Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

CỰU THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG PHÁP, VIÊN TƯỚNG BẠI TRẬN MUỐN RẮC TRO CỐT CỦA MÌNH XUỐNG LÒNG CHẢO ĐIỆN BIÊN

 Đại tướng Marcel Bigeard - Cựu thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp khi còn sống, trong quá khứ thời trai trẻ của cuộc đời mình, ông từng là viên chỉ huy bại trận trước những người lính Cụ Hồ tại chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khi đó ông là một viên đại tá của quân đội Pháp nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên, dù bại trận bị bắt làm tù binh, nhưng khi viết về những người lính Cụ Hồ trong chiến tranh vệ quốc của họ, ông dành cho những người lính bên kia chiến tuyến sự kính trọng, muôn phần nể phục:
“Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta”
Họ đã trở nên vĩ đại và bất diệt, bởi những người lính xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước sẽ không ai nghĩ rằng họ sẽ chiến đấu chỉ để sau này, mỗi tháng họ được nhận vài ba trăm nghìn tiền trợ cấp và vài cái giấy khen ố vàng, thậm chí, có những thương binh, liệt sĩ, đến nay cũng chẳng có trợ cấp và ghi công gì, nhưng trên hết họ chiến đấu vì đất nước, vì gia đình và vì dân tộc, chỉ vậy thôi.
Những con người đã viết lên lịch sử và giá trị của những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, mọi thế hệ hôm nay và mai sau phải biết ơn và trân trọng. "Đừng chết" vì thay đổi giá trị của nó!
DI NGUYỆN CUỐI CÙNG: MUỐN TRỞ LẠI NƠI ÔNG LÀ MỘT KẺ BẠI TRẬN VÀ Ở ĐÓ LẠI MÃI MÃI.
Ngày 18/6/2010, Đại tướng Pháp Marcel Bigeard đã qua đời tại nhà riêng. Gia đình ông quyết định tuân theo di chúc của người quá cố:
Rắc tro xác của ông xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Vì sao?
Sinh năm 1916 tại vùng Toul, Pháp, sang Việt Nam tham chiến giữa thập niên 40 của thế kỷ trước, Bigeard nguyên khởi đường binh nghiệp từ lính nhảy dù, vốn được coi là lực lượng thiện chiến nhất của quân đội viễn chinh Pháp.
Cuốn Lịch sử cách mạng Yên Bái, không cụ thể chi tiết, ghi nhận: Ngày 18/10/1952, quân Pháp nhảy dù xuống Tú Lệ nhằm ứng cứu cho Nghĩa Lộ bị thất thủ, đội du kích Cao Phạ đã phối hợp với bộ đội chủ lực của ta chốt chặn và chiến đấu quyết liệt với quân địch ở đèo Khau Phạ… Bigeard chính là viên sĩ quan đã thực hiện cuộc nhảy dù xuống vựa lúa nếp nổi tiếng, cánh đồng Tú Lệ, nhằm giải cứu cho lực lượng Pháp còn sót lại, sau thất bại thảm hại của Pháp tại Nghĩa Lộ, Văn Chấn.
Thực sự, số quân Pháp trong chiến dịch này, đã không bị bộ đội Việt Nam tiêu diệu hoàn toàn. Bigeard từ chỗ nhảy xuống Tú Lệ nhằm giải cứu, chuyển thành cầm cự rồi tháo lui cứu vãn lực lượng. Cuộc tháo chạy trong trùng điệp vòng vây của địa hình hiểm trở và lực lượng kháng chiến Việt Nam kéo dài hơn 100 cây số.
Bigeard vượt qua được phục kích của du kích và quân chủ lực Việt Nam, qua được đèo Cao Phạ đầy nguy hiểm. Với nhãn quan quân sự thuần tuý, đây là một sở đoản đáng khâm phục của Bigeard khi ở tư cách một sĩ quan chỉ huy phá vây. Điểm nhấn lịch sử cá nhân của ông và quân đội Pháp trong thất bại này, thực sự vừa là bi kịch của chiến tranh, vừa nói lên tính can trường của người lính Bigeard...
Tỏ ra là một sĩ quan giàu kinh nghiệm chiến đấu, Bigeard cùng cánh tàn quân làm cuộc hành quân dài hơn 120 cây số. 120 cây số là đơn vị chiều dài không giản đơn, khi ông dẫn một đoàn quân tháo chạy, vừa bị đánh tơi bời, phải lui binh giữa vùng núi non hiểm trở, luôn bị đối phương bao vây bằng sức mạnh tổng hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương là người dân địa phương Yên Bái, những người vốn rất quen thuộc địa hình. Điều đó thực quả không hề dễ dàng thoát hiểm. Song Bigeard đã tổ chức cuộc rút lui khá an toàn tính mạng về phía Tây - Tây Bắc…
Sau cuộc tháo chạy thảm bại này của tiểu đoàn lính dù Pháp do Bigeard cầm quân, về phía kháng chiến quân Việt Nam là sự giải phóng hoàn toàn vùng Yên Bái, lấy đó làm khu hậu cần khổng lồ, đường tiếp vận chủ yếu cho chiến dịch Điện Biên Phủ ngay sau đó 1 năm.
Trên thao trường như trong chiến trận.Song về phía Pháp, lại là cơ hội để giới chính trị sa-lon ở chính quốc và giới quân sự Đông Dương Pháp, lên dây cót cho tinh thần quân đội Pháp và lính đánh thuê Lê Dương đang hết sức lúng túng và bị động trước sự điều binh khiển tướng chiến lược của Việt Minh trên toàn chiến trường Đông Dương nói chung và trên mặt trận chính là miền Bắc Việt Nam. Bigeard lập tức được báo giới chính quốc bấy giờ thổi phồng, tuyên truyền, coi như việc tháo chạy khỏi Yên Bái như hành vi anh hùng của quân đội Pháp tại Đông Dương…
Nhưng quá khứ quan trọng nhất, có lẽ thực sự gây ám ảnh suốt đời Bigeard sau này, để ông về cuối đời đã 7 lần qua lại Việt Nam và xác lập nguyện vọng đốt xác, rắc nắm tro của ông xuống cánh đồng, lòng chảo Điện Biên Phủ, chính là nơi ông thực hiện cuộc nhảy dù cuối cùng trong chiến tranh tại Việt Nam, khi bộ đội Việt Nam đã khép chặt vòng vây và Điện Biên Phủ đang ở thời điểm giao tranh khốc liệt nhất trong chiến tranh Pháp - Việt và Bộ chỉ huy quân đội Pháp do Nava chỉ huy hết sức lúng túng, bị nhiều bất ngờ khi đối phó với các lực lượng quân sự chính quy của Việt Nam ở điểm trọng yếu này.
