Đại tướng Marcel Bigeard - Cựu thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp khi còn sống, trong quá khứ thời trai trẻ của cuộc đời mình, ông từng là viên chỉ huy bại trận trước những người lính Cụ Hồ tại chiến dịch Điện Biên Phủ.
Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022
CỰU THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG PHÁP, VIÊN TƯỚNG BẠI TRẬN MUỐN RẮC TRO CỐT CỦA MÌNH XUỐNG LÒNG CHẢO ĐIỆN BIÊN
NHÂN QUYỀN KHÔNG ĐẾN TỪ NƯỚC MẮT..!
Đã từng có vị tổng thống khóc, đã có mấy anh, chị nghị sĩ khóc và người dân thì đã từng khóc rất nhiều. Nhưng thực sự căn cốt của vấn đề vẫn ko phải là ở nước mắt chảy nhiều hay ít. Nước mắt dễ lấy đi của con người ta xúc cảm, lòng thương và vì thế mà thực tại dẫu phũ phàng đến mấy đôi khi cũng khiến đám đông quên đi.
Xứ Hợp Chủng quốc đã từng có nhiều cuộc biểu tình diễn ra, thậm chí có cả đốt phá vì vấn nạn súng đạn. Người tìm hiểu về lịch sử hình thành của nước Mỹ hẳn nhiên họ cũng ko quá ngạc nhiên vì suốt quá trình đó là máu, là vàng và cả nước mắt. Quyền sở hữu tư nhân đặt ở vị trí tối cao trong xã hội, cho nên nếu người dân tưởng như lợi ích của mình sẽ đc bảo đảm khi có trong nhà hẳn 1 khẩu súng trường tấn công, thêm vài khẩu Glock 17 thì thử hỏi lợi ích màu mỡ của những nhà tài phiệt lái súng hạng nặng liệu sẽ có bao giờ mất đi đc không..?
Cái ông giám đốc hãng súng nhất nhì ở Mỹ đã từng phát biểu trước nạn xả súng, rằng " để chống lại một kẻ xấu có súng phải là một người tốt nhưng cũng phải có súng".
Vậy ra trong bất luận trường hợp nào đi chăng nữa, hàng nóng của các ngài ấy sẽ đc bán cho cả hai bên, xấu và tốt. Chả trách bên đó người ta đang tính trang bị súng cho cả giáo viên và áo chống đạn cho học sinh. Và tương lai là những vũ khí hạng nặng gì nữa thì chưa thể đoán định. Nhưng nếu cứ như thế này thì biết đến bao giờ nhân quyền mới đc gọi tên thực sự hay đó chỉ la một thứ tự do theo kiểu chọn lọc của giới tự nhiên.
Có thể có vị Tổng thống đã khóc rất nhiều, có thể có anh nghị sĩ đã khóc nhiều hơn và người dân còn khóc to hơn nữa. Nhưng nhân quyền vẫn không bao giờ có thể đến từ nước mắt. Có chăng đó chỉ sự mủi lòng theo kiểu sự đã rồi mà thôi.
Phan xi păng
KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN LỰC THUỘC VỀ NHÂN DÂN
Kiểm soát quyền lực là vấn đề được mọi thiết chế chính trị hết sức quan tâm. Thực tế cho thấy ở đâu có quyền lực thì ở đó cần phải có sự kiểm soát để bảo đảm việc thực thi quyền lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, không bị lạm dụng.
Kiểm soát quyền lực có thể hiểu ngắn gọn là hệ thống những cơ chế, hoạt động kiểm tra, đánh giá, phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những hành vi vượt quá giới hạn được ủy quyền của các chủ thể nắm quyền lực nhằm bảo đảm cho việc thực thi quyền lực đúng quy định, đúng mục đích, đúng quyền hạn và có hiệu quả. Ở Việt Nam, ngay từ khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã sớm đề cập đến vấn đề kiểm tra, kiểm soát, giám sát, nâng cao trách nhiệm của Chính phủ, chính quyền đối với dân nhằm xây dựng một nhà nước dân chủ, ngăn chặn tình trạng cán bộ lạm quyền, lộng quyền gây hại cho dân.
Kể từ thời điểm đất nước tiến hành đổi mới, nhất là khi chúng ta chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Ðảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực, và đưa ra những quan điểm chỉ đạo ngày càng cụ thể, rõ ràng, quyết liệt hơn về vấn đề này.
Tại Ðại hội XI, lần đầu tiên khái niệm kiểm soát quyền lực chính thức được ghi nhận trong quan điểm chỉ đạo quá trình đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Ðặc biệt, đến Ðại hội XIII, vấn đề kiểm soát quyền lực đã trở thành một nội dung quan trọng được nhấn mạnh. Văn kiện Ðại hội chỉ rõ, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là phải “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”, đồng thời coi việc “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền” là một trong các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh, “tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước” là nội dung cần chú trọng để hoàn thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mục đích của việc tăng cường kiểm soát quyền lực là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, bảo đảm dân chủ và thúc đẩy tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhanh chóng đi đến thắng lợi, gặt hái được những thành tựu quan trọng để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, mang lại cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, cực đoan đã phớt lờ mục tiêu tốt đẹp đó, ngang nhiên bịa đặt, vu khống, tuyên truyền rằng “Việt Nam lâu nay luôn duy trì chế độ Ðảng trị độc tài phi dân chủ, không có lực lượng đối trọng, không có sự kiểm soát quyền lực cho nên mới tạo điều kiện cho cán bộ, quan chức tham nhũng, trục lợi, vi phạm quyền dân chủ và lợi ích của nhân dân, khiến cho đất nước không thể phát triển như tiềm năng, lợi thế vốn có, đời sống nhân dân khốn khổ, lòng dân bức xúc…”.
Khi Ðảng chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực nhằm làm trong sạch hệ thống chính trị, thực thi dân chủ, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi, tham nhũng,… thì chúng lập tức xuyên tạc rằng “Ðảng đang củng cố quyền lực độc tài, thực hiện đấu đá nội bộ, thanh trừng phe phái, triệt tiêu những lực lượng đối trọng tiến bộ có khả năng cạnh tranh quyền lực với Ðảng…”.
