Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022
KIỂM TRA, GIÁM SÁT PHẢI LÀ “THANH BẢO KIẾM” CỦA ĐẢNG
Việt Nam tăng 39 hạng trên bảng đánh giá chất lượng cuộc sống toàn cầu
Việt Nam tăng 39 hạng trên bảng đánh giá chất lượng
cuộc sống toàn cầu
Việt Nam đã nâng 39 hạng trên bảng xếp hạng gồm 165
quốc gia đóng góp nhiều nhất vào GDP thế giới do tạp chí thương mại CEOWORLD
lập ra.
Bảng
xếp hạng chỉ số chất lượng cuộc sống của các quốc gia được CEOWORLD lập ra dựa
trên nhiều tiêu chí như: mức giá cả sinh hoạt; nền kinh tế - chính trị ổn định;
môi trường làm việc; bình đẳng về thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế…
Trong đó, mỗi tiêu chí sẽ được đánh giá dựa trên thang điểm 100.
“Việt
Nam có tổng điểm là 78,49 và xếp thứ 62/165 quốc gia”, theo đánh giá của
CEOWORLD.
Thứ
hạng của Việt Nam được cải thiện đáng kể so với năm 2020, khi nước ta chỉ đứng
thứ 101/171 quốc gia có mức sống tốt nhất. Bảng xếp hạng mới cho thấy Việt Nam
đang có những cải thiện quan trọng về chất lượng cuộc sống.
Phần
Lan là nước có chỉ số chất lượng cuộc sống tốt nhất thế giới với 99,06 điểm.
Tiếp theo là Đan Mạch với 98,13 điểm và Na Uy với 96,75 điểm.
Nhật
Bản là quốc gia có chỉ số chất lượng cuộc sống tốt nhất châu Á - đạt 91,23 điểm
và nằm trong top 10 quốc gia có chất lượng cuộc sống tốt nhất trên toàn cầu.
So
sánh chỉ số chất lượng sống của các nước trong khu vực Đông Nam Á, đứng đầu các
nước có chỉ số chất lượng sống cao nhất là Singapore với 87,64 điểm, tiếp đến
là Thái Lan với 82,69 điểm. Các quốc gia có chỉ số chất lượng sống cao hơn Việt
Nam là Singapore, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.
Trong
khi đó, xếp ở vị trí cuối cùng của bảng xếp hạng các quốc gia có chất lượng
sống tốt nhất thế giới là Comoros (33,19 điểm), Montserrat (32,06 điểm), Sudan(
31,67 điểm) và Syria (31,55 điểm).
Truyền thông nâng cao nhận thức về biển đảo
Truyền thông nâng cao
nhận thức về biển đảo
Chương trình truyền thông về biển và
đại dương đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm mục tiêu
nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, tạo sự đồng thuận, huy động sự tham gia
của cả hệ thống chính trị cùng toàn thể người dân và cộng đồng quốc tế trong
việc bảo vệ biển đảo và phát triển bền vững kinh tế biển.
Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên 28
địa phương có biển, tại một số quốc gia có số lượng lớn người Việt Nam sinh
sống, làm việc, và một số quốc gia có quan hệ hữu nghị truyền thống với Việt
Nam.
Nội dung tập trung truyền thông các chính sách pháp luật có liên
quan biển đảo (gồm cả pháp luật quốc tế), về vị trí, vai trò của biển và đại
dương cũng như các quyền và lợi ích của Việt Nam trên Biển Ðông, các thông tin
về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo... Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện
Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045 chỉ đạo toàn diện việc tổ chức triển khai chương trình truyền thông về
biển và đại dương đến năm 2030.
Nước ta có chiều dài bờ biển 3.260km, đứng thứ 27/157 quốc gia
ven biển, quốc đảo và vùng lãnh thổ trên thế giới. Với diện tích ven biển lớn
như vậy, vấn đề bảo vệ biển đảo và phát triển kinh tế biển luôn được Ðảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, công tác truyền thông trong những năm
vừa qua vẫn còn một số hạn chế, dẫn đến một bộ phận người dân và cộng đồng quốc
tế chưa hiểu biết đầy đủ về quyền và lợi ích của Việt Nam liên quan biển, hải
đảo và đại dương.
