Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

“PHÁP LUÂN CÔNG” LÀ GÌ VÀ LÝ DO TẠI SAO “PHÁP LUÂN CÔNG” BỊ CẤM TẠI TRUNG QUỐC?

 

          Trong vụ trọng án rùng rợn với 2 thi thể vùi trong khối bê tông ở tỉnh Bình Dương năm 2019, theo lời khai của các nghi phạm nguyên nhân dẫn tới tội ác là do mâu thuẫn khi tu luyện “pháp luân công” và giết người nhằm thanh trừ “tà ác”. Lời thú tội gây sốc của nhóm nữ tu luyện theo “Pháp luân công” khiến nhiều người không khỏi tò mò về bản chất thực sự của bộ môn này.

Thời gian qua, ở nước ta, với những nội dung truyền bá đánh vào đức tin của con người, không ít người đã tham gia tập luyện “Pháp luân công” và hy vọng có thể cải thiện được sức khỏe, chữa khỏi bệnh tật. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy, hoạt động “Pháp luân công” diễn ra tại một số địa phương trên cả nước hiện không đồng nhất với mục đích tuyên truyền ban đầu của nó. Thậm chí, đã có những hệ lụy không nhỏ xảy ra từ chính hoạt động “Pháp luân công”, gây bức xúc lớn trong dư luận và ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự và đời sống người dân. Vụ trọng án 2 thi thể vùi trong khối bê tông ở Bình Dương với nguyên nhân bắt nguồn từ mâu thuẫn khi tu luyện “Pháp luân công” là một minh chứng rõ ràng và xác đáng cho điều ấy. Tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhất là TP Đà Lạt, thời gian qua cũng đã xuất hiện nhiều nhóm tu luyện “Pháp luân công” công khai tại các quảng trường, công viên có nhiều hoạt động phức tạp về an ninh trật tự, gây bức xúc với người dân ở địa phương.

          VẬY THỰC CHẤT “PHÁP LUÂN CÔNG” LÀ GÌ?

          “Pháp luân công” là tốt hay xấu? “Pháp luân công” có gây nguy hại gì cho người tập hay không? Từ trước đến nay, các bài viết đề cập đến bản chất “Pháp luân công” phần lớn còn sơ sài, chưa đầy đủ, chưa đi đến “gốc rễ” của vấn đề. Để giúp độc giả có cái nhìn khách quan, toàn diện, dễ hiểu nhất về “Pháp luân công”. Tại loạt bài viết này sẽ hé lộ sự thật về pháp luân công.

          1. “PHÁP LUÂN CÔNG” LÀ GÌ?

          “Pháp luân công” hay còn gọi “Pháp luân đại pháp” là một “giáo phái” do Lý Hồng Chí (sinh năm 1952 tại tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc; từng tham gia Quân đội; sau đó giải ngũ, lấy vợ, sinh con; làm nhân viên bảo vệ và thổi kèn Trumpet phục vụ nhà hàng tại Trung Quốc) sáng lập năm 1992 dưới hình thức tập luyện khí công dưỡng sinh (thực chất Lý Hồng Chí đã kết hợp hai loại khí công cổ truyền của Trung Quốc mà Chí đã học được năm 1988 và vũ đạo của người Thái Lan và "pha chế" ra Pháp Luân Công). Tài liệu tuyên truyền chính là các sách "Chuyển pháp luân", "Đại viên mãn pháp", "Tinh tấn yếu chỉ"… Theo Lý Hồng Chí tự nhận, đây là một môn thực hành tâm linh kết hợp các bài tập tọa thiền và khí công dựa trên một triết lý đạo đức tập trung vào các nguyên lý "Chân, Thiện, Nhẫn"; việc thực hành nhấn mạnh vào đạo đức và tâm tính.

          Sau khi ra đời, “Pháp luân công” đã phát triển và thu hút một số lượng lớn người tham gia tại Trung Quốc (ước tính đến năm 1999, số lượng người tập luyện Pháp luân công tại nước này khoảng 70 triệu người). “Pháp luân công” phát triển do xuất hiện vào giai đoạn cuối của thời kỳ "bùng nổ khí công" ở Trung Quốc - thời kỳ này đã chứng kiến sự tăng nhanh của những môn tập tương tự nhau với các đặc điểm là thiền định, các bài tập cử động chậm rãi và điều hòa hơi thở. Đáng chú ý, theo nghiên cứu của các học giả phương Tây vào thời điểm đó phát hiện “Pháp luân công” khác với các trường phái khí công thông thường vì nó không chỉ đơn thuần là các bài tập dưỡng sinh mà chú trọng vào bản chất thần học mang yếu tố tôn giáo trong các bài giảng.

          Từ tháng 7/1999, “Pháp luân công” đã bị chính quyền Trung Quốc cấm hoạt động, các thành viên cốt cán của “Pháp luân công” (trong đó có Lý Hồng Chí) bị truy nã, phải trốn sang New York, Mỹ.

          2. VÌ SAO “PHÁP LUÂN CÔNG” BỊ CẤM TẠI TRUNG QUỐC?

          Thời gian qua, “Pháp luân công” luôn tuyên truyền rằng do “lãnh đạo Trung Quốc ghen tỵ với Lý Hồng Chí và vì “Pháp luân công” có nhiều tín đồ hơn đảng viên nên chính quyền Trung Quốc đã phát động các chiến dịch đàn áp, ngăn cấm “Pháp luân công”. Tuy nhiên theo các tư liệu nghiên cứu quốc tế cho thấy, lý do chính “Pháp luân công” bị cấm tại Trung Quốc vì “giáo phái” này đã có nhiều hoạt động phức tạp ảnh hưởng đến an ninh chính trị, nghiêm trọng nhất là tổ chức biểu tình, bạo loạn chính trị gây bất ổn xã hội ở nước này.

          Cụ thể, thời gian đầu sau khi thành lập, “Pháp luân công” nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ chính quyền Trung Quốc, nhưng từ giữa đến cuối thập niên 1990, “Pháp luân công” bị coi là một mối đe dọa tiềm tàng bởi phương pháp khống chế tinh thần người tập một cách cực đoan thông qua những thuyết pháp lệch lạc, đồng thời “Pháp luân công” còn tiến hành hàng loạt những hoạt động phạm pháp gây hại tại nhiều nơi ở Trung Quốc.

          Nhiều báo chí nước này nhận định tác hại chính của Pháp luân công “biến tướng” là: xâm phạm nhân quyền, gây hại tới tính mạng. Cũng bởi phương pháp tu luyện quá khống chế tinh thần, mà hơn 1.000 người luyện tập đã chết do tin tưởng vào việc “có bệnh không cần uống thuốc, chỉ kiên trì luyện tập là khỏi”. hàng trăm người luyện tập cuồng tín tới mức tự hủy hoại bản thân, thậm chí dẫn đến tự sát. Hơn ba mươi người vô tội không tham gia tập “Pháp luân công” cũng bị những kẻ luyện tập cuồng tín sát hại.