Ði đôi với những luận điệu xuyên tạc đó, các thế lực thù địch, phản động còn dùng nhiều thủ đoạn để bôi xấu, công kích Ðảng, đổ lỗi cho Ðảng “gây ra tình trạng tham nhũng, tha hóa đạo đức của đội ngũ cán bộ quan chức, kéo lùi tiến trình phát triển của Việt Nam”, từ đó đòi phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng. Không khó để nhận ra mưu đồ chính trị ẩn sau những luận điệu xuyên tạc chế độ, kêu gọi tự do, dân chủ đó là nhằm tấn công, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó chúng ta phải hết sức cảnh giác, đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ tính đúng đắn trong những quan điểm chỉ đạo của Ðảng, bảo vệ những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những giá trị ưu việt mà nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bao năm qua dưới sự lãnh đạo, đồng hành của Ðảng.
Kiểm soát quyền lực là vấn đề mà mọi thiết chế chính trị đều quan tâm cho dù là trong lịch sử hay hiện tại. Ðiểm khác nhau là mục đích của việc kiểm soát quyền lực ở mỗi thiết chế chính trị. Việt Nam lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, về bản chất là chế độ dân chủ thật sự, dân chủ triệt để cho số đông nhân dân lao động, do đó, bảo đảm dân chủ luôn là mục tiêu mà Việt Nam theo đuổi và nỗ lực phấn đấu thực hiện.
Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cũng nhằm để thực hiện và bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân bởi lẽ nhà nước pháp quyền mà Việt Nam xây dựng là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều vì “lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Ðể hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất dân chủ tốt đẹp đó càng cần thiết phải coi trọng tăng cường kiểm soát quyền lực. Thực tế cho thấy, khi quyền lực bị buông lỏng, không được kiểm soát chặt chẽ rất dễ dẫn tới tha hóa quyền lực, khiến cho quyền lực đó không còn thuộc về nhân dân, không vì lợi ích của nhân dân mà thuộc về những người được trao quyền lực, nắm quyền lực.
Thời gian qua, đã có không ít cán bộ lợi dụng những hạn chế trong công tác kiểm soát quyền lực đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để xâm hại, chà đạp quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, trục lợi, thâu tóm lợi ích riêng, tham nhũng, tiêu cực… gây tổn hại to lớn không chỉ đến lợi ích của tổ chức, cá nhân mà của cả quốc gia, dân tộc.
Hậu quả của việc làm này là đã phá hoại những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhiều thế hệ đã dày công gây dựng; đi ngược lại mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp mà chúng ta đang hướng tới; làm tha hóa bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng; làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước.
Chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực của Ðảng chính là nhằm khắc phục những hiện tượng tiêu cực đó, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, trục lợi, loại trừ những phần tử cơ hội, những cán bộ tha hóa biến chất đạo đức; làm trong sạch đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội mang lại những thành tựu tốt đẹp hơn.
Hơn thế, Ðảng ta còn quyết liệt chỉ đạo việc kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thường xuyên liên tục ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, đơn vị, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, khắc phục triệt để tình trạng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền và lợi ích của nhân dân.
Ðảng ta cũng chỉ rõ, kiểm soát quyền lực là trách nhiệm không chỉ của Ðảng, mà của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Nhân dân là lực lượng quan trọng thực hiện kiểm soát quyền lực, thực hiện kiểm tra, giám sát để quyền lực ấy thật sự thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Kiểm soát quyền lực tốt sẽ góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ ưu việt mà chúng ta đang xây dựng.
Ðảng ta ra đời từ nhân dân và luôn gắn bó với lợi ích của nhân dân, hoạt động vì lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền lực của nhân dân cũng là bảo vệ quyền lực của Ðảng, bảo vệ lợi ích của nhân dân cũng là bảo vệ lợi ích của Ðảng.
Tuy nhiên, Ðảng ta cũng nhận thấy, kiểm soát quyền lực không phải là công việc dễ dàng vì nó liên quan trực tiếp đến những người nắm quyền lực, những người “có chức có quyền” trong xã hội, do đó, kiểm soát quyền lực cần được xem là công việc hệ trọng, cấp bách, đòi hỏi mọi cấp bộ, ngành, địa phương, đơn vị, cá nhân phải có quyết tâm chính trị cao và nỗ lực thực hiện bằng được. Ðó cũng là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước ngày càng phát triển.
Phát huy vai trò báo
chí cách mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới
Trong suốt chặng đường 92 năm lịch sử vẻ
vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
luôn là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Ngay từ
khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn
kiên định, nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; xác
định đây là cuộc đấu tranh liên tục, bền bỉ, lâu dài, là một trong những nhiệm
vụ xuyên suốt quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng như thành công
của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị (khóa XII)
ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình
mới”. Nghị quyết đã khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ
Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi
trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Báo cáo Chính trị Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng nêu rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ”1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và thể
chế hóa chủ trương, định hướng, xác định hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch. Trong đó, nhấn mạnh và chỉ rõ trách nhiệm của báo chí cách mạng Việt Nam,
với chức năng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, luôn đồng hành,
gắn bó với sự nghiệp của Đảng, đất nước và dân tộc; chính là phương tiện quan trọng
tuyên truyền xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tuyên truyền về bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Trong những năm qua, các cơ quan báo chí
đã quán triệt, thực hiện nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của
Đảng, Nhà nước, bám sát mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận
của xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; thông tin kịp
thời, trung thực, toàn diện đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và
quốc tế; trong đó, thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được quan tâm, đầu
tư bài bản với các chuyên trang, chuyên mục, chương trình, tuyến bài sâu sắc,
phong phú, chất lượng.
