Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM HỘI NHẬP TÌNH HÌNH MỚI!

         Trong giai đoạn cách mạng mới, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, song nghệ thuật quân sự ngày nay không thể thoát ly nền nghệ thuật quân sự truyền thống với những quy luật đã được vận động trong chiến tranh và đã được kiểm chứng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, song phải phát triển vượt bậc về trình độ khoa học kỹ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến trong điều kiện chiến tranh kiểu mới, chống lại vũ khí công nghệ cao.     
     Nghệ thuật quân sự phải hàm chứa một nhiệm vụ quan trọng là tham gia đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để phát triển đất nước.     
     Cùng với đó, chúng ta phải luôn cảnh giác đập tan các luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch phủ nhận vai trò chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta./.




Môi trường ST.

Cảnh giác với cái gọi là “nhân danh nhân dân” của các thế lực chống phá

 


Nói lên tiếng nói của người dân là cách hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe. Chính vì thế, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng cái gọi là “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để xuyên tạc, kích động, lôi kéo người dân thực hiện các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đây là chiêu trò khá tinh vi, bài bản, đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác để nhận diện và kiên quyết đấu tranh. Mưu đồ đặt người dân trong mối quan hệ đối lập với chính quyền

Đây vừa là mục đích, vừa là thủ đoạn nguy hiểm nhằm phá hoại một trong những mối quan hệ “rường cột” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch - người đóng vai “đại diện cho nhân dân”. Cách thức phổ biến được các đối tượng chống phá thực hiện là đánh đồng hiện tượng của một hoặc một nhóm người với toàn thể nhân dân. Từ sự việc của một người dân, họ tô vẽ, thổi phồng để tìm sự đồng cảm của nhóm người, sau đó cộng hưởng với quá trình “tam sao, thất bản” trên internet, mạng xã hội, sự việc ấy sẽ bị đẩy lên mang tính toàn thể nhân dân, tạo cớ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

Với thủ đoạn: tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho các hoạt động chống đối chính quyền, cùng với việc xuyên tạc hình ảnh người dân thống khổ, các đối tượng chống phá còn thêu dệt nên hình ảnh của đảng độc tài, xã hội mất dân chủ, chính quyền yếu kém, quan tham,… không dừng lại ở đó, họ còn tìm mọi cách khai thác, nhào nặn, thêm thắt, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đặc biệt, lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, đưa ra xét xử do liên quan đến những vụ án tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng chống phá suy diễn, quy chụp, cho đó là tình trạng phổ biến, hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, là “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo,… gây hoài nghi và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Song, dù có cố tình tô vẽ thế nào, thì các thế lực chống phá cũng không thể che lấp sự thật là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền nhà nước các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân vẫn luôn bền chặt, gắn bó. Mọi hoạt động của chính quyền đều hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Gần đây, với những nỗ lực cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chuyển đổi số,... đã góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân với chính quyền các cấp, chính quyền phục vụ nhân dân tốt hơn, cán bộ, công chức gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc của nhân dân. Từ đó, nhân dân ngày càng phát huy dân chủ, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động, phong trào, cuộc vận động của các cấp chính quyền phát động hiệu quả hơn.

Bản chất của phương châm: "Nếu không có chuyện thì chúng ta dựng chuyện"

 

Thực hiện phương châm: "Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" (Joseph Goebbels - Bộ trưởng tuyên truyền của phát xít Đức), thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên bịa đặt, dựng chuyện, chống phá thông qua các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm.

Luận điểm này được xem là phương pháp luận của nhiều phần tử chống đối và các cơ quan truyền thông thù địch, họ nổi tiếng với biệt tài “nói dối”. Chung quy là chuyện có nói không! Đổi không thành có...! Thử lướt qua vài trang web của RFA, Thoibao.de, Chân trời mới, Việt Tân, các tài khoản Facebook cá nhân, các blogger nổi tiếng của các thành phần chống đối nhan nhản các bài viết thuộc diện “xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện”. Nào là “Muốn hốt vàng và kim cương của bà Nguyễn Phương Hằng, chính quyền toan tính gì?”, “Biến lớn ở Bộ Ngoại giao: 2 ông họ Tô bộ Công an tóm ông họ Tô ở Bộ Ngoại giao!”,...

Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Tuy thủ đoạn không mới nhưng so với trước đây, nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin đại chúng và Internet có tốc độ lan truyền cao nên hiện tại thủ đoạn này được triển khai mạnh mẽ.

Nổi lên là việc một số hội, nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài, tiến hành các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc. Chúng tung ra các bài viết, tài liệu, clip (như thật) đòi xét lại các vấn đề lịch sử, vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước, vừa “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một mặt thì dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu, độc, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân. Âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù là vô cùng thâm độc, diễn biến tình hình hết sức nguy hiểm nhưng với quyết tâm cao, kế thừa, phát huy trí tuệ, bản lĩnh của thế hệ đi trước, chúng ta nhất định giành thắng lợi trong trận chiến quan trọng này./.