          Theo thống kê của báo chí Hoa ngữ, nhóm cuồng tín tu tập “Pháp luân công” đã thực hiện những hành vi phá hoại xã hội, xâm phạm quyền lợi chính đáng của dân chúng như phá hoại các thiết bị phát thanh truyền hình công cộng, vệ tinh thông tin, thực hiện các hoạt động gọi điện thoại phá rối, hù dọa với tần suất nhiều, số lượng lớn, thông qua mạng Internet để gửi thư rác… Báo chí nước này cũng chỉ trích các nhóm cực đoan của “Pháp luân công” tấn công ác ý vào những cá nhân hoặc tập thể có ý kiến khác không thống nhất với lý tưởng của “Pháp luân công”, xâm phạm quyền tự do ngôn luận của công dân. Đặc biệt “Pháp luân công” đã dùng phương thức giảng dạy tà giáo tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền, với những thuyết pháp được gieo rắc như “người luyện Pháp luân công bị mổ cướp tạng”…

          Bên cạnh đó, từ năm 1992 – 1999, sau một thời gian phát triển và thu hút được đông người theo, lý hồng chí có biểu hiện hoạt động chính trị, muốn trở thành đại biểu Quốc hội nhưng bị Chính phủ Trung Quốc ngăn cản (một trong những nguyên nhân ngăn cản vì từ năm 1996, “Pháp luân công” đã bị cộng đồng Phật giáo - tôn giáo lớn nhất tại Trung Quốc - phản đối kịch liệt; bởi bản chất “Pháp luân công” sau khi tuyên truyền đã bài xích, hạ thấp tất cả nền văn minh, tín ngưỡng lâu đời của Trung Quốc, đặc biệt là Phật giáo (sẽ phân tích rõ ở phần sau) và chỉ đề cao, ca ngợi một mình Lý Hồng Chí). Trong thời gian truyền bá "Pháp luân công" ở Trung Quốc, bản thân Lý Hồng Chí đã lợi dụng các học viên để tích lũy số tiền rất lớn; với số tiền này ông ta mua nhà ở sang trọng và xe hơi đắt tiền ở Trung Quốc và nước ngoài dưới tên người thân.

          Sau khi có ý đồ tham gia chính trị nhưng thất bại, ngày 25/4/1999, khi đang xuất cảnh đi nước ngoài, chỉ trong một đêm lý hồng chí đã huy động gần 100 nghìn đệ tử vây kín quảng trường thiên an môn và trung nam hải (nơi tập trung các trụ sở Nhà nước đầu não ở Bắc Kinh) để biểu tình dưới danh nghĩa "luyện công tập thể", thậm chí còn hàng trăm nghìn đệ tử khác tràn về Bắc Kinh nhưng do đường xa chưa về kịp và bị chặn ở ngoài. Trong khi đó, trước sự việc trên, Lý Hồng Chí khi phát biểu trả lời các phương tiện truyền thông quốc tế đã dối trá rằng: "Tôi không biết trước về biến cố này". Chính quyền Trung Quốc lúc đầu cho rằng “Pháp luân công” cũng chỉ là một môn tập luyện khí công thông thường, cùng lắm là một tà giáo “vớ vẩn”; không ngờ sau sự việc này mới giật mình vì hệ thống an ninh dày đặc như vậy mà Lý Hồng Chí có thể huy động đệ tử quá dễ dàng và đệ tử quá cuồng tín, xem Lý Hồng Chí là “Phật sống”, hoàn toàn nghe theo Lý Hồng Chí.

          Có thể thấy, việc chính quyền Trung Quốc ngăn chặn “Pháp luân công” là câu chuyện thể chế của riêng trung quốc trên cơ sở logic để phòng vệ, dẹp trừ một thế lực phản loạn mưu đồ lật đổ chế độ, nhằm giữ ổn định xã hội. Nhiều nghiên cứu cho biết, nếu chính quyền Trung Quốc không ngăn chặn kịp thời sự phát triển của “Pháp luân công”, rất có thể Lý Hồng Chí đã lật đổ chế độ chính trị và lên ngôi “hoàng đế” hay “giáo chủ” ở Trung Quốc./.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, NHIỆM VỤ CẤP THIẾT VÀ QUAN TRỌNG

 

          Đại hội XIII của Đảng nhận định: Trong những năm tới, “khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột”. Tình hình đó đã đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy; có quyết tâm chính trị cao; dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình; chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống; nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được; đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”.

          Nước ta sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao; hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn. Trong khi đó, “quốc phòng, an ninh đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. Đảng ta nhấn mạnh: “Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối nước ta trong thời gian tới”. Bởi vậy, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị và tổ chức tinh, gọn, mạnh, có tính cơ động cao, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống; nhỏ mà không yếu, ít mà địch được nhiều, thắng được hiện đại là nhiệm vụ quan trọng được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân. Mặt khác, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ đã có những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, quân sự, quốc phòng và an ninh... ở các cấp độ phạm vi toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia. Quốc phòng, quân sự là lĩnh vực đặc thù thường ứng dụng nhanh nhất các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Chiến tranh nếu xảy ra, chủ yếu sử dụng các loại vũ khí trang bị kỹ thuật công nghệ cao, tác chiến điện tử mạnh, quy mô lớn, cường độ cao.

          Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

          Với quyết tâm chính trị cao và giải pháp quyết liệt, đồng bộ, đến nay, về cơ bản Quân đội ta được điều chỉnh phù hợp với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức tinh, gọn, mạnh bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Chúng ta phải ra sức xây dựng quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. Đây là tiếp tục định hướng chiến lược của Đảng, đòi hỏi Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

                                                                                                st

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 5 VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

 

          Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao".

          1. Quan điểm chỉ đạo

          - Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xuất phát từ nhu cầu thiết thực, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho thành viên sản xuất, kinh doanh hiệu quả, phát triển bền vững. Phát triển kinh tế tập thể phải tôn trọng bản chất, giá trị, nguyên tắc hoạt động của kinh tế tập thể, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, miền và cả nước.

          - Kinh tế tập thể với nhiều hình thức tổ chức kinh tế hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã…), trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các liên hiệp hợp tác xã, không giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là trọng tâm, bao gồm lợi ích của thành viên, tập thể và Nhà nước, đồng thời coi trọng lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn.

          - Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tập thể; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo hiệu quả lao động và theo vốn góp. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các thể nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cùng góp vốn, góp tài sản, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế tập thể.

          - Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng chất lượng, bảo đảm sự hài hòa trong tất cả các ngành, lĩnh vực, địa bàn; có chính sách ưu tiên cho các tổ chức kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế tập thể gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, hiệu quả của tổ chức và của thành viên.

          - Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, Liên minh hợp tác xã và các tổ chức đại diện phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế tập thể.

          2. Mục tiêu tổng quát

          Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững, cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân với nhiều mô hình hợp tác, liên kết trên cơ sở tôn trọng bản chất, giá trị và nguyên tắc của kinh tế tập thể, thu hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia; góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia đình, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          3. Mục tiêu cụ thể

          Đến năm 2030:

          - Cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác, với 2 triệu thành viên; 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên; 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên.

          - Bảo đảm trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá, trong đó có ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị. Có trên 5.000 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; phát triển các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa gắn với liên kết sản xuất, cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh tham gia vào các chuỗi cung ứng đưa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài.

          Đến năm 2045:

          Phấn đấu thu hút tối thiểu 20% dân số tham gia các tổ chức kinh tế tập thể. Mở rộng quy mô hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, chất lượng hoạt động ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới. Bảo đảm trên 90% tổ chức kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả, trong đó có ít nhất 75% tham gia các chuỗi liên kết. Phấn đấu có ít nhất 3 tổ chức kinh tế tập thể nằm trong bảng xếp hạng 300 hợp tác xã lớn nhất toàn cầu do Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) công nhận. Các tổ chức kinh tế tập thể đều áp dụng công nghệ, nhất là chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ./.

                                                                                                          st

Bài thơ “Lời người bên sông”

 


Cựu chiến binh Lê Bá Dương được biết đến là tác giả của những câu thơ:

“Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”

(“Lời người bên sông”).

Điều tài tình là chỉ vỏn vẹn với 4 câu thơ nhưng đã khắc họa sự hy sinh, mất mát quá đỗi lớn lao của bộ đội ta trong trận chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mà ai đọc lên cũng rưng rưng, xót xa đến xé lòng. Tuy nhiên, “số phận” của bài thơ này cũng thật trắc trở, gian truân như chính tác giả của nó vậy.

 “Mỗi khi tháng bảy ùa về”

Tôi tiếp nhận thông tin của cựu chiến binh Lê Bá Dương trong một niềm xúc động khi biết, người thanh niên đầy lý tưởng ấy đã sửa lý lịch tăng thêm tuổi để được nhập ngũ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ khi mới 15 tuổi, ông đã chiến đấu và lập công tại các địa bàn mặt trận Đường 9 Quảng Trị; 19 tuổi, ông đã trên cương vị chỉ huy cấp đại đội chiến dịch giải phóng và bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Trong những năm tháng này, ông đã đạt được nhiều danh hiệu, như: “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dũng sĩ diệt máy bay”… Những chiến công ấy vang xa, lan xa, là nguồn cổ vũ, khích lệ, động viên cho toàn quân, đặc biệt trên mặt trận B5 (Đường 9, Quảng Trị) ác liệt hồi ấy còn dấy lên phong trào “Xung kích như Lê Bá Dương, chốt chặt như Lê Bá Dương”.

Đã có lần ông chia sẻ với tôi: “Chiến trường là nơi đẹp nhất của tuổi trẻ, là nơi tôi được thể hiện khát khao cống hiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà”. Và tôi hiểu với ông, Quảng Trị đã trở thành một phần máu thịt, là quê hương thứ hai của mình để giờ đây mỗi lần về thăm nơi này, ông không khỏi nghẹn ngào, xót xa. Để trả ơn nghĩa đồng đội, ông đã khởi xướng lên tập quán thả hoa xuống dòng sông Thạch Hãn để tưởng niệm vong linh đồng đội, những người đã ngã xuống trên mảnh đất đạn bom này. Điều đặc biệt, tập quán ấy đã được người dân hưởng ứng nối tiếp, nâng lên thành phong tục tâm linh không chỉ cho các ngày lễ  27-7, 30-4… mà còn thường xuyên vào những đêm mồng một, ngày rằm. Ngoài ra, ông cùng nhiều đồng đội còn sống đã và đang lặng lẽ, cặm cụi tìm kiếm hài cốt, thông tin liệt sĩ như một cách trả nợ đồng đội - một món nợ không vay, nhưng nguyện trả đến hết đời.

Trò chuyện cùng ông khi ngày 27-7 đến gần, ông bảo người lính từng bao nhiêu lần nuốt nước mắt, “đưa” di hài đồng đội vào lòng đất, ngay sau khi kết thúc chiến tranh, ông trở về với tâm trạng day dứt khi ngoảnh lại một thời: “Ăn trong đạn, ngủ trong bom/ Những khi cởi áo thay hòm chôn nhau” mà xót xa, một sự xót xa thành hội chứng nhớ! nhớ đến thắt lòng những đồng đội đã nằm lại, chưa, và không trở về. Cái day dứt ấy gần như ngày nào, đêm nào cũng vậy. Đặc biệt những mùa tháng bảy, gần như đêm nào cũng chập chờn những gương mặt những đồng đội, bạn bè… mỗi người một nét riêng cứ hiển hiện trước mắt ông, gọi ông, thì thầm, thủ thỉ thành lời. Người ta gọi đó là sự ám ảnh của ký ức, nhưng với ông, đó là những sự nhắc nhớ như cách bạn bè, đồng đội cùng tổ ba người, cùng tiểu đội hằng ngày cùng chuyện trò, trao đổi chuyện vui buồn… Và ông cứ đem tâm trạng ấy, nỗi niềm ấy, lại vác ba lô “trở về” hương khói cho anh em. Đó là những khi ngồi bên những ngôi mộ, thủ thỉ chuyện trò, hoặc lên rừng chọn nơi đầu gió, nhờ hương khói tỏa vào những trảng rừng lau lách sim mua, nhờ những bè hoa chùng chình dọc suối sông… đâu đó bạn ông còn ẩn mình nằm lại chưa về.

Băn khoăn về tình hình dịch bệnh, ông bảo: “Năm ngoái xen vào giữa quãng “ngừng” của dịch bệnh, tôi còn lách về được một đôi lần. Năm nay dịch bệnh căng thẳng, chấp hành những quy định về phòng, chống dịch hạn chế đi lại trong mùa dịch, nên dù muốn tôi cũng không thể “về” với anh em đồng đội, cái tâm trạng ấy càng thêm day dứt. Hiện tại dù đã nhắn, gửi chút tiền ít ỏi nhờ anh em đồng đội địa phương hương hoa cho anh em, vậy mà tôi vẫn: “Mỗi khi tháng bảy ùa về/ Đêm dài thêm giữa bốn bề khói hương/ Giấc khuya nghiêng phía sa trường/ Bữa cơm nghẹn giữa nhớ thương bạn bè”.

