Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

 

Phê phán một số luận điểm sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam

 Lợi ích quốc gia - dân tộc là một vấn đề vô cùng hệ trọng đối với tất cả các nước trên thế giới. Bài viết khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, nhất quán trong chính sách đối nội và đối ngoại. Điều này không chỉ thể hiện trong quan điểm, chủ trương, chính sách mà thực tiễn cũng đã chứng minh. Đồng thời, bài viết phê phán những luận điệu xuyên tạc vấn đề này nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị.

1. Về lợi ích quốc gia - dân tộc

Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là kim chỉ nam trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nó bao hàm trong đó “tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc”(1).

Lợi ích quốc gia không phải lúc nào cũng đồng nhất với lợi ích dân tộc. “Lợi ích quốc gia thiên về đại diện lợi ích của giai cấp cầm quyền. Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của mọi người dân của một nước. Khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên”(2). Đã từng có trường hợp, giới cầm quyền hy sinh lợi ích dân tộc vì lợi ích giai cấp, lợi ích phe nhóm. Năm 1870, khi thủ đô Paris (Pháp) bị quân Phổ bao vây thì Chính phủ vệ quốc của giai cấp tư sản lại đầu hàng, không đứng về phía nhân dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc.  

Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc cũng có sự khác nhau trong từng thời điểm lịch sử. Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc là độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc không chỉ là giành độc lập dân tộc để giữ chủ quyền lãnh thổ mà còn là đi lên CNXH. Nhưng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục tiêu độc lập dân tộc, giữ chủ quyền lãnh thổ được đặt lên trên. 

Từ khi thống nhất đất nước đến nay, lợi ích cốt lõi quốc gia - dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN. Hiện nay, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam được thống nhất với nội hàm bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(3).

Ngày nay, lợi ích giữa các quốc gia được thể hiện trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, song bên cạnh đó vẫn có những mâu thuẫn, xung đột diễn ra dưới nhiều hình thức rất phức tạp. Vì vậy, việc bảo đảm được lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hệ trọng đối với mỗi quốc gia nhằm bảo vệ đất nước và thực hiện hợp tác quốc tế. 

Trong khi đó, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm đang là một trong những nguy cơ gây tổn hại đến sự phát triển đất nước, lợi ích của nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chỉ có thể giữ vững những thành quả cách mạng mà chúng ta đã đạt được khi “luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng”(4).

Những thành tựu, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam đạt được như ngày nay đã chứng minh quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt. Tuy nhiên, hiện nay đang có một số luận điểm thể hiện sự nhận thức phiến diện phạm trù lợi ích quốc gia - dân tộc; nguy hiểm hơn có luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc cũng như gây mất ổn định chính trị ở nước ta. 

2. Một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc 

Thứ nhất, luận điệu cho rằng bảo vệ chế độ XHCN không phải là nội hàm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc

Ý kiến này cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một chế độ chính trị hay một đảng phái nào”. Thậm chí, những người này còn tuyên truyền rằng phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ CNXH thì đất nước mới có điều kiện để bảo đảm và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Họ còn đưa ra luận điệu đòi “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc” để giữ gìn độc lập, chủ quyền đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc(5). Bản chất của luận điệu này chính là muốn tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. 

Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đi theo con đường phong kiến hay tư sản đều thất bại. Trên hành trình tìm đường cứu nước, từ việc tìm hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(6). Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã chứng minh sự lựa chọn đó là đúng đắn. 

