Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

Tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam và một số hàm ý chính sách.

 - Chuyển đổi số là nội dung cơ bản trong trụ cột kỹ thuật số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đang trở thành xu hướng tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh, tận dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực nhàn rỗi của xã hội, thực hiện thành công mục tiêu vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có khả năng cạnh tranh ở khu vực và thế giới.

Xu hướng chuyển đổi số ở Việt Nam

Chuyển đổi số (digital transformation) là việc ứng dụng những tiến bộ về công nghệ số, như điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data)... vào mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… nhằm mang lại hiệu suất cao, thúc đẩy phát triển doanh thu, nâng tầm thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, “một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối”(1)Năm 2020, lần đầu tiên, Liên hợp quốc sử dụng cụm từ “Digital Government” (Chính phủ số) làm chủ đề cho Báo cáo khảo sát chính phủ điện tử, thể hiện xu hướng phát triển chính phủ số trên toàn cầu.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan gian trưng bày sản phẩm công nghệ số của các doanh nghiệp tham dự Diễn đàn quốc gia Phát triển doanh nghiệp công nghệ số lần thứ 3, năm 2021 _ Ảnh: TTXVN

Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Kinh tế số của Việt Nam năm 2019 đạt giá trị 12 tỷ USD, đóng góp 5% GDP của đất nước(2). Kinh tế Việt Nam đang thay đổi nhanh thông qua việc áp dụng công nghệ số. Một số ngành công nghiệp tại Việt Nam đang được số hóa nhanh chóng, như: thương mại điện tử, du lịch, nội dung số và công nghệ tài chính (fin-tech). Đây là những ngành tiềm năng cho nền kinh tế số Việt Nam trong thời gian tới. Kết quả từ các nghiên cứu trong báo cáo “Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045” do Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ Ô–xtrây-lia (CSIRO) và Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố năm 2019 cho thấy mức độ sẵn sàng cho chuyển đổi số. Các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực này gặp khó khăn khi áp dụng công nghệ mới do vấn đề tài chính và kỹ thuật, nhưng họ nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghệ số trong sản xuất. Với bối cảnh của Việt Nam trong năm 2019, nền kinh tế số của Việt Nam vẫn có tiềm năng cao - cả trong các ngành truyền thống và các ngành mới nổi. Kết quả khảo sát người tiêu dùng cho thấy, khi các ngành công nghiệp chuyển đổi, người tiêu dùng Việt Nam đang thích ứng nhanh chóng và chấp nhận các sản phẩm và dịch vụ mới của nền kinh tế số. Điều này có lợi cho việc thu hút đầu tư và phát triển nền kinh tế số của nước ta… Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thử nghiệm 5G(3). Hạ tầng internet, chương trình dịch vụ phổ cập đầu tiên đã được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010 trên cơ sở Quyết định số 74/2006/QĐ-TTg, ngày 7-4-2006, của Thủ tướng Chính phủ, với kinh phí thực hiện Chương trình ước tính khoảng 5.200 tỷ đồng.

Năm 2018, Việt Nam đã tham gia Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN (ASCN) và phê duyệt Kế hoạch phát triển thành phố thông minh bền vững giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, của Thủ tướng Chính phủ với các nhóm giải pháp bao gồm: Rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, định mức kinh tế - kỹ thuật và ban hành các hướng dẫn về phát triển đô thị thông minh bền vững; từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực đô thị thông minh, thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đô thị thông minh bền vững; hình thành, kết nối liên thông, duy trì và vận hành hệ thống dữ liệu không gian đô thị số hóa và cơ sở dữ liệu đô thị quốc gia; đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông minh trong quy hoạch và quản lý phát triển đô thị; phát triển hạ tầng đô thị thông minh; phát triển các tiện ích thông minh cho dân cư đô thị; xây dựng tiềm lực phát triển đô thị thông minh bền vững; tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trong và ngoài nước; tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, trao đổi chuyển giao công nghệ về phát triển đô thị thông minh bền vững; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về đô thị thông minh. 

Theo Ngân hàng Thế giới, có năm trụ cột chính cho một nền kinh tế kỹ thuật số sôi động, an toàn và bao trùm ở một quốc gia(4): i) hạ tầng kỹ thuật số; ii) các nền tảng kỹ thuật số; iii) dịch vụ tài chính kỹ thuật số; iv) tinh thần kinh doanh kỹ thuật số và v) kỹ năng kỹ thuật số. Nền tảng cho số hóa ở Việt Nam gần đây đã được phát triển đáng kể hướng tới bảo đảm các trụ cột này. Dịch vụ internet tốc độ cao, thiết bị thông minh và điện thoại di động ở Việt Nam đang trở nên phổ biến. Tính đến tháng 1-2021, dân số Việt Nam đạt mốc 97,8 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 37,7%. Trong đó, có khoảng 68,17 triệu người đang sử dụng internet (chiếm 70,3% dân số) thông qua các nền tảng, ứng dụng khác nhau, với thời lượng trung bình là 6 giờ 47 phút. Đây được xem là khoảng thời gian tương đối lớn được sử dụng trong 1 ngày(5). Việt Nam là một trong những nước có số lượng tên miền đăng ký cao nhất trong khu vực ASEAN(6). Theo Báo cáo của VNNIC, tính đến ngày 31-10-2019, số lượng tên miền tại Việt Nam đạt trên 500.000 tên miền. Tên miền “.vn” là tên miền quốc gia có số lượng người đăng ký sử dụng lớn nhất ASEAN và tốp 10 châu Á - Thái Bình Dương. Có 145,8 triệu kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020. Số lượng kết nối di động tại Việt Nam vào tháng 1-2020 tương đương 150% tổng dân số. Thị trường điện toán đám mây của Việt Nam đạt khoảng 133 triệu USD (tương đương khoảng 3.200 tỷ đồng). Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 27 trung tâm dữ liệu (IDC) của 11 doanh nghiệp trong nước đầu tư, 270.000 máy chủ trên khắp cả nước(7).

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm tiếp cận chuyển đổi số. Chủ trương về chuyển đổi số đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh(8). Chuyển đổi số đã được ghi nhận trong nhiều lĩnh vực, ví dụ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong nông thôn mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, xây dựng nông thôn mới thông minh… theo tinh thần mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; hỗ trợ về kết cấu hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin để hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, hình thành sàn giao dịch việc làm trực tuyến và xây dựng các cơ sở dữ liệu trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, chuyển đổi số trong tổ chức triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030… Nhiều văn bản quan trọng về chuyển đổi số đã được ban hành(9). Ngoài ra, còn nhiều văn bản pháp luật áp dụng cho từng địa phương và văn bản của từng tỉnh, thành phố áp dụng đối với địa phương mình, tạo nền tảng cho chuyển đổi số(10). Hoạt động chuyển đổi số đã đạt được những kết quả tích cực ở cả 3 trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Xếp hạng Chỉ số phát triển chính phủ điện tử theo Báo cáo khảo sát xếp hạng mức độ phát triển chính phủ điện tử năm 2020, Việt Nam tăng 3 bậc so với năm 2016.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 hoàn thành cơ bản chuyển đổi số và đến năm 2025 trở thành doanh nghiệp hoạt động trên môi trường số (Trong ảnh: Ứng dụng công nghệ số vào công tác vận hành phát điện tại Công ty Thuỷ điện Sơn La)_Ảnh: TTXVN

Các quy định liên quan đến chuyển đổi số trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động tới chuyển đổi số ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA); gần đây nhất đã ký kết các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...