“Số phận” bài thơ “Lời người bên sông”

Mặc dù bài thơ “Lời người bên sông” của ông đã quá nổi tiếng, đã quá nhiều người biết đến nhưng đằng sau nó vẫn là câu chuyện mà ít người biết. Nhiều người từng gọi đây là “bài thơ thần”, nhưng cựu chiến binh Lê Bá Dương lại khẳng định đây không phải “thơ thần”, mà là tiếng lòng của ông, một người lính trở về và được “viết” vào chiều 27-7-1987. “Xin được đóng ngoặc kép chữ “viết” vì cái cách làm thơ, hoặc làm vế đối bất chợt trong đầu và nhớ nhập tâm rồi sau này tiện lúc nào thì viết thành chữ vào nhật ký, hoặc in sách báo... Theo cách viết này, nếu in tôi có thể in vài tập đầy đặn, và bài thơ “Lời người bên sông” cũng cùng một cách viết như vậy”, ông cho biết.

Ông bảo, về nguyên bản bài thơ đầu tiên được thốt ra như thế này: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Tan chợ chiều xuôi đò có vội/ Xin, xin đừng khuấy đục dòng trong”. Viết vậy là bởi hôm đó, sau lễ hương hoa cho đồng bào, đồng đội, ông một mình ngồi lặng lẽ bên bờ Thạch Hãn, chợt thấy từng chiếc thuyền của cô bác ngược dòng lên chợ Quảng Trị. Nhìn những mái chèo hối hả khuấy tung bọt nước, chạnh lòng khi nghĩ đến bạn bè, đồng đội vẫn còn gửi thân xác vào đáy sông mà xót xa. Cứ vậy từng lời như từ trong ngực ông thốt ra thành câu, thành chữ như vậy thành bài thơ – đúng hơn là lời nhắn gửi, thỉnh cầu của một người lính với mọi người trong cả dòng đời xuôi ngược.

Sau 3 năm Lê Bá Dương giữ bài thơ cho riêng mình, không in ở bất cứ tờ báo nào thì đến đầu năm 1990, trong một lần chuyện trò với 2 người bạn là nhà văn Đỗ Kim Cuông và nhà văn Thế Vũ tại Hội Văn nghệ Nha Trang, ông đã đọc bài thơ này. Nhà văn Đỗ Kim Cuông nghe xong nói ngay: Bài thơ rất cảm động, nhưng xót xa quá. Nghe vậy ông sửa từ “xin” trong câu thứ nhất thành từ “ơi”… Đây là thán từ gọi đò theo phương ngữ Quảng Trị. So với từ “xin” thì từ “ơi đò”, “bớ đò” hoặc “đò ơ” khi gọi lên có tiếng đồng vọng nên nghe thắt thẻo hơn. Riêng 2 câu sau được viết lại thành: “Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Lê Bá Dương chấp nhận sự thay đổi này và bài thơ được chỉnh sửa mới đã được in lần đầu tiên trên Tạp chí Khoa học công nghệ Khánh Hoà số kỷ niệm Ngày Thương binh - liệt sĩ (27-7-1990).

Tuy nhiên, khi bài thơ chính thức được công bố rộng rãi thì đã xảy ra nhiều câu chuyện. Khi khởi công công trình bờ Nam sông Thạch Hãn (khánh thành vào 27-7-2009) mặc dù Chủ tịch UBND thị xã Quảng Trị đề nghị Lê Bá Dương chép tay nguyên bản bài thơ và tất nhiên có ký tên ông bên dưới. Tuy nhiên, không hiểu sao, đến ngày khánh thành, trên tấm bia không hề ghi tên tác giả. Theo đó, tuy là bài thơ tứ tuyệt, nhưng lại được tạc lên bia đá theo bố cục so le của thơ lục bát. Đặc biệt, câu đầu thay từ “ơi” thay bằng từ “xin” và câu thơ cuối cùng “Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm” đã được đổi thành “Vỗ yên bờ, bãi mãi ngàn năm”.

Lại đến việc bia thơ bờ Bắc sông Thạch Hãn, chính ông được chủ đầu tư mời ra tận xưởng chế tác tại Ninh Bình để trực tiếp đọc và rà từng từ trên phôi bia. Vậy mà đến ngày 26-7-2010, một lãnh đạo địa phương gọi qua điện thoại hỏi rằng: Thơ anh đã thành thơ của nhân dân nên không đề tên tác giả có được không? Cũng chẳng biết nói sao với câu hỏi như đã khẳng định đó, ông trả lời như thế này: “Thứ nhất, thơ tôi được người dân nhớ, chứ không thể gọi là thơ của nhân dân được. Còn việc nên hay không nên đề tên tác giả, theo tôi các anh thử nghĩ xem, nếu đề tên tôi dưới bài thơ của tôi mà thêm một người yêu Quảng Trị thì nên để, còn nếu vì để tên tôi mà làm giảm bớt một hay nhiều người yêu Quảng Trị thì dĩ nhiên không nên để làm gì”. Nói vậy nhưng đêm cùng ngày, tên tác giả đã “được” bóc ra khỏi bia, để rồi sáng ngày 27-7-2010, khi đưa gần 500 cựu chiến binh trung đoàn tham gia dự lễ khánh thành nhà hành lễ, bến thả hoa bờ Bắc sông Thạch Hãn, trên bia thơ tên tác giả Lê Bá Dương chỉ còn những vết đục nham nhở (sau này được thay bằng hoa văn cánh sen cách điệu). Sau đó, cũng chính đồng chí lãnh đạo địa phương gọi điện trao đổi: “Thơ của bác không ai tranh cãi, nhưng vì thiết kế cái lư hương ngay trước bia thơ đề tên bác. Trong khi bác còn sống, mỗi lần hương khí e bất tiện, vậy nên phải ẩn tên, nhưng trong các lễ nghi cũng như văn bản công bố, tỉnh vẫn nói rõ tên tác giả Lê Bá Dương”.

Tưởng vậy cũng ổn, nhưng ngược lại, việc bia trống tên tác giả lại làm mọi người băn khoăn, phản ứng. Và điều tệ hơn, một số người ác ý, không chỉ xúc phạm đến cá nhân ông và tệ hơn còn mượn cớ để xuyên tạc bôi nhọ chính quyền địa phương cũng như Đảng, Nhà nước. Cực lòng, cùng với việc đăng ký bản quyền bài thơ, ông đem chuyện này trao đổi với lãnh đạo địa phương và ngay sau đó vào năm 2018 bia thơ cả hai bờ sông Thạch Hãn đã được hiệu đính nội dung, cùng đầy đủ tên tác giả.