Nhưng CNXH không chỉ là mục tiêu để giành độc lập dân tộc, mà việc thực hiện các mục tiêu của CNXH còn là cơ sở để củng cố vững chắc độc lập dân tộc và các giá trị của độc lập dân tộc mới được thực hiện đầy đủ. Đối với Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc là một nền độc lập thật sự chứ không phải là thứ “độc lập giả hiệu”, “độc lập nửa vời”, “độc lập hình thức”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nền độc lập đó phải gắn với dân chủ, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn với CNXH. Bởi vì: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(7)

Thực tiễn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Thu nhập bình quân đầu người từ 200 USD năm 1990 lên 2.779 USD năm 2020. Quy mô nền kinh tế nước ta đạt khoảng 271,2 tỷ USD năm 2020(8). Năm 2019, tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,02%. Năm 2020, dưới tác động của đại dịch Covid-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là quốc gia hiếm hoi duy trì tăng trưởng dương (+2,91%), dịch bệnh được kiểm soát, bảo đảm an sinh xã hội(9). Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định song phương với hơn 100 nước. Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019(10)

Những thành tựu đó của chúng ta đã được thế giới ghi nhận. Bằng chứng là, Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhiệm ba trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. 

Những thành tựu trên là minh chứng cho sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho số đông nhân dân. Thực tiễn Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, có Nhà nước XHCN, nhất là 35 năm đổi mới, đã chứng minh điều này. Trong đại dịch Covid-19, những thành công đạt được trong hỗ trợ người dân chăm lo sức khỏe, phát triển kinh tế, ổn định đời sống đã minh chứng ở Việt Nam “không ai bị bỏ lại phía sau”. Chúng ta không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”(11).  

Những thành tựu đó một lần nữa chứng minh, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam phải bảo vệ cả độc lập chủ quyền, bảo vệ nhân dân thống nhất với bảo vệ chế độ XHCN. 

Thứ hai: luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không đại diện cho lợi ích quốc gia - dân tộc và bất cứ lực lượng nào đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết đều có thể trở thành lực lượng lãnh đạo.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã tung nhiều thông tin xuyên tạc, như: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”(12)... Lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhiều kẻ đã rêu rao: “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”(13). Trong khi Đảng nhận rõ những hạn chế, tăng cường chỉnh đốn Đảng, chúng lại cố tình phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng những hành động đó không phải vì lợi ích dân tộc mà chỉ nhằm “che mắt thế gian”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “chỉ dám đánh con tôm, con tép”(14)... Do đó, họ cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đây là quan điểm sai trái, muốn tách rời Đảng với dân tộc, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. 

Trước hết, cần khẳng định, ở Việt Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ trí tuệ, bản lĩnh để lãnh đạo đất nước, mà cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực sự vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong lịch sử, đã xuất hiện những lực lượng muốn vươn lên vị trí lãnh đạo nhưng hoặc không đủ khả năng hoặc là những kẻ cơ hội. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản xuất hiện thêm hai đảng là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) và nhiều tổ chức, đảng phái chính trị khác. Thực chất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản, các đảng phái khác không đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc. Khi quân Trung Hoa Dân quốc rời khỏi Việt Nam, hai đảng cũng rút theo. Như vậy, những đảng phái không đứng về phía nhân dân, không thực sự mang lại lợi ích chính đáng cho nhân dân đã bị chính lịch sử và nhân dân loại bỏ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân.

Sự lựa chọn đó là đúng đắn. Kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hơn 92 năm qua, thành công của Đảng có được vì lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được bảo đảm khi đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này hoàn toàn khác với đảng chính trị trong thể chế đa đảng, khi đảng đó chỉ đại biểu cho một nhóm lợi ích nhất định, mà trong rất nhiều trường hợp lợi ích cục bộ của đảng phái mâu thuẫn, xung đột với lợi ích chung của xã hội.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, bất cứ người nào, không phân biệt thành phần xuất thân, khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng, tự nguyện đứng trên lập trường giai cấp công nhân để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thực hiện theo Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, đều được bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng. Điều lệ Đảng ghi rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(15). Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, của nhân dân; Đảng đấu tranh kiên quyết với mọi biểu hiện chủ nghĩa biệt phái, “lợi ích nhóm”, không chỉ có nguy cơ gây chia rẽ nội bộ mà còn làm suy giảm năng lực đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đã chứng minh, Đảng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, khi phát xít Nhật vào Đông Dương, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”(16), lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trở thành Ðảng cầm quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn được Ðảng đặt lên hàng đầu, tất cả vì đoàn kết dân tộc, giữ vững nền độc lập vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt phải chống thù trong, giặc ngoài, Ðảng Cộng sản phải rút vào hoạt động bí mật, “Ðể tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc”(17). Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, những người cộng sản luôn đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh và chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc. 