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NGÀY GIA ĐÌNH VIỆT NAM 28/6


1. Ngày Gia đình Việt Nam là ngày gì? Nguồn gốc ra đời
Ngày Gia đình Việt Nam là ngày lễ nhằm tôn vinh nét đẹp mái ấm gia đình Việt Nam. Bởi gia đình luôn là mái ấm, là nơi bắt đầu mầm sống của mỗi con người, là “cái nôi” nuôi dưỡng dành cho mỗi chúng ta. Và ngày 28/6 hàng năm được chọn là ngày Gia đình Việt Nam. Là dịp để tri ân, nhắc nhở nên trân trọng mái ấm gia đình, quan tâm đến bậc làm cha mẹ.
Vậy lịch sử ra đời của ngày Gia đình Việt Nam bắt nguồn từ đâu? Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sự quan tâm đến mỗi gia đình, đến các hạt nhân của xã hội. Cụ thể: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Theo lời Bác, ngày 28/6/2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị 55 - CT/TW về việc tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Đến ngày 4/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 72/2001/QĐ-TTg. Lấy ngày 28/6 hằng năm là ngày Gia đình Việt Nam. Đề cao trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức, gia đình xây dựng gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc. Từ đó có thể giáo dục, chăm sóc trẻ em, góp phần xây dựng một Tổ quốc văn minh.
2. Ý nghĩa của ngày Gia đình Việt Nam
Gia đình là nơi bắt đầu của mỗi mầm sống, là nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời và chập chững từng bước đầu tiên vào đời. Trải qua nhiều thế kỷ, ngày Gia đình Việt Nam vẫn luôn hình thành, phát triển mang theo những dấu ấn văn hóa đặc trưng của con người Việt Nam. Đó là sự yêu thương, đùm bọc giữa các cá nhân, gia đình. Là sự yêu thương đùm bọc, kiên cường vượt qua mọi khó khăn và phát huy truyền thống tốt đẹp nhất. Gia đình luôn là một nhân tố quan trọng, góp phần vào sự phát triển chung của dân tộc.
Chính vì thế, ngày Gia đình Việt Nam luôn mang ý nghĩa về sự tôn vinh giá trị truyền thống văn hóa, là cơ hội để ngợi ca nên những nét đẹp cao cả ấy. Bên cạnh đó, trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì đây cũng là dịp để gia đình trở nên gắn kết, yêu thương, giao lưu lẫn nhau và tạo nên gia đình văn hóa. Hướng đến sự phát triển bền vững chung của mỗi dân tộc.
Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, hoa hồng và văn bản cho biết 'Chúc Mừng Ngày Gia đình Việt Nam 2816 Chuyên'
1

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 27/6/1968!

         “Phải luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm”.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư khen quân và dân miền Bắc, ngày 27/6/1968. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân miền Nam đang đánh mạnh, thắng to; quân và dân miền Bắc vừa lập công bắn rơi chiếc máy bay thứ 3.000 của giặc Mỹ xâm lược leo thang phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa bằng không quân.
Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất lớn, không chỉ động viên, khen ngợi quân và dân miền Bắc mà còn nhắc nhở quân và dân hai miền Nam - Bắc phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm hợp lực, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt; đồng thời, phải coi trọng việc phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau thi đua trong lao động sản xuất, trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn dân và toàn quân ta hăng hái chiến đấu đánh giặc lập công, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, tạo động lực vật chất, tinh thần cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi.
Ngày nay, đất nước hòa bình, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuy nhiên các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Do vậy, học tập và làm theo lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch.
Thấm nhuần lời dạy của Bác, từng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; làm chủ vũ khí trang bị; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Triển khai đầu tư bài bản, căn cơ để đưa Hà Nội phát triển

 

Triển khai đầu tư bài bản, căn cơ để đưa Hà Nội phát triển

Sáng 27/6, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng - Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đã tiếp xúc với cử tri huyện Đông Anh, quận Long Biên và quận Hoàn Kiếm để báo cáo kết quả Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV.

Tham gia cuộc tiếp xúc cử tri còn có các đại biểu Quốc hội Bùi Huyền Mai - Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội và đại biểu Quốc hội Trương Xuân Cừ - Phó Chủ tịch T.Ư Hội NCT Việt Nam.

Cùng tham gia có Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội Nguyễn Lan Hương; Phó Chủ tịch HĐND TP Phạm Quí Tiên; Phó Chủ tịch UBND TP Dương Đức Tuấn; Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Phạm Thị Thanh Mai.

Cuộc tiếp xúc cử tri được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến, từ điểm cầu chính tại trụ sở UBND huyện Đông Anh đến các điểm cầu quận Hoàn Kiếm, quận Long Biên và các xã, phường, thị trấn trên địa bàn 3 đơn vị với trên 2.000 cử tri tham dự.

Tại cuộc tiếp xúc, các cử tri đánh giá cao kết quả cũng như thành công của Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV. Theo đó, các cuộc chất vấn và trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội cũng như thành viên Chính phủ được đông đảo cử tri theo dõi, đánh giá cao. Kỳ họp cũng đã quyết định được nhiều nội dung quan trọng cho sự phát triển của đất nước không chỉ trong năm 2022 mà đến cả cuối nhiệm kỳ.

Đáng chú ý, các cử tri cũng bày tỏ vui mừng, phấn khởi khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội. Đồng thời mong muốn dự án trọng điểm quốc gia này sớm được triển khai với tinh thần mẫu mực, chất lượng, hiệu quả, không có tham nhũng tiêu cực để các công trình khác noi theo.

Tuy nhiên, cử tri cũng nêu nhiều kiến nghị liên quan đến đời sống dân sinh bức xúc. Cụ thể, cử tri Lê Minh Hà (phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm) cho rằng, trong các dự án luật được Quốc hội cho ý kiến, cử tri rất quan tâm đến dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và Luật Khám, chữa bệnh sửa đổi. Cử tri cho rằng đây là bước tiến quan trọng để thể chế hóa, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”. Tuy nhiên cần điều chỉnh phạm vi và đối tượng áp dụng đối với cộng đồng dân cư; xem xét làm rõ những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư. Về Luật Khám, chữa bệnh sửa đổi, cử tri kiến nghị cần nghiên cứu, xem xét kỹ những vấn đề liên quan đến tự chủ trong bệnh viện công, việc liên kết khám chữa bệnh để đảm bảo quyền lợi người bệnh.

Đề cập vấn đề sai phạm trong lĩnh vực y tế gần đây, cử tri Hoàng Mộng Tuất (phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm) mong Quốc hội, Chính phủ một mặt cần xử lý nghiêm, nhưng cũng cần tăng cường kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa sai phạm để xây dựng đội ngũ cán bộ ngành y tế vừa hồng, vừa chuyên. Đồng thời cũng kiến nghị cần xem xét, đưa mặt hàng sách giáo khoa và các ấn phẩm giáo dục vào mặt hàng Nhà nước quản lý; xem xét kỹ lộ trình tăng học phí để giảm khó khăn cho người dân.

Còn cử tri Nguyễn Đức Mạnh (phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm) cho biết, Nhân dân và cử tri mong muốn Quốc hội sớm thông qua Luật Đất đai sửa đổi để hạn chế những bất cập trong giá đất.

Trong khi đó, cử tri Phạm Trọng La (huyện Đông Anh) bày tỏ lo lắng về tình hình sức khỏe Nhân dân sau Covid-19 cũng như về việc làm, phục hồi kinh tế. Cử tri cũng đề nghị Quốc hội, Chính phủ xây dựng kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu; sớm có giải pháp hỗ trợ giá đối với một số mặt hàng để ổn định đời sống, ổn định sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, cử tri huyện Đông Anh cũng bày tỏ quyết tâm xây dựng huyện Đông Anh thành quận trong năm 2023. Đồng thời chuẩn bị đầy đủ điều kiện để Đông Anh cùng với Mê Linh, Sóc Sơn trở thành TP của Thủ đô.

Quyết tâm đạt mức cao nhất các chỉ tiêu năm 2022

Thay mặt các đại biểu Quốc hội phát biểu, Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng ghi nhận, tiếp thu đầy đủ ý kiến, kiến nghị của cử tri để tổng hợp báo cáo với Quốc hội và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, báo cáo trả lời cử tri.

Theo Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng, Kỳ họp thứ 3, Quốc hội XV diễn ra rất sôi nổi, khẩn trương, khoa học và trách nhiệm cao. Dù chỉ diễn ra trong 19 ngày, nhưng Kỳ họp đã xem xét một khối lượng lớn công việc. Đặc biệt, Quốc hội đã thông qua 5 dự án giao thông có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó có Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội với tỷ lệ thông qua rất cao.

“Đây là dự án đặc biệt quan trọng với Thủ đô, không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn tạo điều kiện kéo giãn mật độ dân cư nội đô, giúp giải bài toán mất cân đối, quá tải hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng kinh tế - xã hội; tăng cường khả năng kết nối, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Ngay trong chiều nay TP sẽ họp để triển khai thực hiện cũng như xác định lộ trình, phân công nhiệm vụ” -  Bí thư Thành ủy cho biết.

Nhấn mạnh ý kiến cử tri yêu cầu Dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội phải được thực hiện một cách mẫu mực, Bí thư Thành ủy khẳng định, TP đã thực hiện khâu chuẩn bị đầu tư một cách mẫu mực và tới đây quyết tâm để khâu tổ chức thực hiện cũng phải thật mẫu mực. Trong đó, TP sẽ giải phóng toàn tuyến từ 90-120m chiều ngang; đưa đường sắt quốc gia ra khỏi nội đô, chuyển tuyến đường sắt từ Yên Viên đến ga Hà Nội hiện nay thành tuyến đường sắt đô thị.

Đề cập đến về tình hình kinh tế - xã hội của cả nước, TP thời gian qua, Bí thư Thành ủy vui mừng cho biết, tăng trưởng kinh tế Thủ đô đã có sự phục hồi mạnh. Theo đó, 6 tháng đầu năm 2022, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Hà Nội ước tính tăng 7,79%, trong đó riêng quý II tăng tới 9,49%.

Từ đó, Bí thư Thành ủy đề nghị cán bộ, cử tri và Nhân dân các quận, huyện trong đó có quận Hoàn Kiếm, Long Biên, huyện Đông Anh tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết. Quyết tâm đạt mức cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển năm 2022. Phối hợp thực hiện hiệu quả các chủ trương lớn của TP, nhất là đầu tư tập trung tạo bước đột phá về giáo dục, y tế, văn hóa. Triển khai hiệu quả việc tiêm mũi 4 vaccine phòng Covid-19.

Đối với huyện Đông Anh, cùng với quyết tâm lên quận, Bí thư Thành ủy yêu cầu huyện phải tư duy trở thành TP tương lai để triển khai đầu tư một cách bài bản, căn cơ và phải bắt đầu từ quy hoạch, bảo đảm liên thông khi trở thành TP phía Bắc. Còn đối với các địa phương, tập trung rà soát, thực hiện nghiêm Nghị quyết của HĐND TP về thu hồi các dự án có sử dụng đất chậm tiến độ theo quy định; khai thác hiệu quả, từng bước khắc phục tình trạng lãng phí nguồn lực từ đất.

“Thành phố xác định năm 2022 là năm bản lề của nhiệm kỳ 2020-2025, các cấp, các ngành phải triển khai thực hiện nhiệm vụ một cách đồng bộ, quyết liệt với ý chí quyết tâm cao nhất hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ TP” - Bí thư Thành ủy nhấn mạnh.

 

Tin giả, hiểm họa thật Thông tin bịa đặt không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện công nghệ mới, phương thức truyền tin, nhất là mạng xã hội phát triển sâu rộng thì tin giả càng thêm đất sống. Tin giả như một loại virus độc hại, nó xâm nhập, gây rối dư luận, gây rối lòng tin, thậm chí làm khủng hoảng niềm tin. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng điều này để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Vì thế, phải đấu tranh mạnh mẽ để loại bỏ mối hiểm họa thật sự này. Ở Việt Nam, trong đời sống dân gian, loại tin đó được gọi nôm là “tin vịt”. Tin này dứt khoát không bao giờ đúng với thực tế, nó được đưa ra để nhằm đánh lừa, tạo sự hiểu sai về một vấn đề, sự kiện nào đó. Đáng tiếc, tin giả giờ đây không chỉ được lan truyền miệng từ người này sang người kia mà thông qua các hiệu ứng truyền thông, mạng xã hội, nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vì là tin bịa đặt, nên nó được cường điệu cho nên hàm chứa sự ly kỳ, hấp dẫn, dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người mà độ “hóng” cao. Thật buồn khi có những cán bộ, đảng viên lại không phân tích đúng, sai, cả hữu ý và vô tình bị dòng tin ấy cuốn đi. Chính vài người thân của tác giả bài viết này, trước một vụ việc diễn ra cách đây không lâu về cái chết của một quân nhân, đã thường xuyên lên mạng, xem, đọc các bài viết xuyên tạc sự thật về kết quả xử lý của các cơ quan chức năng. Xem xong thì khẳng định như đinh đóng cột là đã cách chức ông tướng nọ, bỏ tù ông đại tá kia...Bằng rất nhiều cách, kiên trì giải thích, thuyết phục thì họ mới nhận ra rằng mình... tin sai! Phải nói rằng, những thế lực xấu đã rất kỳ công trong việc cắt ghép, dàn dựng nên những hình ảnh có trong hàng chục clip, video ấy. Các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính trị thì ra sức lợi dụng điều đó để tiếp tục xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định đất nước ta. Bằng thủ đoạn không nói cho có, có nói cho thật nhiều, nói nhiều ắt phân vân, ngả nghiêng và nói mãi sẽ có người tin. Có thể nói, âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó rất có tác dụng. Các bằng chứng nghiên cứu khoa học cho thấy, sai lệch niềm tin do tiếp nhận tin giả giống như dịch bệnh lây lan. Khi cá nhân chia sẻ tin giả cũng đồng nghĩa với “lây truyền” niềm tin độc hại. Ở Việt Nam, tin giả ngày càng xuất hiện nhiều và bỗng dưng trở thành một phần trong xã hội. Chỉ riêng tháng 10 vừa qua, khi chúng ta bước sang giai đoạn mới thích ứng an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 đã có tới 200.000 tin, bài viết giả mạo, tiêu cực xuyên tạc Nghị quyết 128 của Chính phủ “thất bại toàn diện”; rằng người lao động không được hỗ trợ; bịa đặt Bộ Y tế “ép buộc” trẻ em tiêm vaccine nhằm thu lợi bất chính... Các nước trên thế giới cũng vấp phải nạn tin tức giả mạo, xuyên tạc. Ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo “Tin giả lan nhanh và dễ dàng hơn cả virus, nhưng mức độ nguy hiểm thì không hề thua kém”. Trên thực tế, tin giả không chỉ chiến thắng tâm lý hiếu kỳ, tò mò của độc giả mà nó còn làm suy yếu các phương tiện truyền thông. Tin giả không chỉ hướng lái sai lệch một bộ phận xã hội mà còn “dắt mũi” cả một số phóng viên, cơ quan báo chí. Tin chưa được kiểm chứng từ cá nhân trên Facebook, Zalo... nhưng có những báo mạng vẫn "nhanh tay" biến thành sản phẩm báo chí. Thiết nghĩ, để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả với nạn tin giả cũng như giảm thiểu tác động xã hội của nó, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ, liên thông của các cơ quan chức năng. Cần phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ nhưng linh hoạt, vận dụng nghiêm khắc chế tài, luật pháp để xử lý nghiêm mọi cá nhân, tổ chức tung tin giả. Tại Hội nghị công tác công an trong phòng, chống dịch ngày 11-10-2021, Bộ Công an cho biết đã chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương tăng cường nắm, kiểm soát tốt tình hình trên không gian mạng; xử phạt hành chính hơn 150 đối tượng đăng tải tin giả, sai sự thật; ngăn chặn, yêu cầu gỡ bỏ 10.944 tin, bài viết, video chứa thông tin xấu độc. Con số trên cho thấy, tin giả giống như rác rưởi hằng ngày làm bẩn nhà, bẩn phố, mà rác thì phải quét, quét rồi nó lại có, cho nên phải quét thật mạnh, thường xuyên, liên tục thì mới mong nhà luôn luôn sạch. Tuy nhiên, vấn đề truyền thông đến cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu. Một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong xử lý tin giả đó là phải nhanh chóng cung cấp cho công chúng những thông tin đúng đắn, chính thống. Càng là những thông tin mà công chúng còn nghi ngờ, mơ hồ thì càng phải tăng cường cung cấp thông tin đúng để họ hiểu đúng. Tiến sĩ Yeung Yong Uhm, chuyên gia truyền thông Hàn Quốc trong hội thảo khoa học quốc tế về quản trị khủng hoảng thông tin trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã nhấn mạnh tính minh bạch và thời điểm công bố thông tin. Thông tin trung thực và thông tin chính thống phải đến sớm, nhanh nhất có thể với người dân. Tiếc rằng, thực tế hiện nay “tin giả đi được 2/3 trái đất thì tin thật mới chạy theo”. Tin giả nhưng hiểm họa lại thật. Tin giả thực sự là một loại virus độc hại, tác động xấu đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội. Trước khi Nhà nước “điều trị” bệnh này, mỗi cá nhân cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận thông tin trung thực, phủ nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp.
Đường sắt Cát Linh-Hà Đông: Âm mưu sau lời kêu gọi “tẩy chay” Ngày 6-11-21, tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã chính thức vận hành, khai thác thương mại giai đoạn 1 với tần suất từ 6-15 phút/chuyến. Sự kiện này được người dân Hà Nội, nhất là những người có nhu cầu đi lại trên tuyến đường thuộc loại đông đúc nhất Thủ đô mong chờ từ lâu, bởi đường sắt trên cao đi vào hoạt động sẽ đánh dấu bước phát triển của vận tải hành khách công cộng, góp phần quan trọng giúp người dân đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Thực tế những năm qua, người dân đã rất sốt ruột, thậm chí kêu ca, phàn nàn nhiều vì dự án này bị chậm tiến độ, không kịp thời “gỡ khó” cho tuyến giao thông trọng điểm, thường xuyên bị quá tải, ùn tắc, lưu thông rất khó khăn. Thế nhưng, khác hẳn với đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông hoạt động, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!) Đường sắt Cát Linh-Hà Đông: Âm mưu sau lời kêu gọi “tẩy chay” Đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi vào hoạt động sẽ góp phần quan trọng giảm ùn tắc giao thông trên tuyến đường trọng điểm này. Ảnh: Mạnh Hưng Trước đó, ngay từ khi tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông được khởi công xây dựng, những đối tượng này đã ra sức chống phá: Nào là Trung Quốc làm tuyến đường sẽ “trấn yểm long mạch” Thủ đô của Việt Nam, “chặn linh khí quốc gia” làm cho nước ta lụi bại (!); lãnh đạo Việt Nam sợ Trung Quốc nên buộc phải giao cho Trung Quốc làm tổng thầu (!); công nghệ tàu điện và đường sắt trên cao của Trung Quốc lạc hậu (!)… Đặc biệt, khi tuyến đường thi công chậm tiến độ, điều chỉnh, phát sinh nhiều hạng mục dẫn đến đội vốn (từ hơn 8.000 tỷ đồng lên hơn 18.000 tỷ đồng) thì các đối tượng càng lợi dụng để vu khống, chống phá quyết liệt. Dù không có bằng chứng, cơ sở nào nhưng họ vẫn ngang nhiên suy diễn, vu cáo rằng “các nhà lãnh đạo Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải, TP Hà Nội tham nhũng rất nhiều từ dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông” (!) Âm mưu, bộ mặt thật của những đối tượng này đã bộc lộ rõ nhất ở chỗ: Mỗi lần dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông gặp sự cố (tai nạn lao động, chậm tiến độ…) thì chúng “vui như mở cờ” vì có cớ để thổi phồng, chống phá; còn khi công trình triển khai thuận lợi, được đơn vị liên danh tư vấn độc lập của Pháp (ATC) cấp chứng nhận an toàn, chạy thử thành công, được toàn bộ 9/9 thành viên Hội đồng kiểm tra Nhà nước chấp thuận đồng ý kết quả nghiệm thu có điều kiện để đưa vào vận hành, khai thác thương mại (ngày 29-10 vừa qua) thì chúng lại vô cùng tức tối. Bởi, thực tâm những đối tượng này chỉ mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông (và các công trình khác ở Việt Nam) trở thành phế tích để có cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta, chứ chúng hoàn toàn không xót gì tiền bạc của nhà nước và nhân dân, cũng không cần biết nỗi khổ của người dân khi đi lại khó khăn, giao thông ách tắc. Chủ trương xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông là hoàn toàn đúng, nhưng quá trình triển khai thực hiện dự án có nhiều thiếu sót do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến dự án chậm tiến độ gần 6 năm và đội vốn hơn gấp đôi so với dự toán ban đầu. Điều này đã được Kiểm toán Nhà nước kết luận rõ ràng và Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội đã công khai giải trình từng vấn đề mà báo chí và nhân dân có ý kiến, nêu trách nhiệm cụ thể đối với từng thiếu sót. Nếu công dân không đồng tình với những kết luận, giải trình đó, có bằng chứng về những sai phạm thì hoàn toàn có thể đề nghị, thậm chí tố cáo để các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, làm rõ theo đúng quy định của pháp luật. Đảng, Nhà nước ta luôn khuyến khích nhân dân phát huy vai trò giám sát và chủ động tố giác khi phát hiện những sai phạm, chứ không hề cấm đoán việc này; nếu có sai phạm thì Đảng, Nhà nước sẽ xử lý nghiêm như thực tiễn đã chứng minh. Thế nhưng, việc một số đối tượng cố tình kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” với những lý do chỉ có tính suy diễn, quy chụp, vu khống (hoàn toàn không có cơ sở nào) là không thể chấp nhận, cần phải xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật. Ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể có chuyện tùy tiện suy diễn, quy chụp, vu cáo người nào đó tham nhũng trong khi không có bằng chứng gì. Khi xem xét bất kỳ sự việc gì cũng phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, chứ không thể phiến diện, thành kiến, chủ quan, “vơ đũa cả nắm”, áp đặt ác ý, gây tổn hại danh dự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức, cá nhân. Thiết nghĩ, việc kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” để nhằm mục đích gì, có lợi cho ai và gây thiệt hại cho ai thì tất cả những người có lương tri đều biết tỏng. Có những kẻ ra sức kêu gọi, chỉ mong người dân không đi tàu đó, để rồi lại có cớ rêu rao, phủ nhận hiệu quả của một chủ trương đúng, từ đó cho rằng việc quyết định làm tuyến đường này không phải vì sự đi lại thuận lợi của nhân dân, vì tiến bộ và văn minh đô thị mà vì… lợi ích nhóm (chúng hướng tới mục đích sâu xa là gây mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước). Bên cạnh đó, cũng có một số người a dua, hùa theo bởi sự đi lại thuận lợi của nhân dân phần nào làm giảm thu nhập của họ. Đó là bản chất của vấn đề mà mọi người cần tỉnh táo nhận rõ để có thái độ, ứng xử đúng đắn, không mắc phải những mưu đồ đen tối gây tổn hại cho nhân dân, đất nước và phụ công sức, sự nỗ lực của bao người.
Việt Nam cần rút ra bài học từ sự kiện Liên Xô sụp đổ Ngày nay, một số chuyên gia kinh tế cho rằng, Liên Xô dường như sụp đổ là do giá dầu thấp. Điều này không đúng, bởi nền kinh tế Liên Xô được xây dựng theo cách mà nó không quá phụ thuộc vào những nguyên liệu thô bán ra nước ngoài. Chủ nghĩa dân tộc nở rộ khi cơ cấu và sức mạnh của Liên Xô bắt đầu sụp đổ một cách rõ ràng. Đó là nhiều phần tử cực đoan nhận thấy mọi thứ đều có thể xảy ra, kiểm soát xã hội bị suy yếu và ảnh hưởng chính quyền trung ương sụt giảm mạnh. Mọi việc bắt đầu từ những cuộc nổi lên của người Tatar ở Crimea và làn sóng bất bình ở Kazakhstan liên quan đến việc bổ nhiệm một người dân tộc Nga giữ chức vụ đứng đầu Cộng hòa Crimea. Hơn nữa, chuỗi biểu tình toàn quốc này không thể dừng lại được nữa. Tiếp đó diễn ra theo dây chuyền các cuộc đấu tranh mang sắc thái dân tộc ở các nước cộng hòa vùng Baltic, Gruzia, Transnistria, nội chiến ở Tajikistan… Trong khi đó, Mikhail Gorbachev ngay từ đầu tỏ ra mình như “người ngoài cuộc”, không liên quan gì đến những cuộc đụng độ đang diễn ra ở các nước cộng hòa. Chính điều này càng làm kích động thêm những diễn biến tiêu cực, kích động lòng hận thù lan rộng. Khi có ý kiến cho rằng, Gorbachev dường như đã có kế hoạch cải tổ, thì điều này cũng không phù hợp với thực tế, vì hệ thống dưới thời ông ta đã bắt đầu sa sút, trong khi ông ta đã tự ý áp dụng một số giải pháp. Về vấn đề hệ tư tưởng, tức là dân chủ, công khai hóa và cải tổ, thì đó là một chủ đề riêng biệt. Chính vì điều này mà rất nhiều người dân Liên Xô trong nhiều thập kỷ sau đó đã căm ghét thuật ngữ “dân chủ”, cho rằng nó liên quan trực tiếp với những kẻ đã làm sụp đổ một cường quốc rộng lớn, những kẻ không đem lại điều gì bình thường và đã cướp bóc những thứ còn sót lại của đất nước. Đối với hàng chục triệu người dân, những “nhà dân chủ” tượng trưng cho sự sụp đổ. Quân đội và các cơ quan sức mạnh đã hiểu tất cả và cố gắng ngăn chặn sự sụp đổ vào tháng 8-1991. Tuy nhiên, người dân của đất nước đang trên đà tan rã lúc đó đã chống lại họ với lập luận rằng, những cơ quan đó bảo vệ chế độ cũ kỹ, lỗi thời, trong khi phía trước là một nền dân chủ tỏa sáng và là lối thoát khỏi “bức màn sắt”. Thậm chí khi đó còn không ai hiểu, không thể hình dung được nền dân chủ phương Tây sẽ mang lại điều gì trên thực tế. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền cũng cần phải thay đổi theo thời gian, theo nhu cầu từng giai đoạn, trong đó có thực trạng và sự phát triển văn hóa đại chúng ở phương Tây. Chẳng hạn, nếu Liên Xô không ngăn cấm dòng nhạc mới và thời trang, mà ngược lại, nên củng cố và phát triển xu hướng này, thì Liên Xô đã cho thấy rằng, không chỉ trong ngành không gian vũ trụ, mà còn trong những lĩnh vực này họ là nước tiên phong trên thế giới. Liên Xô lẽ ra phải đi đầu trong mọi lĩnh vực, bởi chế độ của nó được coi là đã ở thời kỳ tốt nhất vào thời điểm đó. Chẳng hạn, trong những thập niên từ 1960 đến 1980, nước này đã sản xuất những bộ phim hay nhất được đưa vào quỹ văn hóa thế giới vàng. Thậm chí ngày nay, nhiều người say sưa xem những bộ phim này, có người còn xem đi xem lại rất nhiều lần. Nhưng cuối cùng, thời trang và âm nhạc phương Tây đã lấn át mọi thứ. Đối với thiếu niên Liên Xô, việc nghe nhạc trong nước hay đi dạo trong trang phục Liên Xô là mất thể diện. Nói đến tư tưởng chính trị, thì phải công nhận rằng, lãnh đạo Liên Xô cũng đã cố gắng quan tâm đến mong muốn thực sự của người dân. Chẳng hạn, dưới thời Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, hình ảnh của Stalin đã xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, đặc biệt là trong các bộ phim, và điều này đã gây ấn tượng mạnh. Nhưng về tổng thể thì hệ thống này đã bị hủy hoại bởi một điều mà không ai ngờ tới, đó là sự qua đời của 3 Tổng bí thư liên tiếp chỉ trong vòng 3 năm, gồm Brezhnev, Andropov và Chernenko. Và sau đó thì xuất hiện Mikhail Gorbachev. Nhưng điều đã xảy ra thì không thể thay đổi được nữa, vì không ai có thể trở về quá khứ. Học thuyết Mác-Lênin nhất định phải được phát triển có tính đến những thay đổi diễn ra trên thế giới, nhưng hiện không ai làm điều này và cũng không có những nhà tư tưởng như vậy để làm. Nhưng Lênin vẫn không ở lại phía sau chúng ta, mà là đang ở phía trước. Rồi thời đại của Người chắc chắn sẽ quay trở lại sau bao năm bị lãng quên, cố tình im lặng về nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nước Nga này. Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng phải phân tích kỹ quá trình sụp đổ của Liên Xô. Nhưng điều quan trọng nhất là phải rút ra được bài học chính xác nhất về nguyên nhân thực sự dẫn đến sự sụp đổ của cường quốc vĩ đại, đất nước từng có gần một thế kỷ đi đầu về hệ tư tưởng tiên tiến nhất thế giới. Vấn đề chính ở đây là công tác nhân sự, là những con người cụ thể nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Khi nhà nước không tìm kiếm, không chuẩn bị kỹ đội ngũ cán bộ, cũng không chú trọng đến yếu tố quan trọng nhất là con người trong bộ máy của mình, thì chắc chắn nhà nước đó sẽ bị hủy hoại. Thậm chí sẽ còn tệ hơn nữa, khi những người cơ hội bằng cách nào đó ngồi vào những vị trí cấp cao. Ngạn ngữ Nga có câu: “Cha đạo thế nào, giáo xứ thế đó”, hay “Người đánh cá từ xa đã nhận ra nhau”. Câu ngạn ngữ này ý nói là, người ở vị trí cao sẽ luôn chọn những người tương tự mình. Đây là bài học lớn và nghiêm khắc nhất mà Việt Nam cần rút ra. Cần phải có chế tài nghiêm khắc cho những ai không xứng đáng với sự tín nhiệm dành cho anh ta. Với những việc làm do chính bàn tay mình tạo ra, thì Gorbachev đã không xứng đáng với lịch sử và nhân dân. Những việc làm đó đi ngược lại mọi chuẩn mực cơ bản về đạo đức và trách nhiệm, mà trước hết là trong xã hội Nga. Hiện Việt Nam đứng trước trọng trách lịch sử to lớn, đó là phải chứng tỏ được rằng, sự sụp đổ của Liên Xô không liên quan gì đến hệ tư tưởng và cũng hoàn toàn không phải vì hệ tư tưởng mà dẫn đến sự sụp đổ đó.

Phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới.

 - Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phát triển văn hóa, con người. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Hội nghị văn hóa toàn quốc (tháng 11-2021) đã đánh giá toàn diện kết quả công tác, bài học kinh nghiệm của những nhiệm kỳ trước, trong đó, phát triển văn hóa, con người Việt Nam là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong định hướng phát triển đất nước thời kỳ mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu tham dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng_Nguồn: thanhnien.vn

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 24-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ...” (1).

Việt Nam là một đất nước có hàng nghìn năm lịch sử, trải qua những biến đổi, thăng trầm, đã tích lũy, tạo ra và phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hóa riêng, làm nên hồn cốt của dân tộc. Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của các kỳ đại hội trước về văn hóa, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”(2). Đó chính là niềm tin và khát vọng phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới.

Khát vọng “lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đề ra quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản cho việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đó là: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”(3). Đại hội XIII của Đảng xác định lộ trình với các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây chính là khát vọng và tầm nhìn của Đảng và nhân dân Việt Nam trong thời đại mới. Để thực hiện được khát vọng và tầm nhìn ấy, Đại hội XIII xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(4). Vì vậy, cần khơi dậy động lực tinh thần to lớn, vô song của dân tộc, con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; khơi dậy và phát huy giá trị văn hóa, tài năng, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, sức mạnh của con người Việt Nam là trung tâm, là mục tiêu, là nguồn lực nội sinh, là động lực quan trọng nhất để đạt tới các mục tiêu của phát triển đất nước thời kỳ mới.

Phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, đồng thuận xã hội, ý chí tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc cường thịnh, trường tồn, nhân dân ấm no, hạnh phúc là phương hướng cơ bản, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tất cả các cấp, các ngành phải quán triệt sâu sắc và ra sức tổ chức thực hiện... Nếu như trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây, khát vọng độc lập, tự do, tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là động lực tinh thần to lớn đưa nhân dân ta nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm, thì ngày nay khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc cần và phải là động lực tinh thần to lớn đưa nhân dân ta xây dựng thành công một nước Việt Nam phát triển hiện đại “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc ngày nay cũng chính là mong muốn, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi như Người đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(5).

Đại hội XIII xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới: “lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(6). Điều đó đòi hỏi phải kế thừa và phát huy giá trị văn hóa và con người Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc đã được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng, xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống... Đó là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể - “minh chứng độc đáo cho truyền thống văn hóa hoặc một nền văn minh đang tồn tại”, là vẻ đẹp tự nhiên đặc biệt và có tầm quan trọng về mặt thẩm mỹ” của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, sinh thái trên mọi miền của Tổ quốc. Các giá trị và sức mạnh đó của văn hóa và con người Việt Nam đã hình thành nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc ta; trở thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.  

Về mục tiêu phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực cho sự phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

Như một quy luật khách quan, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học là tầm nhìn chiến lược trong phát triển đất nước thời kỳ mới. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển. Như vậy, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo.

Nhân dân tham gia Lễ hội cầu ngư ở Nghệ An_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Đảng ta xác định, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Vì vậy, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Coi trọng giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa dân tộc. Thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc của con người Việt Nam. Xây dựng, hoàn thiện các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế...

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, lần đầu tiên Đảng ta yêu cầu: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam”(7)Các mặt hạn chế của con người Việt Nam cần phải được nhận biết, được phê bình, tự phê bình nghiêm khắc, cần phải được sửa chữa, khắc phục để cho dân giàu, nước mạnh.

Quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mà cốt lõi là làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, cũng chính là quá trình xây dựng con người, phát huy tối đa nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người - khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa, phát triển bền vững đất nước. Đồng thời, coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiến kịp, tiến cùng thời đại.

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế”(8). Cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, phúc lợi văn hóa, an ninh văn hóa, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tăng đầu tư của Nhà nước và xã hội cho phát triển sự nghiệp văn hóa; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện và bổ sung các cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa, nhất là những phẩm chất của văn hóa Việt Nam. Đó là tinh thần yêu nước và tiến bộ, mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Biện chứng với “tiên tiến” là “bản sắc dân tộc” - đó là sự bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Những giá trị bền vững đó đã được hình thành, phát triển và định hình, trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam; đồng thời, là một hệ thống mở, không phải là một thực thể nhất thành bất biến, mà có sự bồi đắp trong lịch sử, trong thế động và trong sự tự biến đổi, có khả năng tự làm giàu bản sắc dân tộc. Có nghĩa là, bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiên tiến của văn hóa thế giới, giữ gìn phải đi liền với nhiệm vụ thay đổi những gì đã lỗi thời, lạc hậu để gắn với phát huy và phát triển.

Về phát huy "sức mạnh mềm" văn hóa Việt Nam

Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày truyền thống hàng nghìn năm. “Hiện nay, cả nước có tới 166 bảo tàng, trong đó có 4 bảo tàng quốc gia với hơn 3 triệu hiện vật; 3.486 tổng di tích được xếp hạng quốc gia, trong đó có 1.626 di tích lịch sử; 105 di tích quốc gia đặc biệt; 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (riêng Hà Nội có 21 lễ hội); 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa thế giới” (riêng tỉnh Bắc Ninh đã có 2 di sản văn hóa thế giới là Dân ca quan họ và Ca trù)... Đó là một tài sản vô cùng quý báu do Tổ tiên, cha ông ta mấy nghìn năm để lại, không phải nơi nào cũng có được; chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy; nếu không sẽ có tội với lịch sử(9).

Nền văn hóa Việt Nam có hệ giá trị và bản sắc riêng, không bị đồng hóa bởi bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Hệ giá trị và bản sắc đó đã tạo nên “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia (về chính trị, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, con người, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…) thì nguồn lực văn hóa đang được nhiều quốc gia coi là một sức mạnh mềm quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị trí, vai trò trên trường quốc tế. Đảng yêu cầu, cần khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy "sức mạnh mềm" của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới.

Thuật ngữ “sức mạnh mềm”, “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam” lần đầu tiên xuất hiện trong Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam và sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớn của đất nước trong phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Đại sứ, phu nhân các nước trong tà áo dài Việt Nam tại Festival Áo dài Quảng Ninh 2022_Nguồn: toquoc.vn

Để phát huy "sức mạnh mềm" văn hóa Việt Nam hiện nay, trước hết, cần đặc biệt quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, bởi đây là cội rễ của "sức mạnh mềm" văn hóa quốc gia. Quan tâm phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa đương đại phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, tiến bộ để tiếp tục gia tăng thêm cơ tầng "sức mạnh mềm" văn hóa Việt Nam và lan tỏa văn hóa Việt Nam ra thế giới. Cần tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta và nhân dân thế giới; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thâm nhập sâu rộng, bền chặt trong đời sống tinh thần của xã hội, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế; có thêm nhiều hình thức tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tổ chức tuyển chọn, biên dịch, xuất bản các tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài. Tiếp tục đẩy mạnh giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp và trước tác của các danh nhân lịch sử, văn hóa, quân sự tiêu biểu của dân tộc ta..., làm lan tỏa, củng cố giá trị văn hóa Việt Nam trong lòng nhân dân thế giới.

Về giải pháp chiến lược hiện thực hóa niềm tin và khát vọng

Một là, phát huy giá trị văn hóa.

Trước hết, cần khẳng định, phát huy giá trị văn hóa là cơ sở để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước của con người Việt Nam. Bởi lẽ, sức mạnh văn hóa bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần của con người Việt Nam được tích lũy hơn 4.000 năm lịch sử, nên khi giá trị văn hóa được phát huy, con người Việt Nam sẽ được gia tăng thêm năng lực, phẩm chất, trình độ để vượt qua những khó khăn, thử thách; vươn đến những mục tiêu lớn hơn, khát vọng cao đẹp hơn. Mặt khác, phát huy giá trị văn hóa giúp quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; tạo điều kiện phát triển các dịch vụ kinh tế - xã hội. Vì thế, nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, I-ta-li-a, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... coi công nghiệp văn hóa là một bộ phận của nền kinh tế, làm cho những giá trị văn hóa của dân tộc mình lan tỏa khắp thế giới. Theo đó, giá trị văn hóa được coi là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hiện thực hóa niềm tin, khát vọng phát triển đất nước nói riêng.

Đồng thời, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Cần có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phát huy ý thức tự giác của toàn dân, xây dựng và thực hiện các chế tài, quy định, quy ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp... Khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức, thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan. “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”(10).

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao “sức đề kháng” của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới.

Hai là, phát huy sức mạnh con người Việt Nam

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Đảng xác định: Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; “quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”(11).

Đảng ta chỉ rõ, việc thực hiện những giải pháp đột phá phát triển văn hóa nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định những quan điểm, chủ trương mới, sâu sắc và toàn diện, đột phá về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực. Đây là đường hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước đi lên, lập những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại mới. “Với một đất nước, một dân tộc trọng văn hiến, trọng hiền tài, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng; nhân dân đoàn kết, cần cù, sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tâm huyết, tài năng, có trách nhiệm cao với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc và tương lai của dân tộc; cùng với sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất định chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn, vượt qua mọi thách thức để chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp tục làm vẻ vang thêm cho dân tộc, cho giống nòi, tạo thành sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh, xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến và anh hùng của một dân tộc anh hùng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới(12)./.

---------------------

(1) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 4
(2Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 47
(3) Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 6
(4)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 34
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 64
(6Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 216
(7Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 143
(8Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 81
(9) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 13
(10Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 144
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 143
(12) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 979 (12-2021), tr. 14