Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới

 Việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong tổng thể công tác đấu tranh tư tưởng. Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tấn công trực tiếp vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đích cuối nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa các trào lưu tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống xã hội. Điều đó đòi hỏi công tác đấu tranh tư tưởng cần có những điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.

Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số)(1)những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.

Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…

Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật - giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.

Các thế lực thù địch sử dụng, khuếch trương các phương tiện, kênh truyền thông phản động ngoài nước, đồng thời với công kích, phê phán hệ thống báo chí chính thống của ta. Hệ thống các phương tiện truyền thông phản động ngoài nước đa dạng, số lượng nhiều, một số là những tập đoàn truyền thông quy mô, có số lượng khán - thính - độc giả cao, diện bao phủ thông tin rộng, đa quốc gia, kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội, nên sức chống phá lớn. Đa phần các kênh truyền thông phản động trên đều có máy chủ, trụ sở đặt ở nước ngoài nên công tác đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc phát triển các kênh truyền thông phản động, các thế lực thù địch ra sức đả kích, hạ thấp uy tín hệ thống báo chí chính thống trong nước của ta, với những luận điệu xuyên tạc về bản chất nền báo chí cách mạng Việt Nam, về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, các chức năng xã hội của báo chí, về tự do báo chí… Chúng cung cấp tiền, o bế một số “ngọn cờ”, “cây bút” có lượng người theo dõi lớn, ít nhiều có khả năng chi phối, dẫn dắt dư luận xã hội; sử dụng ngày càng nhiều các bài bình luận, chuyên luận phân tích sâu, luận điệu giả trá lắt léo, tinh vi…

Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác đấu tranh được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu và đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trên không gian mạng, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế.

Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(2).

CÒN HƠN CẢ CHÍ PHÈO!

         Hầu hết các kênh truyền thông thuộc tập đoàn đu càng, tử thủ ở California và một số nước đang khóc than cho số phận của Andy Huỳnh. Sau khi kêu gọi nhưng chẳng ai lên tiếng, bây giờ họ lại lên tiếng oán hờn kiểu "Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xem người Việt Nam ở Hải ngoại là bộ phận không thể tách rời. Thế nhưng họ không lên tiếng cứu Andy Huỳnh". Xin gửi vài lời: 

Thứ nhất, Andy Huỳnh có quốc tịch Mỹ, không có quốc tịch Việt Nam. Mặc dù anh ta là người gốc Việt Nam nhưng Andy Huỳnh chưa bao giờ xem Việt Nam là nguồn cội của mình. Andy Huỳnh có ông nội là ngụy quân, vượt biên sau ngày 30/4/1975 và luôn chống lại quê hương, đất nước này. Andy Huỳnh mang dòng máu và tư tưởng của đám tàn dư VNCH ở hải ngoại, thù địch với Việt Nam. Việt Nam luôn xem người Việt Nam ở Hải ngoại là bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Nhưng không bao gồm những kẻ chống phá đất nước. Việt Nam không chấp nhận những kẻ theo gót chân ngoại bang để chém vào Tổ quốc những vết chém ngang lưng kiểu VNCH trước 1975, và bây giờ chống lại đất nước!

Thứ hai, Andy Huỳnh là lính đánh thuê. Theo pháp luật quốc tế thì những kẻ tham gia đánh thuê sẽ không được hưởng chế độ tù binh nếu bị bắt. Nếu có kêu gọi, van xin thì chỉ chính quyền Hoa Kỳ mới là nơi để các người kêu gọi chứ không phải là Việt Nam. Vừa qua Hàn Quốc đã xét xử hình sự đối với một công dân của họ khi tham gia vào quân đội Ukraine để đối đầu Nga. Nhiều nước trên thế giới xét xử nghiêm khắc đối với công dân của nước họ khi tham gia quân đội nước ngoài. 