Cũng vì luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, Đảng sẵn sàng thẳng thắn nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa sai. Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã viết tác phẩm Tự chỉ trích, một mẫu mực về đấu tranh tự phê bình và phê bình, làm rõ những khuyết điểm của Đảng khi không đoàn kết, không nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu, Hội đồng Quản hạt ở Nam Kỳ... Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối làm việc với tinh thần tự phê bình nghiêm túc. Đến Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình và chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, từ đó đưa ra đường lối đổi mới. Tinh thần thẳng thắn này tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương sáu (lần hai) Khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sau khi đất nước thống nhất, bước sang giai đoạn xây dựng CNXH, lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn luôn là nhiệm vụ trọng tâm được Đảng nhận thức sâu sắc qua các kỳ Đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới. Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7-2003) chỉ rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”(18). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định, mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Như vậy, vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Đảng khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi”(19)

Cuộc chiến chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” đã khẳng định, tất cả những cán bộ đảng viên chỉ vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích nhóm mà bỏ quên và làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước, đều bị nghiêm trị. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được kết quả tích cực. Các cấp ủy đã kiểm tra gần 265.000 tổ chức đảng viên và trên 1,1 triệu đảng viên. Trong đó, đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 229 đảng viên(20)

Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, chung sức, đồng lòng, khoanh vùng, kiểm soát, đón người Việt từ vùng dịch về, hỗ trợ doanh nghiệp, những đối tượng yếu thế trong xã hội... Tổ chức Y tế thế giới, nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, báo chí các nước ghi nhận và đánh giá cao kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Nhờ những thành tựu đó, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng đã tăng lên rất nhiều, cho thấy sự ghi nhận của nhân dân đối với sự nỗ lực, tinh thần vì dân, vì nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Thứ ba, luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền, biển đảo.

Trước một số sự việc liên quan đến vấn đề về biên giới lãnh thổ, nhất là vấn đề ở Biển Đông, có luận điệu cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì vấn đề hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia - dân tộc. Thậm tệ hơn, họ xuyên tạc trắng trợn khi cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; những đối sách của Đảng, Nhà nước né tránh vấn đề Biển Đông. Và rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam đã “thỏa thuận” với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, “Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Việt Nam và Trung Quốc “ngầm thỏa thuận” để không làm căng thẳng tình hình Biển Đông(21). Thậm chí có ý kiến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã bán nước cho Trung Quốc vì lợi ích của Đảng, vì cùng chung ý thức hệ(22).

Lợi dụng, dựa dẫm vào những luận điệu xuyên tạc trên và “nhân danh”  “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”, vì “lòng yêu nước”, một số kẻ gây rối, kích động nhân dân chống phá Đảng, Nhà nước; gây ra một số vụ bạo loạn, làm phức tạp tình hình xã hội, tạo hận thù dân tộc, chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam. 

Phải khẳng định lại lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tất cả phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Việt Nam sẽ không bao giờ nhân nhượng trước những gì thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”(23). Bên cạnh đó, cũng phải bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Việt Nam cần giải quyết các tranh chấp, bất đồng một cách “khôn khéo, kiên quyết” bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hoàn toàn không phải là “nhu nhược” hay vì “cùng ý thức hệ” như những kẻ chống phá xuyên tạc. 

Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta luôn nhớ những bài học của ông cha trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc. Chẳng hạn như chính sách “Trong xưng đế, ngoài xưng vương”, bề ngoài trên danh nghĩa chịu “thần phục”, chấp nhận cống nạp để được phong chức tước, công nhận chủ quyền, hoãn binh, ngăn chặn chiến tranh, giữ yên bờ cõi... bên trong thì xưng “Hoàng Đế” để cai quản, trị vì đất nước. Hay bài học trong sự kiện năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định ký Hiệp định Sơ bộ (ngày 6-3-1946) với Pháp theo “hòa để tiến”. Những hành động như vậy không phải là “nhu nhược” mà chính là để bảo vệ cái cốt lõi nhất của lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ hòa bình. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; trong đó, lợi ích “bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN làm kim chỉ nam để ứng xử một cách có nguyên tắc nhưng rất linh hoạt với mọi tình thế.