Cùng với đó, các cơ quan báo chí đã tích
cực thông tin, tuyên truyền về lý luận chính trị; khẳng định tính đúng đắn,
khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng
cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đạt được những thành tựu
như hiện nay. Các cơ quan báo chí, như: Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam,
Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Công an nhân
dân, điện tử Chính phủ, điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung tâm Phát thanh -
Truyền hình Quân đội, Truyền hình Công an nhân dân và một số tạp chí, như: Cộng
sản, Tuyên giáo, Xây dựng Đảng, Quốc phòng toàn dân, Lý luận Chính trị, các báo
đảng địa phương,… đã có nhiều bài viết đề cập sâu sắc, diễn giải thấu đáo, giúp
tăng cường, củng cố niềm tin khoa học, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, lý tưởng
xã hội chủ nghĩa giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, tạo hiệu
ứng lan tỏa trong nhân dân. Điểm nhấn nổi bật trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận
thời gian qua chính là việc công bố bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 trên
các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan báo chí đã đăng tải hàng nghìn
chương trình, bài viết, bài bình luận thể hiện sự đánh giá cao, hưởng ứng tích
cực của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân trong nước cũng
như bạn bè, các chính đảng, chính khách và dư luận quốc tế. Bài viết của Tổng
Bí thư đã trở thành tài liệu hết sức giá trị, phục vụ việc học tập, giáo dục lý
luận chính trị, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Và chính các
cơ quan báo chí đã trở thành phương tiện hữu hiệu giúp lan tỏa công trình khoa
học có tầm lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc này đến với đông đảo bạn
đọc.
Báo chí không chỉ tích cực thông tin,
tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, các chủ trương, kế hoạch phát triển đất nước của Quốc hội, Chính phủ, các
bộ, ngành, địa phương; mà còn phát huy vai trò giám sát, phản biện khi đăng,
phát ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cả nhân dân, làm rõ những vấn
đề đang còn băn khoăn liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước;
kịp thời biểu dương, cổ vũ những mô hình, điển hình, kinh nghiệm, cách làm tốt
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, tạo sức
lan tỏa, cổ vũ các phong trào Thi đua yêu nước. Báo chí đồng thời có nhiều
chương trình, bài viết về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng; gắn tuyên
truyền phòng, chống tham nhũng với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh; việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong
sạch, vững mạnh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy
lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một
bộ phận cán bộ, đảng viên, v.v. Các chương trình, chuyên mục nổi bật, như: Đối
diện (Đài Truyền hình Việt Nam), Việc cần làm ngay, Bình luận phê phán (Báo
Nhân Dân), Nhìn thẳng nói đúng (Đài Tiếng nói Việt Nam), Phòng, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” (Báo Quân đội nhân dân); nhiều tuyến tin bài của Thông
tấn xã Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xây dựng Đảng,… được quan tâm đầu tư
với nhiều đổi mới, nội dung thuyết phục, hấp dẫn, sinh động, được dư luận đánh
giá cao, tạo được hiệu ứng tốt trong xã hội. Bên cạnh các chương trình, tin tức
thực hiện bằng tiếng Việt, một số cơ quan báo, đài còn thực hiện các chương
trình, ấn phẩm bằng các tiếng dân tộc thiểu số, bằng các ngoại ngữ (Anh, Pháp,
Nga, Trung, Nhật) để giúp thông tin lan tỏa vùng đồng bào dân tộc, trong cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như cộng đồng quốc tế.
Báo chí đã chủ động phê phán, phản bác
các luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình đất nước cũng như các chiến
lược, kế hoạch, chính sách phát triển đất nước; vạch trần, chỉ rõ âm mưu của
các thế lực thù địch nhằm lôi kéo, kích động người dân tụ tập, khiếu kiện đông
người (đặc biệt tập trung vào các thời điểm quan trọng, như: chuẩn bị Đại hội
Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội; khi Đảng, Nhà nước ta phải quyết định những
vấn đề quan trọng, v.v.). Một số tạp chí như: Cộng sản; Lý luận Chính trị,
Tuyên giáo, Triết học, Dân tộc học, Công tác tôn giáo, Nghiên cứu dân tộc,…
cùng các cơ quan báo chí chính trị chủ lực và một số báo thuộc bộ, ngành, tổ
chức xã hội,… đã tập trung luận giải và làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; khẳng định những chính
sách nhân văn, có lý, có tình, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm
quyền con người của Việt Nam; vạch rõ chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù
địch lợi dụng mạng xã hội, báo chí nước ngoài để gây nhiễu loạn thông tin, gây
ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam; phân tích, khẳng
định, chứng minh cơ sở pháp luật đúng đắn của Việt Nam - quốc gia có chủ quyền trong
việc khởi tố, bắt tạm giam, xét xử một số cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật,
như: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang, v.v.
Có thể nói, với nội dung phong phú, lập
luận sắc bén, dẫn chứng, số liệu cụ thể, thuyết phục, các chương trình, bài
viết trên báo chí về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác
thông tin, quan điểm sai trái, thù địch đã tạo hiệu ứng tốt trong thông tin,
tuyên truyền, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận, lan tỏa.
Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước
nhiều thời cơ, thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thử thách. Các thế lực
thù địch, phản động, cơ hội tiếp tục gia tăng chống phá; lợi dụng sự phát triển
của internet, mạng xã hội để có những hoạt động tinh vi, xảo quyệt hơn. Điều
này đặt ra những yêu cầu mới về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có nhiệm vụ, giải pháp
về công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí. Bên cạnh những kết quả quan
trọng đã đạt được, công tác thông tin, tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn nhiều thách
thức, tồn tại, trong một số thời điểm, một số vụ việc chưa được như mong muốn;
tính dự báo, phân tích, xử lý thông tin đôi khi chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; một
số cơ quan báo chí còn chưa quan tâm đúng mức, xao nhãng trong thông tin, tuyên
truyền, nội dung đấu tranh nghèo nàn hoặc không có; cá biệt có cơ quan báo chí
còn thiếu nhạy cảm chính trị, đăng thông tin không phù hợp để bị lợi dụng, kích
động, chống phá, v.v. Để phát huy hơn nữa vai trò các cơ quan báo chí, nâng cao
hiệu quả trong thông tin, tuyên truyền về mảng đề tài quan trọng này, cần nhận
thức sâu sắc, thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch trong tình hình mới cho đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập
viên các cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí cần xác định công tác thông tin,
tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, là một trong những
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác thông tin, tuyên truyền. Trong đó,
cần tập trung phản ánh việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam hiện nay, giúp cán bộ, đảng viên,
nhân dân nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và kiên định, vững vàng với những
nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc; tích cực tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thành tựu của đất nước
trong hơn 35 năm đổi mới; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân; tuyên truyền, lan tỏa những nhân tố tích cực,
điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực
hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.