Phía Pháp phải ném vào lòng chảo đang ngun ngút khói lửa vị sĩ quan tài ba nhất của họ tại Đông Dương. Thiếu tá là cấp bậc của Bigeard trước khi ông nhảy dù xuống Điện Biên. Hồi kí của nhiều nhân chứng Pháp và Việt, kể cả người của chính quyền bù nhìn Bảo Đại, hồi kí của chính Bigeard đều mô phỏng hết sức chi tiết và không khác nhau lắm về giai đoạn này.
Đặc biệt ở lịch sử Yên Bái, tuy không ghi chi tiết về cá nhân sĩ quan Bigeard, song hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại ghi nhận rõ từng thời kì, nhiều điểm cuộc đời binh nghiệp Bigeard. Giai đoạn Bigeard chiến đấu tại Điện Biên, thực hiện cuộc nhảy dù với hai khẩu pháo 105 li và sau đó lập tức chiến đấu hết sức liều lĩnh, cùng lính dù Pháp và Thái do ông ta chỉ huy ngày 16-3-1954, để tăng cường và khích lệ lực lượng phòng thủ đã suy yếu, gần như tuyệt vọng.
Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận sự xuất hiện của Bigeard đã mang lại một chút phấn chấn cho quân đồn trú...Bigeard ngay sau khi nhảy dù được thăng cấp trung tá, lập tức chỉ huy lực lượng phản kích, gồm năm tiểu đoàn với sự yểm trợ của tối đa không quân và pháo binh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng ghi nhận ở hồi ký của ông về trận phản kích của Bigeard được quân viễn chinh coi là thắng lợi, một chiến thắng hầu như duy nhất tại Điện Biên Phủ trong suốt thời gian này.Các nhà chiến lược quân sự Pháp hẳn có nhiều dụng tâm khi ở giai đoạn gay cấn nhất trên trận Điện Biên Phủ, lại thả con xe điều xuống Điện Biên, lò lửa Đông Dương này.
Và đáng buồn thay, sự kiện trên - theo tài liệu của chính Lịch sử quân lực của chính quyền Sài Gòn ghi rằng: Đêm hôm 15 tháng 3 đã có một số binh sĩ Thái trốn khỏi cứ điểm, và vào ngày 17 tháng 3 đại bộ phận của Tiểu đoàn 3 Thái, một phần đào ngũ theo Việt Minh, một phần bỏ ngũ về với gia đình.
Mặc dù đã có Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 6 dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Marcel Bigeard, một sĩ quan thuộc loại cừ khôi vào bậc nhất của Pháp ở Đông Dương. Như vậy dù Bigeard có mặt, cũng không lên được dây cót cho một đội quân ở Điện Biên lâm vào cái thế không thể thay đổi, đã hoảng sợ trước sức mạnh như bão táp của các sư đoàn quân Việt Nam.Bigeard đã bị bắt làm tù binh và sau năm 1954, đã được chính phủ Việt Nam trao trả cho chính phủ Pháp.
Paris mặc dầu vậy vẫn đánh giá cao, thừa nhận, coi ông là sĩ quan có tài, nên lại tiếp tục ném Bigeard vào cuộc chiến mới tại Algeria, để ông tiếp tục bảo vệ quyền lợi của nhà nước thực dân Pháp. Nhưng chính ông, ở hồi ký của mình, đã nhận ra rằng, mọi cố gắng khi đó, của ông và quân đội đồn trú ở Điện Biên chả có tính anh hùng ca bất tử.
Sự hồi tưởng ám ảnh của Bigeard trên cánh đồng Mường Thanh năm đó, là sự thức tỉnh có tính giác ngộ, khi chính người anh hùng Bigeard đã coi chiến công này chỉ là: Ngọn lửa rơm (Bigeard, 1975, tr. 167). Chỉ ba từ Ngọn lửa rơm, Bigeard đã nhìn ra sự thật, cái tất yếu của chiến cuộc, mà phần thắng không gì cưỡng nổi thuộc về người Việt.
Chi tiết tự nhận ra bản chất thật ý nghĩa đời sống binh nghiệp này của Bigeard, phần nào lí giải cho ý nguyện của ông, khi năm 1988 quyết định ở di chúc: sau khi chết, tro bụi xác thân được rải xuống Điện Biên Phủ. Về nghĩa đen, tức là ông muốn xác ông quay lại nơi ông từng tham chiến. Nếu theo như truyền thống văn hoá Pháp và luật Pháp nước Pháp: là Đại tướng, Bigeard phải được danh dự tang lễ và chôn xác ở tổ quốc.
Việc mong ước mang chính tro xác mình ra đi, ở hẳn nơi xứ người, có nghĩa là ông không chỉ trở về với nơi đã rút lui, bỏ lại hơn 100 xác chết mà còn là việc ông từ chối sự vinh danh mà nước Pháp dành cho ông, tức là chối bỏ điều ông tin tưởng ngày xưa. Sự quay trở lại nơi ông đã từng đồng cam cộng khổ với đồng đội - theo cá nhân tôi, cũng là một người lính - còn là sự tự đánh giá hành vi cá nhân ở mỗi giai đoạn lịch sử mang tính ngộ (chữ theo ý nghĩa nhà Phật) thừa nhận một lần nữa, một cách khách quan nhất, tài năng địch thủ của ông, những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.Có câu “Con người sinh ra từ cát bụi lại trở về cát bụi”.
Nhưng sự kiện Đại tướng bốn sao Marcel Bigeard, từng là cựu Thứ trưởng Quốc phòng (1975), với sở nguyện cuối cùng của mình (mà chính phủ Pháp ở quá khứ không muốn như ông di chúc - Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing trước kia khi được báo giới hỏi ý kiến về di chúc "rải tro" đã trả lời là không đồng ý).
Và, hôm nay, sau khi viên Đại tướng Marcel Bigeard qua đời, chính phủ đương nhiệm Pháp lại yên lặng trước quyết định của gia đình ông. Như vậy, hẳn thời đại, lịch sử thế giới đã và đang sang trang rất mới, trong đó con người ta, tuy không thể làm lại lịch sử, song có thể hàn gắn nó, những vết thương cũ của lịch sử còn lại, để cho các dân tộc tiến bộ trên địa cầu này có thể hiểu nhau mà xích lại gần nhau hơn nữa.
Nó cũng là lời cảnh báo cho các lực lượng hiếu chiến rằng, ở một thời điểm nào đó, ai có thể lừa bịp được dân chúng, đẩy họ đi vào các cuộc chiến trên thế mạnh về vật chất, song sự thật của lịch sử, thì không thể nào lừa bịp được các dân tộc, khi những chứng nhân có danh dự, lương tri sẽ có một ngày cất tiếng…
Sở cầu của viên Đại tướng Pháp hẳn trùng với câu ngạn ngữ của người Việt: Tiếng chim hót trước khi chết là tiếng chim khôn