Thứ ba, chẳng có lý nào những kẻ chống lại quốc gia, dân tộc, nơi nuôi dưỡng mình mà lại đi kêu gọi Đảng, chính quyền can thiệp. Tự làm, tự chịu và đừng bao giờ giở cái thói ăn vạ vô lý như thế. Việt Nam không bỏ công dân của mình ở lại phía sau. Nếu nói Andy Huỳnh là người gốc Việt nên Việt Nam phải có trách nhiệm thì thật vô lý. Thử hỏi người Hoa Kỳ hiện nay có bao nhiêu phần trăm là người bản xứ? Cứ chiếu theo gốc gác để ăn vạ thì chắc là nước Mỹ phải kêu cứu khắp thế giới. Hoa Kỳ là hợp chúng quốc, nơi có đủ mọi sắc tộc, đến từ hàng trăm quốc gia khác nhau.

Việt Nam quan ngại hết sức sâu sắc về tình hình Ukraine hiện nay. Mong các bạn bình tĩnh, giải quyết mọi tranh chấp bằng luật pháp quốc tế, bảo đảm hòa bình tại Đông Âu và trên thế giới./.
Yêu nước ST.

Tổng bí thư: Không vội vàng chọn Chủ tịch Hà Nội, Bộ trưởng Y tế


Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng "vắng ông trưởng thì phó tạm quyền", chuẩn bị người thay thế phải chọn đúng, chính xác, không vội vàng.

Sáng 23/6, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng đại biểu Quốc hội thuộc đơn vị bầu cử số 1 TP Hà Nội tiếp xúc cử tri các quận Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng. Về việc Trung ương khai trừ Đảng với Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh, Tổng bí thư cho biết có ý kiến băn khoăn "kỷ luật cách chức thì ai làm" và cho rằng "phải tìm người thay".

"Tôi nói là con chị nó đi thì con dì nó lớn, vắng ông trưởng thì phó cứ tạm quyền đi rồi chuẩn bị người thay", Tổng bí thư nói, nhấn mạnh phải chọn người đúng, chính xác chứ không vội vàng. Vì vội vàng đưa người nào đó kế tục ngay "nếu không chín chắn thì lại chọn không chính xác, nhỡ tiêu cực thì sao".

Theo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi xử lý ông Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh, có người bảo "sao ác thế, sao lại khai trừ lúc đang dịch dã thế này", nhưng không còn cách nào khác. Xử lý để làm bài học chung nhằm răn đe, cảnh tỉnh, cảnh cáo những người khác đừng đi vào vết xe đổ.

"Không phải thích thú gì khi kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, thậm chí rất đau xót nhưng buộc phải làm, và bản thân hai người này cũng nhận ra được sai sót, khuyết điểm", Tổng bí thư nói.

Ông Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh đều là Ủy viên Trung ương đảng, riêng ông Ngọc Anh còn là ba khóa. Theo Tổng bí thư, việc xử lý hai người được Bộ Chính trị họp, thảo luận rất kỹ, 100% biểu quyết phiếu kín yêu cầu kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng và cách tất cả chức vụ.

Hôm sau, khi Ban Chấp hành Trung ương họp bất thường cũng hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Bộ Chính trị. Ban Chấp hành đã bỏ phiếu gần như tuyệt đối, đồng ý phải khai trừ hai ông Long, Ngọc Anh ra khỏi Đảng.

Sau khi mất hết chức Ủy viên Trung ương, Bộ trưởng, ngay chiều hôm đó, cơ quan công an đã khởi tố, bắt tạm giam ông Long, ông Ngọc Anh để tiếp tục điều tra. Kỷ luật Đảng làm trước, hành chính làm tiếp theo và sau đó xử lý hình sự, quy trình này "gần như thành lý luận về phòng, chống tham nhũng".

Tổng bí thư cho biết sắp tới tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng kể từ khi Ban Chỉ đạo trung ương phòng, chống tham nhũng thành lập, trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng bí thư làm trưởng ban. Hội nghị sẽ tổng kết, rút kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác này, khi các Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng cấp tỉnh, thành phố được thành lập.