Bài thơ “Lời người bên sông” của cựu chiến binh Lê Bá Dương đã đi vào hơn 20 tác phẩm “chuyển loại” từ hợp xướng, ca khúc, thậm chí cả rock và ca vọng cổ, dù dùng cả nguyên bài hay dùng vài câu, ý thơ làm ca từ. Dẫu sao, sau một “hành trình” dài “trả lại tên cho em”, bài thơ đã được ghi nhận của tác giả Lê Bá Dương bằng cả bia đá lẫn bia… miệng. Dẫu không phải là một người làm thơ chuyên nghiệp, nhưng chỉ với một bài thơ ấy, Lê Bá Dương đã chạm khắc được vẻ đẹp huyền diệu của tâm hồn, neo lại trong lòng bạn đọc, đặc biệt không chỉ với những người lính từng đi qua cuộc chiến đầy khốc liệt mà cho các thế hệ hôm nay và mai sau có dịp thấu hiểu và ngưỡng mộ quá khứ hào hùng của cả một dân tộc đã một thời chiến đấu, hy sinh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

TRI ÂN NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ (27/7/1947 –27/7/2022)

 


 

Chiến tranh đã đi qua nhiều năm nhưng những hậu quả và dư âm của nó còn sót lại vẫn rất lớn lao và khốc liệt, ghi dấu mãi mãi trong tâm trí mỗi thế hệ người dân Việt Nam, ngày 27/7 lại đang đến gần, đó là ngày mà nhân dân cả nước đã giành riêng để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống hy sinh vì đất nước, vì độc lập tự do. Các anh ra đi vì những mục tiêu cao đẹp và ngã xuống hào hùng, bàn tay của giặc đã tàn phá dày xéo đất nước nhưng không bao giờ làm thay đổi được bản chất của con người Việt Nam. “Uống nước nhớ nguồn”, đó là đạo lý tốt đẹp của dân tộc, và chúng ta có được hòa bình độc lập như ngày hôm nay chính là nhờ một phần lớn công lao của các thế hệ đi trước. Hãy cùng tưởng niệm các anh hùng dân tộc.

Không ai chọn cho mình cách chết, cũng không ai muốn mình phải chết và không có cái chết nào có ý nghĩa bằng được sống. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng bị đe dọa, của cải, ruộng nương làng mạc bị xâm chiếm thì lựa chọn cái chết để đất nước được trường tồn là một lựa chọn vinh quang và cao cả. Mỗi một thân xác nằm xuống, mỗi một phần thi thể mất đi là một ánh hào quang soi sáng hơn con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đó là những dòng chữ bằng vàng khắc sâu vào lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc.

Đất nước đã hòa bình, nhưng chiến tranh chưa hẳn đã lùi xa, hàng ngày hàng giờ các thế lực thù địch, phản động lưu vong vẫn nhăm nhe chia cắt đất nước, những loại tội phạm nguy hiểm vẫn chực chờ cơ hội, thiên tai lũ lụt vẫn hoành hành.

Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Bác Hồ đã viết: “Máu đào của các liệt sỹ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Cho nên đối với “những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng”, và Người giải thích: “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sỹ đã để lại”.

“Ngày 27/7 đã đi vào lịch sử đất nước như một dấu ấn nhắc nhở mọi người về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam.

Vì Tổ quốc, vì Nhân dân, rất nhiều người con của dân tộc, trong đó có những con người tuổi đời mới mười chín, đôi mươi như là  Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc…đã để lại phía sau hạnh phúc riêng tư, những trang sách, giảng đường… sẵn sàng lên đường đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Để đất nước được giải phóng, được thống nhất như ngày hôm nay, rất nhiều người đã anh dũng hy sinh hay để lại một phần thân thể ở chiến trường. Họ sống và chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “tất cả vì Tổ quốc thống nhất ”.

Xin được gửi lời tri ân thành kính tới các thế hệ đã chiến đâu vì độc lập tự do, vì sự bình yên cho Tổ quốc hôm nay. Sống trong cảnh hòa bình, được cất tiếng hát ca sẽ không quên mảnh đất dưới chân mình đã thấm đượm mồ hôi, xương máu của cha anh đi trước, và xin nguyện sống xứng đáng với những kỳ vọng của các thế hệ đi trước.

Hồn thiêng dân tộc đã che chở cho đất nước luôn thái bình, cầu mong những phần mộ liệt sỹ thất lạc tìm thấy và an nghỉ, xin chúc những bác thương binh đều có cuộc sống ổn định và được đền đáp xứng đáng khi đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước. Kính chúc các mẹ Việt Nam anh hùng luôn mạnh khỏe. Chúng ta phải luôn trân trọng giá trị hòa bình ngày hôm nay!.

Ngày 27/7 trở thành ngày mà những người còn sống mãi mãi không được quên, không thể quên. Mặt khác, phải thể hiện lòng tri ân một cách thiết thực, hiệu quả thường xuyên, coi việc mình làm cho thân nhân liệt sỹ, thương binh là làm thay những người con ưu tú đã hy sinh vì Tổ quốc, vì mình, vì cả dân tộc Việt Nam. Mỗi một người trẻ hôm nay hãy sống sao cho xứng đáng với sự ra đi của các anh, hãy tự răn mình bằng những việc làm hữu ích cho non sông đất nước.

Chính vì vậy việc tri ân đối với những người, những gia đình có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân chúng ta, những con người đang được sống trong một đất nước hòa bình nhờ công sức, xương máu cha, anh đổ xuống, mà đó còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Đó là thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

ĐỢI ANH VỀ

 

ĐỢI ANH VỀ

                  Khương Hữu Dụng

Đợi anh vợi mùa xuân

Chẳng thấy anh trở lại

Chỉ thấy chim én về

Và hoa đào vẫy mãi...

 

Tay vít một nhành hoa

Níu áo mùa xuân hỏi:

Vì người công tác xa

Xuân ơi xuân có đợi?

 

Xin một nụ trên cành

Ủ kín vào thương nhớ

Em để dành mùa xuân

Đợi anh về mới nở.

                            1967

Niềm tin và hy vọng từ lá thư người dưới mộ

 


Kỷ vật trên được tìm thấy trong túi áo một người lính. Thông tin được cựu chiến binh Đặng Minh Phương, người lưu giữ bức ảnh này cung cấp. Nhiều năm qua, ông vẫn đau đáu với mong muốn tìm lại người trong ảnh và gia đình liệt sĩ nhưng chưa thể thực hiện được. Về sau, kỷ vật được ông Phương trao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Thượng tá Trần Thanh Hằng-cán bộ đã nghỉ hưu của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã chia sẻ lên mạng câu chuyện phía sau một bức ảnh. Cũng như nhiều đồng nghiệp, bà mong tìm được thông tin về người phụ nữ trong ảnh để tìm thân nhân cho liệt sĩ... Đằng sau bức ảnh ấy là những câu thơ tình khiến giới trẻ 8X, 9X rơi nước mắt:

Đợi anh vợi mùa xuân

Chẳng thấy anh trở lại

Chỉ thấy chim én về

Và hoa đào vẫy mãi...

 

Tay vít một nhành hoa

Níu áo mùa xuân hỏi:

Vì người công tác xa

Xuân ơi xuân có đợi?