NHÂN QUYỀN KHÔNG ĐẾN TỪ NƯỚC MẮT..!

 

Đã từng có vị tổng thống khóc, đã có mấy anh, chị nghị sĩ khóc và người dân thì đã từng khóc rất nhiều. Nhưng thực sự căn cốt của vấn đề vẫn ko phải là ở nước mắt chảy nhiều hay ít. Nước mắt dễ lấy đi của con người ta xúc cảm, lòng thương và vì thế mà thực tại dẫu phũ phàng đến mấy đôi khi cũng khiến đám đông quên đi.

Xứ Hợp Chủng quốc đã từng có nhiều cuộc biểu tình diễn ra, thậm chí có cả đốt phá vì vấn nạn súng đạn. Người tìm hiểu về lịch sử hình thành của nước Mỹ hẳn nhiên họ cũng ko quá ngạc nhiên vì suốt quá trình đó là máu, là vàng và cả nước mắt. Quyền sở hữu tư nhân đặt ở vị trí  tối cao trong xã hội, cho nên nếu người dân tưởng như lợi ích của mình sẽ đc bảo đảm khi  có trong nhà  hẳn 1 khẩu súng trường tấn công, thêm vài khẩu Glock 17 thì thử hỏi lợi ích màu mỡ của những nhà tài phiệt lái súng hạng nặng liệu sẽ có bao giờ mất đi đc không..? 

Cái ông giám đốc hãng súng nhất nhì ở Mỹ đã từng phát biểu trước nạn xả súng, rằng " để chống lại một kẻ xấu có súng phải là một người tốt nhưng cũng phải có súng". 

Vậy ra trong bất luận trường hợp nào đi chăng nữa, hàng nóng của các ngài ấy sẽ đc bán cho cả hai bên, xấu và tốt. Chả trách bên đó người ta đang tính trang bị súng cho cả giáo viên và áo chống đạn cho học sinh. Và tương lai là những vũ khí hạng nặng gì nữa thì chưa thể đoán định. Nhưng nếu cứ như thế này thì biết đến bao giờ nhân quyền mới đc gọi tên thực sự hay đó chỉ la một thứ tự do theo kiểu chọn lọc của giới tự nhiên.

Có thể có vị Tổng thống đã khóc rất nhiều, có thể có anh nghị sĩ đã khóc nhiều hơn và người dân còn khóc to hơn nữa. Nhưng nhân quyền vẫn không bao giờ có thể đến từ nước mắt. Có chăng đó chỉ sự mủi lòng theo kiểu sự đã rồi mà thôi.

Phan xi păng

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN LỰC THUỘC VỀ NHÂN DÂN

 

Kiểm soát quyền lực là vấn đề được mọi thiết chế chính trị hết sức quan tâm. Thực tế cho thấy ở đâu có quyền lực thì ở đó cần phải có sự kiểm soát để bảo đảm việc thực thi quyền lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, không bị lạm dụng.

Kiểm soát quyền lực có thể hiểu ngắn gọn là hệ thống những cơ chế, hoạt động kiểm tra, đánh giá, phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những hành vi vượt quá giới hạn được ủy quyền của các chủ thể nắm quyền lực nhằm bảo đảm cho việc thực thi quyền lực đúng quy định, đúng mục đích, đúng quyền hạn và có hiệu quả. Ở Việt Nam, ngay từ khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã sớm đề cập đến vấn đề kiểm tra, kiểm soát, giám sát, nâng cao trách nhiệm của Chính phủ, chính quyền đối với dân nhằm xây dựng một nhà nước dân chủ, ngăn chặn tình trạng cán bộ lạm quyền, lộng quyền gây hại cho dân.

Kể từ thời điểm đất nước tiến hành đổi mới, nhất là khi chúng ta chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Ðảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực, và đưa ra những quan điểm chỉ đạo ngày càng cụ thể, rõ ràng, quyết liệt hơn về vấn đề này.

Tại Ðại hội XI, lần đầu tiên khái niệm kiểm soát quyền lực chính thức được ghi nhận trong quan điểm chỉ đạo quá trình đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Ðặc biệt, đến Ðại hội XIII, vấn đề kiểm soát quyền lực đã trở thành một nội dung quan trọng được nhấn mạnh. Văn kiện Ðại hội chỉ rõ, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là phải “Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”, đồng thời coi việc “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền” là một trong các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh, “tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước” là nội dung cần chú trọng để hoàn thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mục đích của việc tăng cường kiểm soát quyền lực là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, bảo đảm dân chủ và thúc đẩy tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhanh chóng đi đến thắng lợi, gặt hái được những thành tựu quan trọng để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, mang lại cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, cực đoan đã phớt lờ mục tiêu tốt đẹp đó, ngang nhiên bịa đặt, vu khống, tuyên truyền rằng “Việt Nam lâu nay luôn duy trì chế độ Ðảng trị độc tài phi dân chủ, không có lực lượng đối trọng, không có sự kiểm soát quyền lực cho nên mới tạo điều kiện cho cán bộ, quan chức tham nhũng, trục lợi, vi phạm quyền dân chủ và lợi ích của nhân dân, khiến cho đất nước không thể phát triển như tiềm năng, lợi thế vốn có, đời sống nhân dân khốn khổ, lòng dân bức xúc…”.

Khi Ðảng chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực nhằm làm trong sạch hệ thống chính trị, thực thi dân chủ, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi, tham nhũng,… thì chúng lập tức xuyên tạc rằng “Ðảng đang củng cố quyền lực độc tài, thực hiện đấu đá nội bộ, thanh trừng phe phái, triệt tiêu những lực lượng đối trọng tiến bộ có khả năng cạnh tranh quyền lực với Ðảng…”.

Ði đôi với những luận điệu xuyên tạc đó, các thế lực thù địch, phản động còn dùng nhiều thủ đoạn để bôi xấu, công kích Ðảng, đổ lỗi cho Ðảng “gây ra tình trạng tham nhũng, tha hóa đạo đức của đội ngũ cán bộ quan chức, kéo lùi tiến trình phát triển của Việt Nam”, từ đó đòi phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng. Không khó để nhận ra mưu đồ chính trị ẩn sau những luận điệu xuyên tạc chế độ, kêu gọi tự do, dân chủ đó là nhằm tấn công, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó chúng ta phải hết sức cảnh giác, đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ tính đúng đắn trong những quan điểm chỉ đạo của Ðảng, bảo vệ những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những giá trị ưu việt mà nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bao năm qua dưới sự lãnh đạo, đồng hành của Ðảng.

Kiểm soát quyền lực là vấn đề mà mọi thiết chế chính trị đều quan tâm cho dù là trong lịch sử hay hiện tại. Ðiểm khác nhau là mục đích của việc kiểm soát quyền lực ở mỗi thiết chế chính trị. Việt Nam lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, về bản chất là chế độ dân chủ thật sự, dân chủ triệt để cho số đông nhân dân lao động, do đó, bảo đảm dân chủ luôn là mục tiêu mà Việt Nam theo đuổi và nỗ lực phấn đấu thực hiện.

Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cũng nhằm để thực hiện và bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân bởi lẽ nhà nước pháp quyền mà Việt Nam xây dựng là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều vì “lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Ðể hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất dân chủ tốt đẹp đó càng cần thiết phải coi trọng tăng cường kiểm soát quyền lực. Thực tế cho thấy, khi quyền lực bị buông lỏng, không được kiểm soát chặt chẽ rất dễ dẫn tới tha hóa quyền lực, khiến cho quyền lực đó không còn thuộc về nhân dân, không vì lợi ích của nhân dân mà thuộc về những người được trao quyền lực, nắm quyền lực.