Trước đó hôm 6/6, Ban Chấp hành Trung ương quyết định khai trừ Đảng Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh (nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ). Hai ông bị xác định vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19...

Theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021 thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, để một số lãnh đạo Bộ và đơn vị vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước trong đánh giá chuyên môn, kiểm tra, giám sát; cấp phép, cấp số đăng ký lưu hành; hiệp thương giá và mua sắm bộ sinh phẩm xét nghiệm Covid-19 của Công ty Việt Á.

Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021 bị xác định thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, để một số lãnh đạo Bộ và đơn vị vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước trong phê duyệt, giao tổ chức thực hiện, ký hợp đồng, đánh giá, nghiệm thu, chuyển giao, quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh quyết toán kinh phí thực hiện Đề tài khoa học nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm xét nghiệm Covid-19 của Học viện Quân y; trong truyền thông, xác nhận và đề nghị khen thưởng đối với Học viện Quân y, Công ty Việt Á và một số cá nhân.


HÃY CHUNG TAY ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA!

         Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam.
     Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta không để tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Đồng thời, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động tham mưu cho cơ quan, đơn vị mình công tác phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các bài viết, hình ảnh, clip có nội dung xấu, phản động đồng thời bố trí thời gian thích hợp để tích cực viết đăng tin, bài, ảnh để khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng trong nền tảng tưởng của Đảng ta, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái, thù địch, nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng ta./.


Yêu nước ST.

THỦ ĐOẠN "BẺ LÁI" TRONG ÂM MƯU "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Một trong những thủ đoạn mà chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiến hành là “bẻ lái” nhận thức và dư luận xã hội vào ý đồ xấu xa của chúng. Có thể thấy điều đó trong một số bài viết mới đây đăng trên trang “lề trái”. Nói “bẻ lái” vì họ đã cố tình lờ đi sự hiến định của Hiến pháp và các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp của nước ta.

Các trang “lề trái”có nhiều thủ đoạn “bẻ lái” nhận thức và dư luận xã hội nhằm mục đích xấu. Ảnh: INTERNET

Họ cho rằng: “Dù Hiến pháp quy định người dân được trực tiếp bầu đại diện cho Quốc hội và các cơ quan nhà nước, nhưng hệ thống pháp luật, thông qua nhiều “chiêu” và “võ” đời thường, cả công khai lẫn bí mật, đã thiết lập nên sự độc tôn về quyền lực chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam và dàn dựng bằng nhiều cách để giám sát hầu hết mọi sinh hoạt xã hội”(!).

Hiến pháp hiện hành của Việt Nam (Hiến pháp 2013) đã hiến định quyền dân chủ trong bầu cử của công dân tại Ðiều 27: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND”. Như vậy, mọi người Việt Nam không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, vùng miền, nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính đều có quyền bình đẳng như nhau, được tự do tham gia ứng cử nếu trên 21 tuổi và bầu cử nếu trên 18 tuổi. Chỉ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự mới không được ghi tên vào danh sách cử tri

Vì thế, trong nhiều khóa Quốc hội trở lại đây, các đại biểu tự ứng cử, các đại biểu là người ngoài Đảng trúng cử ngày càng cao và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho hoạt động lập pháp của Quốc hội. Thậm chí, có những đại biểu tự ứng cử 3, 4 nhiệm kỳ mà vẫn đạt số phiếu tín nhiệm cao. Đây chính là minh chứng rõ ràng nhất cho tính minh bạch, dân chủ và không cản trở gì người tự ứng cử và người ngoài Đảng ứng cử. Bởi bầu cử ở Việt Nam thực hiện nghiêm bốn nguyên tắc: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử ở Việt Nam. Vì thế, qua 15 kỳ bầu cử từ năm 1946 đến nay, nhiều người tự ứng cử đã được lựa chọn, đưa vào danh sách chính thức, như: bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII năm 2011 có 82 người tự ứng cử; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV năm 2016 có 162 người tự ứng cử; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, số người tự ứng cử gấp đôi số người tự ứng cử khóa XIV và nhiều người đã trúng cử. Thực tiễn trên đã bác bỏ sự “bẻ lái” nhằm mục đích xấu của họ.