Không phải là một nước lớn nên Việt Nam cần có cách ứng xử mềm dẻo, linh hoạt để bảo đảm hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang áp dụng triệt để các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc, thể hiện sự nhất quán trong quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước: Việt Nam luôn nỗ lực trong giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế(24); tôn trọng, ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế(25), tích cực thực hiện các cam kết quốc tế; nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”(26) (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Thực hiện điều này giúp Việt Nam tránh được xung đột về quân sự, tránh bị cô lập về kinh tế, cô lập về ngoại giao, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chủ trương đúng đắn và các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền quốc gia đã tạo được sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp, lập trường chính nghĩa của Việt Nam. 

Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định lợi ích quốc gia là “tối cao”, nghĩa là bất di bất dịch. Đến Đại hội XIII, trước tình hình chủ nghĩa dân tộc cực đoan trỗi dậy, Đảng đã có sự điều chỉnh phù hợp khi nhấn mạnh “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”, cùng với những yếu tố hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung. Đó là tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các quốc gia khác trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là vì lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

“Đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"(27), có được điều đó là vì, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, cũng như đã xác định được con đường phát triển cho toàn thể dân tộc: con đường độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất có đủ bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo đất nước cũng luôn bảo vệ lợi ích của Tổ quốc. Những thành tựu đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định sự lựa chọn lực lượng dẫn dắt dân tộc và con đường phát triển của nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, là sự thật mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc được.

_Nguồn: LLCT__

(1) Phạm Bình Minh (chủ biên): Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.208-209.

(2) Đặng Đình Quý: Bàn thêm về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 1 (80), Hà Nội, 2010, tr.115.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.81.

(4) “Lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng”, https://dangcongsan.vn/thoi-su/loi-ich-cua-quoc-gia-dan-toc-cua-nhan-dan-cua-dang-la-toi-thuong-509240.html, truy cập ngày 26-12-2018.

(5) Xem: “Thực chất “hai kịch bản” cho Việt Nam là gì?”, báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 29-8-2011, tr.8.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.128.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.175.

(8), (19), (27) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.61, 162-163, 25-26.

(9) Việt Dũng: “IMF: Năm 2020 GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt trên 10.000 USD”, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/imf-nam-2020-gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-viet-nam-dat-tren-10000-usd-331067.html, truy cập 04-01-2021.

(10) Xem: “Toàn văn Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020”, Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 21-10-2019.

(11) “Bài viết của Tổng Bí thư về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, https://vietnamnet.vn/

vn/thoi-su/chinh-tri/bai-viet-cua-tong-bi-thu-ve-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-737210.html, truy cập ngày 16-5-2021.

(12), (14) Ban Tuyên giáo Trung ương: Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.79-80, 110.

(13) Cục Tuyên huấn: Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr.45.

(15) ĐCSVN: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr.4.

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.230.

(17) ĐCSVN: Văn kiện Ðảng Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.19.

(18) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nxb Chính trị quốc giaS ự thật, Hà Nội, 2003, tr.46-47.

(20) Phạm Đông, Hải Nguyễn: “Đã kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên”, https://laodong.vn/thoi-su/da-ky-luat-hon-1300-to-chuc-dang-va-gan-70000-dang-vien-893289.ldo, truy cập ngày 27-3-2021.

(21) Xem: Thông tin nội bộ, Bản tin của Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng, số tháng 9-2016, tr.50.

(22) Hội đồng Lý luận Trung ương: Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.295. 

(23) Xem: Tạp chí Biển Việt Nam, số tháng 2-2020, tr.9. 

(24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.148.