Thứ hai, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với báo chí; tăng cường chỉ đạo,
quán triệt sâu sắc cho các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương tích
cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; tăng
cường phối hợp giữa cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam và
các cơ quan liên quan, tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, quản lý hoạt động báo
chí; giữ vững vai trò chỉ đạo, định hướng để báo chí thực hiện tốt sứ mạng của
báo chí cách mạng. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý báo chí cần kịp thời,
nhạy bén; đồng thời, phải đảm bảo tính khoa học, thuyết phục, có lý, có tình,
theo kịp sự vận động phát triển của thực tiễn; chủ động, sắc bén, kịp thời
trong việc dự báo, định hướng chính trị tư tưởng, nhất là trước những vấn đề
quan trọng, phức tạp, nhạy cảm trong đời sống xã hội; phối hợp chặt chẽ thông
tin đối nội và đối ngoại, v.v.
Cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần xây
dựng, đẩy mạnh rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo,
văn bản quy phạm pháp luật về báo chí chặt chẽ, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn hội nhập quốc tế và sự phát triển của truyền thông số; ứng dụng khoa
học, công nghệ mới trong hoạt động quản lý báo chí theo hướng hiện đại hóa. Xây
dựng cơ chế chủ động cung cấp thông tin cho báo chí để thông tin trên báo chí
giữ vai trò định hướng, giúp các tổ chức, cá nhân, nhất là tổ chức, cá nhân
nước ngoài hiểu đầy đủ, toàn diện và có thái độ khách quan trong nhìn nhận,
đánh giá về tình hình Việt Nam. Định hướng, quản lý các cơ quan báo chí, những
người làm báo thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước
về công tác báo chí, 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt
Nam, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam, để công tác bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch không chỉ được tuyên truyền sâu rộng trên báo chí mà còn được triển khai,
thực hiện nghiêm, hiệu quả trong chính các cơ quan báo chí.
Thứ ba, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí, nhất là trách nhiệm
trong việc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên
truyền các nhiệm vụ chính trị quan trọng; nâng cao chất lượng đội ngũ phóng
viên, biên tập viên cả về chính trị, tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
đạo đức nghề nghiệp. Quan tâm, coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt
động của các tổ chức Đảng, đoàn thể trong các cơ quan báo chí; công tác giáo
dục, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt
sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về
tư tưởng, văn hóa, các định hướng của Đảng về công tác báo chí trong tình hình
mới, làm cơ sở để báo chí phát triển đúng định hướng, giữ vững bản chất báo chí
cách mạng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật
Đảng trong các cơ quan báo chí; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong chính những người làm báo.
Thứ tư, đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền; tăng cường số lượng,
chất lượng các tuyến chương trình, bài viết tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng; trong đó, mỗi chương trình, bài viết phải có cơ sở lý
luận chắc chắn, quan điểm, luận cứ sâu sắc, mang tính thời sự và có giá trị
định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với bạn đọc, để mỗi tác phẩm báo chí thực
sự là một công cụ tăng cường nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với
đất nước. Trong tuyên truyền, đấu tranh, cần có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp
tốt giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là cấp
bách, thường xuyên, quyết liệt; chủ động lan tỏa thông tin tích cực trên báo
chí và internet; nghiêm túc, quyết liệt đấu tranh với những quan điểm sai trái,
thù địch, để báo chí cách mạng thực sự là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp “phò
chính trừ tà”, bảo vệ chính nghĩa, đồng hành với lẽ phải, lên án cái xấu, cái
ác, chống lại những nhận thức, hành động sai trái, phi nghĩa; một lòng phụng sự
Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Phát huy lợi thế của báo chí điện tử,
trang tin điện tử, các phương tiện truyền thông mới, các loại hình, diễn đàn
mạng xã hội để phục vụ nhiệm vụ thông tin tuyên truyền. Các cơ quan báo chí cần
tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại trong quy trình sản xuất, biên tập,
duyệt tin bài; tận dụng thế mạnh của internet, truyền thông xã hội để báo chí
thực sự gần gũi, dễ tiếp cận với độc giả. Tranh thủ các kênh để đưa báo chí
phục vụ kiều bào ta ở nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam,
giúp họ hiểu rõ hơn, đúng hơn về tình hình tại Việt Nam.
Thứ năm, có sự đầu tư trọng điểm về cơ sở vật chất, con người. Bên cạnh việc quan
tâm phát triển nguồn cộng tác viên dồi dào, chất lượng; phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan, ban, ngành, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận,… mỗi cơ quan báo
chí cần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong chính cơ quan của mình, hình
thành một bộ phận (hoặc tổ, ban) phóng viên chuyên trách, có năng lực tác
nghiệp nhạy bén, để kịp thời, thường xuyên có thông tin, bài viết sâu sắc và
thuyết phục trong tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh,
phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng cơ chế để kịp thời khen thưởng
cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên có nhiều thành tích trong công tác thông
tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác
quan điểm sai trái, thù địch; tiếp tục tổ chức các Giải thưởng Báo chí định kỳ
về đề tài này, qua đó động viên, cổ vũ, tôn vinh các nhà báo, đồng thời tạo
động lực thôi thúc những người làm báo đi sâu tìm tòi, nghiên cứu, có những bài
viết sâu sắc, chất lượng, đạt hiệu quả tuyên truyền.
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, đầu tư,
hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện để báo chí phát triển. Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân
văn và hiện đại”2. Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là
công nghệ truyền thông số đang mở ra nhiều không gian phát triển mới cho báo
chí. Hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí, người làm báo cả nước cần tiếp tục
quán triệt sâu sắc quan điểm báo chí là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng
của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang với gần 100 năm xây dựng và
phát triển, tiếp tục đổi mới, sáng tạo, có những đóng góp to lớn trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng toàn Đảng,
toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguồn: QPTD
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST,
H. 2021, tr. 183.
2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST,
H. 2021, tr. 146.
Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16
Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16
Nhận lời mời của Đại tướng Tea Banh, Phó thủ tướng, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng Campuchia, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, dẫn đầu đoàn đại biểu
quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN
(ADMM) lần thứ 16, các cuộc gặp không chính thức Bộ trưởng Quốc phòng
ASEAN-Trung Quốc và ASEAN-Nhật Bản tại thủ đô Phnom Penh từ ngày 21 đến 23-6.