Về tổng thể, có thể thấy, các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc thực thi các FTA: Nhóm các cam kết mà pháp luật Việt Nam bảo đảm tính tương thích tại thời điểm phê chuẩn các FTA; nhóm các cam kết mà việc thực thi trên thực tế ở Việt Nam không đòi hỏi phải thực hiện thông qua các quy định pháp luật cụ thể; nhóm các cam kết về các ràng buộc tương lai; nhóm các cam kết dưới dạng các khuyến nghị hoặc quyền lựa chọn.

Các hiệp định này đã xác lập nhiều quy định liên quan đến chuyển đổi số, như quy định về các sản phẩm số, quy định về bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, quy định về thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, quy định về nhãn hiệu điện tử, chứng thực chữ ký điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, các quy định về chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, quy định về các sản phẩm công nghệ truyền thông và thông tin (ICT) có sử dụng công nghệ mã hóa, về tương thích điện từ của các sản phẩm thiết bị công nghệ thông tin (ITE), về các dịch vụ máy tính, về tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định các biện pháp bảo hộ cạnh tranh với nhà cung cấp chủ đạo, quy định về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan, các quy định về việc thu hoặc áp thuế trực tiếp, xác định, phân bổ hoặc phân chia thu nhập, lợi nhuận, khấu trừ hoặc tín dụng, các quy định về mua sắm chính phủ đối với Việt Nam (bao gồm cả cơ quan cấp Trung ương, cơ quan cấp địa phương và các cơ quan khác)…(11). Các FTA thế hệ mới cũng có các điều khoản thành lập các cơ quan liên quan đến chuyển đổi số(12).

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong các hoạt động thương mại, gắn với nhiều lĩnh vực khác nhau, như sở hữu trí tuệ, thuế quan, hạ tầng số, thanh toán không dùng tiền mặt và công nghệ tài chính (fintech), logistics,.... Việt Nam cũng có nhiều cải cách về thương mại và đầu tư nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài hưởng lợi từ các FTA, trong đó có các FTA thế hệ mới. Ví dụ, việc ban hành các quy định liên quan tới chứng nhận xuất xứ hoặc truy xuất nguồn gốc điện tử tạo ra con đường dẫn tới chuyển đổi số của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tại Việt Nam. Các FTA thế hệ mới được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao tạo thuận lợi cho chuyển đổi số, thu hút các tập đoàn lớn của nước ngoài...

Việc tham gia các FTA thế hệ mới được kỳ vọng và đã mang lại nhiều tín hiệu khả quan cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (bình quân từ 2,18% đến 3,25% cho 5 năm đầu thực hiện và khoảng 4,57% đến 5,3% cho 5 năm tiếp theo) và trao đổi thương mại hai chiều (xuất khẩu sang EU tăng khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 trong khi nhập khẩu từ EU tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030)(13). Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, tính đến ngày 20-12-2021, vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2%; vốn thực hiện đạt 19,74 tỷ USD, giảm 1,2% so với năm 2020. Có 1.738 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giảm 31,1%; vốn đăng ký đạt 15,2 tỷ USD, tăng 4,1%Có 985 lượt dự án điều chỉnh, giảm 13,6%; vốn đầu tư đạt 9 tỷ USDtăng 40,5%. Có 3.797 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, giảm 38,2%, vốn góp đạt 6,9 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ. Sau hơn một năm đi vào triển khai, Hiệp định EVFTA đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt 41,29 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, xuất khẩu đạt 28,85 tỷ USD, tăng 11,7%(14).

Các FTA thế hệ mới có khả năng thúc đẩy đầu tư chất lượng cao vào một số ngành mà các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng, như: sản xuất công nghệ cao, chăm sóc sức khỏe, năng lượng sạch và tái tạo, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ tài chính, qua đó tạo cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến cho các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời có thể được hưởng lợi từ kiến thức, công nghệ, bí quyết mà các nhà đầu tư nước ngoài mang lại. Các tiêu chuẩn cao từ các FTA thế hệ mới sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp và chuyển đổi kỹ thuật để đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn của thị trường nước ngoài.

Sản xuất sản phẩm thiết bị đầu cuối của VNPT Technology - đơn vị chủ lực của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất viễn thông công nghệ thông tin, truyền thông và công nghiệp nội dung số_Ảnh: Tư liệu

Các quy định trong các FTA thế hệ mới tạo ra một số thách thức đối với việc hoàn thiện các chính sách, pháp luật để thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới. Một số quy định hiện hành của Việt Nam về chuyển đổi số chưa phù hợp với các cam kết quốc tế. Điều 26 Luật An ninh mạng năm 2018 quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên internet có hoạt động thu thập, khai thác, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam, nhưng Điều NN.13 của Hiệp định CPTPP không cho phép các quốc gia thành viên yêu cầu một doanh nghiệp nước ngoài phải đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của mình như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ nước đó. Nhiều luật đã được ban hành từ khá lâu nhưng chưa được rà soát sửa đổi. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 có một số điểm chưa tương thích với các luật được ban hành sau, như Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng khi có đề cập việc không được sử dụng thông tin vào mục đích khác trái với quy định về việc sử dụng thông tin đó, không tiết lộ thông tin cho bên thứ ba..., nhưng chưa quy định về sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử để tránh lộ, lọt thông tin của người dùng... Các quy định hiện hành về bảo mật dữ liệu cá nhân còn thiếu và không đủ hiệu lực, dẫn đến tình trạng dữ liệu cá nhân không được bảo mật. Một số lĩnh vực gắn với chuyển đổi số, như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối (blockchain) chưa có các văn bản pháp luật phù hợp để điều chỉnh… Các quy định của pháp luật cạnh tranh cũng hầu như chưa đề cập tới các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành ở Việt Nam để phản ánh yêu cầu của các FTA thế hệ mới.

Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Để chủ động thích ứng với tác động của các FTA thế hệ mới tới chuyển đổi số ở Việt Nam, cần tiếp tục quan tâm tới các vấn đề sau:

Một là, chú trọng hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách liên quan đến quy định trong các FTA thế hệ mới, như sản phẩm số, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, nhãn hiệu điện tử, tên miền, viễn thông và mạng viễn thông, chuyển thông tin gắn liền với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân và bảo mật các hồ sơ, báo cáo, giao dịch và tài khoản cá nhân, dịch vụ máy tính, tự động hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy định về các biện pháp bảo hộ cạnh tranh…; có cơ quan chuyên trách, có thẩm quyền trong thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung vào những ngành, lĩnh vực đột phá; hạ tầng thông tin; tạo thuận lợi và hỗ trợ phù hợp cho doanh nghiệp; hỗ trợ trong việc tạo ra môi trường thử nghiệm cho các mô hình kinh doanh, sản phẩm mới, tiến hành các khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sand box) cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các phát kiến đổi mới trong điều kiện thị trường thực tế; xây dựng khung chính sách, pháp luật về quản trị dữ liệu quốc gia (như trách nhiệm, phân cấp quản lý dữ liệu; kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu; quy định về dữ liệu gốc; quản lý chất lượng dữ liệu; quản lý vận hành dữ liệu; quản lý an ninh dữ liệu…); ban hành quy định gắn với việc nâng cao trách nhiệm của nhà mạng cung cấp dịch vụ qua các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới nhưng phải bảo đảm nguyên tắc thực thi công bằng, trách nhiệm như nhau trước pháp luật đối với cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật cần bảo đảm bám sát các định hướng chung của Việt Nam, xu hướng, thông lệ của thế giới và có sự tham vấn ý kiến rộng rãi.

Đổi mới toàn diện các quy trình quản lý nhà nước gắn với chuyển đổi số như: đơn giản hóa thủ tục thẩm định; chuyển sang công nghệ số, qua internet để cấp giấy chứng nhận đầu tư trong thời gian ngắn nhất... Tập trung xây dựng các văn bản pháp luật gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, định danh và xác thực điện tử, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành (bao gồm việc kết nối với cơ sở dữ liệu về thuế, hải quan, ngân hàng, giấy phép lái xe, bảo hiểm y tế để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước công dân gắn chíp phục vụ tiện ích cho người dân; chuẩn bị nền tảng dữ liệu để tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp định danh và xác thực điện tử...); thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số; có giải pháp để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số; thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số; hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh...

Sử dụng công nghệ, kỹ thuật trong giao dịch điện tử_Nguồn: phunuvietnam.vn

Hai là, cần chú trọng các trụ cột liên quan đến năng lực quản lý chuyển đổi số, đó là trụ cột chiến lược, trụ cột văn hóa và trụ cột quản trị. Chiến lược quản trị, khi được xác định cụ thể, rõ ràng và đúng đắn, sẽ giúp hành trình chuyển đổi số đi đúng hướng, còn văn hóa kỹ thuật số sẽ giúp duy trì sự chuyển đổi đó trong dài hạn. Cần lưu ý rằng, năng lực quản lý chuyển đổi và nền tảng kỹ thuật số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Ba là, phát triển hạ tầng số, trong đó nhấn mạnh các lĩnh vực như phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao, phát triển hạ tầng kết nối internet vạn vật, thu hút, đưa các nền tảng công nghệ, dịch vụ lớn trên thế giới đặt tại Việt Nam… Nghiên cứu hình thành cơ chế quản lý dữ liệu lớn và kho dữ liệu nhằm xử lý khối lượng lớn dữ liệu do các cơ quan, tổ chức của Nhà nước tạo ra, trên cơ sở đó cho phép Chính phủ ra các quyết định tối ưu, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra trong lộ trình chuyển đổi số. Đối với các hoạt động có yếu tố thương mại điện tử trên các phương tiện truyền thông xã hội, cần có cơ chế quản lý riêng và phù hợp với từng dạng thức. Đối với các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới, cần nắm rõ cách thức vận hành, từ đó xây dựng quy định quản lý hoạt động của các nền tảng này một cách hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động liên quan đến các nền tảng thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới thông báo hoạt động của họ thông qua các cách thức trực tuyến./.

-----------------

(1) Vial, Gregory: “Understanding digital transformation: A review and a research agenda” (Tạm dịch: Hiểu về chuyển đổi kỹ thuật số: Đánh giá và chương trình nghiên cứu), The Journal of Strategic Information Systems, 2006
(2) “e-Conomy SEA 2019 - Swipe up and to the right: Southeast Asia’s $100 billion Internet economy” (Tạm dịch: e-Conomy SEA 2019 - Phát triển và đúng hướng: Nền kinh tế Internet trị giá 100 tỷ USD của Đông Nam Á), https://www.bain.com/globalassets/noindex/2019/google_temasek_bain_e_conomy_sea_2019_report.pdf, 2019
(3) Cameron A, Pham T H, Atherton J, Nguyen D H, Nguyen T P, Tran S T, Nguyen T N, Trinh H Y & Hajkowicz S: Vietnam’s future digital economy – Towards 2030 and 2045 (Tạm dịch: Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045), CSIRO, Brisbane, 2019
(4Digital Solutions in a Time of Crisis: Uganda Economic Update (Tạm dịch: Giải pháp kỹ thuật số trong thời kỳ khủng hoảng: Cập nhật kinh tế U-gan-đa), Fifteenth Edition, July 2020, World Bank, Washington, DC, 2020
(5) Thống kê internet Việt Nam 2021, https://vnetwork.vn/vi/news/thong-ke-tinh-hinh-internet-viet-nam-nam-2021
(6Báo cáo số liệu internet tại Việt Nam, https://vnetwork.vn/news/cac-solieu-thong-ke-internet-viet-nam-2019
(7Thực trạng phát triển điện toán đám mây tại Việt Namhttps://vnpt.com.vn/doanh-nghiep/tu-van/dien-toan-dam-may-tai-viet-nam.html
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 221
(9) Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Viễn thông năm 2009, Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009, Luật Lưu trữ năm 2011, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018,…; các Luật có chứa những điều khoản về chuyển đổi số như Luật Quản lý thuế, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Quy hoạch, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công…; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, ngày 16-05-2013, của Chính phủ, về thương mại điện tử; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, của Chính phủ, hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử năm 2005 về giao dịch điện tử chữ ký số, chứng thực chữ ký số; Nghị định số 165/2018/NĐ-CP của Chính phủ, về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Chỉ thị số 02/CT-TTg, 23-01-2019, của Thủ tướng Chính phủ, về việc tăng cường sử dụng chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP, ngày 08-04-2020, của Chính phủ, về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 47/2020/NĐ-CP, ngày 09-04-2020, của Chính phủ, quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước; Quyết định số 645/QĐ-TTg, ngày 15-05-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021 – 2025; Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03-06-2020, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"…
(10) ví dụ Nghị quyết số 54/2017/QH14, của Quốc hội, về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 35/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, Nghị quyết số 38/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế, Nghị quyết số 37/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết số 36/2021/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Nghệ An, Nghị quyết số 45/2022/QH15, của Quốc hội, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ…, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết 09-NQ/TU về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 662/QĐ-UBND, ngày 2-3-2021, phê duyệt đề cương, nhiệm vụ xây dựng Đề án Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành các Quyết định số 2392/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2393/QĐ-UBND, ngày 03-7-2020, về phê duyệt Chương trình chuyển đổi số của Thành phố Hồ Chí Minh…
(11) Ví dụ, về chính sách cạnh tranh, Hiệp định EVFTA có quy định riêng đối với việc trợ cấp cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, theo đó Điều 10.7 (Minh bạch hóa) và Điều 10.6 (Trợ cấp riêng có điều kiện) chỉ áp dụng đối với các ngành dịch vụ: viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải bao gồm hàng hải, năng lượng, dịch vụ máy tính, kiến trúc và cơ khí, dịch vụ xây dựng và môi trường, tùy thuộc vào các bảo lưu trong Chương 8 (Tự do hoá đầu tư, Thương mại dịch vụ và Thương mại điện tử). Về dịch vụ viễn thông, Hiệp định EVFTA quy định về các lĩnh vực hợp tác trong sở hữu trí tuệ (Điều 12.62) như chủ động tăng cường nhận thức và giáo dục công chúng nói chung về chính sách sở hữu trí tuệ bằng việc xây dựng các chiến lược hiệu quả để xác định các đối tượng chủ yếu và xây dựng chương trình truyền thông để tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và báo chí về tác động của việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm nguy cơ đối với sức khỏe và sự an toàn và mối liên hệ với tội phạm có tổ chức; thúc đẩy và phổ biến thông tin về quyền sở hữu trí tuệ trong, các cộng đồng kinh doanh, tổ chức nghề nghiệp xã hội, tổ chức xã hội, cũng như tăng cường nhận thức của người tiêu dùng và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, bên cạnh các lĩnh vực khác; Hiệp định RCEP quy định (Điều 9) về trách nhiệm chung đối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng: 1. Mỗi Bên có trách nhiệm bảo đảm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông trên lãnh thổ quốc gia mình phải cung cấp kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng của Bên khác. 2. Mỗi Bên có trách nhiệm rằng nhà cung cấp dịch vụ hoặc mạng viễn thông công cộng trên lãnh thổ quốc gia mình không được sử dụng hoặc cung cấp các thông tin nhạy cảm thương mại hoặc thông tin bảo mật của người sử dụng hoặc thông tin liên quan đến người sử dụng, mà nhà cung cấp dịch vụ đó có được thông qua các thoả thuận kết nối, ngoài mục đích cung cấp các dịch vụ kết nối đó…
(12) Điều 27.2.2(a) Hiệp định CPTPP thành lập Ủy ban về thương mại điện tử. Hiệp định EVFTA còn quy định về việc thành lập các ủy ban trực thuộc. Điều 17.2 Hiệp định EVFTA quy định về các ủy ban chuyên trách được thành lập trực thuộc Ủy ban Thương mại, trong đó có Ủy ban Đầu tư, thương mại dịch vụ, thương mại điện tử và mua sắm. Hiệp định RCEP thành lập Ủy ban hỗn hợp RCEP, trong đó có Ủy ban Môi trường kinh doanh…
(13) Báo cáo tóm tắt số 192/BC-CP, ngày 8-5-2020, của Chính phủ, thuyết minh về Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)
(14) Nguyễn Hường: “EVFTA là một trong những Hiệp định thương mại tự do Việt Nam tận dụng tốt nhất trong năm đầu thực thi”, Trang thông tin điện tử Bộ Công Thương, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/evfta-la-mot-trong-nhung-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-tan-dung-tot-nhat-trong-nam-dau-thuc-thi.html, ngày 4-11-2021

