại.

Thực hiện tự phê bình và phê bình cần khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, dị hoà vi quý; “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, làm hình thức, đối phó; một số cán bộ, đảng viên, nhất là một bộ phận cán bộ đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp còn thiếu gương mẫu, chưa tự giác nhận đúng mức khuyết điểm và trách nhiệm của mình được giao phụ trách.

Tăng cường công tác xây dựng, củng cố, đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên hàng năm phải được tiến hành thường xuyên, liên tục đảm bảo theo tiêu chí và quy định của Điều lệ Đảng. Phải gắn trách nhiệm của cấp uỷ, người đứng đầu với kết quả triển khai thực hiện xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

 

Ba là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới trong công tác nhận xét, đánh giá cán bộ bằng “sản phẩm”, coi kết quả đánh giá cán bộ là tiêu chí quan trọng nhất để thực hiện quy hoạch, điều động, bổ nhiệm cán bộ. Đề bạt, sử dụng người có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm; kiên quyết không bổ nhiệm và kịp thời điều chuyển, thay thế những cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, lối sống, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là người đứng đầu.

Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi cán bộ phù hợp thực tiễn phát triển của đất nước. Thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, sử dụng chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực, chú ý quan tâm bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện mô hình một số chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã không phải là người địa phương.

Tiếp tục đổi mới, kiện toàn và từng bước hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nghiên cứu sửa đổi quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng chính phủ, chính quyền điện tử gắn với hoạt động của Trung tâm phục vụ hành chính công của các bộ ngành, địa phương một cách có hệ thống và đồng bộ, kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia. Giảm tối đa thời gian, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính. Tăng cường phân cấp, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị để phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.

 

Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân, thật sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; phòng, chống, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống trong Đảng là vấn đề có tính nguyên lý cần được quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc trong toàn Đảng và hệ thống chính trị.

Chú trọng việc thể chế hoá và thực hiện nghiêm trách nhiệm của Đảng, tổ chức đảng, đảng viên được quy định trong Hiến pháp 2013 và được xác định rõ trong Văn kiện Đại hội XIII: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Sớm thể chế hoá nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng”

Xây dựng cơ chế dựa vào dân để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh: Cơ chế để nhân dân tiến cử những người có đủ đức, tài vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Có hình thức thích hợp, lấy ý kiến góp ý của nhân dân trước khi bổ nhệm cán bộ.Phát huy vai trò của nhân dân trong việc giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là những người có chức vụ, quyền hạn, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp. Tiếp tục thực hiện tốt hơn công tác tiếp công dân, tiếp nhận xử lý thông tin và các khiếu nại, tố cáo của cán bộ đảng viên và nhân dân liên quan đến công tác cán bộ; đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; chống cửa quyền, hách dịch, thiếu trách nhiệm với nhân dân.

Thực hiện có hiệu quả hơn Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng chế độ công tác, quy trình ban hành quyết định của Đảng, Nhà nước, trong đó quy định rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc các cấp. Mặt trận Tổ quốc các cấp có nhiệm vụ chủ trì phản biện công khai đối với các quyết sách liên quan đến lợi ích thiết thực, chính đáng của nhân dân. Phải có cơ chế tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia ngay từ đầu quá trình xây dựng chính sách, giám sát quá trình thực hiện chính sách, xây dựng và giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách cho nhân dân. Tăng cường giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong công tác và cuộc sống.

- Tiếp tục đổi mới và thực hiện nghiêm quy định người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp tiếp dân, đối thoại, tự phê bình và phê bình, kiểm điểm thực hiện chức trách trước nhân dân. Xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ, tôn vinh người phát hiện, tố giác và tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

“TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM” LÀ AI?

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục sử dụng chiêu bài đòi Việt Nam thả “Tù nhân lương tâm” để chống phá cách mạng nước ta. Mới đây, đầu tháng 4-2022, cái gọi là tổ chức Người bảo vệ nhân quyền ra tuyên bố cáo buộc Việt Nam mở rộng chiến dịch đàn áp và nhằm vào các tổ chức xã hội dân sự thông qua việc bắt giữ một loạt người đứng đầu của các tổ chức này. 

Còn nhớ, năm 2021, chính tổ chức Người bảo vệ nhân quyền này đã xúi giục, kêu gọi thân nhân của một số “tù nhân lương tâm” ký vào bức thư với những nội dung bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo như: “Nhà tù không cung cấp chữa trị y tế khi người tù mắc bệnh nan y. Nhiều tù nhân lương tâm đã chết trong nhà tù chỉ vì bị hành hạ về thể xác và tinh thần” để gửi bà Phó Tổng thống Mỹ khi Bà đến thăm Việt Nam. Chúng xuyên tạc tình hình tự do dân chủ, nhân quyền, phản đối việc cơ quan chức năng xử lý hình sự đối với một số kẻ chống đối vi phạm pháp luật Việt Nam. Đồng thời, tổ chức này cũng ra tuyên bố cáo buộc Việt Nam vì muốn tiếp tục sự “độc quyền chính trị” mà chính quyền mở rộng chiến dịch đàn áp và nhằm vào các tổ chức xã hội dân sự thông qua việc bắt giữ một loạt người đứng đầu của các tổ chức này. Chúng còn lên tiếng tuyên bố “tiếp tục  đấu tranh”, gây sức ép đòi Việt Nam phải trả tự do cho các đối tượng “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”. Một số đối tượng lưu vong ở Mỹ còn tổ chức “Ngày vận động nhân quyền cho Việt Nam”…


Thật ra, nội dung trên không có gì mới, cái gọi là “tù nhân lương tâm” đã được các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị sử dụng từ nhiều năm nay trong hàng loạt thủ đoạn mà chúng dùng để chống phá Nhà nước Việt Nam. 