Họ còn cho rằng: “Chỉ riêng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong 92 năm tồn tại của mình, chưa hề bị điều chỉnh bởi bất cứ một bộ luật nào, Đảng đứng trên mọi luật pháp” (!). Vậy là họ lại lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được hiến định tại khoản 1, Điều 4 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Đồng thời, họ lờ đi trách nhiệm của Đảng và mỗi đảng viên là hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, lấy phục vụ nhân dân làm mục đích tối thượng. Điều này cũng được hiến định tại Điều 4 Hiến pháp 2013 ở khoản 2, 3. Cụ thể: “2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Và “3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đảng xác định, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một trong những nguyên tắc hoạt động của mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền nên Đảng xây dựng Nhà nước, tổ chức ra hệ thống chính trị, nhưng không làm thay Nhà nước. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ban hành Hiến pháp và pháp luật để quản lý toàn xã hội. Đảng là một tổ chức chính trị trong xã hội, cho nên hoạt động của Đảng phải tuân theo những quy định chung của Hiến pháp và pháp luật. Đảng cũng là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức của hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước.

Đảng lãnh đạo Nhà nước không phải bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng cương lĩnh, quan điểm, đường lối, bằng công tác cán bộ và hoạt động của tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các cơ quan nhà nước. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng phải thực hiện nguyên tắc hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất kỳ cương vị nào cũng phải gương mẫu, tự giác, nghiêm túc thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật; có trách nhiệm vận động quần chúng thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ấy thế mà họ nói Đảng Cộng sản Việt Nam chưa hề bị điều chỉnh bởi bất cứ một bộ luật nào, Đảng đứng trên mọi luật pháp chẳng phải là sự “bẻ lái” sao!

Họ không thừa nhận Hiến pháp - “văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”. Bởi họ đã lờ đi khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013 xác định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Với Đảng ta, Cương lĩnh chính trị là cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ các lực lượng xã hội phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nên Cương lĩnh là văn bản “pháp lý” cao nhất của Đảng.

Quá trình lãnh đạo thực hiện cơ cấu Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ để vừa phân biệt rõ về nội dung, chức năng, nhiệm vụ, vừa có quan hệ hữu cơ với nhau, hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Qua đó cho thấy, vị trí của các nhân tố đó không ngang bằng nhau; trong đấy, Đảng giữ vị trí quan trọng nhất - vị trí lãnh đạo, các thành viên khác (trong đó có Nhà nước) phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước là Hiến pháp phải phục tùng văn bản pháp lý cao nhất của Đảng là Cương lĩnh. Cho nên nói Hiến pháp - “văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng” là hoàn toàn có cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học. Thế mà họ hòng “bẻ lái” nhận thức và dư luận xã hội nhằm mục đích xấu.

PHAO

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THIẾU THUỐC VÀ VẬT TƯ Y TẾ HIỆN NAY

        Chiều 23/6, tại Trụ sở Chính phủ, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thường trực Chính phủ họp về cung ứng thuốc, vật tư y tế và các giải pháp bảo đảm nguồn nhân lực cho ngành y tế.

Dự họp có các Phó Thủ tướng Chính phủ: Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam, Lê Văn Thành; Bộ trưởng, lãnh đạo các bộ, ngành: Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nội vụ, Tư pháp, Thông tin và Truyền thông, Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, hiện nay có tình trạng thiếu thuốc tại một số địa phương và bệnh viện tuyến Trung ương, các thuốc thiếu gồm: một số thuốc kháng sinh dự trữ dùng để điều trị bệnh nhân nặng, thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, một số thuốc tim mạch, điều trị tăng huyết áp, thuốc điều trị sốt xuất huyết, thuốc nhãn khoa, vị thuốc cổ truyền.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu trang thiết bị, vật tư tiêu hao, hóa chất cũng xảy ra tại một số cơ sở y tế cả tuyến địa phương và Trung ương, trong đó chủ yếu là hóa chất dùng xét nghiệm; một số trang thiết bị y tế chuyên sâu.

Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do tác động của các yếu tố như tình hình dịch, mô hình bệnh tật.

Đặc biệt, giai đoạn 2020-2021 là hai năm chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, nguồn nguyên liệu sản xuất, hàng hóa khan hiếm, giá cả hàng hóa nhiều biến động, việc mua sắm thuốc, vật tư y tế, hóa chất, các sinh phẩm cho phòng, chống dịch bệnh và khám, chữa bệnh càng trở nên khó khăn hơn. Đáng chú ý có tâm lý lo ngại, sợ sai, sợ thanh tra, kiểm tra, không dám làm, không dám mua sắm của một số địa phương và đơn vị.

Để khắc phục tình trạng trên, Bộ Y tế đã chủ động đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị tăng cường năng lực, hiệu quả công tác mua sắm, đấu thầu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế; đẩy mạnh cấp phép, quản lý giá thuốc; đẩy mạnh cấp phép, quản lý giá trang thiết bị y tế...

Đáng chú ý, thời gian gần đây có tình trạng thôi việc, nghỉ việc của nhân lực ngành y tế trong khu vực công. Nguyên nhân một phần do lương và chế độ phụ cấp đối với viên chức y tế trong hệ thống y tế công lập thấp, nhất là tại các cơ sở y tế dự phòng và y tế cơ sở; mặt khác do áp lực công việc cao, nhất là từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến nay.

Khắc phục tình trạng này, ngoài tiếp tục động viên tinh thần đối với lực lượng y bác sỹ..., ngành y tế tổ chức điều động nhân lực để hỗ trợ và giảm áp lực cho cán bộ, viên chức y tế; quan tâm, thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách tiền lương, phụ cấp cho viên chức y tế; xây dựng và đề xuất các chính sách thu hút nhân viên y tế làm việc tại các cơ sở y tế công lập, nhất là nhân viên y tế công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; tiếp tục đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho cán bộ, viên chức y tế...

Tại cuộc họp, Thường trực Chính phủ và lãnh đạo các bộ, ngành phát biểu, thảo luận đánh giá tình hình, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và giải pháp phòng, chống dịch cả trong trước mắt và lâu dài.

Đặc biệt là cơ chế, chính sách, giải pháp, phương pháp thực hiện để giải quyết tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế tại các cơ sở y tế và khắc phục vấn đề nhân lực y tế; với mục tiêu và phương châm là bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, tính mạng nhân dân là trên hết, trước hết.

Trên cơ sở báo cáo và phát biểu thảo luận của các bộ, ngành, thành viên Thường trực Chính phủ, kết luận cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các bộ, ngành liên quan tiếp tục cập nhật thông tin, tổng hợp, thống kê số liệu thực sự khách quan, trung thực, chính xác về hiện tượng thiếu thuốc, vật tư y tế tại các cơ sở y tế và khắc phục vấn đề nhân lực y tế.

Trên cơ sở nắm chắc tình hình để phân tích nguyên nhân, đưa ra giải pháp, phối hợp chặt chẽ khắc phục tình trạng này một cách kịp thời, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra.

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định nhờ sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, người dân và hỗ trợ của bàn bè quốc tế, dịch Covid-19 được kiểm soát.

Qua đó góp phần phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững. Tuy nhiên, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại một số nước với nguy cơ dịch quay trở lại.

Đối với trong nước cần tiếp tục các biện pháp phòng, chống dịch, không chủ quan, lơ là; trong đó tổ chức tích cực hơn nữa tiêm vaccine cho các đối tượng cần phải tiêm, nghiên cứu tiêm vaccine cho trẻ em dưới 5 tuổi.