Vì thế, chương trình truyền thông về biển và đại dương tầm nhìn
2030 được xây dựng nhằm chuyển tải đầy đủ và toàn diện các kiến thức liên quan
để mọi người dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng
của biển và đại dương trong bảo vệ chủ quyền quốc gia và trong phát triển kinh
tế.
Chương trình huy động mọi nguồn lực từ ngân sách nhà nước, xã
hội hóa, hợp tác quốc tế, phát huy cao nhất nội lực của từng địa phương, cơ
quan, bộ, ngành, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.
Các thông tin được chuyển tải thường xuyên, liên tục, có trọng tâm trọng điểm,
chính xác và hấp dẫn đến từng nhóm đối tượng, giúp người dân dễ dàng nhận diện
và bác bỏ những thông tin sai lệch, các quan điểm xuyên tạc về biển và đại
dương, từ đó khích lệ, cổ vũ người dân tích cực, chủ động tham gia các hoạt
động bảo vệ biển đảo, đại dương.
Cụ thể: Ðến năm 2025, tất cả các cơ quan báo chí Trung ương và
địa phương, báo đối ngoại có chuyên trang, chuyên mục về biển và đại dương,
100% số bộ, ngành có liên quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo, các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương có chuyên mục về biển và đại dương trên trang
thông tin điện tử của cơ quan. Tất cả phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên,
lãnh đạo cơ quan báo chí, truyền thông, xuất bản ở Trung ương và địa phương,
cán bộ thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại được tập huấn cập nhật về hệ thống
chính sách pháp luật kiến thức cơ bản về biển và đại dương, xây dựng một thư
viện cấp ngành, một bảo tàng chuyên đề về biển và đại dương.
Ðến năm 2030, tất cả các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục
quốc dân, tư thục và quốc tế thực hiện hoạt động truyền thông về biển và đại
dương thông qua việc lồng ghép nội dung liên quan trong chương trình đào tạo,
hơn 80% số tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội các cấp, các tập đoàn kinh tế lớn
của Nhà nước tham gia hoạt động truyền thông về biển và đại dương.
Ðể hoàn thành tốt các mục tiêu của Chương trình truyền thông về
biển và đại dương đến năm 2030 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đòi hỏi mỗi
bộ, ngành, địa phương, mỗi tổ chức, đơn vị phải chủ động đề xuất các chương
trình, dự án phù hợp, không ngừng nỗ lực đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng
hiệu quả công tác truyền thông, tăng cường kiểm tra giám sát, kịp thời xử lý
các thông tin sai lệch liên quan vấn đề biển và đại dương.
Các chiến lược truyền thông cần bám sát thực tế biển đảo trong
từng thời điểm cụ thể, và phải được triển khai một cách bài bản, toàn diện, có
tính đột phá từ Trung ương đến địa phương. Biển đảo và đại dương là vấn đề sống
còn đối với an ninh quốc gia. Làm tốt công tác tuyên truyền các vấn đề liên
quan biển đảo và đại dương sẽ giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người
dân trong bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch
nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các
nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự.
Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”,
có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu
phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực
tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập
niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành,
những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến
công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát
triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa
bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các
nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức
tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này,
“diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành
một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt
trên ngăn chặn”.
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới
hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối
lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội
nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình
tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản
về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình,
khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm
thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương
mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn
lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.
Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.
Hành trình chống tham nhũng
Tiếp xúc với cử tri Hà Nội ngày 23/6, Tổng bí thư nhắc lại câu nói 'kỷ luật nhiều như thế lấy ai để làm làm việc'. Câu nói này xuất phát từ một vị lãnh đạo Quốc hội trước đây và từng gây xôn xao dư luận.
CẢNH GIÁC VỚI PHÁP LUÂN CÔNG
“Pháp Luân Công” hay còn gọi “Pháp luân đại pháp” là một giáo phái do Lý Hồng Chí, sinh năm 1952 tại Cát Lâm, Trung Quốc thành lập năm 1992 dưới hình thức tập luyện khí công dưỡng sinh. Sau đó, Pháp Luân Công đã có nhiều hoạt động phức tạp ảnh hưởng đến an ninh chính trị Trung Quốc, bị Chính phủ Trung Quốc cấm hoạt động và bị coi là tà giáo.
