Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam và một số hàm ý chính sách.

 - Chuyển đổi số là nội dung cơ bản trong trụ cột kỹ thuật số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đang trở thành xu hướng tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh, tận dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực nhàn rỗi của xã hội, thực hiện thành công mục tiêu vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có khả năng cạnh tranh ở khu vực và thế giới.

Xu hướng chuyển đổi số ở Việt Nam

Chuyển đổi số (digital transformation) là việc ứng dụng những tiến bộ về công nghệ số, như điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data)... vào mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… nhằm mang lại hiệu suất cao, thúc đẩy phát triển doanh thu, nâng tầm thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, “một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối”(1)Năm 2020, lần đầu tiên, Liên hợp quốc sử dụng cụm từ “Digital Government” (Chính phủ số) làm chủ đề cho Báo cáo khảo sát chính phủ điện tử, thể hiện xu hướng phát triển chính phủ số trên toàn cầu.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan gian trưng bày sản phẩm công nghệ số của các doanh nghiệp tham dự Diễn đàn quốc gia Phát triển doanh nghiệp công nghệ số lần thứ 3, năm 2021 _ Ảnh: TTXVN

Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Kinh tế số của Việt Nam năm 2019 đạt giá trị 12 tỷ USD, đóng góp 5% GDP của đất nước(2). Kinh tế Việt Nam đang thay đổi nhanh thông qua việc áp dụng công nghệ số. Một số ngành công nghiệp tại Việt Nam đang được số hóa nhanh chóng, như: thương mại điện tử, du lịch, nội dung số và công nghệ tài chính (fin-tech). Đây là những ngành tiềm năng cho nền kinh tế số Việt Nam trong thời gian tới. Kết quả từ các nghiên cứu trong báo cáo “Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045” do Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ Ô–xtrây-lia (CSIRO) và Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố năm 2019 cho thấy mức độ sẵn sàng cho chuyển đổi số. Các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực này gặp khó khăn khi áp dụng công nghệ mới do vấn đề tài chính và kỹ thuật, nhưng họ nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghệ số trong sản xuất. Với bối cảnh của Việt Nam trong năm 2019, nền kinh tế số của Việt Nam vẫn có tiềm năng cao - cả trong các ngành truyền thống và các ngành mới nổi. Kết quả khảo sát người tiêu dùng cho thấy, khi các ngành công nghiệp chuyển đổi, người tiêu dùng Việt Nam đang thích ứng nhanh chóng và chấp nhận các sản phẩm và dịch vụ mới của nền kinh tế số. Điều này có lợi cho việc thu hút đầu tư và phát triển nền kinh tế số của nước ta… Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thử nghiệm 5G(3). Hạ tầng internet, chương trình dịch vụ phổ cập đầu tiên đã được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010 trên cơ sở Quyết định số 74/2006/QĐ-TTg, ngày 7-4-2006, của Thủ tướng Chính phủ, với kinh phí thực hiện Chương trình ước tính khoảng 5.200 tỷ đồng.

Năm 2018, Việt Nam đã tham gia Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN (ASCN) và phê duyệt Kế hoạch phát triển thành phố thông minh bền vững giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, của Thủ tướng Chính phủ với các nhóm giải pháp bao gồm: Rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, định mức kinh tế - kỹ thuật và ban hành các hướng dẫn về phát triển đô thị thông minh bền vững; từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực đô thị thông minh, thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đô thị thông minh bền vững; hình thành, kết nối liên thông, duy trì và vận hành hệ thống dữ liệu không gian đô thị số hóa và cơ sở dữ liệu đô thị quốc gia; đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông minh trong quy hoạch và quản lý phát triển đô thị; phát triển hạ tầng đô thị thông minh; phát triển các tiện ích thông minh cho dân cư đô thị; xây dựng tiềm lực phát triển đô thị thông minh bền vững; tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trong và ngoài nước; tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, trao đổi chuyển giao công nghệ về phát triển đô thị thông minh bền vững; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về đô thị thông minh. 

Theo Ngân hàng Thế giới, có năm trụ cột chính cho một nền kinh tế kỹ thuật số sôi động, an toàn và bao trùm ở một quốc gia(4): i) hạ tầng kỹ thuật số; ii) các nền tảng kỹ thuật số; iii) dịch vụ tài chính kỹ thuật số; iv) tinh thần kinh doanh kỹ thuật số và v) kỹ năng kỹ thuật số. Nền tảng cho số hóa ở Việt Nam gần đây đã được phát triển đáng kể hướng tới bảo đảm các trụ cột này. Dịch vụ internet tốc độ cao, thiết bị thông minh và điện thoại di động ở Việt Nam đang trở nên phổ biến. Tính đến tháng 1-2021, dân số Việt Nam đạt mốc 97,8 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 37,7%. Trong đó, có khoảng 68,17 triệu người đang sử dụng internet (chiếm 70,3% dân số) thông qua các nền tảng, ứng dụng khác nhau, với thời lượng trung bình là 6 giờ 47 phút. Đây được xem là khoảng thời gian tương đối lớn được sử dụng trong 1 ngày(5). Việt Nam là một trong những nước có số lượng tên miền đăng ký cao nhất trong khu vực ASEAN(6). Theo Báo cáo của VNNIC, tính đến ngày 31-10-2019, số lượng tên miền tại Việt Nam đạt trên 500.000 tên miền. Tên miền “.vn” là tên miền quốc gia có số lượng người đăng ký sử dụng lớn nhất ASEAN và tốp 10 châu Á - Thái Bình Dương. Có 145,8 triệu kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020. Số lượng kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020 tương đương 150% tổng dân số. Thị trường điện toán đám mây của Việt Nam đạt khoảng 133 triệu USD (tương đương khoảng 3.200 tỷ đồng). Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 27 trung tâm dữ liệu (IDC) của 11 doanh nghiệp trong nước đầu tư, 270.000 máy chủ trên khắp cả nước(7).