Vậy thực chất của cái gọi là “tù nhân lương tâm” này là như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu để thấy rõ bản chất của chúng. 


Trước hết, xin điểm qua một số bộ mặt được các thế lực xấu gọi là “tù nhân lương tâm” nổi lên trong thời gian qua. Đó là: Cù Huy Hà Vũ, Trần Đình Lượng, Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư, Phạm Đoan Trang, Trương Quốc Huy, Trần Huỳnh Duy Thức… Điểm chung của các đối tượng trên là đều có những hành vi vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam với mục đích chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mọi hành vi của chúng đều đã bị dư luận trong và ngoài nước biết rõ, bị các cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý đúng người, đúng tội, nghiêm minh, quá trình tố tụng từ khởi tố, bắt giam, giam giữ, xét xử đều theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chính nhiều kẻ trong cái gọi là “tù nhân lương tâm” trước tòa, với sự nghiêm minh của pháp luật đã phải cúi đầu nhận tội, có kẻ con xin lỗi Nhà nước và nhân dân Việt Nam, cam kết không tái phạm…


Nhưng nhìn chung, bản chất xấu xa, ngoan cố của một số đối tượng của cái gọi là “tù nhân lương tâm” là không hề thay đổi. Như Cấn Thị Thêu, Trần Quốc Huy đã nhiều lần vi phạm và xử lý nhưng vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Cù Huy Hà Vũ, Trương Quốc Huy sau khi ra tù đã sang Mỹ tiếp tục chống phá Việt Nam.


Như vậy, thực chất là cái gọi là “tù nhân lương tâm” chính là những kẻ không có lương tâm, luôn tìm mọi cách ngoan cố chống phá cuộc sống bình yên của nhân dân và đất nước Việt Nam.


Còn những kẻ, những tổ chức kêu gọi ủng hộ “tù nhân lương tâm” là ai?


Đó là các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, những tổ chức có âm mưu, thủ đoạn, hành vi chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Như phản động Việt Tân, Hội anh em dân chủ… với mục đích là chống phá Nhà nước Việt Nam, chúng đã lôi kéo, xúi giục, hà hơi tiếp sức, đẩy các đối tượng trên vào con đường phạm pháp, tù tội.


Trên thực tế cái gọi là ‘tù nhân lương tâm” và quan thày, đồng bọn của chúng không đánh lừa được dư luận. Nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ nên cảnh giác, đấu tranh, loại trừ. Dư luận thế giới cũng không lạ gì chúng nên chẳng dại gì mà tung hô, ủng hộ chúng. Nội bộ chúng cũng hiểu bản chất, bộ mặt thật của nhau nên thường “đồng sàng dị mộng”, lợi dụng lẫn nhau, còn thực chất giữa chúng thường xảy ra mẫu thuẫn, đả phá lẫn nhau.


Cũng cần hiểu rõ rằng: thực chất những tổ chức, cá nhân trên đâu có yêu quý, tôn trọng gì những kẻ mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”, chúng chỉ lợi dụng mà thôi. Chúng lợi dụng lôi kéo kẻ chống phá, tung hô bọn này là người “dũng cảm đấu tranh vì dân chủ nhân quyền ở Việt Nam” và khi những kẻ này bị pháp luật trừng phạt hay đã ra tù như Trương Quốc Huy, thì chúng vẫn tiếp tục lợi dụng, sử dụng như cái loa tuyên truyền, xuyên tạc chống đối Việt Nam để kiếm cơm hằng ngày.


Vì vậy, có thể thấy rõ rằng, ở Việt Nam không có “tù nhân lương tâm”, mà đó chỉ là những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam và bị pháp luật trừng trị mà thôi. Và đứng sau chúng là những kẻ lợi dụng cái gọi là “tù nhân lương tâm” để chống phá đất nước Việt Nam. Chúng ta cần kiên quyết, kiên trì, thẳng thắn vạch mặt và đấu tranh phòng, chống mọi âm mưu, thủ đoạn của cái gọi là “tù nhân lương tâm” cũng như những kẻ lợi dụng, sử dụng chúng để chống phá Việt Nam.

Quan điểm, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đột phá để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong nội bộ

    Bối cảnh tình hình

Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt ngay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh - đại dịch COVID-19 còn kéo dài, vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp gây khó khăn, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế- xã hội và đời sống của nhân dân; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động, những người có quan điểm tiêu cực, chống đối, xuyên tạc lịch sử, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc nhằm làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tình hình trên đây đã và đang tác động mạnh, nhiều chiều đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cần được quan tâm thường xuyên, liên tục, không ngừng, không nghỉ để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

    Về quan điểm

Một là, kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề cơ bản, cốt lõi trong xây dựng và phát triển đất nước, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện một cách quyết liệt, đồng bộ, thường xuyên về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hệ thống chính trị.

 

Ba là, phải kết hợp tốt giữa “xây” và “chống”, trong đó "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài và có ý nghĩa quyết định; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Chủ động, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

 

Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, vai trò nêu gương của cán bộ, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính tri, Ban Bí thư, cấp uỷ và Ban Thường vụ cấp uỷ các cấp. Thực hành dân chủ và phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; kỷ cương, kỷ luật của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Năm là, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cần phải được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các công cụ và biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kiểm tra, giám sát, pháp luật và công nghệ.