“Pháp Luân Công” xâm nhập trái phép vào Việt Nam từ năm 2000. Mấy năm trở lại đây, “Pháp Luân Công” truyền bá mạnh mẽ ở Việt Nam. Với vỏ bọc là một môn luyện công rèn luyện sức khỏe, nhưng thực tế, mục đích của những người đứng đầu tổ chức “Pháp Luân Công” là muốn lôi kéo đông đệ tử nhằm thực hiện các hoạt động gây rối để công khai hóa tổ chức đúng như kịch bản đã thực hiện ở Trung Quốc. Hiện nay, “Pháp Luân Công” đã lôi kéo được khá nhiều người dân Việt Nam tham gia. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, có khoảng 7.000 người tham gia tại 565 điểm luyện tập thuộc 62 tỉnh, thành phố, với các thành phần tham gia khác nhau và khá phức tạp.
Phương thức hoạt động chủ yếu dưới hình thức nhóm, câu lạc bộ dưỡng sinh. Ngoài ra, những người theo “Pháp Luân Công” còn lập ra nhiều trang web, facebook, blog, rải tờ rơi phát tán tài liệu tuyên truyền về “Pháp Luân Công” để quảng bá và thu hút các đệ tử :
Bên cạnh một số mặt tích cực của việc tập luyện “Pháp Luân Công” (như: rèn luyện sức khỏe, giảm stress, cân bằng xúc cảm, gia tăng năng lượng, thư giãn…), đằng sau đó là rất nhiều tư tưởng mê tín, phản khoa học. Ví dụ học viên “Pháp Luân Công” được tuyên truyền rằng, ai tập “Pháp Luân Công” sẽ được Pháp Thân của Lý Hồng Chí bảo hộ. Hoặc Pháp Thân của Lý Hồng Chí sẽ làm tịnh hóa thân tâm của người tập “Pháp Luân Công”…… Học viên “Pháp Luân Công” tin rằng, cái gì họ làm cũng là nhờ ơn của sư phụ Lý Hồng Chí, ngay cả đến tranh luận với người bên ngoài cũng tin là sư phụ Lý Hồng Chí của họ sắp xếp để họ tranh luận và “Người tập “Pháp Luân Công” làm cho con người đạt đến khai công, khai ngộ, công thành viên mãn, linh hồn bất diệt; ai ngăn cản là ma quỷ”; hoặc “nguyên nhân của bệnh tật là do những việc xấu của kiếp trước, nếu tin tưởng vào luyện công, dừng ngay việc uống thuốc, không cần khám chữa trị tự nhiên có người chữa trị cho…”.
Vì vậy, mọi người cần chú ý rằng, việc luyện công rèn luyện sức khỏe của “Pháp Luân Công” dù có đem lại lợi ích sức khỏe đi nữa, cũng không liên quan gì đến pháp thân của Lý Hồng Chí. Đừng thấy sự tiến bộ trong quá trình tập luyện để tin theo một thứ tà đạo nguy hiểm, sự lừa dối, sảo trá, phản khoa học. Mặc dù luôn cho rằng, tuyên truyền là để thu hút đệ tử tập luyện nâng cao trí tuệ, sức khỏe nhưng thực chất là tán phát tài liệu trái phép tuyên truyền, kích động, gây rối trật tự công cộng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần cảnh giác, nhìn nhận rõ chân tướng và vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động của những đối tượng lợi dụng pháp luân công để kích động chống Đảng, Nhà nước gây mất ổn định chính trị./.
NQR
Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”
Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:
Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.
Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó, phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.
Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.
Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.
Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.
Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành 4 Nghị quyết quan trọng
CẦN CẢNH GLỢI DỤNG VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG XẤU
23/02/2013
Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong khối ASEAN
![]() |
| Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên tiếp xã giao tân đại sứ Canada tại Việt Nam. |
Kỳ họp đầu tiên của Ủy ban hỗn hợp về kinh tế Việt Nam – Canada sẽ diễn ra vào 6 tháng 7 năm 2022 tới tại thành phố Vancouver, Canada. Thông tin vừa được đưa ra tại sự kiện Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên tiếp xã giao Tân Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Canada, Shawn Steil tại Việt Nam.
Với cương vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam, Bộ trưởng mong rằng Đại sứ Shawn Steil trong nhiệm kỳ của mình sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào việc phát triển quan hệ Việt Nam -Canada, đặc biệt là thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại đầu tư trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 5 năm quan hệ Đối tác toàn diện (2017-2022) và hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm tới (1973-2023).