(25) Trong các văn bản luật của Việt Nam đều có quy định ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp có khác biệt giữa quy định của nội luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Điều 6.1 Luật số 108/2016/QH13 về Điều ước quốc tế ngày 09-4-2016, Luật Biển.

(26) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr.25, 26-29.

 

 

Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cung cấp phương pháp luận, những luận chứng, luận cứ, lý luận và thực tiễn, những cấu trúc chính của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Bài viết phân tích làm rõ cấu trúc mô hình chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách, từ chế độ chính trị, mô hình kinh tế tổng quát, nền văn hóa, đến cơ chế vận hành của xã hội... Đồng thời khẳng định đó là những đóng góp của Đảng và nhân dân ta trong việc tìm tòi mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa của nhân loại. 

Chủ nghĩa xã hội luôn là một sự tìm kiếm trong lịch sử nhân loại. CNXH từ không tưởng đến khoa học đều là khát vọng và tìm tòi của nhiều nhà tư tưởng, nhà cách mạng, nhằm giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái, hòa mục...

Nhân loại đã từng thử nghiệm, xây dựng nhiều mô hình CNXH và đã trải nghiệm cả thành công lẫn thất bại. Sau sự sụp đổ của mô hình CNXH Xô viết, tuy phong trào XHCN lâm vào thoái trào, nhưng những tìm tòi về lý luận và thực tiễn của CNXH vẫn tiếp tục. 

Mô hình chủ nghĩa xã hội là tổng thể những thành tố, cấu trúc và những mối quan hệ cơ bản, đặc trưng, có tính ổn định, thể hiện bản chất của CNXH, cho phép chúng ta nhận diện được những đặc tính khác biệt về nội dung và hình thức và phương thức tồn tại, phát triển của chế độ xã hội XHCN của một quốc gia, một giai đoạn, một thời đại.

Để có thể xác định được mô hình CNXH Việt Nam, chúng ta cần làm rõ những cấu trúc chính sau đây:

1. Chế độ chính trị trong mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam 

Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trình bày về “chế độ chính trị”, “mô hình chính trị”, “hệ thống chính trị” và “cơ chế vận hành hệ thống chính trị” Việt Nam với tư cách là một vấn đề cơ bản của mô hình CNXH Việt Nam hiện nay (thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội).

Khi bàn về mô hình chính trị Việt Nam, Tổng Bí thư khẳng định “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(1). Trong nền dân chủ XHCN, để nhân dân thực sự làm chủ, để phát huy dân chủ, Tổng Bí thư khẳng định quan điểm của Đảng ta là “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(2). Sự khác biệt giữa nền dân chủ XHCN nói chung và Nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng, là ở chỗ “Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng”(3). Trong nền dân chủ XHCN ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đóng vai trò hạt nhân của nền dân chủ và hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền là trung tâm của hệ thống chính trị. Từ lôgíc đó, Tổng Bí thư đã chỉ ra vai trò của Đảng và “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”(4)

Nội dung của nền dân chủ XHCN ở Việt Nam về cơ bản đã được chế định trong Hiến pháp, được nêu khái quát trong Cương lĩnh của Đảng và trong nghị quyết của Đảng, được Tổng Bí thư nhiều lần nhắc lại trong cuốn sách, có thể tóm tắt như sau:

- Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH.

- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

- Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc pháp quyền.

- Mọi cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến cơ sở do nhân dân bầu ra bằng các cuộc bầu cử dân chủ, đại điện cho quyền lực của nhân dân, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương thông qua chức năng lập hiến, lập pháp, ra quyết định; thực hiện giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Để làm rõ bản chất của nền dân chủ XHCN, Tổng Bí thư nhấn mạnh: 

- Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(5)

- “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có vai trò (...) củng cố, mở rộng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, mở rộng quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới”(6)

- “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”(7)

Đặc trưng của nền dân chủ XHCN Việt Nam là chế độ Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. 