Thời gian qua, đã có không ít cán bộ lợi dụng những hạn chế trong công tác kiểm soát quyền lực đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để xâm hại, chà đạp quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, trục lợi, thâu tóm lợi ích riêng, tham nhũng, tiêu cực… gây tổn hại to lớn không chỉ đến lợi ích của tổ chức, cá nhân mà của cả quốc gia, dân tộc.

Hậu quả của việc làm này là đã phá hoại những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhiều thế hệ đã dày công gây dựng; đi ngược lại mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp mà chúng ta đang hướng tới; làm tha hóa bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng; làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước.

Chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực của Ðảng chính là nhằm khắc phục những hiện tượng tiêu cực đó, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, trục lợi, loại trừ những phần tử cơ hội, những cán bộ tha hóa biến chất đạo đức; làm trong sạch đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội mang lại những thành tựu tốt đẹp hơn.

Hơn thế, Ðảng ta còn quyết liệt chỉ đạo việc kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thường xuyên liên tục ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, đơn vị, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, khắc phục triệt để tình trạng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền và lợi ích của nhân dân.

Ðảng ta cũng chỉ rõ, kiểm soát quyền lực là trách nhiệm không chỉ của Ðảng, mà của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Nhân dân là lực lượng quan trọng thực hiện kiểm soát quyền lực, thực hiện kiểm tra, giám sát để quyền lực ấy thật sự thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Kiểm soát quyền lực tốt sẽ góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ ưu việt mà chúng ta đang xây dựng.

Ðảng ta ra đời từ nhân dân và luôn gắn bó với lợi ích của nhân dân, hoạt động vì lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền lực của nhân dân cũng là bảo vệ quyền lực của Ðảng, bảo vệ lợi ích của nhân dân cũng là bảo vệ lợi ích của Ðảng.

Tuy nhiên, Ðảng ta cũng nhận thấy, kiểm soát quyền lực không phải là công việc dễ dàng vì nó liên quan trực tiếp đến những người nắm quyền lực, những người “có chức có quyền” trong xã hội, do đó, kiểm soát quyền lực cần được xem là công việc hệ trọng, cấp bách, đòi hỏi mọi cấp bộ, ngành, địa phương, đơn vị, cá nhân phải có quyết tâm chính trị cao và nỗ lực thực hiện bằng được. Ðó cũng là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước ngày càng phát triển.

 

Phát huy vai trò báo chí cách mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

Trong suốt chặng đường 92 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định, nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; xác định đây là cuộc đấu tranh liên tục, bền bỉ, lâu dài, là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng như thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết đã khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng nêu rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và thể chế hóa chủ trương, định hướng, xác định hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, nhấn mạnh và chỉ rõ trách nhiệm của báo chí cách mạng Việt Nam, với chức năng là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, luôn đồng hành, gắn bó với sự nghiệp của Đảng, đất nước và dân tộc; chính là phương tiện quan trọng tuyên truyền xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong những năm qua, các cơ quan báo chí đã quán triệt, thực hiện nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước, bám sát mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận của xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; thông tin kịp thời, trung thực, toàn diện đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; trong đó, thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được quan tâm, đầu tư bài bản với các chuyên trang, chuyên mục, chương trình, tuyến bài sâu sắc, phong phú, chất lượng.

Cùng với đó, các cơ quan báo chí đã tích cực thông tin, tuyên truyền về lý luận chính trị; khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đạt được những thành tựu như hiện nay. Các cơ quan báo chí, như: Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, điện tử Chính phủ, điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội, Truyền hình Công an nhân dân và một số tạp chí, như: Cộng sản, Tuyên giáo, Xây dựng Đảng, Quốc phòng toàn dân, Lý luận Chính trị, các báo đảng địa phương,… đã có nhiều bài viết đề cập sâu sắc, diễn giải thấu đáo, giúp tăng cường, củng cố niềm tin khoa học, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, lý tưởng xã hội chủ nghĩa giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, tạo hiệu ứng lan tỏa trong nhân dân. Điểm nhấn nổi bật trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận thời gian qua chính là việc công bố bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan báo chí đã đăng tải hàng nghìn chương trình, bài viết, bài bình luận thể hiện sự đánh giá cao, hưởng ứng tích cực của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân trong nước cũng như bạn bè, các chính đảng, chính khách và dư luận quốc tế. Bài viết của Tổng Bí thư đã trở thành tài liệu hết sức giá trị, phục vụ việc học tập, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Và chính các cơ quan báo chí đã trở thành phương tiện hữu hiệu giúp lan tỏa công trình khoa học có tầm lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc này đến với đông đảo bạn đọc.

Báo chí không chỉ tích cực thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, kế hoạch phát triển đất nước của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương; mà còn phát huy vai trò giám sát, phản biện khi đăng, phát ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cả nhân dân, làm rõ những vấn đề đang còn băn khoăn liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; kịp thời biểu dương, cổ vũ những mô hình, điển hình, kinh nghiệm, cách làm tốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, tạo sức lan tỏa, cổ vũ các phong trào Thi đua yêu nước. Báo chí đồng thời có nhiều chương trình, bài viết về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng; gắn tuyên truyền phòng, chống tham nhũng với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, v.v. Các chương trình, chuyên mục nổi bật, như: Đối diện (Đài Truyền hình Việt Nam), Việc cần làm ngay, Bình luận phê phán (Báo Nhân Dân), Nhìn thẳng nói đúng (Đài Tiếng nói Việt Nam), Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (Báo Quân đội nhân dân); nhiều tuyến tin bài của Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xây dựng Đảng,… được quan tâm đầu tư với nhiều đổi mới, nội dung thuyết phục, hấp dẫn, sinh động, được dư luận đánh giá cao, tạo được hiệu ứng tốt trong xã hội. Bên cạnh các chương trình, tin tức thực hiện bằng tiếng Việt, một số cơ quan báo, đài còn thực hiện các chương trình, ấn phẩm bằng các tiếng dân tộc thiểu số, bằng các ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật) để giúp thông tin lan tỏa vùng đồng bào dân tộc, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như cộng đồng quốc tế.

Báo chí đã chủ động phê phán, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình đất nước cũng như các chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển đất nước; vạch trần, chỉ rõ âm mưu của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo, kích động người dân tụ tập, khiếu kiện đông người (đặc biệt tập trung vào các thời điểm quan trọng, như: chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội; khi Đảng, Nhà nước ta phải quyết định những vấn đề quan trọng, v.v.). Một số tạp chí như: Cộng sản; Lý luận Chính trị, Tuyên giáo, Triết học, Dân tộc học, Công tác tôn giáo, Nghiên cứu dân tộc,… cùng các cơ quan báo chí chính trị chủ lực và một số báo thuộc bộ, ngành, tổ chức xã hội,… đã tập trung luận giải và làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; khẳng định những chính sách nhân văn, có lý, có tình, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm quyền con người của Việt Nam; vạch rõ chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội, báo chí nước ngoài để gây nhiễu loạn thông tin, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam; phân tích, khẳng định, chứng minh cơ sở pháp luật đúng đắn của Việt Nam - quốc gia có chủ quyền trong việc khởi tố, bắt tạm giam, xét xử một số cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, như: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang, v.v.