 

Đánh giá sai lệch của Nghị viện châu Âu

Vừa qua, cơ quan nghiên cứu của Nghị viện châu Âu công bố bản báo cáo về các hoạt động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới của Liên minh châu Âu (EU Support for human rights defenders around the world). Đáng tiếc, nội dung của bản báo cáo nàychứa đựng những thông tin không khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

§  Lại kiểu phúc trình suy diễn, làm sai lệch thực tiễn

Theo nội dung của báo cáo mới được đưa ra, Liên minh châu Âu cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam; vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”.

Từ đó, đặt ra yêu cầu đòi hỏi Việt Nam thoả hiệp, thả các “tù nhân chính trị” để đạt được lợi ích… Để bảo vệ cho những luận điểm trên, cơ quan này đưa ra dẫn chứng về trường hợp của Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… và kết luận việc bắt giữ, kết án các đối tượng này là “tuỳ tiện”, việc xét xử “không công bằng, làm oan người vô tội”?!

Đây không phải là lần đầu Nghị viện châu Âu đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Điều này đã đi ngược lại lợi ích, mối quan hệ giữa Việt Nam và EU.

Phải khẳng định rõ, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo các quy định của pháp luật. Việt Nam luôn ủng hộ và chào đón các cơ quan, tổ chức quốc tế đến nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực tiễn tình hình nhân quyền trong nước trên cơ sở công bằng, minh bạch, khách quan, tôn trọng lẫn nhau.

Đảng, Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách hết sức cởi mở trên lĩnh vực quyền con người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau với cộng đồng thế giới và đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm tốt của đất nước trong đảm bảo quyền con người.

Nhiều năm qua, Việt Nam đã tham gia vào cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Thông qua cơ chế này, Việt Nam thể hiện rõ chính sách, nỗ lực cũng như thành tựu của đất nước trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Thực tế, Việt Nam được bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao trên lĩnh vực này và đã được tín nhiệm bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 -2016.

Tuy nhiên, một số tổ chức phi chính phủ, thậm chí cả một số cơ quan của nước ngoài lại cố tình phớt lờ sự thật, thường xuyên thể hiện cách nhìn nhận phiến diện, thiếu thiện chí, chính trị hoá khi đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Thay vì tiếp xúc trực tiếp, thu thập thông tin từ đại đa số người dân Việt Nam và các nguồn dữ liệu tin cậy, họ lại liên hệ, lấy ý kiến từ các đối tượng chống phá đất nước để quy chụp rằng Việt Nam “đàn áp nhân quyền”. Một báo cáo chắp vá, lấy ý kiến từ chính những đối tượng phạm pháp, chống phá đất nước thì đủ hiểu bản chất của báo cáo, nội dung trong đó là gì!

Thời gian qua, các đối tượng chống phá núp dưới bóng dân chủ, nhân quyền đã nhận được sự hậu thuẫn, giúp đỡ trên nhiều mặt từ một số cơ quan, tổ chức nước ngoài. Từ đó, những kẻ này gia tăng hoạt động phá hoại, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.

Những cái tên được Nghị viện châu Âu phù phép bằng cụm từ “tù nhân chính trị” như Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thực chất là những “ngọn cờ” chống phá trong nước được các thế lực xấu dựng lên và nuôi dưỡng. Mặc dù số này luôn miệng hô khẩu hiệu đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, bám víu từ các nguồn hỗ trợ bên ngoài nhưng lại thường xuyên kích động thù hằn, tụ tập các đối tượng xấu trong nước để gây rối trật tự công cộng. Cùng với đó, các đối tượng đẩy mạnh việc tán phát những tài liệu, thông tin độc hại nhằm gây nhiễu loạn dư luận, hình thành các nhận thức sai lầm trong xã hội.

Mục đích của những kẻ này là phá vỡ sự ổn định về chính trị của đất nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị. Với những hành vi sai phạm đã thực hiện, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, không phải là hành động “đàn áp người đấu tranh” như những gì các đối tượng xấu và một số cơ quan nước ngoài có cái nhìn phiến diện về Việt Nam.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà phủ nhận những kết quả tích cực đã đạt được trong việc bảo đảm nhân quyền.

Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống của con người, là tổng hợp của các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong đó, những quyền cơ bản, thiết yếu, thực tế nhất là quyền được sống, quyền được bình đẳng, quyền được phát triển trong một xã hội an toàn, quyền được học tập, quyền được lao động…

Một vài số liệu dẫn chứng cho thấy Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong bảo vệ quyền con người là: Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tại Việt Nam không có khủng bố, người dân được sinh sống và lao động trong môi trường an ninh, an toàn, ổn định… Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2022 của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam xếp vị trí 77 (tăng 2 bậc so với năm 2021).

Hiện nay, Việt Nam là một điểm đến được nhiều bạn bè quốc tế lựa chọn. Không chỉ đến với mục đích du lịch ngắn ngày, số người nước ngoài đến Việt Nam cư trú, lao động, học tập dài ngày ngày càng nhiều. Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, năm 2021, Việt Nam có 101.550 lao động nước ngoài, đến từ  hơn 110 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong số đó, có không ít người là chuyên gia, nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Như vậy thử hỏi, nếu tình hình nhân quyền của Việt Nam “hết sức tồi tệ” thì liệu điều này có thể xảy ra hay không?

Xin nhắc lại lời than của “nhà dân chủ” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh khi sống ở xứ sở cờ hoa trong mùa dịch COVID -19 rằng: “Nước Mỹ không vĩ đại như nhiều người đang nghĩ”. Rõ ràng, ở quốc gia nào cũng tồn tại những góc khuất, những vấn đề còn bức xúc trong đời sống xã hội, dù đó là những nước đang phát triển hay nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ cũng vậy.

Vì vậy, không thể tuyệt đối nền dân chủ, nhân quyền của một quốc gia, một chế độ nào và coi đây là hình mẫu bắt buộc cho đất nước khác. Một quốc gia có nhân quyền hay không, có tốt đẹp hay không thì chỉ người dân đất nước đó mới có thể đánh giá. Đồng thời, trước khi đánh giá về tình hình Việt Nam, các quốc gia, tổ chức quốc tế hãy tự nhìn lại chính mình, tự xoá bỏ “bóng tối dưới chân đèn” của chính mình.

Nguồn: CAND

 

Nâng cao khả năng nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng là một yêu cầu quan trọng trong bất cứ hoàn cảnh nào của mỗi người, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên hiện nay. Bởi chỉ khi nào có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chính trị nhạy bén thì lúc đó mới có khả năng nhìn nhận, đánh giá và xem xét vấn đề trên nhiều khía cạnh, nhận diện được cái đúng, cái sai và có tư duy, lý luận để bảo vệ cái đúng, phủ nhận, đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trên không gian mạng xuất hiện nhiều nguồn tin không chính thống, các luồng tin giả, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử dân tộc, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…thì càng đòi hỏi mỗi cá nhân phải nâng cao hơn nữa nhận thức, bản lĩnh, tư duy chính trị để lựa chọn, phản bác, đấu tranh và góp phần xây dựng một không gian “tin sạch” và chính thống.

Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch vẫn đấu tranh một cách mạnh mẽ, công khai xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bóp méo thậm chí làm sai lệch các dữ kiện lịch sử, bôi nhọ lịch sử dân tộc Việt Nam với nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là sự nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng đã làm ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tình cảm của một số quần chúng nhân dân nhẹ dạ cả tin, hoặc chưa có đầy đủ nhận thức, bản lĩnh, tư duy chính trị để nhìn nhận và tiếp nhận thông tin một cách chính xác, khách quan và qua những nguồn tin chính thống, có sự kiểm duyệt. 

Trước thực trạng đó, bên cạnh việc kiểm duyệt nguồn tin, xây dựng một không gian tin chính thống, có nguồn gốc và độ tin cậy cao, tìm các giải pháp để đấu tranh, ngăn chặn và loại bỏ các luồng tin xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch trên tất cả các lĩnh vực thì một trong những biện pháp quan trọng đó là việc nâng cao bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên để có thể tạo ra “sức đề kháng” trước các luồng tin xấu, tin không chính thống, bóp méo lịch sử, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch trên không gian mạng hiện nay.

Để có thể nâng cao được bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiện nay, nhất thiết cần phải chú ý một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo.

Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo.  

Thứ hai, cần giáo dục và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc nâng cao nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

Nội dung này rất quan trọng, nên phải tiến hành một cách khoa học, có hệ thống và có sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban ngành của hệ thống chính trị và tất cả mọi người dân không trừ một ai. Bởi chỉ khi nào có sự tác động vào nhận thức, làm cho nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thay đổi theo hướng tích cực, có sự định hướng thì khi đó mỗi một hành động trong việc tiếp nhận thông tin mới có sự chọn lọc và loại bỏ được các thông tin mang tính chất tiêu cực, thông tin sai lệch, xuyên tạc, không chính thống.

Bên cạnh đó, cần quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa tất cả các cơ quan, banh ngành trong hệ thống chính trị từ cấp trung ương đến cơ sở để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng.  

Thứ tư, phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông, để tạo ra môi trường thông tin chính thống, dễ dàng tiếp nhận, dễ hiểu, dễ nghe và có tính thuyết phục cao đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Tóm lại, nâng cao bản lĩnh, tư duy chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử dân tộc chính là một nội dung quan trọng trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay. Làm tốt vấn đề này sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra là: “chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, tuyệt đối không được để bị động, bất ngờ. Kiên quyết, kiên trì bảo vê độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”./

Nguồn: TG.

 

 

 

 

 

“Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền và đàn áp mạng xã hội” - luận điệu xuyên tạc, lố bịch

Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch chẳng những không thừa nhận, mà còn ra sức chống phá, với những luận điệu xuyên tạc, lố bịch về một Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội. Đó là vấn đề cần đấu tranh bác bỏ.

Sự xuyên tạc, lố bịch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Cách nhìn xuyên tạc, lố bịch đến mức chính trị hóa mọi vấn đề là điều dễ nhận thấy trong các chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào thuật ngữ pháp lý, điển hình là ngôn từ mà họ thường xướng lên: “tù nhân lương tâm”, phản ánh cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý. Bởi, trong nền tư pháp Việt Nam và các nước trên thế giới không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”. Thực chất cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò nhằm cổ súy, hậu thuẫn, để dễ bề can thiệp vào việc bảo vệ, kích động các đối tượng chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những phiên tòa xét xử công khai, nghiêm minh các đối tượng chống đối, như: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Thành, Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang,... là việc làm cần thiết của một nhà nước có chủ quyền, nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm đối với xã hội. Trước công lý, các đối tượng này đều công khai chấp nhận các phán quyết của hội đồng xét xử với những tội danh của mình. Vậy nhưng, một số tổ chức nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam lại ra những tuyên bố phê phán Tòa án Việt Nam và tỏ thái độ cổ súy, ủng hộ những đối tượng đã bị xét xử và phán quyết công khai về hành vi phạm tội. Đây thực chất là cách tiếp cận pháp lý hết sức sai trái và xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Họ còn quy chụp rằng: Việt Nam xem xét nhân quyền với nội hàm quá rộng, thiên về khuôn phép xã hội, mà coi nhẹ việc bảo đảm quyền tự nhiên cụ thể của cá nhân. Họ cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên rằng: bảo đảm quyền tự nhiên cụ thể của cá nhân phải đặt trong mối quan hệ với lợi ích của xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Không chỉ ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và thực hành nhân quyền phổ quát không chung chung, trừu tượng, mà trong mối quan hệ tự nhiên giữa quyền cá nhân cụ thể với quyền của nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến cá nhân đó. Chỉ dựa trên một số thông tin chưa được kiểm chứng và mang động cơ thù địch về chính trị đối với Việt Nam để quy chụp tình hình dân chủ, nhân quyền sẽ là cách nhìn lố bịch. Điều này thấy rõ nhất trong các bản phúc trình nhân quyền toàn cầu từ năm 2013 của Tổ chức theo dõi Nhân quyền (HRW).