Việc
đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội
nghị ADMM-16 và các cuộc gặp không chính thức nhằm tiếp tục khẳng định vai trò
của Việt Nam là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong thúc
đẩy hợp tác quốc phòng ASEAN cũng như hợp tác quốc phòng giữa ASEAN với các đối
tác, đồng thời thể hiện sự ủng hộ của Việt Nam đối với Campuchia trên cương vị
Chủ tịch ASEAN 2022.
Chủ tịch nước dự gặp mặt các cơ quan báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh
Chủ tịch nước dự gặp mặt các cơ quan báo
chí tại thành phố Hồ Chí Minh
Nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tối 20-6, Thành
ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tổ
chức cuộc gặp mặt các cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố. Chủ tịch nước
Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu. Cùng dự có lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước,
UBND thành phố Hồ Chí Minh.
Trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh hiện có 161 cơ quan báo chí trung ương với đủ các loại hình báo chí
đặt văn phòng đại diện và cử phóng viên thường trú, 19 cơ quan báo chí của
thành phố.
Chủ tịch nước nêu rõ,
cùng với hệ thống báo chí cách mạng cả nước, các cơ quan báo chí thành phố Hồ
Chí Minh luôn phản ánh đậm nét, trung thực, kịp thời những diễn biến quan trọng
trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đất nước và thành phố Hồ Chí Minh;
tích cực tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Nội dung
thông tin phong phú, toàn diện, có tính phản biện xã hội cao, đúng định hướng,
tập trung vào các vấn đề lớn, quan trọng của đất nước.
Thay mặt lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng gửi tới toàn thể cán bộ,
phóng viên, biên tập viên, các cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố và tất cả
người làm báo cả nước tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Nhắc lại giai đoạn thành
phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam gánh chịu nhiều thiệt hại do dịch
Covid-19 gần một năm trước, Chủ tịch nước biểu dương đội ngũ các phóng viên,
nhà báo đã không quản khó khăn, nguy hiểm, lăn lộn ngày, đêm trên tuyến đầu
chống dịch; có mặt ghi hình, đưa tin tại các điểm nóng, kịp thời phản ánh tình
hình dịch bệnh; tôn vinh gương người tốt việc tốt, các nhà hảo tâm trong chung
tay phòng, chống dịch bệnh. Nhiều phóng viên, nhà báo của thành phố là những
tấm gương điển hình trong phòng, chống dịch, góp phần nhân lên những nét đẹp
trong cuộc sống, khẳng định truyền thống, đạo lý nhân ái của dân tộc.
Cùng với đó, các cơ quan
báo chí cũng kịp thời phản ánh nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh trong quyết tâm khôi phục các hoạt động kinh tế, xã hội
sau đại dịch, lấy lại vị thế, tầm vóc đà tăng trưởng của thành phố.
Nêu những lời căn dặn
đội ngũ người làm báo cách mạng Việt Nam của Bác Hồ đến nay vẫn còn nguyên giá
trị, Chủ tịch nước khẳng định, bên cạnh những thành tựu to lớn của đất nước,
vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng, những bức xúc của người dân chưa được báo chí
phản ánh đầy đủ, kịp thời.
Do đó, Chủ tịch nước đề
nghị lực lượng báo chí cả nước, trong đó có báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh
phản ánh đậm nét, trung thực, kịp thời những diễn biến quan trọng trong đời
sống chính trị, kinh tế, xã hội; cũng như dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng,
kiến nghị của các tầng lớp nhân dân mong muốn gửi tới Đảng, Nhà nước và cấp ủy,
chính quyền các cấp, từ đó các cơ quan nhà nước có phản ứng chính sách kịp
thời. Đó cũng là hành động cụ thể góp phần xây dựng "Nhà nước của dân, do
dân và vì dân" và thực hiện chủ trương "Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" theo Nghị quyết Đại hội XIII
của Đảng.
Cùng với đó, tiếp tục
đóng góp đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với tăng cường rèn
luyện đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên trong bộ máy
nhà nước. Qua các bài báo phản ánh, những phóng sự điều tra, báo chí có thể "cảnh
báo sớm" để các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân không
thể và không dám tham nhũng, tiêu cực; giúp ngăn chặn từ sớm, từ xa, không để
các sai phạm nhỏ trở thành sai phạm lớn, vụ án lớn gây thiệt hại rất lớn tài
sản của Nhà nước và nhân dân.
Trên cương vị Trưởng ban
Chỉ đạo xây dựng Đề án "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045",
Chủ tịch nước đề nghị các cơ quan báo chí cùng đội ngũ những người làm báo cả
nước cần xác định tuyên truyền về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng các chuyên trang, chuyên
mục để các nhà báo, cộng tác viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia, đóng
góp ý kiến.
Chủ tịch nước cũng mong
muốn đội ngũ những người làm báo tại thành phố Hồ Chí Minh là nhân tố tích cực,
là lực lượng xung kích của Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, quảng
bá hình ảnh con người và thành phố luôn năng động, sáng tạo, đổi mới và
phát triển mạnh mẽ; tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện hiệu
quả các nhiệm vụ chính trị, xã hội, góp phần xây dựng một thành phố văn minh,
hiện đại, nghĩa tình.
Trước đó, Chủ tịch nước
Nguyễn Xuân Phúc đã tới thăm, chúc mừng nhà báo Dương Trọng Dật, nguyên Tổng
Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hồ
Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.
Tự do, dân chủ,
nhân quyền ở Việt Nam dưới góc nhìn bình đẳng giới
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...
Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.
Để làm được điều này, các thế
lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành
tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta
về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam.
Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản
tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý
xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề
bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người
dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường
điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo
Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em,
chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…
Ngoài ra, các thế lực xấu thúc
đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối
là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội
dân oan”... Chiêu bài của các thế lực thù địch là lợi dụng vẻ bề ngoài các tổ
chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng
của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất là cổ súy đa nguyên
về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh
hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên
về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Lợi dụng
các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân
chủ, nhân quyền, bình đẳng giới… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức
chính trị đối lập tại Việt Nam.
Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện cho thành viên để
kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí
đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về
quyền dân sự… Khi các thông tin chống phá của chúng bị bóc trần sự thật, các
đối tượng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do, bất bình đẳng về giới,
phân biệt đối xử, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận
chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước.
Đồng thời vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các
đối tượng vi phạm pháp luật là phụ nữ bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý,
khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.
Có thể thấy rõ, những thủ đoạn
đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến
lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy
không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ
đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các
sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh
hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân
quyền và bình đẳng giới.
Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt
Nam
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền
con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu
trong bảo đảm quyền con người như:
Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã
được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các
nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của
Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội.
Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội
trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm
cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của
Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục
trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để
lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên
chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có
một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.
Quốc hội Việt Nam khóa XV được
bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm
30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30%
(lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội
ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc
hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong
Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có
18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ
khóa XII.
Vai trò của phụ nữ Việt Nam
trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng
1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước).
Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9
người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,
Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy
nhiều nhất từ trước đến nay.
Theo thống kê của Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt
21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc
Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.
Với những chủ trương, đường lối
đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực
bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói
riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam
đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng
Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội.
Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí
87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách
giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã
đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận
là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng
giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát
triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền
đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình
đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Với những thống kê trên, một lần
nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong
việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng
giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực
thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.
Thủ tướng Hun Sen: Dù chỉ có 1% hy vọng, tôi vẫn phải sang Việt Nam tìm đường cứu nước
Thủ tướng Hun Sen: Dù
chỉ có 1% hy vọng, tôi vẫn phải sang Việt Nam tìm đường cứu nước
Ngày 20/6, tại khu vực biên giới giữa huyện
Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước và huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, Campuchia đã diễn
ra các hoạt động trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 45 năm "Hành trình hướng tới
lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" của Thủ tướng Campuchia Samdech Techo
Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng
giới thiệu Lược ghi bài phát biểu của Thủ tướng Campuchia Hun Sen tại Lễ kỷ
niệm.
- Nhiệt liệt chúc mừng Vương quốc Campuchia!
- Nhiệt liệt chúc quan hệ Việt Nam -Campuchia mãi mãi xanh tươi,
đời đời bền vững!
- Kính thưa Ngài Phạm Minh Chính, Thủ tướng nước CHXHCN Việt
Nam!
- Kính thưa các Samdech, quý ông bà, các quý khách trong nước và
quốc tế!
- Các sỹ quan, hạ sỹ quan, binh sĩ lực lượng vũ trang và đại
biểu thanh niên đã tới tham dự buổi lễ hôm nay!
Hôm nay là "Lễ kỷ niệm 45 năm hành trình tiến tới lật đổ
chế độ diệt chủng Pol Pot" (20/6/1977 – 20/6/2022) và chúng ta tổ chức
khánh thành một số hạng mục trong khu tưởng niệm ở khu Koh Thmar X16 ở huyện
Memot, tỉnh Tbong Khmum.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ngài Phạm Minh Chính, Thủ tướng
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu đến dự buổi
lễ, gặp gỡ người dân Campuchia và khánh thành một số hạng mục trong khu tưởng
niệm này.
Cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cho tôi thắp hương và gặp gỡ
những người dân Việt Nam đã cứu mạng tôi 45 năm về trước.
Nhân đây, tôi xin đưa ra một số câu hỏi để các đại biểu trong và
ngoài nước cùng thảo luận và làm rõ.
Câu hỏi thứ nhất: Tôi có nên sang Việt Nam hay không? Nếu tôi
không thực hiện việc này (sang Việt Nam tìm đường cứu nước) thì rõ ràng tôi sẽ
chết và không rõ diễn biến sau này sẽ thế nào vì thời kỳ đó, không ai có thể
xin gì từ Pol Pot… Pol Pot có thể giết hết mọi người.
Câu hỏi thứ hai: Hành trình này dẫn đến đâu? Hành trình tiến tới
lật đổ chế độ Pol Pot đã mang lại hòa bình, tiến tới Hiệp định hòa bình Paris,
tiếp tục tiến tới thắng lợi cuối cùng là thực hiện chính sách "Thắng - Thắng"
hòa hợp và độc lập dân tộc, vượt qua mọi khó khăn để trở thành nước có thu nhập
trung bình, với tỷ lệ đói nghèo dưới 10%.
Năm nay là Lễ kỷ niệm 45 năm hành trình của tôi và cũng kỷ niệm
55 năm quan hệ ngoại giao hai nước. Tôi cần giải thích để mọi người hiểu là tôi
có 4 lựa chọn vào thời điểm đó:
- Sử dụng lực lượng khoảng 1 Trung đoàn của tôi khoảng 2.000
người, sau này bị chia nhỏ và một số bị giết. Tôi có thể chỉ huy 1.500 người
tấn công huyện Memot này. Tuy nhiên cách này rất liều lĩnh và lực lượng này có
thể bị tiêu diệt sau vài tuần.
- Sang Việt Nam để xây dựng lại lực lượng.
- Không làm gì cả để Pol Pot giết.
- Tự sát.
Cuối cùng tôi đã quyết định lựa chọn thứ hai là tìm đường sang
Việt Nam để xây dựng lại tổ chức kháng chiến. Để đưa ra lựa chọn này là rất khó
khăn bởi tôi phải rời xa tổ quốc, rời xa người vợ đang mang thai 5 tháng, không
phải chuyện đùa đối với một thanh niên mới chỉ 25 tuổi như tôi hồi đó. Tuy
nhiên, chỉ khoanh tay nhìn hay để Pol Pot giết hại hoặc tự sát đều không phải
lựa chọn tốt. Dù chỉ có 1% hy vọng, hoặc ít hơn tôi vẫn phải làm việc này.