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm tiếp cận chuyển đổi số. Chủ trương về chuyển đổi số đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh(8). Chuyển đổi số đã được ghi nhận trong nhiều lĩnh vực, ví dụ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong nông thôn mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, xây dựng nông thôn mới thông minh… theo tinh thần mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; hỗ trợ về kết cấu hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin để hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, hình thành sàn giao dịch việc làm trực tuyến và xây dựng các cơ sở dữ liệu trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, chuyển đổi số trong tổ chức triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030… Nhiều văn bản quan trọng về chuyển đổi số đã được ban hành(9). Ngoài ra, còn nhiều văn bản pháp luật áp dụng cho từng địa phương và văn bản của từng tỉnh, thành phố áp dụng đối với địa phương mình, tạo nền tảng cho chuyển đổi số(10). Hoạt động chuyển đổi số đã đạt được những kết quả tích cực ở cả 3 trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Xếp hạng Chỉ số phát triển chính phủ điện tử theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển chính phủ điện tử năm 2020, Việt Nam tăng 3 bậc so với năm 2016.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 hoàn thành cơ bản chuyển đổi số và đến năm 2025 trở thành doanh nghiệp hoạt động trên môi trường số (Trong ảnh: Ứng dụng công nghệ số vào công tác vận hành phát điện tại Công ty Thuỷ điện Sơn La)_Ảnh: TTXVN

Các quy định liên quan đến chuyển đổi số trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động tới chuyển đổi số ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA); gần đây nhất đã ký kết các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...

Về tổng thể, có thể thấy, các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc thực thi các FTA: Nhóm các cam kết mà pháp luật Việt Nam bảo đảm tính tương thích tại thời điểm phê chuẩn các FTA; nhóm các cam kết mà việc thực thi trên thực tế ở Việt Nam không đòi hỏi phải thực hiện thông qua các quy định pháp luật cụ thể; nhóm các cam kết về các ràng buộc tương lai; nhóm các cam kết dưới dạng các khuyến nghị hoặc quyền lựa chọn.

Các hiệp định này đã xác lập nhiều quy định liên quan đến chuyển đổi số, như quy định về các sản phẩm số, quy định về bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, quy định về thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, quy định về nhãn hiệu điện tử, chứng thực chữ ký điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, các quy định về chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, quy định về các sản phẩm công nghệ truyền thông và thông tin (ICT) có sử dụng công nghệ mã hóa, về tương thích điện từ của các sản phẩm thiết bị công nghệ thông tin (ITE), về các dịch vụ máy tính, về tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định các biện pháp bảo hộ cạnh tranh với nhà cung cấp chủ đạo, quy định về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan, các quy định về việc thu hoặc áp thuế trực tiếp, xác định, phân bổ hoặc phân chia thu nhập, lợi nhuận, khấu trừ hoặc tín dụng, các quy định về mua sắm chính phủ đối với Việt Nam (bao gồm cả cơ quan cấp Trung ương, cơ quan cấp địa phương và các cơ quan khác)…(11). Các FTA thế hệ mới cũng có các điều khoản thành lập các cơ quan liên quan đến chuyển đổi số(12).

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong các hoạt động thương mại, gắn với nhiều lĩnh vực khác nhau, như sở hữu trí tuệ, thuế quan, hạ tầng số, thanh toán không dùng tiền mặt và công nghệ tài chính (fintech), logistics,.... Việt Nam cũng có nhiều cải cách về thương mại và đầu tư nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài hưởng lợi từ các FTA, trong đó có các FTA thế hệ mới. Ví dụ, việc ban hành các quy định liên quan tới chứng nhận xuất xứ hoặc truy xuất nguồn gốc điện tử tạo ra con đường dẫn tới chuyển đổi số của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tại Việt Nam. Các FTA thế hệ mới được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao tạo thuận lợi cho chuyển đổi số, thu hút các tập đoàn lớn của nước ngoài...

Việc tham gia các FTA thế hệ mới được kỳ vọng và đã mang lại nhiều tín hiệu khả quan cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (bình quân từ 2,18% đến 3,25% cho 5 năm đầu thực hiện và khoảng 4,57% đến 5,3% cho 5 năm tiếp theo) và trao đổi thương mại hai chiều (xuất khẩu sang EU tăng khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 trong khi nhập khẩu từ EU tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030)(13). Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, tính đến ngày 20-12-2021, vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2%; vốn thực hiện đạt 19,74 tỷ USD, giảm 1,2% so với năm 2020. Có 1.738 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giảm 31,1%; vốn đăng ký đạt 15,2 tỷ USD, tăng 4,1%Có 985 lượt dự án điều chỉnh, giảm 13,6%; vốn đầu tư đạt 9 tỷ USDtăng 40,5%. Có 3.797 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, giảm 38,2%, vốn góp đạt 6,9 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ. Sau hơn một năm đi vào triển khai, Hiệp định EVFTA đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt 41,29 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, xuất khẩu đạt 28,85 tỷ USD, tăng 11,7%(14).

Các FTA thế hệ mới có khả năng thúc đẩy đầu tư chất lượng cao vào một số ngành mà các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng, như: sản xuất công nghệ cao, chăm sóc sức khỏe, năng lượng sạch và tái tạo, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ tài chính, qua đó tạo cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến cho các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời có thể được hưởng lợi từ kiến thức, công nghệ, bí quyết mà các nhà đầu tư nước ngoài mang lại. Các tiêu chuẩn cao từ các FTA thế hệ mới sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp và chuyển đổi kỹ thuật để đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn của thị trường nước ngoài.

Sản xuất sản phẩm thiết bị đầu cuối của VNPT Technology - đơn vị chủ lực của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất viễn thông công nghệ thông tin, truyền thông và công nghiệp nội dung số_Ảnh: Tư liệu

Các quy định trong các FTA thế hệ mới tạo ra một số thách thức đối với việc hoàn thiện các chính sách, pháp luật để thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới. Một số quy định hiện hành của Việt Nam về chuyển đổi số chưa phù hợp với các cam kết quốc tế. Điều 26 Luật An ninh mạng năm 2018 quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên internet có hoạt động thu thập, khai thác, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam, nhưng Điều NN.13 của Hiệp định CPTPP không cho phép các quốc gia thành viên yêu cầu một doanh nghiệp nước ngoài phải đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của mình như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ nước đó. Nhiều luật đã được ban hành từ khá lâu nhưng chưa được rà soát sửa đổi. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có một số điểm chưa tương thích với các luật được ban hành sau, như Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng khi có đề cập việc không được sử dụng thông tin vào mục đích khác trái với quy định về việc sử dụng thông tin đó, không tiết lộ thông tin cho bên thứ ba..., nhưng chưa quy định về sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử để tránh lộ, lọt thông tin của người dùng... Các quy định hiện hành về bảo mật dữ liệu cá nhân còn thiếu và không đủ hiệu lực, dẫn đến tình trạng dữ liệu cá nhân không được bảo mật. Một số lĩnh vực gắn với chuyển đổi số, như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối (blockchain) chưa có các văn bản pháp luật phù hợp để điều chỉnh… Các quy định của pháp luật cạnh tranh cũng hầu như chưa đề cập tới các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành ở Việt Nam để phản ánh yêu cầu của các FTA thế hệ mới.

Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Để chủ động thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam, cần tiếp tục quan tâm tới các vấn đề sau:

Một là, chú trọng hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách liên quan đến quy định trong các FTA thế hệ mới, như sản phẩm số, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, nhãn hiệu điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, dịch vụ máy tính, tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định về các biện pháp bảo hộ cạnh tranh…; có cơ quan chuyên trách, có thẩm quyền trong thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung vào những ngành, lĩnh vực đột phá; hạ tầng thông tin; tạo thuận lợi và hỗ trợ phù hợp cho doanh nghiệp; hỗ trợ trong việc tạo ra môi trường thử nghiệm cho các mô hình kinh doanh, sản phẩm mới, tiến hành các khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sand box) cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các phát kiến đổi mới trong điều kiện thị trường thực tế; xây dựng khung chính sách, pháp luật về quản trị dữ liệu quốc gia (như trách nhiệm, phân cấp quản lý dữ liệu; kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu; quy định về dữ liệu gốc; quản lý chất lượng dữ liệu; quản lý vận hành dữ liệu; quản lý an ninh dữ liệu…); ban hành quy định gắn với việc nâng cao trách nhiệm của nhà mạng cung cấp dịch vụ qua các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới nhưng phải bảo đảm nguyên tắc thực thi công bằng, trách nhiệm như nhau trước pháp luật đối với cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật cần bảo đảm bám sát các định hướng chung của Việt Nam, xu hướng, thông lệ của thế giới và có sự tham vấn ý kiến rộng rãi.

Đổi mới toàn diện các quy trình quản lý nhà nước gắn với chuyển đổi số như: đơn giản hóa thủ tục thẩm định; chuyển sang công nghệ số, qua internet để cấp giấy chứng nhận đầu tư trong thời gian ngắn nhất... Tập trung xây dựng các văn bản pháp luật gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, định danh và xác thực điện tử, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành (bao gồm việc kết nối với cơ sở dữ liệu về thuế, hải quan, ngân hàng, giấy phép lái xe, bảo hiểm y tế để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước công dân gắn chíp phục vụ tiện ích cho người dân; chuẩn bị nền tảng dữ liệu để tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp định danh và xác thực điện tử...); thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số; có giải pháp để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số; thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số; hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh...

Sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử_Nguồn: phunuvietnam.vn

Hai là, cần chú trọng các trụ cột liên quan đến năng lực quản lý chuyển đổi số, đó là trụ cột chiến lược, trụ cột văn hóa và trụ cột quản trị. Chiến lược quản trị, khi được xác định cụ thể, rõ ràng và đúng đắn, sẽ giúp hành trình chuyển đổi số đi đúng hướng, còn văn hóa kỹ thuật số sẽ giúp duy trì sự chuyển đổi đó trong dài hạn. Cần lưu ý rằng, năng lực quản lý chuyển đổi và nền tảng kỹ thuật số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Ba là, phát triển hạ tầng số, trong đó nhấn mạnh các lĩnh vực như phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao, phát triển hạ tầng kết nối internet vạn vật, thu hút, đưa các nền tảng công nghệ, dịch vụ lớn trên thế giới đặt tại Việt Nam… Nghiên cứu hình thành cơ chế quản lý dữ liệu lớn và kho dữ liệu nhằm xử lý khối lượng lớn dữ liệu do các cơ quan, tổ chức của Nhà nước tạo ra, trên cơ sở đó cho phép Chính phủ ra các quyết định tối ưu, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra trong lộ trình chuyển đổi số. Đối với các hoạt động có yếu tố thương mại điện tử trên các phương tiện truyền thông xã hội, cần có cơ chế quản lý riêng và phù hợp với từng dạng thức. Đối với các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới, cần nắm rõ cách thức vận hành, từ đó xây dựng quy định quản lý hoạt động của các nền tảng này một cách hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động liên quan đến các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới thông báo hoạt động của họ thông qua các cách thức trực tuyến./.