Có thể nói, với nội dung phong phú, lập luận sắc bén, dẫn chứng, số liệu cụ thể, thuyết phục, các chương trình, bài viết trên báo chí về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch đã tạo hiệu ứng tốt trong thông tin, tuyên truyền, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận, lan tỏa.

Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thử thách. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tiếp tục gia tăng chống phá; lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội để có những hoạt động tinh vi, xảo quyệt hơn. Điều này đặt ra những yêu cầu mới về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có nhiệm vụ, giải pháp về công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí. Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, công tác thông tin, tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn nhiều thách thức, tồn tại, trong một số thời điểm, một số vụ việc chưa được như mong muốn; tính dự báo, phân tích, xử lý thông tin đôi khi chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; một số cơ quan báo chí còn chưa quan tâm đúng mức, xao nhãng trong thông tin, tuyên truyền, nội dung đấu tranh nghèo nàn hoặc không có; cá biệt có cơ quan báo chí còn thiếu nhạy cảm chính trị, đăng thông tin không phù hợp để bị lợi dụng, kích động, chống phá, v.v. Để phát huy hơn nữa vai trò các cơ quan báo chí, nâng cao hiệu quả trong thông tin, tuyên truyền về mảng đề tài quan trọng này, cần nhận thức sâu sắc, thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cho đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí cần xác định công tác thông tin, tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác thông tin, tuyên truyền. Trong đó, cần tập trung phản ánh việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam hiện nay, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và kiên định, vững vàng với những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc; tích cực tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thành tựu của đất nước trong hơn 35 năm đổi mới; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; tuyên truyền, lan tỏa những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với báo chí; tăng cường chỉ đạo, quán triệt sâu sắc cho các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; tăng cường phối hợp giữa cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan liên quan, tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí; giữ vững vai trò chỉ đạo, định hướng để báo chí thực hiện tốt sứ mạng của báo chí cách mạng. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý báo chí cần kịp thời, nhạy bén; đồng thời, phải đảm bảo tính khoa học, thuyết phục, có lý, có tình, theo kịp sự vận động phát triển của thực tiễn; chủ động, sắc bén, kịp thời trong việc dự báo, định hướng chính trị tư tưởng, nhất là trước những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm trong đời sống xã hội; phối hợp chặt chẽ thông tin đối nội và đối ngoại, v.v.

Cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần xây dựng, đẩy mạnh rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, văn bản quy phạm pháp luật về báo chí chặt chẽ, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội nhập quốc tế và sự phát triển của truyền thông số; ứng dụng khoa học, công nghệ mới trong hoạt động quản lý báo chí theo hướng hiện đại hóa. Xây dựng cơ chế chủ động cung cấp thông tin cho báo chí để thông tin trên báo chí giữ vai trò định hướng, giúp các tổ chức, cá nhân, nhất là tổ chức, cá nhân nước ngoài hiểu đầy đủ, toàn diện và có thái độ khách quan trong nhìn nhận, đánh giá về tình hình Việt Nam. Định hướng, quản lý các cơ quan báo chí, những người làm báo thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác báo chí, 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam, để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ được tuyên truyền sâu rộng trên báo chí mà còn được triển khai, thực hiện nghiêm, hiệu quả trong chính các cơ quan báo chí.

Thứ ba, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí, nhất là trách nhiệm trong việc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị quan trọng; nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên cả về chính trị, tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp. Quan tâm, coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng, đoàn thể trong các cơ quan báo chí; công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về tư tưởng, văn hóa, các định hướng của Đảng về công tác báo chí trong tình hình mới, làm cơ sở để báo chí phát triển đúng định hướng, giữ vững bản chất báo chí cách mạng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng trong các cơ quan báo chí; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính những người làm báo.

Thứ tư, đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền; tăng cường số lượng, chất lượng các tuyến chương trình, bài viết tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trong đó, mỗi chương trình, bài viết phải có cơ sở lý luận chắc chắn, quan điểm, luận cứ sâu sắc, mang tính thời sự và có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với bạn đọc, để mỗi tác phẩm báo chí thực sự là một công cụ tăng cường nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đất nước. Trong tuyên truyền, đấu tranh, cần có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp tốt giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là cấp bách, thường xuyên, quyết liệt; chủ động lan tỏa thông tin tích cực trên báo chí và internet; nghiêm túc, quyết liệt đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, để báo chí cách mạng thực sự là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp “phò chính trừ tà”, bảo vệ chính nghĩa, đồng hành với lẽ phải, lên án cái xấu, cái ác, chống lại những nhận thức, hành động sai trái, phi nghĩa; một lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Phát huy lợi thế của báo chí điện tử, trang tin điện tử, các phương tiện truyền thông mới, các loại hình, diễn đàn mạng xã hội để phục vụ nhiệm vụ thông tin tuyên truyền. Các cơ quan báo chí cần tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại trong quy trình sản xuất, biên tập, duyệt tin bài; tận dụng thế mạnh của internet, truyền thông xã hội để báo chí thực sự gần gũi, dễ tiếp cận với độc giả. Tranh thủ các kênh để đưa báo chí phục vụ kiều bào ta ở nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam, giúp họ hiểu rõ hơn, đúng hơn về tình hình tại Việt Nam.

Thứ năm, có sự đầu tư trọng điểm về cơ sở vật chất, con người. Bên cạnh việc quan tâm phát triển nguồn cộng tác viên dồi dào, chất lượng; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận,… mỗi cơ quan báo chí cần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong chính cơ quan của mình, hình thành một bộ phận (hoặc tổ, ban) phóng viên chuyên trách, có năng lực tác nghiệp nhạy bén, để kịp thời, thường xuyên có thông tin, bài viết sâu sắc và thuyết phục trong tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng cơ chế để kịp thời khen thưởng cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên có nhiều thành tích trong công tác thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch; tiếp tục tổ chức các Giải thưởng Báo chí định kỳ về đề tài này, qua đó động viên, cổ vũ, tôn vinh các nhà báo, đồng thời tạo động lực thôi thúc những người làm báo đi sâu tìm tòi, nghiên cứu, có những bài viết sâu sắc, chất lượng, đạt hiệu quả tuyên truyền.

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, đầu tư, hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện để báo chí phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”2. Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông số đang mở ra nhiều không gian phát triển mới cho báo chí. Hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí, người làm báo cả nước cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm báo chí là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang với gần 100 năm xây dựng và phát triển, tiếp tục đổi mới, sáng tạo, có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguồn: QPTD

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 183.

2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 146.