Ngài Phạm Minh Chính vừa rồi đã tổng kết rất rõ ràng về quan hệ
giữa hai nước chúng ta trong giai đoạn lịch sử này. Những năm 1970 lực lượng
Campuchia rất nhỏ, quân đội Việt Nam là chủ lực, luôn đi trước tấn công, quân
đội Campuchia đi sau…
Trong 5 người chúng tôi sang Việt Nam thời đó, 2 người đã mất.
Tôi đã quyết định đúng khi không đưa cả Trung đoàn sang mà chỉ đưa một số
người, trong đó có 4 người sắp bị Pol Pot bắt. Nếu mang nhiều người sẽ bị hiểu
lầm là mang quân sang tấn công Việt Nam, bởi lúc đó Pol Pot đã tấn công một số
khu vực của Việt Nam.
Đó là thời điểm rất nguy nan. Khi sang đến Việt Nam, tôi nhìn về
phía Campuchia và nước mắt lưng tròng, tự nghĩ 13 tuổi đã phải rời xa gia đình
do không có trường học và 25 tuổi phải rời bỏ tổ quốc. Sáng nay lúc thắp hương
tại địa điểm dừng chân khi vào Việt Nam, tôi đã khóc… Tôi không cầm được nước
mắt vì những đau khổ của mình 45 năm trước. Tôi tưởng tôi sẽ bị bắt lúc vào
Việt Nam, nhưng ngược lại tôi lại được chào đón và được mời ăn bữa cơm do người
Việt Nam nấu… Chúng tôi hồi ấy không được ăn cơm đã hơn một năm rồi. Vào lúc 2
giờ chiều hôm trước, tôi đã cho mở kho lương và chia cho binh sỹ của cả Trung
đoàn, và tôi không nhận bất cứ hạt gạo nào.
Khi rời Campuchia sang Việt Nam, Tôi phải viết thư cho vợ, một
bức thư rất khó viết, vì tôi không dám viết trong thư sẽ đi đâu, và không rõ
khi viết xong bức thư này có chết hay không; hoặc khi sang bên kia biên giới bị
đánh úp bởi một lực lượng nào đó… Bức thư này đang được dựng thành phim. Giờ
đang có một bộ phim quay được 20 phần trăm; có khoảng 50 tập cho đến 54 tập, sẽ
ra mắt vào năm 2023.
Nếu không có ngày 20/6/1977 thì cũng không có ngày 12/5/1978, và
nếu không có ngày 12/5/1978 (ngày thành lập Lực lượng vũ trang cách mạng đoàn
kết cứu nước Campuchia, đơn vị tiền thân của cách mạng Campuchia do Samdech Hun
Sen làm chỉ huy trưởng) thì cũng không có ngày 02/12/1978 (ngày thành lập Ủy
ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia do Samdech Heng
Som-rin làm Chủ tịch, Samdech Hun Sen làm Ủy viên).
Tôi không phải là người chỉ huy quân đội mà là người thành lập
quân đội. Việt Nam đã đồng ý cho tôi xây dựng lực lượng sau khi tôi gặp ngài
Trần Văn Trà lúc đó là Tư lệnh Quân khu 7, và ngài Văn Tiến Dũng - Tổng tham
mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (ngày 27/9/77). Ngài Trần Văn Trà nói với
tôi Việt Nam chỉ hỗ trợ về hậu cần, huấn luyện, về chính trị thì Campuchia chịu
trách nhiệm. Tôi nói không ai hiểu rõ người Campuchia hơn người Campuchia và
người soạn giáo trình cho quân đội chính là tôi.
Việt Nam đã dành đất gìn giữ hài cốt quân nhân chúng ta ở Việt
Nam. Bây giờ để cho các quý Ngài (Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Sar Kheng và
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Tea Banh) xem xét có nên mang hết số hài
cốt về Campuchia hay không và chôn cất tại khu vực lịch sử này. Việt Nam đã và
đang hồi hương hài cốt quân nhân Việt Nam, chúng ta cũng nên hồi hương hài cốt
của các chiến sỹ Mặt trận đoàn kết cứu quốc Campuchia.
Tháng 5/1978, có nhóm nổi dậy của Samdech Heng Sam- rin và
Samdech Chia Xim và chúng tôi đã bắt tay cùng nhau để mở rộng lực lượng kháng
chiến; kết hợp với các lực lượng yêu nước khác thành lập Mặt trận đoàn kết cứu
quốc của Campuchia. Thông qua việc thành lập Mặt trận này vào ngày 02/12/1978
mà ta tiến tới giải phóng đất nước vào ngày 07/1/1979, một số bà con đã biết,
và lịch sử cũng khắc ghi về sự can thiệp của quân đội Việt Nam để cứu người dân
Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Và muốn biết việc Việt Nam can thiệp
vào Campuchia đúng hay sai thì hãy hỏi Tòa án hỗn hợp Liên Hợp Quốc và
Campuchia. Bản án của tòa án này đối với bè lũ Pol Pot là sự công nhận của Liên
Hợp Quốc rằng hành động của Việt Nam là đúng đắn, nếu hành động của Việt Nam
không đúng, cần gì phải xét xử bọn Khmer Đỏ.
Một số người nói rằng tôi là người dẫn quân đội Việt Nam vào
"giết hại" nhân dân Campuchia; vậy xin hỏi có bao nhiêu người dân
Campuchia bị Việt Nam giết hại? Hay là khởi đầu từ chỗ nhân dân Campuchia chỉ
có 5 triệu người, ngày nay đã lên đến 17 triệu; như vậy sau 45 năm kể từ khởi
đầu hành trình cứu nước của tôi thì dân số của Campuchia đã tăng thêm 12 triệu.
Một số người nói tôi có tội khi dẫn quân đội Việt Nam vào
Campuchia. Giờ hãy đi hỏi Tòa án hỗn hợp quốc tế-Campuchia. Tòa án này được lập
nên bởi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để xét xử Khmer đỏ về tội ác chống lại
loài người….
Nhờ Việt Nam giúp đỡ cứu tính mạng người dân Campuchia, dù chúng
ta phải chịu sự bất công trong một thời gian dài khi nhà nước Cộng hòa Nhân dân
Campuchia bị Liên Hợp Quốc áp đặt trừng phạt, Việt Nam cũng bị "trừng
phạt" với cáo buộc xâm lược Campuchia. Tuy nhiên, giờ đây Việt Nam đã được
nhận lại công lý cùng với Đảng Nhân dân Campuchia. Thành công của việc xét xử
Khmer Đỏ đã mang lại công bằng cho lực lượng kháng chiến của Campuchia với sự
hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam.