Các thế lực thù địch nhân danh nhân quyền phổ quát để ra sức cổ súy cho nhân quyền phương Tây. Họ tự coi văn hóa phương Tây là trung tâm, xem nhân quyền phương Tây chi phối nhân quyền phổ quát toàn thế giới và cao hơn chủ quyền quốc gia. Lối nhân danh này bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự theo cơ chế thị trường, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Điển hình là, các bản phúc trình về nhân quyền của HRW thường bị nhiều nước phản ứng và chỉ trích, lên án.

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và nền văn hóa do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, giá trị truyền thống, trình độ phát triển, chế độ chính trị,... nên có cách tiếp cận nhân quyền phổ quát là khác nhau. Ông Lý Quang Diệu, cố Thủ tướng Singapore, đã từng khẳng định: không ở đâu trên thế giới, các quyền này lại được phép thực hiện mà không có những giới hạn, vì nếu áp dụng một cách mù quáng những ý tưởng này có thể đi theo hướng hủy hoại xã hội có tổ chức. Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Pete Peterson cho rằng: không thể đánh giá tình hình nhân quyền của một quốc gia trên chuẩn 100% hài lòng. Hoa Kỳ cũng như không một quốc gia nào khác có thể đáp ứng nhu cầu đó; thang điểm 100% hài lòng về mặt nhân quyền là điều không thể đạt được tại một quốc gia.

Những năm qua, bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam đã được nhiều nhà lãnh đạo, chính khách quốc tế, các nhà quan sát, du khách cảm nhận, đánh giá cao. Nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á, David Hutt phát biểu trên đài BBC News rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân là mối quan tâm hàng đầu. Ngoài ra, sự thành công của Việt Nam trong việc biến nguy thành cơ để thực hiện có kết quả mục tiêu kép trong: phòng, chống đại dịch Covid-19; đồng thời, phát triển kinh tế - xã hội, nhằm “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã nhận được rất nhiều bình luận, đánh giá tốt của giới chính khách, chuyên gia, truyền thông quốc tế. Đó là minh chứng sống động trong việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Việt Nam không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội - Luận điệu xuyên tạc, lố bịch

Các thế lực thù địch, phản động, chống đối chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, là kẻ thù của tự do báo chí trên mạng. Họ chỉ trích chính quyền bắt, truy tố tùy tiện người chống đối; kiểm duyệt, đóng các trang mạng, ra các luật mang tính chất hình sự; chính quyền xiết chặt, kiềm tỏa các quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, nhóm ôn hòa, tự do đi lại và tự do tôn giáo, v.v. Họ ngộ nhận về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí dẫn tới cho rằng các quyền này là tuyệt đối, nhằm kích động, tẩy chay và trả đũa nhau khốc liệt, kể cả bôi nhọ, chống đối chế độ xã hội, đặc biệt thông qua livestream “bẩn” trên mạng xã hội, v.v. Từ đó, thúc đẩy thành lập một số tổ chức nhân danh văn chương, báo chí, như: “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Phóng viên không biên giới”, “The 88 Project”1,… để chống đối chế độ, xuyên tạc Nhà nước ta bắt, bỏ tù nhà báo độc lập, đấu tranh cho cái gọi là tự do ngôn luận. Đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam; gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam mà họ gọi là bắt, bỏ tù “nhà báo báo độc lập”, “blogger”, v.v. Đây là những luận điệu xuyên tạc, lố bịch, bởi: Tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Với quan điểm đề cao vai trò của báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến tâm huyết đối với Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Thực hiện quan điểm đó, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đã được Hiến pháp (năm 2013), Luật Báo chí (năm 2016) và Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016) quy định trách nhiệm của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Đặc biệt, báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 779 cơ quan báo chí (trong đó có: 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh - truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Tính tới tháng 6/2021, số lượng người dùng internet là gần 70 triệu người, tăng 0,8% trong giai đoạn 2020 - 2021 (chiếm hơn 70% dân số); số người sử dụng mạng xã hội là gần 76 triệu người, tăng gần 10 triệu người trong vòng 01 năm (tương đương 73,7% dân số). Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ sáu trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.

Mặt khác, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin không phải là quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin được xem là nguyên tắc cơ bản cho một nền dân chủ, thậm chí được ví như là “khí ôxy” trong một xã hội dân chủ và phát triển; nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận là quyền tuyệt đối. Các văn kiện quốc tế về quyền con người, như: Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 (Điều 29), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Điều 19) đều khẳng định: việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định được quy định trong luật và là cần thiết nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội. Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều giới hạn quyền này, như: tại Mỹ, Bộ luật Hình sự (Điều 2.385, Chương 115) quy định về sự hạn chế của quyền tự do ngôn luận; tại Đức, Luật An ninh mạng năm 2015 (sửa đổi năm 2018), quy định những dịch vụ mạng xã hội có thể bị phạt lên đến 50 triệu Euro nếu để xảy ra trường hợp người dùng lăng mạ, gây thù oán, hay phát tán các tin tức giả mạo, v.v.

Để tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ; nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, cũng không bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, theo dõi, khảo sát, đánh giá và kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, phù hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng xã hội, nhất là trên không gian mạng. Sự thực trên đã vạch trần sự phiến diện, xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.

Nguồn:QPTD
__________________

1 - The 88 Project (Dự án 88) là Dự án của các thế lực thù địch dựng lên nhằm tuyên truyền cho cái mà chúng tự gọi là “Hỗ trợ tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến ôn hòa ở Việt Nam” từ năm 2018 đến nay.

 

TẠI SAO “PHÁP LUÂN CÔNG” CÓ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN MẠNH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA?


          Tiếp tục loạt bài hé lộ toàn bộ sự thật và góc khuất về “Pháp luân công”, tại kỳ này, trang Fanpage " BĐHHT" tiếp tục xin chia sẻ đến độc giả nội dung: “Pháp luân công” truyền bá vào Việt Nam như thế nào? Tại sao “Pháp luân công” lại lôi kéo được nhiều người tập và có xu hướng phát triển mạnh ở Việt Nam trong thời gian qua?