 

 

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16

 

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16

Nhận lời mời của Đại tướng Tea Banh, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Campuchia, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) lần thứ 16, các cuộc gặp không chính thức Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN-Trung Quốc và ASEAN-Nhật Bản tại thủ đô Phnom Penh từ ngày 21 đến 23-6.

Việc đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị ADMM-16 và các cuộc gặp không chính thức nhằm tiếp tục khẳng định vai trò của Việt Nam là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong thúc đẩy hợp tác quốc phòng ASEAN cũng như hợp tác quốc phòng giữa ASEAN với các đối tác, đồng thời thể hiện sự ủng hộ của Việt Nam đối với Campuchia trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2022.

 

Chủ tịch nước dự gặp mặt các cơ quan báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh

 

Chủ tịch nước dự gặp mặt các cơ quan báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tối 20-6, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc gặp mặt các cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu. Cùng dự có lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước, UBND thành phố Hồ Chí Minh.

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có 161 cơ quan báo chí trung ương với đủ các loại hình báo chí đặt văn phòng đại diện và cử phóng viên thường trú, 19 cơ quan báo chí của thành phố.

Chủ tịch nước nêu rõ, cùng với hệ thống báo chí cách mạng cả nước, các cơ quan báo chí thành phố Hồ Chí Minh luôn phản ánh đậm nét, trung thực, kịp thời những diễn biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đất nước và thành phố Hồ Chí Minh; tích cực tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Nội dung thông tin phong phú, toàn diện, có tính phản biện xã hội cao, đúng định hướng, tập trung vào các vấn đề lớn, quan trọng của đất nước.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng gửi tới toàn thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên, các cơ quan báo chí trên địa bàn thành phố và tất cả người làm báo cả nước tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Nhắc lại giai đoạn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam gánh chịu nhiều thiệt hại do dịch Covid-19 gần một năm trước, Chủ tịch nước biểu dương đội ngũ các phóng viên, nhà báo đã không quản khó khăn, nguy hiểm, lăn lộn ngày, đêm trên tuyến đầu chống dịch; có mặt ghi hình, đưa tin tại các điểm nóng, kịp thời phản ánh tình hình dịch bệnh; tôn vinh gương người tốt việc tốt, các nhà hảo tâm trong chung tay phòng, chống dịch bệnh. Nhiều phóng viên, nhà báo của thành phố là những tấm gương điển hình trong phòng, chống dịch, góp phần nhân lên những nét đẹp trong cuộc sống, khẳng định truyền thống, đạo lý nhân ái của dân tộc.

Cùng với đó, các cơ quan báo chí cũng kịp thời phản ánh nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong quyết tâm khôi phục các hoạt động kinh tế, xã hội sau đại dịch, lấy lại vị thế, tầm vóc đà tăng trưởng của thành phố.

Nêu những lời căn dặn đội ngũ người làm báo cách mạng Việt Nam của Bác Hồ đến nay vẫn còn nguyên giá trị, Chủ tịch nước khẳng định, bên cạnh những thành tựu to lớn của đất nước, vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng, những bức xúc của người dân chưa được báo chí phản ánh đầy đủ, kịp thời.

Do đó, Chủ tịch nước đề nghị lực lượng báo chí cả nước, trong đó có báo chí tại thành phố Hồ Chí Minh phản ánh đậm nét, trung thực, kịp thời những diễn biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội; cũng như dư luận xã hội, tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân mong muốn gửi tới Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp, từ đó các cơ quan nhà nước có phản ứng chính sách kịp thời. Đó cũng là hành động cụ thể góp phần xây dựng "Nhà nước của dân, do dân và vì dân" và thực hiện chủ trương "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Cùng với đó, tiếp tục đóng góp đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với tăng cường rèn luyện đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước. Qua các bài báo phản ánh, những phóng sự điều tra, báo chí có thể "cảnh báo sớm" để các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân không thể và không dám tham nhũng, tiêu cực; giúp ngăn chặn từ sớm, từ xa, không để các sai phạm nhỏ trở thành sai phạm lớn, vụ án lớn gây thiệt hại rất lớn tài sản của Nhà nước và nhân dân.

Trên cương vị Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng Đề án "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045", Chủ tịch nước đề nghị các cơ quan báo chí cùng đội ngũ những người làm báo cả nước cần xác định tuyên truyền về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục để các nhà báo, cộng tác viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia, đóng góp ý kiến.

Chủ tịch nước cũng mong muốn đội ngũ những người làm báo tại thành phố Hồ Chí Minh là nhân tố tích cực, là lực lượng xung kích của Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, quảng bá hình ảnh con người và thành phố luôn năng động, sáng tạo, đổi mới và phát triển mạnh mẽ; tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, xã hội, góp phần xây dựng một thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

Trước đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tới thăm, chúc mừng nhà báo Dương Trọng Dật, nguyên Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng, nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.

 

 

Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam dưới góc nhìn bình đẳng giới

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...

Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.

Để làm được điều này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Ngoài ra, các thế lực xấu thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội dân oan”... Chiêu bài của các thế lực thù địch là lợi dụng vẻ bề ngoài các tổ chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất là cổ súy đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam.

Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện cho thành viên để kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự… Khi các thông tin chống phá của chúng bị bóc trần sự thật, các đối tượng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do, bất bình đẳng về giới, phân biệt đối xử, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước. Đồng thời vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật là phụ nữ bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

Nguồn:CAND

Thủ tướng Hun Sen: Dù chỉ có 1% hy vọng, tôi vẫn phải sang Việt Nam tìm đường cứu nước

 

Thủ tướng Hun Sen: Dù chỉ có 1% hy vọng, tôi vẫn phải sang Việt Nam tìm đường cứu nước

Ngày 20/6, tại khu vực biên giới giữa huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước và huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, Campuchia đã diễn ra các hoạt động trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 45 năm "Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" của Thủ tướng Campuchia Samdech Techo Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu Lược ghi bài phát biểu của Thủ tướng Campuchia Hun Sen tại Lễ kỷ niệm.

- Nhiệt liệt chúc mừng Vương quốc Campuchia!

- Nhiệt liệt chúc quan hệ Việt Nam -Campuchia mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững!

- Kính thưa Ngài Phạm Minh Chính, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam!

- Kính thưa các Samdech, quý ông bà, các quý khách trong nước và quốc tế!

- Các sỹ quan, hạ sỹ quan, binh sĩ lực lượng vũ trang và đại biểu thanh niên đã tới tham dự buổi lễ hôm nay!

Hôm nay là "Lễ kỷ niệm 45 năm hành trình tiến tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" (20/6/1977 – 20/6/2022) và chúng ta tổ chức khánh thành một số hạng mục trong khu tưởng niệm ở khu Koh Thmar X16 ở huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ngài Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu đến dự buổi lễ, gặp gỡ người dân Campuchia và khánh thành một số hạng mục trong khu tưởng niệm này.

Cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cho tôi thắp hương và gặp gỡ những người dân Việt Nam đã cứu mạng tôi 45 năm về trước.

Nhân đây, tôi xin đưa ra một số câu hỏi để các đại biểu trong và ngoài nước cùng thảo luận và làm rõ.