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên kỳ vọng, hai bên sẽ tổ chức Kỳ họp lần thứ nhất Ủy ban hỗn hợp về Kinh tế Việt Nam – Canada và Diễn đàn doanh nghiệp, các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư song phương thành công một cách hiệu quả và thiết thực nhất.
"Những hoạt động này sẽ mở đầu khai thông mạnh mẽ hơn nữa luồng chảy thương mại, đầu tư giữa hai nước, đặc biệt trong bối cảnh thế giới với nhiều biến động và phục hồi kinh tế sau đại dịch; để Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của Canada và của thế giới, cũng như là cầu nối tích cực cho Canada ở khu vực ASEAN và Châu Á – Thái Bình Dương", Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh.
Theo Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ, cho đến nay, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong số các nước ASEAN, và ngược lại, Canada là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam tại khu vực châu Mỹ (sau Hoa Kỳ và Brazil).
Dư địa cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường Canada vẫn còn rất lớn khi thị phần mới chỉ chiếm 1,7% giá trị nhập khẩu của Canada. Chính phủ Canada tiếp tục theo đuổi chiến lược đa dạng hóa thị trường và coi Việt Nam là đối tác quan trọng tại khu vực Châu Á sẽ là cơ hội rất lớn để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường này.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 2 nước năm 2021 đạt 6,03 tỷ USD, tăng 18,5% so với năm 2020. Trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Canada đạt 5,27 tỷ USD, tăng 20,8%, nhập khẩu từ Canada đạt 760,7 triệu USD, tăng 4,7%.
Về cơ bản, tất cả các lĩnh vực xuất khẩu sang Canada có sự tăng trưởng so với năm 2020 trong đó mặt hàng về máy móc, điện, điện tử vẫn là nhân tố đóng góp chính vào giá trị xuất khẩu với tổng giá trị xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD (tăng 8,9%).
Xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng và năng lực sản xuất ấn tượng của doanh nghiệp Việt Nam dẫn đến sự quan tâm của các doanh nghiệp Canada đối với sản phẩm công nghiệp phụ trợ của Việt Nam ngày càng nhiều.
Các sản phẩm dệt may, giày dép, túi xách sau khi bị sụt giảm trong năm 2020 đã lấy được đà tăng trưởng ấn tượng trở lại ở mức trên 1,4 tỷ USD (tăng 16,6%).
Thương mại 2 chiều Việt Nam - Canada tiếp tục tăng tốc trong 5 tháng 2022, đạt 2,88 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Canada tăng mạnh 34,1%, đạt 1,95 tỷ USD.
PHAO
Để tiếp tục đấu tranh với
quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư
tưởng của Đảng, cấp ủy đảng các cấp trong Quân đội cần nhận thức sâu sắc và
tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, tăng cường giáo dục, xây dựng lập
trường, tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ, nâng
cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước quan
điểm sai trái trên không gian mạng. Đây là giải pháp cơ bản, xuyên
suốt, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước quan điểm sai
trái cho cán bộ, chiến sĩ. Cấp ủy các cấp cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả
nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018
của Bộ Chính trị (khóa XII). Tăng cường giáo dục bản chất khoa học, cách
mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính đúng đắn, sáng tạo
trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Kịp thời thông tin có định hướng các sự
kiện, vấn đề nảy sinh; chỉ rõ dấu hiệu nhận biết chiêu trò mà các thế lực thù
địch, phản động sử dụng. Từ đó, giúp cán bộ, chiến sĩ nêu cao cảnh giác, không
dao động trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng, tăng cường
“sức đề kháng”, đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác quan
điểm, sai trái, thù địch.
Hai là, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các
cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong
phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng
cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch,
lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch
vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra
nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ
chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương
pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán
bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu
với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo
đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội
ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa
thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh.
Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ
huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm nêu gương của
cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù
địch. Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng đấu tranh nòng cốt
vừa có chức năng tham mưu, chỉ đạo, định hướng đấu tranh, vừa kịp thời cung cấp
thông tin để thực hiện các biện pháp đấu tranh triệt phá thông tin xấu độc và
giữ vai trò chủ đạo trong vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực
thù địch. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt, chuyên sâu linh hoạt,
phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với từng cơ quan, đơn vị; phát
huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng,
chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết
chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin
tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.