2. Cơ sở kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam 

Cơ sở kinh tế của CNXH là một trong những vấn đề tranh luận gay gắt giữa các quan điểm về CNXH và cũng đã trải qua nhiều thử nghiệm ở các mô hình khác nhau. Trong phong trào cộng sản và công nhân từ thế kỷ XIX đến nay đã có những quan điểm và mô hình thực tiễn khác nhau, như của Prudon, Causky, V.I.Lênin (chính sách cộng sản thời chiến và NEP), mô hình Liên Xô (kế hoạch hóa tập trung), mô hình tự quản Nam Tư, mô hình nền kinh tế thị trường xã hội của các đảng xã hội dân chủ (Tây Âu, Bắc Âu), mô hình kinh tế thị trường XHCN của Trung Quốc. 

Trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đảng ta cũng đã trải qua quá trình thử nghiệm, tìm tòi, tổng kết từ thực tiễn; có cả những thành công và thất bại. Trong quá trình đổi mới, mô hình kinh tế của CNXH ở Việt Nam được khái quát tại Đại hội IX (năm 2001): “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. 

Những ai đã từng nghiên cứu về kinh tế XHCN, mới thấy sự khó khăn như thế nào, khi gắn khái niệm “kinh tế hàng hóa”, “kinh tế thị trường” với CNXH. Tổng Bí thư viết: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(8)

Tổng Bí thư đã cụ thể hóa nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: Đó là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối”(9)

“Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”(10)

Điều băn khoăn đối với nhiều người và cũng là khó khăn trong thống nhất nhận thức về tính định hướng XHCN và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khác với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây trong mô hình CNXH Xôviết, mà chúng ta từng áp dụng, ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước không “chỉ huy” nền kinh tế bằng một “kế hoạch pháp lệnh”, không can thiệp sâu, trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà “Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”(11)

Về định hướng XHCN, Tổng Bí thư chỉ ra rằng: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công”(12)

Ngày nay, mọi quốc gia đều quan tâm giải quyết vấn đề xã hội, cho dù quốc gia đó có mô hình kinh tế như thế nào. Trên thế giới, hiện có ba cách giải quyết vấn đề xã hội cơ bản: (i) Dựa vào thị trường, nhà nước chỉ can dự tối thiểu; (ii) Nhà nước thu thuế của doanh nghiệp rất cao, dùng khoản tiền thuế đó để phân phối lại, giải quyết vấn đề xã hội; (iii) Mô hình Xô viết, lấy ngân sách (chủ yếu là nguồn thu từ các cơ sở sản xuất thuộc nhà nước), để chi phí cho các vấn đề xã hội. Mỗi mô hình như vậy có những thành công và hạn chế khác nhau. Vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?

Nét độc đáo của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là, việc bắt đầu xây dựng một nền kinh tế thị trường không phải lặp lại lịch sử tự phát ban đầu của nó, cũng không dễ dàng như ở các nước đã ở giai đoạn phát triển thuần thục của nền kinh tế thị trường. 

Đối với một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp như Việt Nam, với hơn 93% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ tăng 62,8%(13), chắc chắn chúng ta không có nguồn lực đủ lớn, tích lũy từ tiền thuế của doanh nghiệp để chi trả cho bảo đảm xã hội. 

Vì vậy, thực hiện công bằng, tiến bộ trong từng chính sách, trong từng bước phát triển của kinh tế thị trường là cách thức tối ưu để vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm xã hội. Nền kinh tế thị trường cung cấp việc làm, hàng hóa dịch vụ, nâng mức sống, mức tiêu dùng ngày càng cao cho xã hội. Song song với đó, việc bảo đảm xã hội lại tạo ra nguồn lực, nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cho thị trường, nuôi dưỡng thị trường. Trong nền kinh tế đó, các doanh nghiệp phải đề cao trách nhiệm xã hội, chia sẻ với người dân trong từng bước phát triển, trong giải quyết lao động, việc làm, mà không phải chờ đến lúc thật giàu, hoặc đóng thuế thật cao, rồi mặc cho sự điều tiết, phân bổ lại của Nhà nước. Một nền kinh tế như vậy phù hợp với văn hóa Việt Nam. Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN sẽ khắc phục được những hạn chế, khiếm, mà thấm đẫm tình tương thân, tương ái, nghĩa đồng bào và trách nhiệm xã hội.