Thủ tướng cho biết dịch sốt xuất huyết, đậu mùa khỉ, chân tay miệng đang diễn biến; một số loại bệnh khác như tim mạch, ung thư, xương khớp, đái tháo đường… tác động lẫn nhau khiến tình hình phức tạp hơn.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: TTXVN

Do đó, bên cạnh tăng cường năng lực y tế phòng, chống dịch Covid-19, phải tập trung thuốc, thiết bị, vật tư y tế, nhân lực cho phòng, chống các dịch khác và khám chữa bệnh thông thường cho nhân dân.

PHAO

Trung quốc vạch rõ: Dân chủ kiểu phương Tây gây chiến tranh, hỗn loạn

 

            Chủ tịch Trung Quốc nói với quan chức hàng đầu rằng việc phương Tây thúc đẩy dân chủ đã gây chiến tranh, hỗn loạn và di dân khắp thế giới.

"Phương Tây đã thúc đẩy một cách cưỡng ép khái niệm và thể chế dân chủ, nhân quyền, lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ của các quốc gia khác", theo bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại phiên họp Bộ Chính trị hồi tháng 2 và được truyền thông nước này công bố hôm 15/6.

Ông Tập không đề cập tên quốc gia cụ thể nào, nhưng Trung Quốc những tháng gần đây cáo buộc Mỹ là nguyên nhân dẫn đến xung đột ở Ukraine cũng như những thách thức xuất hiện sau khi Taliban tiếp quản Afghanistan, nội chiến Syria và các vấn đề an ninh ở Iraq.

"Dân chủ và nhân quyền không phải để trang trí", ông Tập nhấn mạnh trước 24 thành viên còn lại trong Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết sách cao nhất của đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại quốc yến dành cho lãnh đạo các nước và tổ chức quốc tế tại Bắc Kinh hồi tháng 2. Ảnh: Reuters.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại quốc yến dành cho lãnh đạo các nước và tổ chức quốc tế tại Bắc Kinh hồi tháng 2.

Theo Chủ tịch Trung Quốc, một số nước phương Tây những năm gần đây phải đối mặt với tình trạng chia rẽ đảng phái chính trị gay gắt, sự bất tín nhiệm của chính phủ, rối loạn xã hội và bùng phát Covid-19 ngoài tầm kiểm soát.

"Phân cực chính trị, khoảng cách giàu nghèo và đối kháng sắc tộc ngày càng gia tăng. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân túy và bài ngoại đã phổ biến, trong khi các vấn đề nhân quyền ngày càng nổi cộm", ông lưu ý, đồng thời kêu gọi các quan chức "tham gia tích cực các vấn đề nhân quyền của Liên Hợp Quốc", gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các thể chế nhân quyền đa phương như vậy.

Trung Quốc những năm gần đây bị Mỹ và phương Tây chỉ trích vì các chính sách ở Tân Cương, Hong Kong và Tây Tạng. Tại phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ ở Geneva, Thụy Sĩ hôm 14/6, gần 50 nước ký tuyên bố chung cáo buộc Trung Quốc "ngược đãi người Duy Ngô Nhĩ" ở Tân Cương.

Đại sứ Trung Quốc Chen Xu phản ứng giận dữ, chỉ trích các nước ký tuyên bố chung tung tin "dối trá và đồn thổi để công kích Trung Quốc". "Chúng tôi dứt khoát bác bỏ những cáo buộc này", ông Chen nói, đồng thời chỉ trích các quốc gia ký tuyên bố là "đạo đức giả" và "nỗ lực thao túng chính trị".

Cao ủy Nhân quyền LHQ Michelle Bachelet được cấp quyền thăm Tân Cương tháng trước, đánh dấu chuyến thăm đầu tiên của người đứng đầu Hội đồng Nhân quyền LHQ tới Trung Quốc sau 17 năm. Tuy nhiên, bà phải đối mặt với những chỉ trích gay gắt vì không lên tiếng cứng rắn hơn trước những hành vi bị cáo buộc của Trung Quốc trước và trong chuyến đi.