Tôi xin khẳng định không phải Việt Nam rút quân sau Hiệp định
Hòa bình Paris và cần làm rõ điểm này. Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi
Campuchia vào ngày 30/9/1989, nghĩa là trước Hiệp định Hòa bình Paris 2 năm. Đó
là thời điểm ta đang xây dựng lực lượng của mình, tuy nhiên chúng ta có kể kiểm
soát được tình hình. Và mặt quốc tế về vấn đề Campuchia cũng đã kết thúc, bởi
giải pháp về Campuchia có hai vấn đề là bối cảnh trong nước và quốc tế. Vì vậy,
khi quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia thì mặt quốc tế được giải quyết, chỉ
còn lại mặt nội bộ, mang lại cho Campuchia cơ hội cho nhiều bên liên quan cùng
tham gia giải quyết, kể cả các Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp
Quốc, để đạt được Hiệp định hòa bình Paris. Đây là điểm lịch sử mà ta cần nhắc
lại, bởi một số người cho rằng Việt Nam rút quân là do Hiệp định Hòa bình
Paris. Điều này không đúng với tình hình thực tế ở Campuchia….
Dịp kỷ niệm 45 năm hành trình cứu nước của tôi cũng trùng với
dịp kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Campuchia. Tôi
vừa ký thư gửi Ngài Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng. Đảng Nhân dân
Campuchia đã có quan hệ với Việt Nam trong 2/3 quãng thời gian này.
Nhiều năm qua Việt Nam và Campuchia luôn nỗ lực trong công tác
biên giới; nhờ đó chúng ta đã ký văn kiện công nhận thành quả 84% phân giới cắm
mốc. Chúng ta đang tiếp tục giải quyết 16% còn lại. Hai bên đang tiếp tục thảo
luận với nhau. Một số người nói rằng Hun Sen "chịu ơn" Việt Nam và
phải cắt đất cho Việt Nam. Nếu tôi cắt đất cho Việt Nam thì đã không cần phải
bỏ ra thời gian 41 năm để đàm phán với Việt Nam. Nếu Việt Nam muốn đất
Campuchia thì Việt Nam đã lấy từ khi còn có quân đội ở Campuchia. Vào thời điểm
đó, mặc dù Việt Nam đóng quân ở Campuchia, tôi với tư cách là Bộ trưởng Ngoại
giao đã ký kết Hiệp ước vùng nước lịch sử. Chúng ta cũng đã ký Hiệp định về quy
chế biên giới năm 1983 và Hiệp ước về hoạch định biên giới năm 1985. Năm 2005
tôi đã cùng với Ngài Phan Văn Khải ký Hiệp ước bổ sung 2005. Vào năm 2019, tôi
đã cùng Ngài Nguyễn Xuân Phúc ký Hiệp ước bổ sung 2019….
Tôi xin khẳng định với nhân dân Campuchia trong và ngoài nước,
thông qua báo chí truyền thông và trước mặt Ngài Thủ tướng Việt Nam tôi không
có quyền cho Việt Nam đất, dù chỉ 1 milimet, và tôi cũng không muốn đất Việt
Nam dù chỉ 1 milimet… Việt Nam không có nhu cầu lấy đất của ta, ta cũng không
có nhu cầu lấy đất Việt Nam.
Như Ngài Phạm Minh Chính nói, chỉ mới có 5 tháng đầu năm 2022,
kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Campuchia đã đạt trên 5 tỷ USD. Trước
khi có dịch COVID-19, chúng ta chỉ đề ra mục tiêu 5 tỷ USD cho cả năm; nhưng
chúng ta đã đạt được hơn 9 tỷ USD. Hy vọng rằng năm nay kim ngạch thương mại
song phương sẽ đạt trêm 10 tỷ USD bởi đường biên giới của chúng ta là đường
biên giới hòa bình, hợp tác để phát triển. Ở khu vực này (giữa tỉnh Tbong Khmum
và Bình Phước) sau này có thể mở cửa khẩu quốc tế. Hiện nay chưa thống nhất
được vì chúng ta còn có một số việc cần phải làm và cũng cần xây dựng cơ sở hạ
tầng. Theo đề nghị của ngài Sao Sokha (Phó Tổng Tư lệnh quân đội Hoàng gia
Campuchia) và ngài Chea Sophara (Bộ trưởng Bộ Quy hoạch đô thị, đất đai và xây
dựng), tôi đã quyết định giữ lại 1.176 hecta ở khu vực này để dự phòng mở khu
kinh tế đặc biệt, xây dựng nhà máy hoặc sau này có thể trở thành nơi trao đổi
hàng hóa bởi khu vực này gần với cảng biển của Việt Nam… Hoặc có thể trở thành
khu chế biến, bởi nông sản của Campuchia ở đây và khu vực Đông bắc rất nhiều.
Tôi đề nghị hai bên xem xét về một số cơ chế, và tôi muốn có một số quy định
đặc biệt đối với khu vực này… tạo điều kiện cho người dân hai bên qua lại.
Tôi rất vui mừng với Lễ kỷ niệm ngày hôm này và bài phát biểu
của Thủ tướng Phạm Minh Chính đại diện cho phía Việt Nam. Tôi rất hài lòng ôn
lại quá trình lịch sử đã gắn kết hai dân tộc chúng ta. Trước khi buổi lễ bắt
đầu, tôi đã sang phía Việt Nam, gặp gỡ những người đã cưu mang, giúp đỡ tôi vào
thời điểm đó. Đối với tôi, một bữa cơm thời đó có giá trị bằng hàng trăm, hàng
nghìn, hàng vạn, hàng triệu tấn gạo của ngày hôm nay. Chính vì vậy nên tôi mới
nói rằng: "Gian nan mới biết bạn hiền, hoạn nạn mới hiểu lòng nhau" …
Xin cảm ơn sự tham gia của các Samdech, các quý ông, quý bà…
Chúc mối quan hệ Campuchia – Việt Nam mãi mãi xanh tươi, đời đời
bền vững.