Sự khác nhau giữa chế độ tư bản chủ nghĩa và XHCN, mà cụ thể ở mô hình CNXH Việt Nam là gì? Tổng Bí thư chỉ ra “đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa” là “một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(14). Như vậy, “Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át”(15)

Tổng Bí thư khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(16). Tổng Bí thư cho rằng “đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội”(17). Đó là một mô hình CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

3. Nền tảng tinh thần của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam 

Khẳng định quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư một lần nữa nhấn mạnh, “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng”(18)

Đó là một nền văn hóa “phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”(19). Như vậy, nền văn hóa đó có nội dung là bản sắc dân tộc, tâm hồn dân tộc, lối sống, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc được kết nối với những giá trị, những xu hướng tiến bộ chung của nhân loại. Nền văn hóa của mô hình CNXH Việt Nam cắm rễ trên mảnh đất hiện thực, đã khắc phục và vượt qua những quy tắc giáo điều mang tính trừu tượng, hình thức, thiếu sức sống, thiếu động lực nội sinh thực tế, từng được coi là nguyên tắc chung cho tất cả những người XHCN. 

Mục tiêu chung của nền văn hóa đó, như Đảng ta chỉ rõ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, tính nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội(20)

Tổng Bí thư quán triệt quan điểm của Đảng về trọng tâm của việc xây dựng văn hóa “là xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp”(21). Như Đảng ta đã khẳng định: “Con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới”(22). Coi “phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(23)

Theo Tổng Bí thư, nội dung cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam “là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; kế thừa những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu, tinh hoa văn hóa của thế giới, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mĩ ngày càng cao”(24)

Để tiếp tục xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa của dân tộc, Tổng Bí thư chỉ ra một số nhiệm vụ trọng tâm, với những nội dung quan trọng: khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để Đảng ta và hệ thống chính trị của nước ta thật sự là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tri và phẩm giá con người Việt Nam; học tập theo tư tưởng, đạo đức, phong cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh(25);  “xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(26)

4. Chủ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chủ thể của mô hình CNXH Việt Nam là nhân dân Việt Nam, với phạm trù nhân dân theo nghĩa rộng nhất, đầy đủ và toàn diện nhất. Tổng Bí thư chỉ rõ: “Chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “Nước lấy dân làm gốc”... cần chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích thiết thực của nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”(27)

Tổng Bí thư khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước”(28). Trong tất cả các nguồn lực để xây dựng CNXH, Tổng Bí thư cho rằng: “nguồn lực con người là quan trọng nhất”(29). Trong đó, “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển... Chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(30).

Qua hơn 35 năm đổi mới, cơ cấu xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi, các giai cấp, tầng lớp đều có vị trí, vai trò nhất định trong mô hình CNXH Việt Nam và cần phải được định vị, nhận thức rõ cho phù hợp với điều kiện mới. 

Trong bối cảnh đó, Tổng Bí thư yêu cầu: “Chú trọng phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(31). “Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta tiếp tục kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam... Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(32)

Đối với giai cấp nông dân, Tổng Bí thư yêu cầu cần phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; người nông dân cần có những thay đổi trong tư duy và hành động để có thể làm chủ được công nghệ, làm chủ được nền nông nghiệp hiện đại... để có thể đủ sức cạnh tranh toàn cầu và phát triển bền vững(33)

Ngoài giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, cuốn sách của Tổng Bí thư cũng làm rõ vai trò của của đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân và thế hệ trẻ Việt Nam trong xây dựng CNXH. Điểm mới trong mô hình CNXH Việt Nam là khẳng định rõ vai trò của đội ngũ doanh nhân. Tổng Bí thư cũng đặt ra yêu cầu “phát triển đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(34)

5. Nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và thế giới

Đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện cách nhìn nhận của chúng ta về thế giới và định vị một nước Việt Nam XHCN trong cộng đồng quốc tế. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư một lần nữa nhấn mạnh đường lối đối ngoại được Đại hội XIII của Đảng thông qua: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(35)

Theo Tổng Bí thư, đường lối đối ngoại của Đảng lấy nguyên tắc bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, ngoan cường bảo vệ giang sơn, độc lập, chủ quyền của đất nước, nhưng giàu tính nhân văn, trọng lẽ phải, công lý, chính nghĩa, hòa hiếu, hòa bình, hữu nghị; “dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột; gắn với thực tiễn của thế giới, để đưa Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của thời đại”(36)

Tổng Bí thư khẳng định, đường lối đối ngoại đó là sự kế thừa “những tư tưởng, triết lý vượt thời đại của cha ông ta”, tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới làm nên bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạt động đối ngoại Việt Nam(37). Một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam!”(38)

Nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn, chúng ta đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống. “Nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện”. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO, v.v.. Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng ta đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức hữu nghị của nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước, quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới”(39)

6. Về con đường (phương thức) đi lên chủ nghĩa xã hội

Tổng Bí thư đã trình bày cách tiếp cận mới của Đảng ta, với cách nhìn biện chứng hơn, thực tiễn hơn, ngày càng đúng đắn hơn, trên cơ sở tổng kết thành tựu hơn 35 đổi mới đất nước. Cách tiếp cận mới đã khắc phục được cách tiếp cận đơn giản, như: coi những nhiệm vụ mà chúng ta thực hiện hằng ngày để xây dựng CNXH ở một nước kém phát triển với mục tiêu cuối cùng của CNXH, làm cho không ít quần chúng lầm tưởng rằng, CNXH chỉ có vậy, kém xa các nước tư bản chủ nghĩa. Tổng Bí thư cũng nhắc lại những nhận thức sai lầm trong thiết kế và xây dựng mô hình CNXH thời kỳ quá độ ở nước ta như: nhấn mạnh một chiều tính ưu việt của quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu, mà không thấy được vai trò quyết định của sự phát triển lực lượng sản xuất, kèm theo đó sự công bằng, bình đẳng xã hội được hiểu là sự bình quân, cào bằng; không thừa nhận trong thời kỳ quá độ lâu dài, còn sự tồn tại của các thành phần kinh tế; định kiến và đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Từ những bài học mà Đại hội VI đã chỉ ra, trên cơ sở thực tiễn công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Tổng Bí thư khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(40). Theo Tổng Bí thư, cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát về CNXH và thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam:

“Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(41).

Khi bàn về thời kỳ quá độ, Tổng Bí thư viết: “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”(42) và “nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”(43)

Với vai trò là một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, Đảng ta phải giải quyết nhiều vấn đề lớn và mới không chỉ mang tầm quốc gia - dân tộc, mà còn mang tầm thời đại. Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tác phẩm lý luận của nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng đã từng kinh qua nhiều cương vị lãnh đạo khác nhau, trăn trở và trải nghiệm với thực tiễn của thời kỳ đổi mới, đã cung cấp cái nhìn có tính tổng kết về lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, cung cấp những giá trị phương pháp luận quan trọng, cho phép chúng ta tự hào, tự tin, khẳng định những nội dung cơ bản về mô hình CNXH Việt Nam, như là thành quả sáng tạo của Đảng và nhân dân ta trên con đường phát triển.

_Nguồn: LLCT__

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (14), (15), (16), (17), (18), (21), (22), (23), (24), (26), (27), (28), (29), (30), (31), (32), (34), (36), (38), (39), (40), (41), (42), (43) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.28, 28, 29, 29,  48, 104, 93, 25, 26, 25-26, 26, 26-27, 20, 21, 21-22, 22, 163, 164, 165, 164, 164-165,172, 239-240, 111, 52, 111, 110, 288, 110, 181-182, 201, 184-185, 46, 24, 25, 25.

(13) Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2021, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.37.

(19) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.75-76.

(20), (25), (33), (37) Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.163, 170-171, 300, 181.

(35) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.161-162.