Trong cuộc họp với bà Bachelet qua video khi quan chức này thăm Tân Cương, ông Tập bảo vệ các chính sách của Trung Quốc và tuyên bố Bắc Kinh không chấp nhận bất kỳ bài rao giảng nào mang tính "bề trên, kẻ cả".

Những bình luận của ông Tập gợi nhớ đến bài phát biểu năm 2014 của ông, khi Chủ tịch Trung Quốc nói với hơn 100 quan chức rằng cần "kiên quyết đáp trả" bất cứ khi nào phương Tây đối đầu về nhân quyền.

"Chúng ta làm tốt, miễn là đáp ứng tiêu chuẩn của Trung Quốc và không cần phải nhìn vào tiêu chuẩn phương Tây hay quan tâm cách họ đánh giá chúng ta. Đối mặt với các nước phương Tây thường công kích Trung Quốc về nhân quyền, chúng ta phải kiên quyết đáp trả", ông Tập cho hay.

Trung Quốc không được mời tham dự hội nghị thượng đỉnh về dân chủ do Nhà Trắng tổ chức năm ngoái. Nhưng vài ngày trước sự kiện này, Bắc Kinh đã tổ chức diễn đàn dân chủ quốc tế riêng theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của các học giả từ những nước đang phát triển.

Hồi tháng 2, Trung Quốc công bố báo cáo có tiêu đề "Vi phạm Nhân quyền ở Mỹ năm 2021", liệt kê cách thức "Mỹ thao túng chính trị, dẫn đến sự gia tăng mạnh ca tử vong do Covid-19, số người chết vì súng đạn cao kỷ lục và nền dân chủ giả tạo chà đạp lên quyền chính trị của người dân". Báo cáo cáo buộc "hành động đơn phương của Mỹ đã tạo ra các cuộc khủng hoảng nhân đạo mới trên toàn cầu".

Mỹ và một số nước phương Tây cho rằng hành động của Trung Quốc ở Tân Cương là "diệt chủng". Chính quyền Tổng thống Joe Biden đã thông qua luật cấm tất cả hàng hóa nhập khẩu từ Tân Cương vì cáo buộc lao động cưỡng bức.

Trung Quốc nhiều lần chỉ trích phương Tây, gọi những cáo buộc trên là vô căn cứ, can thiệp công việc nội bộ, xuyên tạc sự thật, kiềm chế đà phát triển của nước này và vi phạm luật pháp quốc tế.

 PHAO

Không thể phủ nhận tính đảng trong nền báo chí cách mạng

Nhiều học giả tư sản cho rằng, muốn có tự do báo chí, tự do ngôn luận thì không những phải cho báo chí tư nhân hoạt động, mà không để báo chí bị chi phối, ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị.

Thậm chí họ cho rằng, sở dĩ Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn luận bởi xuất phát từ nền chính trị nhất nguyên, bởi "chế độ độc đảng" can thiệp vào hoạt động báo chí. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, vô căn cứ. Bởi lẽ, không có một nền báo chí nào hoàn toàn đứng ngoài chính trị, vô chính trị như các luận điệu thù địch xuyên tạc, rêu rao.  

Tính đảng trong thông tin báo chí là hiển nhiên

Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.

Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.

Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.

Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.

Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng-đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng-chính trị.

Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.


Báo chí cách mạng Việt Nam thể hiện tính đảng, tính nhân dân sâu sắc

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.

Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.

Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta-100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt.

Một số biểu hiện cơ bản của tính đảng trong thông tin báo chí

Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Cần tiếp tục nêu cao tính đảng trong thông tin báo chí

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.

Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.

Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa cho cán bộ, chiến sĩ

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ-Bộ đội của dân-Bộ đội vì dân.