Câu hỏi thứ nhất: Tôi có nên sang Việt Nam hay không? Nếu tôi không thực hiện việc này (sang Việt Nam tìm đường cứu nước) thì rõ ràng tôi sẽ chết và không rõ diễn biến sau này sẽ thế nào vì thời kỳ đó, không ai có thể xin gì từ Pol Pot… Pol Pot có thể giết hết mọi người.

Câu hỏi thứ hai: Hành trình này dẫn đến đâu? Hành trình tiến tới lật đổ chế độ Pol Pot đã mang lại hòa bình, tiến tới Hiệp định hòa bình Paris, tiếp tục tiến tới thắng lợi cuối cùng là thực hiện chính sách "Thắng - Thắng" hòa hợp và độc lập dân tộc, vượt qua mọi khó khăn để trở thành nước có thu nhập trung bình, với tỷ lệ đói nghèo dưới 10%.

Năm nay là Lễ kỷ niệm 45 năm hành trình của tôi và cũng kỷ niệm 55 năm quan hệ ngoại giao hai nước. Tôi cần giải thích để mọi người hiểu là tôi có 4 lựa chọn vào thời điểm đó:

- Sử dụng lực lượng khoảng 1 Trung đoàn của tôi khoảng 2.000 người, sau này bị chia nhỏ và một số bị giết. Tôi có thể chỉ huy 1.500 người tấn công huyện Memot này. Tuy nhiên cách này rất liều lĩnh và lực lượng này có thể bị tiêu diệt sau vài tuần.

- Sang Việt Nam để xây dựng lại lực lượng.

- Không làm gì cả để Pol Pot giết.

- Tự sát.

Cuối cùng tôi đã quyết định lựa chọn thứ hai là tìm đường sang Việt Nam để xây dựng lại tổ chức kháng chiến. Để đưa ra lựa chọn này là rất khó khăn bởi tôi phải rời xa tổ quốc, rời xa người vợ đang mang thai 5 tháng, không phải chuyện đùa đối với một thanh niên mới chỉ 25 tuổi như tôi hồi đó. Tuy nhiên, chỉ khoanh tay nhìn hay để Pol Pot giết hại hoặc tự sát đều không phải lựa chọn tốt. Dù chỉ có 1% hy vọng, hoặc ít hơn tôi vẫn phải làm việc này.

Ngài Phạm Minh Chính vừa rồi đã tổng kết rất rõ ràng về quan hệ giữa hai nước chúng ta trong giai đoạn lịch sử này. Những năm 1970 lực lượng Campuchia rất nhỏ, quân đội Việt Nam là chủ lực, luôn đi trước tấn công, quân đội Campuchia đi sau…

Trong 5 người chúng tôi sang Việt Nam thời đó, 2 người đã mất. Tôi đã quyết định đúng khi không đưa cả Trung đoàn sang mà chỉ đưa một số người, trong đó có 4 người sắp bị Pol Pot bắt. Nếu mang nhiều người sẽ bị hiểu lầm là mang quân sang tấn công Việt Nam, bởi lúc đó Pol Pot đã tấn công một số khu vực của Việt Nam.

Đó là thời điểm rất nguy nan. Khi sang đến Việt Nam, tôi nhìn về phía Campuchia và nước mắt lưng tròng, tự nghĩ 13 tuổi đã phải rời xa gia đình do không có trường học và 25 tuổi phải rời bỏ tổ quốc. Sáng nay lúc thắp hương tại địa điểm dừng chân khi vào Việt Nam, tôi đã khóc… Tôi không cầm được nước mắt vì những đau khổ của mình 45 năm trước. Tôi tưởng tôi sẽ bị bắt lúc vào Việt Nam, nhưng ngược lại tôi lại được chào đón và được mời ăn bữa cơm do người Việt Nam nấu… Chúng tôi hồi ấy không được ăn cơm đã hơn một năm rồi. Vào lúc 2 giờ chiều hôm trước, tôi đã cho mở kho lương và chia cho binh sỹ của cả Trung đoàn, và tôi không nhận bất cứ hạt gạo nào.

Khi rời Campuchia sang Việt Nam, Tôi phải viết thư cho vợ, một bức thư rất khó viết, vì tôi không dám viết trong thư sẽ đi đâu, và không rõ khi viết xong bức thư này có chết hay không; hoặc khi sang bên kia biên giới bị đánh úp bởi một lực lượng nào đó… Bức thư này đang được dựng thành phim. Giờ đang có một bộ phim quay được 20 phần trăm; có khoảng 50 tập cho đến 54 tập, sẽ ra mắt vào năm 2023.

Nếu không có ngày 20/6/1977 thì cũng không có ngày 12/5/1978, và nếu không có ngày 12/5/1978 (ngày thành lập Lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia, đơn vị tiền thân của cách mạng Campuchia do Samdech Hun Sen làm chỉ huy trưởng) thì cũng không có ngày 02/12/1978 (ngày thành lập Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia do Samdech Heng Som-rin làm Chủ tịch, Samdech Hun Sen làm Ủy viên).

Tôi không phải là người chỉ huy quân đội mà là người thành lập quân đội. Việt Nam đã đồng ý cho tôi xây dựng lực lượng sau khi tôi gặp ngài Trần Văn Trà lúc đó là Tư lệnh Quân khu 7, và ngài Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (ngày 27/9/77). Ngài Trần Văn Trà nói với tôi Việt Nam chỉ hỗ trợ về hậu cần, huấn luyện, về chính trị thì Campuchia chịu trách nhiệm. Tôi nói không ai hiểu rõ người Campuchia hơn người Campuchia và người soạn giáo trình cho quân đội chính là tôi.

Việt Nam đã dành đất gìn giữ hài cốt quân nhân chúng ta ở Việt Nam. Bây giờ để cho các quý Ngài (Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Sar Kheng và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Tea Banh) xem xét có nên mang hết số hài cốt về Campuchia hay không và chôn cất tại khu vực lịch sử này. Việt Nam đã và đang hồi hương hài cốt quân nhân Việt Nam, chúng ta cũng nên hồi hương hài cốt của các chiến sỹ Mặt trận đoàn kết cứu quốc Campuchia.

Tháng 5/1978, có nhóm nổi dậy của Samdech Heng Sam- rin và Samdech Chia Xim và chúng tôi đã bắt tay cùng nhau để mở rộng lực lượng kháng chiến; kết hợp với các lực lượng yêu nước khác thành lập Mặt trận đoàn kết cứu quốc của Campuchia. Thông qua việc thành lập Mặt trận này vào ngày 02/12/1978 mà ta tiến tới giải phóng đất nước vào ngày 07/1/1979, một số bà con đã biết, và lịch sử cũng khắc ghi về sự can thiệp của quân đội Việt Nam để cứu người dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Và muốn biết việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia đúng hay sai thì hãy hỏi Tòa án hỗn hợp Liên Hợp Quốc và Campuchia. Bản án của tòa án này đối với bè lũ Pol Pot là sự công nhận của Liên Hợp Quốc rằng hành động của Việt Nam là đúng đắn, nếu hành động của Việt Nam không đúng, cần gì phải xét xử bọn Khmer Đỏ.