-----------------

(1) Vial, Gregory: “Understanding digital transformation: A review and a research agenda” (Tạm dịch: Hiểu về chuyển đổi kỹ thuật số: Đánh giá và chương trình nghiên cứu), The Journal of Strategic Information Systems, 2006
(2) “e-Conomy SEA 2019 - Swipe up and to the right: Southeast Asia’s $100 billion Internet economy” (Tạm dịch: e-Conomy SEA 2019 - Phát triển và đúng hướng: Nền kinh tế Internet trị giá 100 tỷ USD của Đông Nam Á), https://www.bain.com/globalassets/noindex/2019/google_temasek_bain_e_conomy_sea_2019_report.pdf, 2019
(3) Cameron A, Pham T H, Atherton J, Nguyen D H, Nguyen T P, Tran S T, Nguyen T N, Trinh H Y & Hajkowicz S: Vietnam’s future digital economy – Towards 2030 and 2045 (Tạm dịch: Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045), CSIRO, Brisbane, 2019
(4Digital Solutions in a Time of Crisis: Uganda Economic Update (Tạm dịch: Giải pháp kỹ thuật số trong thời kỳ khủng hoảng: Cập nhật kinh tế U-gan-đa), Fifteenth Edition, July 2020, World Bank, Washington, DC, 2020
(5) Thống kê internet Việt Nam 2021, https://vnetwork.vn/vi/news/thong-ke-tinh-hinh-internet-viet-nam-nam-2021
(6Báo cáo số liệu internet tại Việt Nam, https://vnetwork.vn/news/cac-solieu-thong-ke-internet-viet-nam-2019
(7Thực trạng phát triển điện toán đám mây tại Việt Namhttps://vnpt.com.vn/doanh-nghiep/tu-van/dien-toan-dam-may-tai-viet-nam.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 221
(9) Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Viễn thông năm 2009, Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009, Luật Lưu trữ năm 2011, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018,…; các Luật có chứa những điều khoản về chuyển đổi số như Luật Quản lý thuế, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Quy hoạch, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công…; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, ngày 16-05-2013, của Chính phủ, về thương mại điện tử; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, của Chính phủ, hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về giao dịch điện tử chữ ký số, chứng thực chữ ký số; Nghị định số 165/2018/NĐ-CP của Chính phủ, về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Chỉ thị số 02/CT-TTg, 23-01-2019, của Thủ tướng Chính phủ, về việc tăng cường sử dụng chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP, ngày 08-04-2020, của Chính phủ, về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP, ngày 09-04-2020, của Chính phủ, quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; Quyết định số 645/QĐ-TTg, ngày 15-05-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021 – 2025; Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03-06-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"…
(10) ví dụ Nghị quyết số 54/2017/QH14, của Quốc hội, về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 35/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, Nghị quyết số 38/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế, Nghị quyết số 37/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết số 36/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An, Nghị quyết số 45/2022/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ…, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết 09-NQ/TU về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 662/QĐ-UBND, ngày 2-3-2021, phê duyệt đề cương, nhiệm vụ xây dựng Đề án Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành các Quyết định số 2392/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2393/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số của Thành phố Hồ Chí Minh…
(11) Ví dụ, về chính sách cạnh tranh, Hiệp định EVFTA có quy định riêng đối với việc trợ cấp cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, theo đó Điều 10.7 (Minh bạch hóa) và Điều 10.6 (Trợ cấp riêng có điều kiện) chỉ áp dụng đối với các ngành dịch vụ: viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải bao gồm hàng hải, năng lượng, dịch vụ máy tính, kiến trúc và cơ khí, dịch vụ xây dựng và môi trường, tùy thuộc vào các bảo lưu trong Chương 8 (Tự do hoá đầu tư, Thương mại dịch vụ và Thương mại điện tử). Về dịch vụ viễn thông, Hiệp định EVFTA quy định về các lĩnh vực hợp tác trong sở hữu trí tuệ (Điều 12.62) như chủ động tăng cường nhận thức và giáo dục công chúng nói chung về chính sách sở hữu trí tuệ bằng việc xây dựng các chiến lược hiệu quả để xác định các đối tượng chủ yếu và xây dựng chương trình truyền thông để tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và báo chí về tác động của việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm nguy cơ đối với sức khỏe và sự an toàn và mối liên hệ với tội phạm có tổ chức; thúc đẩy và phổ biến thông tin về quyền sở hữu trí tuệ trong, các cộng đồng kinh doanh, tổ chức nghề nghiệp xã hội, tổ chức xã hội, cũng như tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, bên cạnh các lĩnh vực khác; Hiệp định RCEP quy định (Điều 9) về trách nhiệm chung đối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng: 1. Mỗi Bên có trách nhiệm bảo đảm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông trên lãnh thổ quốc gia mình phải cung cấp kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng của Bên khác. 2. Mỗi Bên có trách nhiệm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng trên lãnh thổ quốc gia mình không được sử dụng hoặc cung cấp các thông tin nhạy cảm thương mại hoặc thông tin bảo mật của người sử dụng hoặc thông tin liên quan đến người sử dụng, mà nhà cung cấp dịch vụ đó có được thông qua các thoả thuận kết nối, ngoài mục đích cung cấp các dịch vụ kết nối đó…
(12) Điều 27.2.2(a) Hiệp định CPTPP thành lập Ủy ban về thương mại điện tử. Hiệp định EVFTA còn quy định về việc thành lập các ủy ban trực thuộc. Điều 17.2 Hiệp định EVFTA quy định về các ủy ban chuyên trách được thành lập trực thuộc Ủy ban Thương mại, trong đó có Ủy ban Đầu tư, thương mại dịch vụ, thương mại điện tử và mua sắm. Hiệp định RCEP thành lập Ủy ban hỗn hợp RCEP, trong đó có Ủy ban Môi trường kinh doanh…
(13) Báo cáo tóm tắt số 192/BC-CP, ngày 8-5-2020, của Chính phủ, thuyết minh về Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)
(14) Nguyễn Hường: “EVFTA là một trong những Hiệp định thương mại tự do Việt Nam tận dụng tốt nhất trong năm đầu thực thi”, Trang thông tin điện tử Bộ Công Thương, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/evfta-la-mot-trong-nhung-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-tan-dung-tot-nhat-trong-nam-dau-thuc-thi.html, ngày 4-11-2021