Đó chính là cội nguồn sức mạnh, góp phần làm nên mọi thắng lợi của QĐND Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Gần 78 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, cùng toàn dân chiến đấu, chiến thắng các thế lực xâm lược, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và ngày nay đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách trên con đường phát triển nhưng Quân đội ta luôn một lòng sắt son với Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân; không ngừng nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Trong giai đoạn hiện nay, việc giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ của quân đội thể hiện rõ nét ở việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; thực hiện “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trên, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này là sự kế thừa bài học, kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của tổ tiên, của ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhờ sớm nêu cao tinh thần chủ động giữ nước mà chúng ta luôn giữ vững non sông, bờ cõi, khẳng định nền độc lập, tự chủ, bảo toàn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

 Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” là tổng thể các tư tưởng, hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân diễn ra từ trước, nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia-dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Tư duy chiến lược về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của Đảng gồm nhiều nội dung, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản, như: Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước; xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh; phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phương thức bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN... Những nội dung đó cần được thường xuyên quán triệt để mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp hiểu rõ và hành động đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Hai là, tập trung xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong mọi tình huống.

Xây dựng QĐND là chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược nhằm không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều bài viết và phát biểu chỉ đạo về xây dựng QĐND. Đặc biệt, trong bài “Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một số nội dung trọng tâm mà Đảng bộ Quân đội và toàn quân phải tiếp tục quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện tốt. Đó là: (1) Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân...; (2) Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, "gương mẫu, tiêu biểu", đáp ứng sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; (3) Đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân; (4) Chủ động nghiên cứu, nắm, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước chủ trương về quân sự, quốc phòng; xử lý có hiệu quả các tình huống, bảo đảm trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không để bị động, bất ngờ; chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp tổng thể, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; ứng phó có hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống trong tình hình mới; (5) Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; (6) Thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đặc biệt, toàn quân tiếp tục nỗ lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Ba là, tiếp tục phát huy truyền thống, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong bối cảnh, tình hình quốc tế, trong nước với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc tiếp tục phát huy, bồi đắp phẩm chất cao quý đó trong tình hình hiện nay sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội và trong quân đội, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, tăng cường bản chất cách mạng, xây dựng QĐND “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Để làm được điều đó, các cấp ủy đảng trong quân đội cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn làm tốt công tác giáo dục, quán triệt, rèn luyện, trau dồi cho cán bộ, chiến sĩ những phẩm chất tốt đẹp, giá trị nhân văn của Bộ đội Cụ Hồ đã được lưu giữ, kế thừa, không ngừng phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị của Bộ Chính trị (khóa XII, khóa XIII) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, gắn với Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động, các phong trào khác; tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ được thử thách, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn phát huy và tỏa sáng.

Phát huy truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là sự thể hiện sâu sắc tình cảm, sự tôn kính, trách nhiệm của Quân đội ta đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; đồng thời cũng là trách nhiệm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND hiện nay và mai sau đối với lớp lớp cán bộ, chiến sĩ QĐND thế hệ đi trước đã xây dựng, bồi đắp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-Bộ đội của dân. Bất luận trong điều kiện nào, hoàn cảnh khó khăn đến mấy, giá trị, phẩm chất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ luôn phải được phát huy, phát triển và tỏa sáng, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam dưới góc nhìn bình đẳng giới

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...

Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.

Để làm được điều này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Ngoài ra, các thế lực xấu thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội dân oan”... Chiêu bài của các thế lực thù địch là lợi dụng vẻ bề ngoài các tổ chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất là cổ súy đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam.

Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện cho thành viên để kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự… Khi các thông tin chống phá của chúng bị bóc trần sự thật, các đối tượng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do, bất bình đẳng về giới, phân biệt đối xử, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước. Đồng thời vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật là phụ nữ bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam

 Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.

Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.

Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.

Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

Cần những đánh giá khách quan

Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Các tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới.

Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.