Bốn là, kịp thời cung cấp thông tin, định
hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu
tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định
hướng tư tưởng, không tạo “khoảng trống” để các thế lực thù địch chống phá là
một nội dung quan trọng trong thực hiện phương châm chỉ đạo của công tác tư
tưởng, nhằm tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái,
thù địch. Điều đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp, chế độ
cung cấp thông tin, bảo đảm cho các thông tin chính thống đến trước, đến sớm
với cán bộ, chiến sĩ để định hướng tư tưởng; thông tin kịp thời các phương
thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, như: chỉ rõ mục
tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho
các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm,
phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây
dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong
hoạt động đấu tranh.
Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đấu tranh
trên internet, mạng xã hội; tăng cường trao đổi kinh nghiệm đấu tranh giữa các
cơ quan, đơn vị, lực lượng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật chú trọng ứng
dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác hiệu quả các phần mềm kiểm
soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp
công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật phục vụ lực
lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin
xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiếp cận được với thông tin này.
Duy trì tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ,
làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ
năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa
phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu
tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền
tảng tư tưởng của Đảng.
Đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng
xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Tận dụng sự bùng nổ của công nghệ thông tin,
mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường phát tán quan điểm sai
trái, nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Vì vậy, vạch trần ý đồ của chúng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài.
Từ khi ra đời
(03/02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền
tảng tư tưởng của Đảng. Tại Đại hội VII (1991), Đảng đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí
Minh vào nền tảng tư tưởng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 và
nhiều văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng đều khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”1.
Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận
thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với
những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng khoa học và cách mạng
của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thắng lợi của cách
mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng: nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò quyết định đến mọi thành công
của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong đấu tranh giải phóng dân
tộc, xây dựng, bảo vệ đất nước, nhất là trong 35 năm đổi mới chính là nhờ sự
kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức
thiết của cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.
Nhưng đây cũng là mục tiêu chủ yếu mà các thế lực thù địch tập trung chống phá,
nhằm làm cho Đảng ta mất phương hướng lãnh đạo, dẫn đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo
đối với Nhà nước và xã hội.
Sau nhiều thập kỷ
chống phá không thành công, các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức hoạt
động, tận dụng triệt để sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội để chia
sẻ, phát tán luận điệu sai về khoa học, phản động về chính trị, tạo nên sự
nhiễu loạn thông tin, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động về tư
tưởng, mất phương hướng chính trị, như: tạo dựng, xuyên tạc bản chất khoa học,
cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo
của Đảng, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lấy “chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền
tảng tư tưởng là “bảo thủ”, đi theo vết xe đổ của Liên Xô; “Chủ nghĩa
xã hội mà C. Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, rồi
“khuyên” Đảng ta nên đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “đa nguyên
chính trị”, “đa đảng đối lập”,... để gây mơ hồ, làm suy giảm niềm tin của
nhân dân đối với Đảng. Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tăng cường xuyên
tạc nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, cho rằng
“một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị,
trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “bầu cử chỉ là “màn kịch dân
chủ”, Đảng Cộng sản đang độc diễn”, “không có bầu cử dân chủ khi còn thể thức
Đảng cử dân bầu”, “Đảng chỉ đạo cơ cấu tỷ lệ đại biểu trước khi bầu, nên sẽ
không có một Quốc hội đại diện cho nhân dân”, v.v. Vì vậy, nhận diện đúng
quan điểm sai trái, thù địch, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, xác định giải
pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, có ý
nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ
nghĩa.
Nhận thức rõ trách
nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, lâu
dài của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó Quân đội là một trong
những lực lượng nòng cốt, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng đã quán triệt,
thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị
về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Cán bộ, chiến sĩ trung thành
tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có “sức đề kháng”, khả năng “miễn
dịch” trước các luận điệu phản động. Lực lượng nòng cốt được tổ chức chặt chẽ,
bài bản, phương pháp đấu tranh linh hoạt, sáng tạo; nhiều tác phẩm báo chí được
độc giả đánh giá cao; nhiều trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội có số lượng
tương tác, chia sẻ, lan tỏa lớn, tạo hiệu ứng tích cực trên mạng xã hội. Các
đơn vị kỹ thuật triệt phá nhiều trang, nhóm, tài khoản giả mạo, góp phần bảo vệ
vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