Lật tẩy những chiếc “bình phong” mang tên hội, nhóm kín

Theo dõi trang mạng “Năng lượng gốc Trống Đồng”, chúng tôi thấy, họ tích cực quảng bá việc truyền năng lượng gốc như một giải pháp chữa bệnh thần kỳ, có thể tự chữa lành mọi bệnh tật, kể cả ung thư hay Covid-19, có cả những video hướng dẫn cách đặt tay chữa lành tất cả các bệnh liên quan đến hệ thần kinh và não bộ. Không chỉ sử dụng chiêu bài chữa bách bệnh bằng những phương pháp kỳ dị, phản khoa học; những người này còn chia sẻ những thông tin mang yếu tố tâm linh, ma mị, tà đạo.

Đáng chú ý là hội nhóm này chỉ “rỉ tai” thôi mà có tốc độ lan truyền rất nhanh, rất mạnh lôi kéo nhiều người tham gia. Đây chính là chiêu thức mới của các hội nhóm kín, thông qua các hoạt động đi vào lòng người như chữa bệnh, hỗ trợ dân oan, hoạt động ái hữu…

          Hầu hết các hội nhóm kín này đều lợi dụng “tự do, dân chủ, nhân quyền” lôi kéo các thành viên tham gia các hội nhóm tiến hành các hoạt động như tuyên truyền chống phá, tụ tập biểu tình, tham gia các khóa huấn luyện, đào tạo... để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt có những hội nhóm như “Người cầm đuốc” quy ước với nhau các thành viên trong nhóm đều sử dụng “nick ảo”, hoạt động theo số bí danh; giữa các thành viên trong nhóm không biết tên thật của nhau, chỉ cần biết nhiệm vụ, số lượng người tham gia nhiệm vụ, mục đích nhằm “giữ an toàn” cho các thành viên. Với nhiều thủ đoạn lôi kéo như tạo thành các facebook “trắng” để xâm nhập vào các nhóm có liên quan đến nhiều lĩnh vực của xã hội như hội đồng hương, kinh doanh, lái xe, hội khóa, lớp, thâm nhập vào các điểm nóng khiếu kiện để lôi kéo thành lập nhóm dân oan… Có một số hội nhóm liên hệ, chia sẻ những bài tuyên truyền phản động, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, thường thì chúng lợi dụng vào các dịp lễ tết, bám sát những sự kiện chính trị trong nước, theo sát những vụ việc chống tham nhũng để kích động, làm cho thông tin mang tính thời sự. Một số hội nhóm có mối liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động, khủng bố như: “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; Việt Tân… để tham gia vào các hoạt động biểu tình, chống đối giải phóng mặt bằng, rải truyền đơn, kích động bạo loạn.

          Có thể nói với vỏ bọc “hội nhóm kín” các tổ chức phản động đang tìm mọi cách tiếp cận, với nhiều hình thức lôi kéo tinh vi trong đó có chiêu thức “dân sự hóa” các “hành vi chính trị” để âm thầm phát triển tổ chức, phổ cập truyền thông, len lỏi vào hội nhóm xã hội trên không gian mạng. Tuy vậy “những viên đạn bọc đường” dù có tinh vi thế nào cũng bị nhân dân ta phát giác. Qua theo dõi các buổi mạn đàm, hội luận có khá nhiều ý kiến phản ứng lại, vạch trần mưu đồ ẩn sau của bọn chúng. Không gian mạng đang là một trong những không gian không thể thiếu của xã hội loài người, nó mang đến những tiện ích cho xã hội hiện đại, nhưng nó cũng tràn ngập những “rác rưởi” được tạo bởi những mưu mô thâm độc.

Vì vậy mỗi chúng ta khi trải nghiệm trên không gian mạng cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để bổ sung cho mình những thông tin, lợi ích phục vụ tốt cho cuộc sống, tránh không bị lôi kéo vào các tổ chức phản động, hội nhóm kín hoạt động phản quốc và tốt hơn là hãy phát giác, cảnh báo người thân, bạn bè trong các hội nhóm cùng phản bác lại những kẻ lợi dụng không gian mạng để trục lợi cho những mưu đồ bất chính.

THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 


Các nội dung tuyên truyền, giáo dục phải coi trọng tạo nên sự đồng thuận về nhận thức trong nhân dân, làm cơ sở tạo đồng thuận về hành động. Nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục nhân dân phải phù hợp đối tượng, địa phương, phong phú, sinh động, sâu sắc nhằm xây dựng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đoàn kết sát cánh bên nhau trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, chống âm mưu và hành động chia rẽ dân tộc, chủ nghĩa ly khai của các thế lực thù địch. Dân tộc, tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp, tính phức tạp lại tăng lên khi bị các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Hiện nay nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường, khó tránh khỏi sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền. Nếu không giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo sẽ khó xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Vì vậy, phải nghiên cứu làm sáng tỏ đường lối chính trị đại đoàn kết toàn dân của Đảng, tuyên truyền sâu rộng truyền thống đoàn kết trong dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, phương thức nâng cao hiệu quả hoạt động và tập trung thực hiện các trọng tâm: Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; phát huy tính sáng tạo và tự quản của nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh./.

vubao6

 

 

Bác bỏ luận điệu sai trái về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

    Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam, trong đó mục tiêu phát triển văn hoá và con người là một trong những nội dung mà chúng tập trung chống phá. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái về mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam từ góc nhìn phát triển văn hoá và con người là vấn đề cấp thiết hiện nayCNXH33333

Có nhiều quan niệm khác nhau về CNXH, nhưng theo nghĩa chung nhất, CNXH từ chỗ là một trào lưu tư tưởng đã trở thành một phong trào hiện thực, bắt đầu từ khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Đó là chế độ xã hội mới, dựa trên sự công bằng, tiến bộ về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nhằm giải phóng triệt để con người khỏi áp bức, bóc lột bất công.

 

Những năm đầu thế kỉ XX, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc. Đi theo con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh xác lập, là thực hiện “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đây là con đường với hai giai đoạn liên tục, kế tiếp nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, trong đó đi lên CNXH được tiến hành sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, và CNXH là mục tiêu, là cơ sở để bảo đảm cho độc lập dân tộc bền vững.


Chính nhờ kiên định con đường đi lên CNXH, mà cách mạng Việt Nam ngày càng thu được nhiều thắng lợi, tạo tiền đề để tiếp tục quá độ lên CNXH. Tuy vậy, lợi dụng vào Internet và mạng xã hội, trang blog của Dân làm báo đăng tải bài viết của blogger Nguyễn Dân với tiêu đề “Đường đi không đến” để đưa ra các thông tin mù mờ, với luận điệu phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta. Không chỉ vậy, một số facebooker, blogger khác cũng hùa vào công kích con đường đi lên CNXH, nhất là mục tiêu phát triển văn hoá và con người Việt Nam, họ lớn tiếng vu cáo Chính phủ Việt Nam đàn áp tự do, dân tộc, tôn giáo, vi phạm nhân quyền; cổ suý lối sống thực dụng, vô cảm;... Sự thật có đúng như họ tuyên truyền hay không?

 

Có thể khẳng định rằng, mục tiêu xây dựng văn hoá và con người Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập được dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH là sự lựa chọn đúng đắn; đồng thời mục tiêu này còn xuất phát từ chính thực tiễn quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, theo Bác: Chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa là bốn vấn đề cần được coi trọng ngang nhau. Đến nay, quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa và con người trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ngày càng hoàn chỉnh, được thể hiện sâu sắc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá XI và trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

 

Từ thực tiễn thực hiện mục tiêu phát triển văn hoá và con người ở Việt Nam qua hơn 35 năm đổi mới đất nước, chúng ta thấy rằng thành tựu nổi bật của sự nghiệp phát triển văn hoá, con người Việt Nam được minh chứng thông qua các số liệu cụ thể về phát triển văn hoá, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng: Nhận thức về văn hoá ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn; sản phẩm và loại hình văn hoá ngày càng đa dạng, phong phú; nhiều giá trị văn hoá được bảo tồn, phát huy cùng với những giá trị văn hoá mới, tiến bộ được xác lập; phát triển toàn diện con người luôn là trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; giảm nghèo bền vững, chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm cao của thế giới; hệ thống điện, đường, trường, trạm được quan tâm xây dựng; tỉ lệ người dân sử dụng Internet thuộc top cao nhất thế giới; quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội cho các đối tượng người yếu thế trong xã hội, người có công với cách mạng có chuyển biến rõ rệt; tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng tăng; bảo đảm và thực thi quyền con người, quyền công dân trên tất cả các mặt về quyền dân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội được coi trọng theo công pháp quốc tế.

 

Các thành tựu nói trên là minh chứng không thể phủ nhận về sự chuyển biến của việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân thông qua thực hiện mục tiêu phát triển văn hoá và con người của con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, chúng ta càng thấy rõ việc Đảng ta khẳng định nhất quán con đường quá độ đi lên CNXH là vấn đề tất yếu khách quan; là sự lựa chọn của lịch sử đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”. Không chỉ vậy, những kết quả nói trên cùng với việc hoạch định đúng mục tiêu phát triển văn hoá và con người, đang tạo ra nguồn lực nội sinh to lớn của dân tộc, khẳng định uy tín, vị thế của nước ta trên trường quốc tế như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc về mục tiêu phát triển văn hoá và con người của con đường quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam đều phi lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn, hoàn toàn mang tính áp đặt, chủ quan và chỉ là mưu đồ đòi xoá bỏ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà Nước và Nhân dân ta đã dày công xây dựng.

 

Mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam từ góc nhìn phát triển văn hóa và con người vừa là thành quả, vừa là một nội dung cơ bản, xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nội dung phản ánh tư duy lý luận khoa học, cách mạng và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong hơn 90 năm qua. Đồng thời mục tiêu này còn là con đường tất yếu của lịch sử, bởi nó phù hợp với quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, đáp ứng khát vọng của nhân dân Việt Nam về cuộc sống trong hoà bình, độc lập, ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam sẽ bị chính thực tiễn lịch sử của cách mạng nước ta phủ nhận.

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nắm chắc, đánh giá đúng tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng – an ninh trên biên giới và nội địa  không để bị động, bất ngờ; chủ động ứng phó kịp thời với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự xảy ra ở một số địa phương; đồng thời, tích cực đấu tranh phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .

Cấp ủy đảng, chỉ huy các đơn vị đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức nhiều hội nghị để bàn chủ trương, biện pháp giải quyết những vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn đã chủ động làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng các phương án tác chiến trị an, xây dựng phương án và kế hoạch tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo, nhất là trong giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Thường xuyên chăm lo, củng cố quốc phòng – an ninh, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động tham gia giải quyết các vụ phức tạp vùng đồng bào dân tộc tôn giáo, đồng bào theo đạo, phát hiện, ngăn chặn kịp thời hiện tượng truyền đạo, sinh hoạt đạo trái pháp luật. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đủ số lượng, chất lượng chính trị cao, đúng cơ cấu thành phần, trình độ quân sự, chuyên môn, tạo cơ sở để phát triển lực lượng khi cần thiết; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, chất lượng cao, đổi mới mô hình tổ chức, huấn luyện, hoạt động, tập trung xây dựng dân quân thường trực biên giới, địa bàn trọng điểm và dân quân tự vệ biển; tổ chức huấn luyện, diễn tập thiết thực, hiệu quả, gắn với bảo vệ địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở./.

vubao5

 

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nắm chắc, đánh giá đúng tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng – an ninh trên biên giới và nội địa  không để bị động, bất ngờ; chủ động ứng phó kịp thời với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự xảy ra ở một số địa phương; đồng thời, tích cực đấu tranh phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .

Cấp ủy đảng, chỉ huy các đơn vị đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức nhiều hội nghị để bàn chủ trương, biện pháp giải quyết những vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn đã chủ động làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng các phương án tác chiến trị an, xây dựng phương án và kế hoạch tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc tôn giáo, tín đồ tôn giáo, nhất là trong giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo. Thường xuyên chăm lo, củng cố quốc phòng – an ninh, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động tham gia giải quyết các vụ phức tạp vùng đồng bào dân tộc tôn giáo, đồng bào theo đạo, phát hiện, ngăn chặn kịp thời hiện tượng truyền đạo, sinh hoạt đạo trái pháp luật. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đủ số lượng, chất lượng chính trị cao, đúng cơ cấu thành phần, trình độ quân sự, chuyên môn, tạo cơ sở để phát triển lực lượng khi cần thiết; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, chất lượng cao, đổi mới mô hình tổ chức, huấn luyện, hoạt động, tập trung xây dựng dân quân thường trực biên giới, địa bàn trọng điểm và dân quân tự vệ biển; tổ chức huấn luyện, diễn tập thiết thực, hiệu quả, gắn với bảo vệ địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở./.

vubao4

 

QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC THAM GIA PHÒNG CHỐNG CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI Những năm tới, vấn đề dân tộc và tôn giáo có xu hướng gắn với nhau và là những vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, như gây sức ép về kinh tế-tài chính, tấn công mạng thông tin; triệt để sử dụng các trang mạng xã hội trên internet và vai trò của các tổ chức phi chính phủ để xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gieo mầm, thúc đẩy "xã hội dân sự", kích động phản kháng của các phần tử chống đối ở trong nước biểu tình, phản đối, lật đổ chế độ chính trị. Đặc điểm này đặt ra Quân đội phải đấy mạnh nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giảo” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của Đảng.

 

x

Những năm tới, vấn đề dân tộc và tôn giáo có xu hướng gắn với nhau và là những vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, như gây sức ép về kinh tế-tài chính, tấn công mạng thông tin; triệt để sử dụng các trang mạng xã hội trên internet và vai trò của các tổ chức phi chính phủ để xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gieo mầm, thúc đẩy "xã hội dân sự", kích động phản kháng của các phần tử chống đối ở trong nước biểu tình, phản đối, lật đổ chế độ chính trị.

Đặc điểm này đặt ra Quân đội phải đấy mạnh nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giảo” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của Đảng.

 

NÂNG CAO CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

 


Triển khai thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách cho quân nhân là người đồng bào dân tộc thiểu số, quân nhân theo đạo; gắn giáo dục, quản lý, rèn luyện với nắm tư tưởng, đặc điểm của từng quân nhân, chú trọng phát triển đảng viên, đoàn viên; công tác tuyển sinh, cử tuyển quân nhân là người dân tộc thiểu số, theo đạo đi đào tạo các trường trong quân đội, đào tạo sĩ quan dự bị, xây dựng nguồn cho các địa phương đào tạo y tá thôn, buôn, trung cấp y; lái xe ô tô là người dân tộc thiểu số, người theo đạo.

Quá trình tuyên truyền, cần tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của các già làng, trưởng thôn, buôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, các chức sắc, chức việc tôn giáo; phối hợp các han ngành, đoàn thể, lực lượng trên địa bàn; kết hợp với các hình thức hoạt động công tác dân vận: kết nghĩa, huấn luyện dã ngoại, công tác dân vận tập trung và tổ, đội công tác. Kết hợp tuyên truyền chung (sinh hoạt cộng đồng, họp thôn, bản, khu dân cư với tuyên truyền riêng gặp gỡ, trao đổi, đối thoại.

Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho già làng trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo để họ nhận thức sâu sắc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc, tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh, tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các lực lượng để tuyên truyền. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, tivi, panô, áp pích, khẩu hiệu, thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống, thực hiện các cuộc vận động để tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số không nghe, không tin theo các tà đạo, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá của các thế lực thù địch./.

vubao2

 

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” về văn hóa trên không gian mạng

Việc chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và của quần chúng nhân dân.

Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ và phát triển như vũ bão hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thì mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Vì vậy, việc chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và của quần chúng nhân dân.

“Diễn biến hòa bình” là một dạng thức hoạt động cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản cầm quyền, làm sụp đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa mà không cần phát động chiến tranh vũ trang”.

Việt Nam là nước có vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn 35 năm qua, Việt Nam đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của mình trên trường quốc tế. Song song với công cuộc phát triển và xây dựng đất nước, chúng ta cũng không ngừng đẩy mạnh việc phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã và đang điên cuồng tấn công ta trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Chúng coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để phá ta từ bên trong. Âm mưu sâu xa của chúng là thông qua xâm nhập phá hoại tư tưởng văn hóa để dẫn dắt, làm nảy sinh biến động về chính trị của xã hội ta, từ đó làm rối loạn về tư tưởng chính trị và niềm tin cách mạng của nhân dân ta.

Nấp dưới vỏ “văn hóa”, các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống xã hội ta, đồng thời tuyên truyền quảng bá văn hóa, lối sống phương Tây. Chúng kích động khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, không chịu sự quản lý của nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; lôi kéo văn nghệ sĩ sáng tác theo các trường phái khác lạ theo kiểu phương Tây, coi rẻ truyền thống văn hóa dân tộc, làm phai mờ các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng, gieo rắc lối sống phản động, lạc hậu, suy đồi, biến Việt Nam thành “thuộc địa văn hóa” của ngoại bang. Chúng cổ xúy cho lối sống vị kỷ, bản năng, thực dụng làm con người Việt Nam mất gốc, làm thay đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu. Chúng trắng trợn xuyên tạc lịch sử, chống phá nền tảng tư tưởng văn hóa - xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; bài xích, bác bỏ văn hóa, đạo đức, lối sống truyền thống dân tộc, văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa.

Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của công nghệ cao, các thế lực thù địch đang sử dụng triệt để các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, đặc biệt là mạng xã hội để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta. Vì, mạng xã hội đang là một trong những phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh, tiếp cận nhiều đối tượng công chúng.

Thực tế ở nước ta những năm qua xuất hiện nhiều các website, blog, fanpage, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang mạng xã hội (Facebook), Zalo (các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại), truyền thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, MySpace… phát tán dày đặc với tần suất lớn những thông tin, quan điểm trái chiều, xuyên tạc, chống phá Đảng và nhà nước ta. Dựa vào một số sự kiện đã hoặc sắp diễn ra, các thế lực thù địch đã nhào nặn hàng loạt tin, bài “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những số liệu không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh để cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin câu khách; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện chiến lược “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc dẫn đến “tự diễn biến” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chúng lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ, việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, qua đó kích động xã hội phản đối chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội...

Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhấn mạnh: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt” Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng không gian mạng nói chung, mạng xã hội nói riêng để chống phá ta trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa, do đó cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, giáo dục nâng cao nhận thức, sự đồng thuận, nhất trí cao của các tổ chức, lực lượng phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa nhận thức rõ vai trò của văn hóa trên mặt trận tư tưởng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hai là, xác định đúng nội dung, đa dạng hóa hình thức, biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa trên mạng xã hội. Về nội dung, tập trung vào việc nâng cao nhận thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc, quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa xã hội chủ nghĩa. Tạo sự thống nhất, đồng thuận về sự cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Về hình thức, biện pháp, đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa trên không gian mạng.

Ba là, xây dựng và phát huy vai trò của các cơ quan, lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa.

Bốn là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên không gian mạng. Tăng cường công tác kiểm soát, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; lựa chọn chủ đề tăng tính tương tác, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt thông tin định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng xã hội.

Năm là, các cơ quan tuyên truyền, các loại hình báo chí, nhất là các báo mạng điện tử, các trang mạng xã hội cần phát huy tốt vai trò đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu tuyên truyền, lừa mị về văn hóa của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa.

ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


Lợi dụng vấn đề dân tộc là một trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập. Kết hợp với can thiệp, trợ lực từ bên ngoài để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị của nước ta.

Hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, tổ chức xâm nhập, phá hoại trên các địa bàn chiến lược, nhạy cảm. “Nuôi dưỡng, chỉ đạo bọn phản động trong các dân tộc ở nước ngoài và mua chuộc, lôi kéo, hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước, tạo dựng "ngọn cờ", hình thành các tổ chức phản động để tập hợp lực lượng phá hoại cách mạng Việt Nam. Chúng ráo riết xây dựng các tổ chức phản động ở vùng dân tộc thiểu số và đẩy mạnh xây dựng các tổ chức, lực lượng phản động lưu vong người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động ở nước ngoài và lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ, như: "Mặt trận giải phóng Khmer Krôm", "Mặt trận Chămpa", "Mặt trận thống nhất đấu tranh của các chủng tộc bị áp bức"... Đây là những tổ chức phản động lưu vong được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn trên mọi phương diện.

Chúng thúc đẩy hoạt động của các tổ chức ở nước ngoài, như "Hội người Mông quốc tế", "Liên hiệp người Mông tự trị", "Văn phòng Chămpa quốc tế", "Liên minh người Chăm tị nạn", "Hội người Khmer Krôm"... Các tổ chức này vừa tập hợp, phát triển lực lượng là người các dân tộc thiểu số ngoài nước, vừa hỗ trợ móc nối, phát triển lực lượng ở trong nước ta; đồng thời, tìm cách gây áp lực với các tổ chức quốc tế có uy tín như Liên hợp quốc hoặc chính phủ của một số nước nhằm "quốc tế hóa" vấn đề dân tộc của nước ta, gây khó khăn cho Nhà nước Việt Nam.

vubao1