 

Xin một nụ trên cành

Ủ kín vào thương nhớ

Em để dành mùa xuân

Đợi anh về mới nở…”

Ngay sau khi được chia sẻ lên mạng, câu chuyện về bức ảnh người con gái “Đợi anh về” đã thu hút hàng ngàn lượt like, hàng trăm lần chia sẻ, bình luận của dân mạng. Những người trẻ viết tiếp một niềm hy vọng tìm lại được cô gái trẻ trong bức ảnh-thân nhân liệt sĩ. Dòng bình luận của một bạn trẻ khiến tôi thẫn thờ một lúc: “Đọc xong bài thơ cái cảm giác bồi hồi, nghèn nghẹn ở trong lồng ngực. Bỗng thấy cuộc sống bây giờ xô bồ nên tình yêu cũng sớm nở rồi sớm tàn. Yêu nhau chóng vánh, kết hôn chóng vánh rồi ly hôn cũng nhanh như tia chớp trên trời trong cơn giông. Không thể nào như ông bà ta lúc xưa. Một ánh mắt, một cái nhìn, một lời hứa sẽ trở về là có thể sắt son vẹn toàn”. Lời hứa và sự chờ đợi của cô gái trẻ ấy ngầm gửi gắm sau tấm ảnh hẳn đã tiếp thêm sức mạnh cho người lính trên chiến trường. Và giờ đây, bức ảnh ấy gián tiếp kể lại cho giới trẻ một câu chuyện tình yêu giản dị tuyệt đẹp dù người lính ấy đã mãi mãi nằm xuống.

Khi nói về niềm tin và sự hy vọng, tôi thường nghĩ ngay tới ông Nguyễn Đăng Khoa (tỉnh Nghệ An), người thường được gọi là nghệ sĩ tài hoa nhất khi là thương binh hạng nặng nhưng chơi được tới 4 nhạc cụ cùng một lúc. Những giải thưởng cao nhất của liên hoan ca múa nhạc dành cho thương binh toàn quốc năm nào cũng có tên ông. Mỗi sáng mai thức dậy, ông thường ngồi thổi kèn, thổi sáo trước nhà. Bên cạnh ông là dăm ba cháu nhỏ háo hức nghe nhạc, gần đó là người vợ tảo tần, gương mặt đầy chân chim nhưng ánh mắt ấm, tươi, rạng rỡ.

Nhưng ít ai biết, ở tuổi 20-giai đoạn đẹp nhất cuộc đời, ông từng sống trong những ngày chán nản cực độ khi mải miết chìm trong bóng đêm. Trước đó, học xong lớp 12, gác lại ước mơ trở thành kỹ sư điện tử, cậu học sinh giỏi Đăng Khoa đã tình nguyện nhập ngũ và lên đường Nam tiến. Cả tiểu đội hy sinh, chỉ còn lại ông với thân thể rách nát, 2 mắt mù lòa…

Những ngày ấy thật đáng sợ. Đêm nào ông cũng chói tai bởi tiếng la hét của những đồng đội bị thương nặng. Những tiếng hét ấy khiến cơn đau của ông quặn buốt. Ông nghĩ về quê hương, về người vợ vừa cưới sau một lần về phép. Càng nghĩ lại càng thêm đau khi mặc định mình là người vô dụng, thừa thãi trong xã hội.

Một sáng trở dậy, tiếng la hét bỗng lặng xuống, chỉ có tiếng kèn harmonica du dương với lời ca: “Ôi ngày ấy sẽ đến, anh sẽ về, sẽ về, phải không anh…”. Một niềm tin bất diệt trong một câu hát đầy cảm xúc. Khi những giai điệu dịu dàng ở câu ca cuối cùng: “Và anh nói tặng em mùa xuân”, thì ông nghĩ tới những nụ hoa tầm xuân dịu dàng vẫn mọc hoang bên hiên nhà. Chẳng ai tưới tắm, bón phân, chăm sóc nhưng những nụ hoa tưởng thừa thãi bên hàng rào ấy vẫn lặng lẽ tỏa hương, khoe chút sắc hồng làm mùa xuân thêm hương sắc, lòng người thêm rạo rực. Từ đó, ông Khoa và nhiều thương binh đã quyết tâm học nhạc. Họ tìm lại được niềm tin yêu vào cuộc sống. Họ cũng thấy nhẹ nhõm hơn khi lắng nghe những tiếng chim câu gù trên mái, khi hít hà một nụ hoa thơm vừa bung nở ban mai. Họ trở về với gia đình, bắt đầu những công việc mới trong tâm trạng yêu đời.

Tôi vẫn nghĩ về niềm tin của “Có biết bao người con gái, con trai/Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi/Họ đã sống và chết/Giản dị và bình tâm/Không ai nhớ mặt đặt tên/Nhưng họ đã làm ra Đất Nước” (trích thơ Nguyễn Khoa Điềm). “Giản dị và bình tâm” từ trong mưa bom, bão đạn cho tới cả những ngày tháng thường nhật. Tôi nghĩ, để làm nên điều ấy không thể thiếu sức mạnh của niềm tin và hy vọng./. 

 

Lý tưởng sống từ những điều bình dị

 


Liệu lý tưởng sống có phải là một điều gì quá lớn lao mà chúng ta cần phải nỗ lực mới rèn luyện được cho mình?

 Nhiều lần tôi cũng đã suy nghĩ và đặt ra những câu hỏi như bạn? Nhưng đến bây giờ tôi nghĩ rằng điều đơn giản nhất cho cuộc sống này là cần có một lý tưởng.

Sinh ra ở đời, ai trong chúng ta cũng khao khát được sống hạnh phúc, với lòng khao khát đó thúc giục chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc. Hơn thế nữa, tự đáy lòng của con người luôn ước ao có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn.

Để đạt được niềm khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người trên trần gian. Và phải chăng những người bất hạnh chính là những người không lý tưởng, sống không mục đích, và càng không biết mình sẽ đi về đâu?

Lý tưởng sống là gì?

- "Khi còn khoẻ mạnh, tôi cũng đã từng suy nghĩ điều gì là quan trọng nhất trong cuộc đời? Sau khi biết mình mắc bệnh, tôi đã đi đến kết luận điều quan trọng nhất chính là triết lý sống của một con người” - Eugene O’Kelly - Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty Kiểm toán Quốc tế KPMG, Hoa Kỳ...

"Bạn sẽ không làm được gì nếu bạn không có mục đích, bạn cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích của bạn tầm thường" (Điđơro)

Triết lý sống hay mục đích sống cũng chính là lý tưởng sống của mỗi con người. Để nói về lý tưởng của thanh niên thời nay, Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng căn dặn các tài năng trẻ rằng: "Tài năng trẻ muốn thành công không chỉ cần học giỏi mà còn cần có lý tưởng, hoài bão, có lòng yêu nước, sống nhân ái, thương người như thể thương thân..."

Bạn có bao giờ tự hỏi bạn tồn tài trên cuộc đời vì lý do gì không? Một câu hỏi lẽ ra rất dễ nhưng nó làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình. Cũng giống như một doanh nghiệp ra đời họ phải phát biểu sứ mạng của họ. Ví dụ sứ mạng của thương hiệu điện thoại Nokia có thể được thể hiện qua slogan là "Connecting people", vậy sứ mạng của cuộc đời bạn là gì...?

Đây là băn khoăn của không ít những bạn trẻ thời nay. Nhiều người cho rằng đời sống quá bận rộn, làm gì có thì giờ để đặt vấn đề niềm tin hay lý tưởng sống. Cũng có bạn cho rằng cứ sống tự nhiên, đến đâu hay đó, làm gì phải bận tâm đến niềm tin hay lý tưởng sống. Những người nói như vậy thật ra là cũng đã có niềm tin hay lý tưởng sống cho chính mình. Niềm tin hay lý tưởng đó là sống đến đâu hay đó, không cần suy nghĩ hay đặt vấn đề.

Lý tưởng sống từ những điều bình dị

Nhiều người từng nghe câu nói trong bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn:  "Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi...."

Một thời gian dài tôi mới nhận ra rằng ý nghĩa của câu này là "hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì... Hãy san sẻ tấm lòng để cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng những cái gì mình đã cho đi là lớn lao mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng... chỉ để gió cuốn đi...".

Phải sống có lý tưởng! Bạn có thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc sống. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì vậy, chỉ có hạnh phúc khi "mình vì mọi người và mọi người phấn đấu vì hạnh phúc của từng người". Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống.

Lý tưởng của ta không cần lớn lao dù chỉ là một chiếc lá, một người quét đường cũng cần có cho mình một lý tưởng bình dị như những vĩ nhân: "Một người quét đường hãy quét những con đường như đại nhạc sư Beethoven đã soạn nhạc, hãy quét những con đường như đại văn hào Shakespeare đã làm thơ...".

Cuối cùng xin kết thúc bằng lời của chiến sĩ cách mạng, một người cộng sản trẻ tuổi, một nhà văn, một anh hùng thời vệ quốc Xô Viết vĩ đại, Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky): "Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được. Vì bệnh tật vô lý hay một sự bi đát tình cờ nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời này".

Kiên quyết đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch chống đối với chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”

Tổ chức lực lượng “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã ra sức chống phá bằng chiêu trò, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi. Chúng tung rất nhiều tin tức xấu độc, bịa đặt… phát tán trên mạng xã hội hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ. Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị vẫn tìm mọi cách chống phá gay gắt và quyết liệt hơn. Trên trang mạng Baotiengdan.com có bài viết của Trần Văn với nội dung “Liệu Việt Nam có học được gì từ bi kịch của Quân đội Nga?” và một số quan điểm về “tinh giảm biên chế của Quân đội ta” hay lợi dụng các trang mạng xã hội đưa tin sai sự thật về diễn tập khu vục phòng thủ, những hoạt động quân sự, quốc phòng, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý của các đơn vị để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội.

Những bài viết này đều nhằm thực hiện âm mưu phá hoại, xuyên tạc cắt xén thông tin, chế giễu, làm mất thanh danh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, những hành động chống phá của một số cá nhân trên với mục đích làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội, hướng lái dư luận theo mưu đồ đen tối, phản động của chúng. Các ý kiến trên thực chất là luận điệu xuyên tạc, âm mưu bôi nhọ, chống phá Quân đội ta, hòng gieo rắc hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Thủ đoạn này tuy không mới, nhưng nó dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về đúng - sai, thật - giả, gây nên sự dao động trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Chúng phải nhận thức được rằng: đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”. Đây là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030 và các năm tiếp của Quân đội. Với mục tiêu, yêu cầu là: Quân đội có sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh lực lượng phù hợp; sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ khi đất nước chuyển sang thời chiến.

 Bên cạnh đó, chủ trương trên bắt nguồn từ quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức quân đội. Người khẳng định “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. 

Trong giai đoạn mới, đây là vấn đề cụ thể hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam của Đảng, Nhà nước về điều chỉnh tổ chức, biên chế, huy động tiềm lực quốc phòng; ưu tiên đầu tư, nâng cao sức mạnh cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Ngoài ra, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội. Đây là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Sở dĩ Đảng ta xác định rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội như đã nêu trên là xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và thế giới với những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tóm lại, khi điều chỉnh, tổ chức, biên chế trong Quân đội là một vấn đề phức tạp, liên quan đến tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị kỹ thuật, nghệ thuật quân sự. Đặc biệt là liên quan đến con người, nhất là ở các đơn vị phải giải thể, sáp nhập, chuyển đổi mô hình hoạt động. Vì vậy, trong quá trình tiến hành phải tiến hành đồng bộ, hiệu quả, có sự đồng thuận và quyết tâm cao của tất cả các cấp, lực lượng, lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp.

Như vậy, những luận điệu, phản động, cơ hội chính trị, suy nghĩ cho rằng: “Quân đội tinh giảm để giảm bớt gánh nặng cho xã hội”. Các phát tán trên đều là bịa đặt, không đúng sự thật. Để góp phần đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, mỗi quân nhân cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn đen tối của những kẻ như Trần Văn.

 

Quên mình cứu người, anh dũng hy sinh

Khoảng 6g45 phút ngày 26/6, tại bãi biển Phú Quốc, Trung tá QNCN Bùi Văn Nhiên, công tác tại Phòng Chính trị, Nhà máy Z195, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng nghe tiếng kêu cứu của người đang bị nước cuốn ra xa. Anh lập tức lao xuống biển cùng nhân viên cứu hộ tại khu vực để cứu người. Nạn nhân là cháu Nguyễn Nhân Phúc, sinh năm 2009. 

Sau khi cứu được cháu bé vào bờ an toàn, đồng chí Nhiên có biểu hiện đuối sức và được đồng đội đưa vào bệnh viện Dương Đông cấp cứu. Tuy nhiên đồng chí đã không qua khỏi.

Một tấm áo xanh đã ngã xuống, quên mình để một cuộc đời ở lại. Cảm phục trước sự hy sinh của Trung tá QNCN Bùi Văn Nhiên, gia đình cháu bé gặp nạn đã gửi tâm thư đến gia đình, đơn vị đồng chí Nhiên. 


Trong trái tim những người chứng kiến tại hiện trường mãi ghi nhớ khoảnh khắc anh dũng của đồng chí Nhiên....


Hương Sen Việt

Các Mác Nhà tư tưởng vĩ đại!

 

Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 05/5/1818 ở thành phố Trier-là một thành phố cổ của Đức. Khi 17 tuổi trong luận văn tốt nghiệp trung học Ông đã viết: "Lịch sử gọi những con người tự làm cho mình trở nên cao quý bằng việc cống hiến cho sự nghiệp chung, là những con người vĩ đại; kinh nghiệm ca ngợi con người đem lại hạnh phúc cho hầu hết mọi người, là con người hạnh phúc nhất". "Nếu một người chỉ lao động vì mình thôi, thì người đó có thể trở nên một nhà bác học nổi tiếng, một nhà thông thái lớn, một nhà thơ tuyệt vời, nhưng người đó không bao giờ có thể trở thành một con người thật sự hoàn thiện..."; còn, "nếu chúng ta chọn được một nghề mà chúng ta có thể cống hiến nhiều nhất cho nhân loại, thì chúng ta sẽ không cảm thấy gánh nặng của nghề ấy"; và “…hạnh phúc của chúng ta sẽ được nhân lên gấp bội vì nó không chỉ là của chúng ta nữa mà nó thuộc về hàng triệu người…”.

Năm 1848 được sự ủy nhiệm của Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản, Mác và Ăngghen đã soạn thảo “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - một văn kiện mang tính chất cương lĩnh soi sáng cho giai cấp công nhân toàn thế giới con đường đấu tranh để thoát khỏi chế độ nô lệ tư bản chủ nghĩa thông qua cách mạng vô sản.

Các Mác quan niệm hạnh phúc là đấu tranh; đau khổ là sự khuất phục! Ông đã dành trọn đời cho lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng loài người thoát khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công và mọi sự tha hóa.

Mai Năm Mới

Lý tưởng sống là gì

 

Lý tưởng sống là động lực to lớn giúp con người ta vượt qua những khó khăn, thử thách chông gai trong cuộc sống để thực hiện những ước mơ, hoài bão của mình.

Mỗi người chúng ta ai cũng cần có cho mình lý tưởng sống để sống một cuộc đời ý nghĩa và trọn vẹn hơn.

Lý tưởng sống là một khái niệm không quá xa lạ nhưng ít ai có thể hiểu sâu sắc và đầy đủ về lý tưởng sống.

Lý tưởng sống được hiểu là là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới. Lý tưởng sống là động lực to lớn giúp con người ta vượt qua những khó khăn, thử thách chông gai trong cuộc sống để thực hiện những ước mơ, hoài bão của mình. Người có lí tưởng sống cao đẹp là người luôn có ý chí nghị lực biết vươn lên và hướng tới những điều tích cực, hoàn thiện và phát triển bản thân mình. Người có lý tưởng sống luôn mang lại cho chính người đó niềm vui, hạnh phúc và ý nghĩa trong cuộc đời mình, mang lại niềm tự hào cho gia đình của họ, đồng thời giúp ích cho sự phát triển của xã hội. Người có ly tưởng sống cao đẹp luôn được xã hội công nhận và kính trọng.

Mưu cầu hạnh phúc là một mưu cầu của con người, có thể với mỗi người ai cũng mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc, ấm no, vui vẻ và bình an. Tuy nhiên trong cuộc sống sẽ có những khó khăn thử thách mưu cầu tìm kiếm hạnh phúc của con người, vì vậy con người muốn đạt được hạnh phúc thì cần phải vượt qua gian khó, do đó lý tưởng sống giúp con người thực hiện được điều đó. Do đó mà người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lí tưởng sống. Những người có lý tưởng sống là những người hạnh phúc, rất đáng được xã hội tôn kính.

Bên cạnh những người có lý tưởng sống thì cũng có rất nhiều người không có lý tưởng sống của mình, họ không có những mục tiêu trong cuộc sống, không có ý chí nghị lực để vượt qua những khó khăn thử thách, phó mặc cho hoàn cảnh và cuộc đời của mình. Thật nguy hiểm đối với những người không có lý tưởng sống, họ sẽ tự hủy hoại cuộc sống của mình, có thể gây ảnh hưởng hưởng đến gia đình và sự phát triển của xã hội.

Dù lý tưởng sống là những điều lớn lao hay bình dị thì cũng cần tìm cho mình lý tưởng sống để cuộc sống thêm trọn vẹn và hạnh phúc, mang lại những ý nghĩa cho bản thân gia đình và xã hội bạn nhé!

Có một số câu nói hay về lý tưởng sống nhằm tạo động lực cho chúng ta tìm kiếm và nuôi dưỡng lý tưởng sống của mình như sau:

Phạm Văn Đồng: “ Lúc tâm hồn tràn đầy ánh sáng của một ý chí lớn, một tình cảm lớn, và những cái lớn này chi phối cả đời sống của mình, mọi ý nghĩ và việc làm của mình, thì tự nhiên người ta sẽ rời bỏ cái gì không xứng đáng, những cái nhỏ nhen, và sẽ thấy vui vẻ phấn chấn lạ thường.”

Victor Hugo: “ Linh hồn của con người vẫn cần lý tưởng hơn thực tế. Chúng ta tồn tại nhờ thực tế; nhưng chúng ta sống vì lý tưởng.”

Paven Copsagine trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy (tác giả Nikolai Ostrovsky): "Cái quí nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, mà có thể nói rằng: Tất cả đời mình ta đã cống hiến cho sự nghiệp 

Ý NGHĨA CỦA TỰ SOI TỰ SỬA

 


Ý NGHĨA “TỰ MÌNH”

Năm 1927, trong sách Đường cách mệnh, khi bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đề cập 3 mối quan hệ: Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải. Đáng lưu ý là trong tất cả các mối quan hệ trên dù bất cứ ở thời kỳ nào, Hồ Chí Minh đều đặt “đối với tự mình” lên trên hết. Vì sao như vậy?

Về lý luận và thực tiễn, “đối với tự mình” là nói đến yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, còn “đối với người” là nói đến yếu tố khách quan, yếu tố bên ngoài. Triết học mácxít chỉ rõ rằng yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong bao giờ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định.

ĐẢNG CHÂN CHÍNH CÁCH MẠNG PHẢI TỰ SOI, TỰ SỬA

Trong đổi mới, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TỰ SOI, TỰ SỬA

Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình?

Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền thường có nhiều hoặc ít quyền hành, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà không giữ được đạo đức cách mạng thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Nguy hiểm nhất là đảng viên hư hỏng sẽ đưa quần chúng đến hư hỏng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự thực hành cần kiệm liêm chính để làm kiểu mẫu cho dân.

Vừa qua, Đảng ta ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định phục vụ cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Ví như Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm. Đảng có những kết luận, nghị quyết, quy định như thế là rất cần thiết để giúp đảng viên trong tu dưỡng rèn luyện.

Đảng viên, cán bộ phải tự giác, thường xuyên, hằng ngày, suốt đời tự soi, tự sửa như chuyện rửa mặt hằng ngày để giữ vững đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư.

Tự soi, tự sửa là để mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước, cho dân thì quyết không làm.

Tự soi tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Đảng viên phải như sông to, biển rộng, bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.