Một số người nói rằng tôi là người dẫn quân đội Việt Nam vào "giết hại" nhân dân Campuchia; vậy xin hỏi có bao nhiêu người dân Campuchia bị Việt Nam giết hại? Hay là khởi đầu từ chỗ nhân dân Campuchia chỉ có 5 triệu người, ngày nay đã lên đến 17 triệu; như vậy sau 45 năm kể từ khởi đầu hành trình cứu nước của tôi thì dân số của Campuchia đã tăng thêm 12 triệu.

Một số người nói tôi có tội khi dẫn quân đội Việt Nam vào Campuchia. Giờ hãy đi hỏi Tòa án hỗn hợp quốc tế-Campuchia. Tòa án này được lập nên bởi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để xét xử Khmer đỏ về tội ác chống lại loài người….

Nhờ Việt Nam giúp đỡ cứu tính mạng người dân Campuchia, dù chúng ta phải chịu sự bất công trong một thời gian dài khi nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia bị Liên Hợp Quốc áp đặt trừng phạt, Việt Nam cũng bị "trừng phạt" với cáo buộc xâm lược Campuchia. Tuy nhiên, giờ đây Việt Nam đã được nhận lại công lý cùng với Đảng Nhân dân Campuchia. Thành công của việc xét xử Khmer Đỏ đã mang lại công bằng cho lực lượng kháng chiến của Campuchia với sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam.

Tôi xin khẳng định không phải Việt Nam rút quân sau Hiệp định Hòa bình Paris và cần làm rõ điểm này. Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia vào ngày 30/9/1989, nghĩa là trước Hiệp định Hòa bình Paris 2 năm. Đó là thời điểm ta đang xây dựng lực lượng của mình, tuy nhiên chúng ta có kể kiểm soát được tình hình. Và mặt quốc tế về vấn đề Campuchia cũng đã kết thúc, bởi giải pháp về Campuchia có hai vấn đề là bối cảnh trong nước và quốc tế. Vì vậy, khi quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia thì mặt quốc tế được giải quyết, chỉ còn lại mặt nội bộ, mang lại cho Campuchia cơ hội cho nhiều bên liên quan cùng tham gia giải quyết, kể cả các Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, để đạt được Hiệp định hòa bình Paris. Đây là điểm lịch sử mà ta cần nhắc lại, bởi một số người cho rằng Việt Nam rút quân là do Hiệp định Hòa bình Paris. Điều này không đúng với tình hình thực tế ở Campuchia….

Dịp kỷ niệm 45 năm hành trình cứu nước của tôi cũng trùng với dịp kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Campuchia. Tôi vừa ký thư gửi Ngài Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng. Đảng Nhân dân Campuchia đã có quan hệ với Việt Nam trong 2/3 quãng thời gian này.

Nhiều năm qua Việt Nam và Campuchia luôn nỗ lực trong công tác biên giới; nhờ đó chúng ta đã ký văn kiện công nhận thành quả 84% phân giới cắm mốc. Chúng ta đang tiếp tục giải quyết 16% còn lại. Hai bên đang tiếp tục thảo luận với nhau. Một số người nói rằng Hun Sen "chịu ơn" Việt Nam và phải cắt đất cho Việt Nam. Nếu tôi cắt đất cho Việt Nam thì đã không cần phải bỏ ra thời gian 41 năm để đàm phán với Việt Nam. Nếu Việt Nam muốn đất Campuchia thì Việt Nam đã lấy từ khi còn có quân đội ở Campuchia. Vào thời điểm đó, mặc dù Việt Nam đóng quân ở Campuchia, tôi với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao đã ký kết Hiệp ước vùng nước lịch sử. Chúng ta cũng đã ký Hiệp định về quy chế biên giới năm 1983 và Hiệp ước về hoạch định biên giới năm 1985. Năm 2005 tôi đã cùng với Ngài Phan Văn Khải ký Hiệp ước bổ sung 2005. Vào năm 2019, tôi đã cùng Ngài Nguyễn Xuân Phúc ký Hiệp ước bổ sung 2019….

Tôi xin khẳng định với nhân dân Campuchia trong và ngoài nước, thông qua báo chí truyền thông và trước mặt Ngài Thủ tướng Việt Nam tôi không có quyền cho Việt Nam đất, dù chỉ 1 milimet, và tôi cũng không muốn đất Việt Nam dù chỉ 1 milimet… Việt Nam không có nhu cầu lấy đất của ta, ta cũng không có nhu cầu lấy đất Việt Nam.

Như Ngài Phạm Minh Chính nói, chỉ mới có 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Campuchia đã đạt trên 5 tỷ USD. Trước khi có dịch COVID-19, chúng ta chỉ đề ra mục tiêu 5 tỷ USD cho cả năm; nhưng chúng ta đã đạt được hơn 9 tỷ USD. Hy vọng rằng năm nay kim ngạch thương mại song phương sẽ đạt trêm 10 tỷ USD bởi đường biên giới của chúng ta là đường biên giới hòa bình, hợp tác để phát triển. Ở khu vực này (giữa tỉnh Tbong Khmum và Bình Phước) sau này có thể mở cửa khẩu quốc tế. Hiện nay chưa thống nhất được vì chúng ta còn có một số việc cần phải làm và cũng cần xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo đề nghị của ngài Sao Sokha (Phó Tổng Tư lệnh quân đội Hoàng gia Campuchia) và ngài Chea Sophara (Bộ trưởng Bộ Quy hoạch đô thị, đất đai và xây dựng), tôi đã quyết định giữ lại 1.176 hecta ở khu vực này để dự phòng mở khu kinh tế đặc biệt, xây dựng nhà máy hoặc sau này có thể trở thành nơi trao đổi hàng hóa bởi khu vực này gần với cảng biển của Việt Nam… Hoặc có thể trở thành khu chế biến, bởi nông sản của Campuchia ở đây và khu vực Đông bắc rất nhiều. Tôi đề nghị hai bên xem xét về một số cơ chế, và tôi muốn có một số quy định đặc biệt đối với khu vực này… tạo điều kiện cho người dân hai bên qua lại.

Tôi rất vui mừng với Lễ kỷ niệm ngày hôm này và bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính đại diện cho phía Việt Nam. Tôi rất hài lòng ôn lại quá trình lịch sử đã gắn kết hai dân tộc chúng ta. Trước khi buổi lễ bắt đầu, tôi đã sang phía Việt Nam, gặp gỡ những người đã cưu mang, giúp đỡ tôi vào thời điểm đó. Đối với tôi, một bữa cơm thời đó có giá trị bằng hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu tấn gạo của ngày hôm nay. Chính vì vậy nên tôi mới nói rằng: "Gian nan mới biết bạn hiền, hoạn nạn mới hiểu lòng nhau" …

Xin cảm ơn sự tham gia của các Samdech, các quý ông, quý bà…

Chúc mối quan hệ Campuchia – Việt Nam mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.