          “Pháp luân công” truyền bá vào Việt Nam như thế nào?

          “Pháp luân công” du nhập vào Việt Nam từ năm 2000 thông qua số sinh viên du học, Việt kiều, khách du lịch, phương tiện truyền thông, internet... Sau khi du nhập vào nước ta, “Pháp luân công” đã xuất hiện dưới nhiều hình thức như các nhóm đồng tu tập trung tại các công viên để tập công; học viên công khai hoặc bí mật phát tờ rơi tại các khu dân cư, chung cư, hộ nhà dân; hình thành nhiều trang web, fanpage để quảng cáo về “Pháp luân công”… Đến nay theo thống kê chưa đầy đủ đã có trên hàng chục nghìn người tham gia, tập luyện; hàng trăm điểm, nhóm (chủ yếu ở vườn hoa, công viên) tại nhiều tỉnh, thành phố, tập trung chủ yếu ở TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, gồm nhiều thành phần trong đó có cán bộ nghỉ hưu, người cao tuổi, bác sĩ, văn nghệ sĩ, phóng viên, luật sư, người kinh doanh, lao động...

          Đáng chú ý, nhiều người dân trong nước khi được hỏi về “Pháp luân công” đều không thực sự hiểu rõ về “giáo phái” này, nguyên nhân vì họ chủ yếu chỉ nghe thông tin một chiều từ sự tuyên truyền, quảng cáo của “Pháp luân công” nên cho rằng “đây chỉ là môn khí công thuần túy, đề cao sức khỏe, đề cao tâm tính, phi chính trị, phi kinh tế, không liên quan đến tôn giáo”; nghĩa là “Pháp luân công” “hoàn toàn tốt, không có mặt xấu”.

          Tại sao “Pháp luân công” lại lôi kéo được nhiều người tập và có xu hướng phát triển mạnh ở việt nam trong thời gian qua?

          - Thứ nhất, do “pháp luân công” áp dụng cách thức quảng cáo rất mạnh, bài bản, chuyên nghiệp, tinh vi theo kiểu “bán hàng đa cấp”; trá hình dưới hình thức khí công dưỡng sinh nâng cao sức khỏe nên đa phần người dân không hề biết đằng sau “Pháp luân công” là các nội dung mê tín dị đoan lừa đảo. Chẳng hạn như thường xuyên sử dụng các câu chuyện lạ, thần bí như “khỏi mọi bệnh tật nhờ kiên trì đọc sách Chuyển Pháp Luân“, “hồi sinh và trẻ lại nhờ Pháp Luân Đại Pháp”, “nhờ niệm pháp, cổ tay bị gãy của cụ bà 83 tuổi hồi phục trong vòng 16 ngày”… và khéo léo lồng ghép vào đó những lời quảng cáo tốt đẹp để thu hút sự chú ý, để gây ngộ nhận cho nhân dân rằng “Pháp luân công” là tốt, đặc biệt là trong vấn đề sức khỏe; tuyên truyền ”đây chỉ đơn thuần là môn khí công dưỡng sinh, phi kinh tế, phi chính trị, phi tôn giáo, có thể trị được bệnh hiểm nghèo, ung thư, “Pháp luân công” là tốt nhưng bị Đảng cộng sản Trung Quốc đàn áp dã man”...

          Hoặc lợi dụng, mượn danh của một số người nổi tiếng để quảng cáo: bộ môn này “có hàng triệu triệu người tin dùng, có mặt trên khắp các quốc gia, đã được nhận trên 3000 giải thưởng, bằng khen, chứng nhận uy tín” (mặc dù các thông tin này không hề được các cơ quan, tổ chức có uy tín nào xác nhận, kiểm chứng). Ghi hình phỏng vấn những người nổi tiếng nhưng chưa hiểu rõ về môn này (trong đó có một số giáo sư, bác sĩ, sĩ quan nghỉ hưu…) để đăng quảng cáo cho rằng ““Pháp luân công” tu theo Chân Thiện Nhẫn giúp nâng cao tâm tính, “Pháp luân công” là Phật Gia thượng thừa”.

          Hay lợi dụng tâm lý lười lao động, lười tập luyện nhưng mong muốn mau đạt được mọi thứ theo kiểu “không làm gì cũng có ăn” để quảng cáo rằng “không cần tập pháp nhưng vẫn có “pháp thân” (đây vốn là một thuật ngữ của Phật giáo nhưng bị “Pháp luân công” “ăn cắp”, “Pháp thân” chỉ thể tính thật sự của Phật, là thể của vũ trụ, hiểu nôm na là dạng năng lượng đặc biệt bao quanh cơ thể; theo “Pháp luân công” tuyên truyền: “Pháp thân” do sư phụ Lý Hồng Chí cấp cho đệ tử và nằm dưới bụng đệ tử) tự xoay theo chiều kim đồng hồ, thu hút năng lượng từ vũ trụ và vẫn không ngừng tự luyện công quanh người tập 24/24 giờ…”.

          Dù tuyên truyền những điều hoang đường như trên, nhưng vẫn có nhiều người tin theo Pháp Luân Công vì các bài viết, quảng cáo của môn phái này sử dụng những thuật ngữ hết sức thuyết phục, dễ gây được thiện cảm và tạo được lòng tin của mọi người. Trong khi đó, các vấn đề liên quan đến sức khỏe, tâm linh luôn gây hấp dẫn, tò mò, tạo ra trạng thái “nhẹ dạ cả tin” cho nhiều người; cùng với tâm lý “có bệnh thì vái tứ phương” nên nhiều người đã tìm đến “Pháp luân công” với mong muốn được cải thiện sức khỏe, chữa bệnh tật.

          Từ khi xâm nhập vào Việt Nam, cùng với việc tuyên truyền miệng, phát tờ rơi quảng cáo về “Pháp luân công”, các nhóm “Pháp luân công” ở trong và ngoài nước còn phát triển dày đặc nhiều website, trang mạng xã hội fanpage, youtube để thuận tiện trong việc tuyên truyền (tất cả các trang này đều hoạt động “chui” vì chưa được cơ quan chức năng nào cấp phép) để quảng cáo công khai hoặc trá hình. Điển hình như các trang: Minh huệ, Đại kỷ nguyên, Tin đại pháp, Tinh hoa, trithucvn (Tri thức Việt Nam), phapluaninfo, chanhkien, tansinh tindachieu, chinhphap, minhbao, phapluancong, vi.falundafa…

          Riêng fanpage “đại kỷ nguyên” (tên tiếng Anh là Epoch Time, trụ sở chính ở Mỹ) đã hoạt động trên 34 quốc gia và 19 ngôn ngữ; tại Việt Nam trang fanpage này đã có đến hơn 18 triệu lượt theo dõi cho đến thời điểm hiện tại. Cách thức mà trang “Đại kỷ nguyên” tuyên truyền vô cùng tinh vi làm cho người đọc khó nhận diện đấy là “trang tốt hay trang xấu”. Thay vì chỉ tập trung vào tuyên truyền “Pháp luân công” thì fanpage này dùng “chiêu” đánh vào tâm lý người đọc, đăng tải các tin tức, video nóng hổi trong nước và thế giới, những câu chuyện khôi hài, những hình ảnh tò mò, gây kích thích khiến nhiều nhiều người đọc đăng ký theo dõi trang fanpage này. Khi đã có số đông người theo dõi thì các trang website, facebook của “Pháp luân công” mới dần dần bộc lộ bản chất.

          Hình thức tuyên tuyền của fanpage “Đại Kỷ Nguyên” được xem là chiêu bài “mưa dầm thấm lâu” rất tinh vi. Từ các tin “câu khách”, “Đại Kỷ Nguyên” dần dần làm cho người đọc có suy nghĩ “tích cực” hơn về fanpage/website của mình thông qua đó làm cho số lượng người biết đến “Pháp luân công” không ngừng tăng lên và mục tiêu cuối cùng nhằm lôi kéo, mê hoặc những người theo dõi trang fanpage này tìm hiểu sâu hơn “Pháp luân công” để thoả mãn sự tò mò và từng bước thu hút trở thành “học viên” của môn phái này.

          Đáng chú ý, “Pháp luân công” còn thông qua báo chí chính thống trong nước đăng tải nhiều nội dung quảng cáo, ca ngợi môn phái này hoặc tuyên truyền các nội dung trong sách “Chuyển pháp luân” (“giáo lý” chính của “Pháp luân công”). Qua thông tin từ các cơ quan chức năng được biết: Việc tin, bài quảng cáo cho “Pháp luân công” được đăng tải trên báo chính thống do nhiều nguyên nhân:

          Một là, do số đồng tu “Pháp luân công” dùng tiền và mối quan hệ để tác động các báo đăng tải. Hai là do các báo chính thống Thiếu kiểm chứng đăng lại các tin bài mê tín dị đoan mang tính “câu view” dẫn nguồn từ các trang trá hình của “Pháp luân công” như “Đại kỷ nguyên”. Ba là, do chính phóng viên và tòa soạn cố tình đăng tải nhằm cổ súy cho “Pháp luân công” phát triển truyền bá tại Việt Nam (qua thống kê đến nay có không ít phóng viên đang tu luyện theo bộ môn này).

          Việc quảng cáo của “Pháp luân công” rất tinh vi theo phương thức “chiếm lĩnh hệ thống tìm kiếm google”; nghĩa là sử dụng tất cả các trang web/fanpage, báo chí của mình cùng đăng tải các thông tin mang tính một chiều và hoàn toàn không có nguồn kiểm chứng uy tín, hoặc có nguồn thì cũng từ chính phía tổ chức “Pháp luân công” tự xuất bản theo định hướng có lợi nhất cho “giáo phái” này. Vì vậy, khi chúng ta tìm kiếm các từ khóa có liên quan như “Pháp luân công”, “Lý Hồng Chí” hay những nội dung do Lý Hồng Chí viết trong sách “Chuyển pháp luân”, các nội dung tìm thấy đầu tiên phần lớn là các đường dẫn (link) do các trang web, fanpage trá hình của “Pháp luân công” đăng tải (như “Đại kỷ nguyên, Tinh hoa, Trí thức Việt Nam, Tân sinh”…) với nội dung một chiều, ca ngợi “pháp luân công” do đó người đọc khi tìm kiếm thông tin sẽ dễ bị nhầm tưởng và tin theo các nội dung đó.

          - Thứ hai, “pháp luân công” trá hình dưới các hình thức đấu tranh đòi nhân quyền, lên án “nạn mổ cướp nội tạng”, kích động tâm lý ghét trung quốc; là một “quân cờ” được các thế lực thù địch hậu thuẫn, sử dụng để chống phá, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Nếu tìm hiểu kỹ cho thấy rõ ràng “Pháp luân công” đang có hoạt động chính trị nhằm chống phá Trung Quốc (sẽ phân tích kỹ ở phần sau); trong khi đó, Trung Quốc lại có mâu thuẫn lợi ích với nhiều nước, nên người dân ở một số quốc gia trong đó có Việt Nam đang có tâm lý “bài trung” khá mạnh. “Pháp luân công” và những thế lực ủng hộ “Pháp luân công” ở Mỹ và phương Tây đã triệt để lợi dụng tâm lý thù ghét Trung Quốc trên, xem đây là chiêu bài để qua đó kêu gọi mọi người ủng hộ “Pháp luân công” và phát triển tín đồ. Quốc gia nào có hoạt động ngăn chặn hoặc cấm đoán “Pháp luân công” sẽ lập tức bị vu vạ là “lệ thuộc trung quốc”, “tay sai theo Tàu”, tà ác nên mới cấm “Pháp luân công”.

          Đồng thời, “Pháp luân công” còn phát triển đệ tử thông qua yếu tố “chống cộng”, kích động hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa (sẽ phân tích ở phần sau); chính Lý Hồng Chí phát biểu khẳng định chỉ cần “tiêu diệt Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc sụp đổ thì các Đảng khác cũng sụp đổ”.

          - Thứ ba, “pháp luân công” trá hình giả danh là phật pháp, phật gia vì vậy lừa đảo được các phật tử vì cho rằng đây cũng là một hệ phái của phật giáo. Lý Hồng Chí và các website của tổ chức “Pháp luân công” thường xuyên lợi dụng các hình ảnh, triết lý nhân sinh quan của Phật giáo để quảng cáo, chia sẻ, qua đó tạo sự thiện cảm, ngộ nhận cho bà con tín đồ phật tử khiến cho “Pháp luân công” dễ dàng tiếp cận với các phật tử sau đó cải đạo những người này.

          - Thứ tư, “pháp luân công” trá hình dưới các đoàn nghệ thuật “thần vận”, đoàn nghệ thuật “hồng ân”, đoàn nghệ thuật “hồng dương”, “thiên quốc nhạc đoàn”… (các đoàn này đều là tập hợp của các học viên “Pháp luân công” nhưng núp bóng dưới hình thức một đoàn ca nhạc, múa lân, trình diễn nghệ thuật miễn phí) nhằm mục đích khuếch trương thanh thế và truyền bá công khai hình ảnh “Pháp luân công” đến các địa phương của Việt Nam thông qua các chương trình lễ hội, văn hóa nghệ thuật.

          Chẳng hạn, như trong đợt khai giảng tại trường THCS Lê Quý Đôn, Cầu Giấy, Hà Nội chưa rõ vô ý hay cố ý đã mời đoàn “Thiên Quốc Nhạc Đoàn” về trình diễn và căng băng rôn “Pháp luân đại pháp hảo”, hay trong lễ khai hội Kinh Dương Vương (ở xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) mà đích thân Thủ tướng đến đánh trống khai hội lại xuất hiện bóng dáng của đoàn nhạc “Hồng Ân”. Không những vậy, các đoàn nghệ thuật trá hình trên cũng đã xuất hiện tại rất nhiều lễ hội truyền thống văn hóa của dân tộc, cả lễ tết Trung thu từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh…