Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

Đóng góp to lớn của đồng chí Phạm Hùng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

  - Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phạm Hùng gắn liền với lịch sử dân tộc trong thế kỷ XX. Với tinh thần trách nhiệm cao, kiên định, sáng tạo, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách kinh tế trong những năm 1960 - 1965, đồng chí đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ là “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”(1). Đại hội xác định đường lối xây dựng kinh tế là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sau Đại hội, một loạt các phong trào thi đua trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, trong quân đội, giáo dục và phong trào thi đua đạt danh hiệu tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa được phát động.

Phó Thủ tướng Phạm Hùng (hàng đầu, thứ hai từ phải sang) xem tơ đã ươm tại Hợp tác xã Văn Quán (tỉnh Vĩnh Phúc), tháng 2-1964_Ảnh: TTXVN

Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp phụ trách kinh tế, đồng chí Phạm Hùng đã chủ động, nhạy bén trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sản xuất, phục vụ nhiệm vụ chiến lược củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, quán triệt chủ trương của Đảng, cuối tháng 9-1960, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Hùng phát động thi đua đẩy mạnh sản xuất vụ đông - xuân 1960 - 196l. Đồng chí nhấn mạnh: “Vụ đông - xuân này là đông - xuân mở đầu thời kỳ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, là vụ mở đầu kế hoạch sản xuất nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết lịch sử của Đại hội. Vụ đông - xuân thắng lợi to lớn và toàn diện sẽ biểu hiện một cách sinh động nhất tính chiến đấu, tính thực tiễn của Nghị quyết Đại hội Đảng, sẽ càng thuyết phục và cổ vũ mạnh mẽ hàng triệu quần chúng biến Nghị quyết của Đại hội thành sức mạnh vật chất thúc đẩy sản xuất, hợp tác hóa phát triển với tốc độ cao”(2). Ngày 21-9-1960, Phó Thủ tướng Phạm Hùng ký Chỉ thị số 214/TTg, về việc đẩy mạnh công tác thủy lợi phục vụ thắng lợi vụ đông - xuân đầu tiên của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Đồng chí Phạm Hùng đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện. Nhiều nghị quyết và chỉ thị quan trọng về nông nghiệp đã được xây dựng và ban hành (3)Đồng chí Phạm Hùng nhất quán quan niệm: Xây dựng và phát triển kinh tế, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng hướng vào mục tiêu không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Theo đồng chí, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng, Chính phủ là bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của người dân. Đây là tiêu chí hàng đầu đánh giá sự đúng đắn của các chính sách, cách thức quản lý kinh tế, năng lực của người lãnh đạo, quản lý, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, khơi gợi tinh thần, năng lực sáng tạo của toàn dân. Đồng chí luôn tâm niệm, uy tín của Đảng là ở tâm nguyện vì dân, thu phục, quy tụ được dân tâm.

Cuối năm 1960, khi phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đang lên cao, đồng chí Phạm Hùng đã dự Hội nghị tổng kết phong trào thi đua của tỉnh Quảng Bình, trong đó có mô hình tiên tiến của Hợp tác xã Đại Phong. Hợp tác xã Đại Phong lúc đầu chỉ có vài chục gia đình đồng bào miền Nam vượt tuyến ra Quảng Bình. Khi đến, họ chỉ có hai bàn tay trắng, Đảng và Chính phủ hỗ trợ một ít vốn, bà con ra sức vỡ hoang suốt ngày đêm, nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn thấp, tình trạng đói ăn thường xuyên diễn ra. Dần dần, Đại Phong hợp nhất với hợp tác xã nghèo Đông - Tây - Bắc thành 135 hộ. Do tổ chức sản xuất hiệu quả, có tinh thần tương thân tương ái và đoàn kết, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, đời sống nhân dân dần được cải thiện, chỉ còn năm hộ thiếu ăn được bà con xã viên giúp đỡ. Cuối năm 1960, Đại Phong đã tiến lên hợp tác xã bậc cao với quy mô liên thôn. Nắm vững phương châm lấy sản xuất nông nghiệp là chính, Hợp tác xã Đại Phong tích cực cải tiến kỹ thuật, công cụ, xem kỹ thuật là khâu then chốt quyết định để tăng năng suất lao động. Tại buổi bế mạc hội nghị, đồng chí Phạm Hùng biểu dương phong trào thi đua của tỉnh Quảng Bình, trong đó nổi bật là Hợp tác xã Đại Phong và khen ngợi đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Nguyễn Ngọc Ánh. Từ những đánh giá kịp thời, sự động viên, khích lệ của đồng chí Phạm Hùng, Hợp tác xã Đại Phong đã trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào xây dựng hợp tác xã trên miền Bắc. Phong trào “học tập Đại Phong” dấy lên mạnh mẽ trên toàn miền Bắc sau đó.

Chiếc máy cày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng cho Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), nơi khởi nguồn phong trào thi đua "Gió Đại Phong" trong nông nghiệp, thực hiện luống cày đầu tiên (tháng 6-1961) trước sự vui mừng của bà con xã viên_Ảnh: TTXVN

Nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mà Trung ương Đảng đề ra là phải từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi các cấp, các ngành phải nỗ lực phấn đấu, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm. Trong Ban Bí thư, đồng chí Phạm Hùng phụ trách lĩnh vực kinh tế và trực tiếp phụ trách khối tài chính thương nghiệp, làm Trưởng Ban Tài mậu của Đảng, bao gồm các ngành tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương và giá cả. Nhiệm vụ quan trọng của các ngành thuộc khối tài mậu là cần phát huy hết chức năng để phục vụ sự nghiệp phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, hỗ trợ các ngành y tế, giáo dục, văn hóa phát triển, thực hiện tiết kiệm trong tiêu dùng, để dành vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản.

Trong nội dung đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, công nghiệp được xác định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhưng khi bước vào thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, sản xuất mới được khôi phục, máy móc đã cũ, hư hỏng nhiều; thủ công nghiệp nghèo nàn, phân tán, lực lượng kỹ thuật hầu như không có. Trình độ văn hóa của nhân dân thấp, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề rất ít. Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nền kinh tế miền Bắc bị tàn phá nặng nề, nhiều vùng vẫn chưa khai hoang, phục hóa. Nhiệm vụ quan trọng nhất của công nghiệp nặng thời kỳ này là “trang bị cho lao động cả nước, trước hết là lao động nông nghiệp và công nghiệp nhẹ có đủ các loại công cụ với trình độ kỹ thuật khác nhau, từ thô sơ đến hiện đại, tùy theo từng ngành và từng loại công việc, để gấp rút đưa năng suất lao động xã hội lên ít nhất gấp đôi, gấp ba mức năng suất hiện nay”(4).

Tháng 1-1961, tại Hội nghị cán bộ quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa III, đồng chí Phạm Hùng nêu rõ: Với việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, miền Bắc đã bước vào một thời kỳ cách mạng mới. Yêu cầu rất quan trọng đối với cán bộ, đảng viên là phải nhận thấy những nhân tố mới, thấy rõ yêu cầu mới của cách mạng, từ đó có cơ sở để thống nhất về nhiệm vụ cụ thể và chỉ tiêu kế hoạch nông nghiệp năm 1961; cần chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức để có tinh thần, tác phong làm việc mới; phát triển nông nghiệp làm cơ sở cho sự nghiệp công nghiệp hóa.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, cán bộ, đảng viên các cấp giữ những trọng trách trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đa số đã tỏ rõ bản lĩnh và năng lực của mình, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tuy nhiên, còn một số cán bộ, đảng viên do trình độ, năng lực hạn chế, lại không thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, xa rời quần chúng…, gây cản trở tới việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch và nhịp độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Nắm bắt những khuyết điểm, hạn chế trong công tác quản lý kinh tế, tài chính của các cấp, các ngành, ngày 26-4-1962, Bộ Chính trị mở cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong ngành công nghiệp”(5). Yêu cầu của cuộc vận động trong bốn năm (1962 - 1965) là thực hiện một cuộc chuyển biến cách mạng trên các mặt tư tưởng và tổ chức, đưa công tác quản lý lên một trình độ mới, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời với cuộc vận động trong công nghiệp, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 19-2-1963, về cuộc vận động “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”. Đồng chí Phạm Hùng cho rằng, phải thực hiện hai cuộc vận động này với tinh thần như hai cuộc cách mạng lớn và trong quá trình tiến hành phải phân định từng bước cho phù hợp, trong đó bước chuẩn bị là hết sức quan trọng. Thực hiện hai cuộc vận động này phải đi tới hoàn thành quan hệ sản xuất mới gắn liền với phát triển lực lượng sản xuất, với phương châm là làm đến đâu, phát hiện thấy có vấn đề gì cần sửa thì phải sửa ngay. Đồng chí Phạm Hùng nhiều lần khẳng định: Chỉ có sản xuất phát triển thì mới tạo tiền đề cho các lĩnh vực khác phát triển. Các ngành khác phát triển sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển đi lên. Mối quan hệ giữa sản xuất với các lĩnh vực đời sống xã hội có nhiều chiều, phức tạp, đòi hỏi khi xử lý phải nhạy bén và hết sức sáng tạo. Đồng chí Phạm Hùng cùng Ban Bí thư dành nhiều thời gian bàn thảo và chỉ đạo phát triển nông nghiệp toàn diện đối với các tỉnh trọng điểm, như Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nam Định...

Năm 1964, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường hoạt động khiêu khích, phá hoại và chuẩn bị cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân chống phá miền Bắc. Trước những mưu đồ và hành động chuẩn bị mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 81-CT/TW, ngày 7-8-1964, “Về tăng cường sẵn sàng chiến đấu chống mọi âm mưu của địch khiêu khích và phá hoại miền Bắc”. Bộ Chính trị chỉ thị cho các cấp bộ đảng và chính quyền tăng cường công tác phòng không nhân dân, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngay đầu năm 1964, đồng chí Phạm Hùng được Bộ Chính trị giao trách nhiệm gấp rút chuẩn bị đề án về thương nghiệp và giá cả thời chiến để trình Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa III họp vào cuối năm 1964. Đồng chí Phạm Hùng cùng các đồng chí phụ trách Ban Tài chính - Thương nghiệp của Phủ Thủ tướng, Vụ Vật giá, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, với sự tham gia của các đồng chí phụ trách Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương, thành lập Ban trù bị xây dựng báo cáo và dự thảo Nghị quyết để trình Trung ương.

Trước tình hình cấp bách, miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa phải chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa phải tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam, với phong cách làm việc tập trung, khẩn trương, trách nhiệm và hiệu quả, đồng chí Phạm Hùng cùng các đồng chí trong Ban trù bị tập trung nghiên cứu lý luận về lưu thông, phân phối, học tập những kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa về thương nghiệp và giá cả; đồng thời, tăng cường nghiên cứu sự hình thành và tổng kết kinh nghiệm về công tác thương nghiệp và giá cả từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Căn cứ vào những đặc điểm kinh tế, những nhiệm vụ chính trị và kinh tế về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Ban trù bị Hội nghị Trung ương 10 do đồng chí Phạm Hùng làm Trưởng ban đã đề ra những nội dung về nội thương, ngoại thương, giá cả, thảo luận sâu về các vấn đề, như vị trí, chức năng của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân; phương hướng, nhiệm vụ chung; nhiệm vụ cụ thể và những biện pháp thiết thực để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Trong quá trình thảo luận, đề xuất vấn đề, xây dựng báo cáo, khi các thành viên Ban trù bị phát biểu ý kiến, đồng chí Phạm Hùng luôn chú ý lắng nghe, điều hành thảo luận dân chủ rồi mới đi đến kết luận.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Khu lưu niệm đồng chí Phạm Hùng ở xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long_Ảnh: TTXVN

Tháng 12-1964, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III họp bàn về vấn đề thương nghiệp và giá cả. Căn cứ vào thực tiễn 10 năm phấn đấu quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hội nghị bổ sung một số điểm vào đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa: Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng là cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, lấy cách mạng kỹ thuật làm then chốt. Căn cứ đường lối đó, công tác thương nghiệp và giá cả phải phục vụ tốt đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy cách mạng kỹ thuật, cải tiến tổ chức thương nghiệp, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán, quản lý tốt thị trường.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 là những căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng một nền thương nghiệp và giá cả xã hội chủ nghĩa phục vụ đắc lực nhiệm vụ vừa đẩy mạnh sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chiến đấu chống đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam. Sau Hội nghị, đồng chí Phạm Hùng đã viết cuốn sách “Vị trí và nhiệm vụ của thương nghiệp và giá cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta” để phổ biến nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10. Thực tiễn sinh động và những luận giải mà đồng chí Phạm Hùng nêu trong cuốn sách là những đóng góp lý luận và thực tiễn lớn về một lĩnh vực kinh tế quan trọng của đất nước.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Hùng, việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 được tiến hành hết sức khẩn trương, tích cực. Việc thu mua lương thực, thực phẩm, nông sản, hàng hóa theo giá ổn định trong nghĩa vụ và theo giá cao ngoài nghĩa vụ rất có hiệu quả trong việc tập trung nguồn hàng vào Nhà nước, kịp thời phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong bối cảnh miền Bắc phải kiên cường chống chiến tranh phá hoại.

Việc cung cấp hàng hóa theo định lượng đối với các nhu cầu thiết yếu của nhân dân kết hợp với bán theo giá cao ngoài định lượng cho các đối tượng có thu nhập cao hơn, đã tạo điều kiện ổn định đời sống của các tầng lớp nhân dân, thu hút lượng tiền mặt nhằm ổn định giá cả và giá trị đồng tiền trong thời chiến. Hậu phương lớn được ổn định, người già, trẻ em, những người mất sức lao động được bảo đảm đời sống đã tạo điều kiện cho hàng triệu thanh niên yên tâm, hăng hái lên đường nhập ngũ và gia nhập thanh niên xung phong.

Dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất cao độ của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Hùng, công tác lưu thông phân phối thời chiến đã động viên được mọi nguồn lực, nhằm xây dựng và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm chi viện đến mức cao nhất cho tiền tuyến lớn miền Nam. 

Đến năm 1965, có 88,8% số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; trong đó, 71,7% số hộ lên hợp tác xã bậc cao. Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng giai cấp nông dân tập thể đã hình thành và phát triển. Diện tích, năng suất và tổng sản lượng sản xuất nông nghiệp đều tăng, tốc độ tăng bình quân hằng năm về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là 4,1%. Nông nghiệp miền Bắc từ một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh, năng suất thấp dần dần trở thành một nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện. Thắng lợi lớn nhất của nông nghiệp miền Bắc thời kỳ này là đã giải quyết được phần lớn nhu cầu về lương thực, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và một phần cho xuất khẩu.

Công nghiệp miền Bắc có mức phát triển khá. Từ những cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ, đã bắt đầu sản xuất một phần tư liệu sản xuất và phần lớn những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân. Một trong những thành quả lớn nhất của công nghiệp miền Bắc thời kỳ 1961-1965 là phục vụ nông nghiệp có hiệu quả, đặc biệt trong các khâu thủy lợi, trang bị máy móc, nông cụ, phân bón, thuốc trừ sâu,… Trong thời kỳ này, khối lượng tư liệu sản xuất cung cấp cho nông nghiệp tăng bình quân 25%/năm, chiếm 1/4 giá trị tổng sản lượng của công nghiệp nặng. Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân bước đầu được phát huy. Các ngành công nghiệp chủ yếu, như điện, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng,… đã hình thành và phát triển nhanh, nhất là ngành điện và ngành cơ khí. Nhiều khu công nghiệp phát triển và hình thành ở Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định, Vinh, Hồng Quảng. Miền Bắc bắt đầu xây dựng những công trình lớn, quan trọng, như gang thép Thái Nguyên, thủy điện Thác Bà, phân đạm Bắc Giang với tiến độ nhanh. Trong khi đó, sức mua của đồng tiền vẫn được giữ vững, giá cả ổn định. Những thành tích đó có sự đóng góp đáng kể của khối tài mậu, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, khéo léo, tài tình của đồng chí Phạm Hùng. Đồng chí đã dành nhiều tâm huyết, dày công chỉ đạo các ngành trong khối tài mậu, theo dõi và kiểm tra chặt chẽ các mặt, cân đối về thu - chi tài chính, về lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hóa, cân đối giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu, tạo nền nếp ổn định trong khối.

Khi miền Bắc bước vào thời kỳ ứng phó với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng chí Phạm Hùng cùng Chính phủ phải tổ chức nền kinh tế trong điều kiện có chiến tranh, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện tích cực cho cách mạng miền Nam.

Đoàn viên, thanh niên huyện Long Hồ tham quan, tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng ở xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long_Ảnh: TTXVN

Trên những cương vị được đảm trách, đồng chí Phạm Hùng luôn quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo phát triển kinh tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đồng chí Phạm Hùng tỏ rõ sự chủ động, nhạy bén, tài thao lược trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, tài chính… Sự am hiểu, sâu sát thực tế giúp đồng chí cùng với tập thể lãnh đạo đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chiến lược cách mạng, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thống nhất nước nhà. Từ những đóng góp của đồng chí Phạm Hùng trong hoạt động chỉ đạo thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhiều khó khăn, thử thách, càng cho thấy rõ hơn tâm huyết, trí tuệ, bản lĩnh dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì nước, vì dân của đồng chí. Đồng chí Phạm Hùng đã thấu triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư cách của một người cách mạng, người cộng sản chân chính, đó là đối với công việc phải xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể. Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của đồng chí Phạm Hùng (11-6-1912 - 11-6-2022) là dịp để chúng ta ôn lại, tôn vinh những cống hiến to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, nhất là những đóng góp của đồng chí trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1960 - 1965). Những phẩm chất cao đẹp của đồng chí Phạm Hùng là tấm gương sáng để mỗi người Việt Nam hiện nay, nhất là những cán bộ, đảng viên học tập và noi theo, đóng góp sức lực, trí lực của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát đất nước nhanh và bền vững./.

------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 21, tr. 558 - 559
(2) Báo Nhân Dân, số 2378, ngày 22-9-1960
(3) Nghị quyết số 26-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 5 khóa III (tháng 7-1961), “Về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)”; Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 27-2-1961, của Bộ Chính trị, “Về nhiệm vụ và phương hướng công tác hợp tác hóa nông nghiệp trong năm 1961”; Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 24-7-1961, của Ban Bí thư, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật”; Nghị quyết số 70-NQ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 19-2-1963, Về cuộc vận động “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”
(4) Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 98
(5) Còn gọi là cuộc vận động “ba xây, ba chống”

Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý phát triển đô thị dựa trên các nguyên tắc công khai, minh bạch, có sự tham gia của người dân.

  - Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 24-1-2022, của Bộ Chính trị, “Về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” khẳng định vai trò, vị thế của đô thị và đô thị hóa trong tiến trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Để thực hiện tốt Nghị quyết số 06-NQ/TW, việc nâng cao chất lượng quy hoạch, quản lý phát triển đô thị dựa trên các nguyên tắc công khai, minh bạch, có sự tham gia của người dân, cần được ưu tiên.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan mô hình xây dựng Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore _Ảnh: TTXVN

Đô thị là khu vực định cư của con người. Dự báo đến năm 2035, khu vực đô thị sẽ là nơi lựa chọn định cư của 2/3 dân số thế giới. Quá trình đô thị hóa có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Đô thị hóa đúng hướng là một nhiệm vụ quan trọng giúp quốc gia, đô thị phát triển bền vững hơn. Quá trình đô thị hóa được kiểm soát chặt chẽ và có tầm nhìn chiến lược sẽ phát huy lợi thế của đô thị hóa và hạn chế tối đa những bất cập. Quy hoạch đô thị chính là nền tảng để định hướng thúc đẩy quá trình đô thị hóa một cách bài bản, bảo đảm tổ chức không gian phát triển, dự trữ và bảo tồn hợp lý, tạo ra không gian sống chất lượng cao và hài hòa lợi ích kinh tế và môi trường sinh thái. Quản lý phát triển đô thị song hành cùng quy hoạch đô thị để quản lý, đánh giá quá trình phát triển đô thị theo quy hoạch cũng như quản lý các vấn đề đô thị khác, như quản lý nguồn lực phát triển đô thị, hoạt động đầu tư xây dựng, thúc đẩy sự tham gia của các đối tác và thiết lập văn minh đô thị hiệu quả. Quy hoạch và quản lý đô thị kém hiệu quả sẽ làm gia tăng những vấn đề của đô thị, như giao thông tắc nghẽn, sự quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng, thiếu nhà ở và những vấn đề bất bình đẳng xã hội khác...

Thực trạng công tác quản lý quy hoạch, quản lý phát triển đô thị ở Việt Nam thời gian qua

Các mặt đạt được

Trong thời gian qua, công tác quy hoạch, quản lý phát triển đô thị ở Việt Nam đã được Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, các cấp lãnh đạo của địa phương quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật, từng bước bảo đảm việc quy hoạch, phát triển đô thị theo định hướng văn minh, hiện đại, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cả nước.

Công tác quản lý đô thị được thực hiện bài bản hơn, quy hoạch đô thị từng bước bảo đảm sự thống nhất, liên thông với quy hoạch các ngành, giữa các cấp độ (từ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, đến quy hoạch chi tiết), trở thành công cụ hữu hiệu để thực hiện quản lý phát triển đô thị ngắn và dài hạn. Đến nay, hầu hết các đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn đã có quy hoạch chung đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quy hoạch phân khu tại 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và 19 đô thị loại I đạt khoảng 70% - 90%; tại các đô thị loại II, III, IV đạt khoảng 40% - 50%. Tỷ lệ quy hoạch chi tiết được lập đạt khoảng 38%. Công tác quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch cơ bản phù hợp với những chủ trương, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mới của đất nước; bảo đảm phục vụ lợi ích của quốc gia, cộng đồng, quốc phòng và an ninh; thu hút đầu tư và tăng cường hiệu quả sử dụng đất đai tại đô thị; góp phần tạo lập không gian đô thị khang trang, hiện đại và phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội trong thời kỳ mới. Phương pháp tiếp cận quy hoạch và công tác nghiên cứu thể chế, pháp luật hoàn thiện, công tác quản lý phát triển đô thị cũng liên tục được cập nhật, đổi mới để tiến đến phù hợp hơn với thực tế và nhu cầu phát triển đô thị.

Phát triển đô thị đã hình thành mạng lưới đô thị phân bố tương đối đồng đều tại 6 vùng kinh tế - xã hội của cả nước. Đến tháng 6-2021, hệ thống đô thị đã có 870 đô thị, gồm: 2 loại đặc biệt; 22 loại I; 32 loại II; 48 loại III; 90 loại IV và 676 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hóa (tính theo phường và thị trấn) của cả nước đạt khoảng 40,5%. Hệ thống đô thị bước đầu hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo lớn cấp quốc gia, cấp khu vực. Không gian đô thị được mở rộng, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm theo hướng đồng bộ, đã và đang cung cấp chất lượng cuộc sống cao cho cư dân đô thị. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế khu vực đô thị đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của đô thị trong phát triển kinh tế cũng như cải thiện cuộc sống cộng đồng.

Ở Trung ương, văn bản pháp luật và các chính sách để thực hiện quy hoạch và quản lý phát triển đô thị thường xuyên được rà soát, nghiên cứu, cập nhật để hoàn thiện và tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao trách nhiệm trong việc chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành trong công tác quản lý quy hoạch, quản lý phát triển đô thị. Từ năm 2018 đến nay, Bộ Xây dựng đã tập trung rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch đô thị, đề xuất chỉnh sửa, bổ sung để phù hợp với quy định tại Luật Quy hoạch và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác; rà soát, sửa đổi và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến công tác quy hoạch đô thị nhằm phù hợp với thực tiễn quản lý và đáp ứng yêu cầu phát triển. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã tham mưu, báo cáo với Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 1-3-2019, “Về việc tăng cường chấn chỉnh công tác quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt”; Quyết định số 1398/QĐ-TTg, ngày 16-10-2019, của Thủ tướng Chính phủ, “Ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 83/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV đối với lĩnh vực xây dựng”; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP, ngày 6-12-2019, “Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 82/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị”.

Đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội và Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị kiểm tra tình hình thực hiện dự án nhà ở xã hội trên địa bàn huyện Đông Anh và huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội _Ảnh: TTXVN

Triển khai Nghị quyết số 36a/NQ-CP, ngày 14-10-2015, của Chính phủ, “Về Chính phủ điện tử” và đôn đốc các địa phương trong thực hiện theo Chỉ thị số 05/CT-TTg, Quyết định số 1398/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực quy hoạch, phát triển đô thị, Bộ Xây dựng đã có các văn bản hướng dẫn và đề nghị các địa phương thực hiện đăng tải thông tin hồ sơ đồ án quy hoạch đô thị Việt Nam lên Cổng thông tin điện tử quốc gia về quy hoạch xây dựng để công khai thông tin hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị. Đến nay, có khoảng 1.500 đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được công khai trên Cổng thông tin điện tử quốc gia. 

Ở địa phương nhìn chung, dưới sự quản lý chặt chẽ của các cấp, các ngành, công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý phát triển đô thị đã có nhiều bước tiến mới. Nhiều đồ án quy hoạch chung có sự tham gia của tư vấn quốc tế nên chất lượng quy hoạch được nâng lên, đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển đô thị. Trong giai đoạn 2011 - 2020, các đô thị đều chọn việc tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, lấy việc quản lý và xây dựng, chỉnh trang đô thị là một trong những khâu đột phá để xây dựng đô thị văn minh, hiện đại. Công tác duy tu, cải tạo, tái thiết từng bước được tăng cường. Việc cấp giấy phép cho các hoạt động xây dựng, sửa chữa để nâng cấp vỉa hè, lòng đường, xây dựng công trình hạ tầng đô thị, chiếu sáng, tạo dựng cảnh quan, trồng thêm cây xanh đường phố, công viên, quảng trường đã được các chính quyền đô thị quan tâm.

Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý phát triển đô thị còn một số hạn chế. Ở cấp Trung ương, công tác lý luận, phương pháp quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn chậm được đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu đầu tư phát triển rất nhanh của đô thị hóa; hệ thống pháp luật về quy hoạch, phát triển đô thị, đầu tư, đầu tư công, đất đai, xây dựng, nhà ở,... còn chưa thống nhất, đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung; pháp luật và các công cụ quản lý phát triển đô thị còn thiếu; công tác kiểm tra, giám sát quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị chưa được thực hiện thường xuyên và phát huy hiệu quả.

Ở cấp địa phương, nhìn chung, chất lượng đồ án quy hoạch đô thị còn thấp, thiếu tầm nhìn dài hạn, dự báo còn thiếu tính khoa học và khả thi; quy hoạch thiếu gắn kết các chương trình dự án đầu tư, xây dựng công trình và kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thiếu nội dung thiết kế đô thị; quy hoạch, cung cấp thông tin quy hoạch chưa công khai, kịp thời, thường xuyên và rộng rãi; cấp giấy phép xây dựng đạt hiệu quả chưa cao, còn tình trạng không phù hợp về chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất, tầng cao; chế tài xử lý đối với những trường hợp vi phạm còn hạn chế, thiếu tính răn đe, chưa kịp thời và triệt để; chính quyền đô thị chưa chủ động ban hành các văn bản điều hành, chuyển hóa các nội dung quy hoạch thành các chương trình, kế hoạch đầu tư xây dựng, phát triển đô thị phù hợp từng thời kỳ; trình độ, năng lực cán bộ quản lý đô thị, tư vấn còn hạn chế; chưa có cơ chế thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành có liên quan trong lập và thẩm định quy hoạch tại địa phương, nội dung góp ý còn chung chung, chưa thực sự đóng góp cho chất lượng đồ án quy hoạch.

Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quy hoạch đô thị còn hạn chế; thông tin, dữ liệu, số liệu còn thiếu, rời rạc, chưa được hệ thống hóa, số hóa để áp dụng công nghệ thông tin nhằm phục vụ công tác đánh giá thực trạng, nhu cầu, dự báo phát triển trong lập, thẩm định quy hoạch và quản lý phát triển đô thị; việc lấy ý kiến cộng đồng về lập, điều chỉnh nội dung quy hoạch đô thị chưa được quan tâm đúng mức, còn mang tính hình thức; cộng đồng dân cư chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của mình trong quy hoạch đô thị, xây dựng môi trường sống và phát triển đô thị.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch, quản lý phát triển đô thị

Nghị quyết số 06-NQ/TW không chỉ đưa ra những quan điểm về phát triển đô thị mà còn đặt ra nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cho quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị trong bối cảnh mới. Theo đó, mục tiêu của giai đoạn tới là: Đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phấn đấu kinh tế khu vực đô thị đóng góp vào GDP cả nước khoảng 75% vào năm 2025 và khoảng 85% vào năm 2030. Xây dựng được 3 đến 5 đô thị có thương hiệu tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Những mục tiêu này có liên quan mật thiết đối với nhiệm vụ đổi mới công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị trên toàn hệ thống đô thị của cả nước.

Đây là một nhiệm vụ quan trọng, tạo sự thay đổi, đột phá toàn diện quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị của Việt Nam. Để thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ trên, việc nâng cao chất lượng quy hoạch, xây dựng và quản lý phát triển đô thị dựa trên các nguyên tắc công khai, minh bạch, có sự tham gia của người dân được xác định là việc làm cần được ưu tiên. Nguyên tắc công khai, minh bạch, có sự tham gia của người dân trong công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý phát triển đô thị không chỉ trên cơ sở minh bạch về thể chế, phương pháp tiếp cận, thực hiện quy hoạch và quản lý đô thị mà còn cần khuyến khích, tạo điều kiện tối đa cho các thành phần cộng đồng cùng tham gia, chia sẻ, phát huy sáng kiến xây dựng phát triển đô thị, đặc biệt ở các quy trình lập, thẩm định quy hoạch, đầu tư xây dựng, cấp phép xây dựng mới, cải tạo chỉnh trang các công trình kiến trúc, thiết kế cảnh quan trên địa bàn đô thị và tạo nguồn lực phát triển đô thị. Trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp:

Một là, hoàn thiện thể chế thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về phát triển đô thị với pháp luật về các lĩnh vực khác. Các nguyên tắc quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển đô thị cần được bảo đảm đi trước một bước, triển khai công khai, minh bạch.

Ở cấp Trung ương, cần tập trung rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến các lĩnh vực về quy hoạch, xây dựng, kiến trúc, quản lý phát triển đô thị. Hoàn thiện các công cụ kiểm soát phát triển đô thị, xác định rõ hơn trách nhiệm, nội dung quản lý, mối quan hệ giữa các cấp chính quyền, cơ quan chuyên môn về quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm sự minh bạch, thông thoáng, thuận tiện cho người dân, các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Bổ sung các quy định chặt chẽ hơn trong việc lập và kiểm soát các khâu của quá trình lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, nhất là các khâu tổng hợp và xử lý, phản hồi ý kiến đóng góp của các tổ chức, cộng đồng, người dân trong công tác lập, quy hoạch và khâu điều chỉnh quy hoạch, quản lý theo quy hoạch, bảo đảm quy trình về công khai, minh bạch các thông tin quy hoạch.

Ban hành thể chế, chính sách hướng dẫn các địa phương thực hiện, lập các khu vực phát triển đô thị, các ban quản lý dự án phát triển đô thị theo quy định. Lập, thẩm định, phê duyệt đồng bộ các quy hoạch đô thị, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đô thị và cụ thể hóa trong quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư cụ thể. Thực hiện nghiêm các quy chế kiểm soát nhà cao tầng trong các quận nội đô tại thành phố trực thuộc Trung ương. Cân đối nguồn lực, bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư 5 năm và hằng năm để đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong từng khu đô thị, từng dự án nhà ở. Đặc biệt, chú ý đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật khung bảo đảm sự kết nối về kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội thiết yếu trong từng khu vực và toàn đô thị cũng như với các địa phương lân cận.

Hai là, nâng cao chất lượng đồ án quy hoạch.

Hiện nay, Bộ Xây dựng đang chỉ đạo thực hiện Đề án “Đổi mới công tác lý luận, phương pháp luận về phát triển đô thị, quy hoạch đô thị”; đã hoàn thành sửa đổi, bổ sung và ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, có hiệu lực từ ngày 5-7-2021, xây dựng các khung hướng dẫn, quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể về đô thị tăng trưởng xanh, công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị theo hướng tăng trưởng xanh, giảm thải khí CO2 và phát triển bền vững. Để nâng cao chất lượng đồ án quy hoạch, cần có sự tập trung nguồn lực thích đáng về nhân lực, vật lực, gắn kết quy hoạch với nguồn lực thực hiện. Quy hoạch chung đô thị bảo đảm tính định hướng cao trong chiến lược xây dựng phát triển và quản lý đô thị. Quy hoạch phân khu làm rõ phân khu chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất, danh mục các dự án theo thứ tự ưu tiên đầu tư và đưa ra các chính sách ưu đãi để kêu gọi đầu tư. Quy hoạch chi tiết xây dựng được thành lập trên cơ sở điều tra, đánh giá đầy đủ hiện trạng sử dụng đất và được xây dựng trên nền bản đồ địa chính để bảo đảm các dự án được phân chia phù hợp với phân khu chức năng trong đồ án quy hoạch chi tiết đó.

Nhân lực thực hiện công tác lập quy hoạch và quản lý phát triển đô thị hiện nay đã và đang là vấn đề cần được quan tâm để tăng cường chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa. Các địa phương đặc biệt là các chính quyền đô thị cần chủ động xây chương trình và kế hoạch thu hút các nguồn vốn nhằm động viên, khuyến khích cán bộ quản lý chất lượng cao; đồng thời, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong vai trò chung tay xây dựng phát triển đô thị.

Trưng bày sa bàn ý tưởng quy hoạch đô thị tương tác cao phía đông Thành phố Hồ Chí Minh _Nguồn: dantri.com.vn

Ba là, xây dựng quy chế quản lý kiến trúc, bám sát các quy định của Luật Kiến trúc.

Quy chế quản lý kiến trúc đưa ra quy định cụ thể trách nhiệm quản lý quy hoạch, kiến trúc của chính quyền các cấp và kiểm soát việc xây dựng đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt, khai thác, sử dụng công trình mới, công trình cải tạo đô thị trên địa bàn cả nước. Thông qua quy chế quản lý kiến trúc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm hành chính về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị tại địa phương và giúp kiểm soát việc xây dựng mới, chỉnh trang phát triển toàn đô thị. Theo Luật Kiến trúc, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị (theo Luật Quy hoạch đô thị) trước ngày có hiệu lực thi hành của Luật Kiến trúc sẽ chỉ được tiếp tục thực hiện đến hết ngày 31-12-2021. Do vậy, các địa phương cần rà soát, bảo đảm ban hành quy chế kiến trúc trên địa bàn theo quy định, trong đó lưu ý làm rõ quy định đối với khu vực chưa có quy hoạch, thiết kế đô thị được duyệt và xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch những nơi chưa có quy hoạch, khu vực cần điều chỉnh quy hoạch, thiết kế đô thị; xác định trách nhiệm của chính quyền đô thị và cơ quan chuyên môn liên quan trong tổ chức, chỉ đạo, theo dõi, thực hiện quy hoạch đô thị, xác định các khu vực, tuyến phố ưu tiên chỉnh trang và những quy định khác làm căn cứ cấp giấy phép xây dựng.

Bốn là, nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, giám sát đầu tư phát triển đô thị.

Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, phương pháp quy hoạch và quản lý đô thị đã ngày càng được đổi mới, hoàn thiện để thực hiện tối ưu vai trò định hướng và quản lý, thúc đẩy hợp tác chung giữa các đối tác sống, làm việc trong không gian đô thị, bảo đảm sự hài hòa, cân bằng quyền lợi, lợi ích giữa các đối tác; đồng thời, gia tăng cơ hội phát triển và tận dụng nguồn lực của xã hội trong việc xây dựng, kiến tạo và quản lý môi trường sống, môi trường làm việc chất lượng cao cho tất cả mọi người.

Lấy ý kiến cộng đồng là một nội dung quan trọng bắt buộc phải thực hiện có chất lượng hơn trong các đồ án quy hoạch nói chung và thiết kế đô thị nói riêng, cũng như trong các quyết định lựa chọn và đưa vào chương trình ưu tiên đầu tư phát triển đô thị. Việc lấy ý kiến cộng đồng cần hướng đến khuyến khích và phát huy vai trò của cộng đồng trong việc xây dựng, giám sát và thực thi các đồ án quy hoạch, mang lại lợi ích thiết thực cho cả nhà quản lý, hoạch định chính sách và người dân - những người sống, làm việc và hưởng thụ chất lượng không gian đô thị. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của mình đối với không gian sống của cộng đồng nói riêng và không gian đô thị nói chung mà còn giúp tận dụng các nguồn lực từ xã hội, khuyến khích các sáng kiến mới, cách làm và hạn chế những xung đột trong quá trình quy hoạch, đầu tư xây dựng phát triển đô thị, hạn chế các ảnh hưởng lớn đến cộng đồng về kế sinh nhai, môi trường sống, việc làm, đồng thời giảm tác động đến các mặt môi trường tự nhiên, xã hội, tiếng ồn, phát sinh nguồn bệnh cho người dân đô thị,... Cần bổ sung các quy định chặt chẽ hơn để cộng đồng được tham gia, đóng góp trong quy trình lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, minh bạch rõ ràng, nhất là khâu tổng hợp và xử lý ý kiến đóng góp của các tổ chức, cộng đồng, người dân. Sự tham gia của cộng đồng sẽ được khuyến khích và nâng cao chất lượng khi có thể xây dựng niềm tin cho cộng đồng về năng lực, vai trò, trách nhiệm và công nhận sự đóng góp của họ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đô thị. Do vậy, các địa phương cần bảo đảm thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật và các quy định về việc lấy ý kiến của người dân, cộng đồng, cơ quan tổ chức có liên quan khi lập, điều chỉnh quy hoạch. Ngoài ra, chú trọng tăng cường cơ chế giám sát dựa vào nhân dân, cơ quan dân cử, của đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp trong công tác phát triển đô thị, quản lý trật tự xây dựng đô thị; thúc đẩy sáng kiến, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức đầu tư xây dựng, khai thác, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quy hoạch và phát triển đô thị để nâng cao nhận thức của cộng đồng.

Năm là, hoàn thiện hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch, đô thị. Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để phục vụ quy hoạch và quản lý phát triển đô thị minh bạch.

Cơ sở dữ liệu về quy hoạch, đô thị của quốc gia và của các đô thị có vai trò hết sức quan trọng trong bối cảnh và xu hướng phát triển đô thị thông minh với nền tảng là quy hoạch thông minh và quản lý phát triển đô thị thông minh hiện nay. Cơ sở dữ liệu là nền tảng để giúp chính quyền ở đô thị nhanh chóng “học” và hiểu các vấn đề đô thị một cách có hệ thống, khoa học và từ đó phục vụ tốt nhất cho quá trình ra quyết định thông qua ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn như hệ thống GIS. Liên thông dữ liệu đô thị với dữ liệu đô thị quốc gia, dữ liệu đất đai giúp cung cấp quản lý thông tin đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ công tác dự báo, lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch; bảo đảm công khai, minh bạch thông tin quy hoạch; nâng cao vai trò của doanh nghiệp, cộng đồng và người dân khi tham gia các hoạt động giám sát, đánh giá và tổ chức thực hiện quy hoạch.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc áp dụng hệ thống GIS giúp quản lý tập trung các thông tin quy hoạch, tạo môi trường đơn giản, thuận tiện cho việc khai thác, sử dụng các thông tin quy hoạch cũng như thúc đẩy hợp tác giữa các đối tác trong quá trình phát triển đô thị nhờ vào giao diện trực quan, sinh động; phục vụ nhanh chóng các nhu cầu về khai thác thông tin, tin học hóa quá trình giải quyết các thủ tục hành chính, kịp thời phát hiện, đánh giá, ra quyết định trong quản lý phát triển đô thị. Nền tảng hệ thống GIS và các nền tảng kỹ thuật khác giúp cung cấp thông tin đa chiều, hỗ trợ việc ra quyết định cho lãnh đạo trong khi giúp cơ quan, đơn vị quản lý quy hoạch hệ thống hóa thông tin, quản lý cập nhật dữ liệu, khai thác dữ liệu theo yêu cầu nghiệp vụ một cách bài bản, khoa học. Với các đơn vị nhà đầu tư, các nền tảng công nghệ liên thông dữ liệu và phân tích dữ liệu cũng giúp họ dễ dàng tiếp cận thông tin và cập nhật, tra cứu thông tin về quy hoạch xây dựng, thông tin về khu vực ở hoặc khu đất dự kiến sẽ đầu tư hoặc biết được trạng thái xây dựng riêng của từng lô đất.

Sáu là, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lý quy hoạch và phát triển đô thị cho các địa phương.

Tại địa phương, chính quyền đô thị cần bám sát các chỉ đạo của Trung ương và địa phương, quán triệt phương châm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ hiệu quả”; tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời vi phạm, siết chặt kỷ cương, kỷ luật trên địa bàn để nâng cao chất lượng quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển mới; đẩy mạnh cơ chế tự quản cộng đồng trong quản lý phát triển đô thị; thực hiện chế độ xử lý trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm trong quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn; hạn chế thấp nhất việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch, quy hoạch phải bám sát quy định của Luật Quy hoạch, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng,... để khẩn trương rà soát, đẩy nhanh tiến độ phủ kín các quy hoạch còn thiếu./.

Một số vấn đề về mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay.

  - Trong lịch sử thế giới hiện đại, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế đều chi phối đến các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hai chủ nghĩa này đều có những sắc thái mới và tương tác biện chứng, tác động mạnh mẽ đến đời sống quốc tế và chính trị nội bộ các quốc gia, dân tộc. Do đó, nhận thức đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần giúp các quốc gia, dân tộc vừa bảo đảm lợi ích của mình, đồng thời, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn nhân loại.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan - hai biểu hiện trái ngược nhau trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc” (1).

Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa” (2). Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu (3). Ở khía cạnh này, S. Kramer (4) khẳng định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết nối với bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.

Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Australia Anthony Albanese tại Hội nghị Thượng đỉnh nhóm "Bộ Tứ" ở Thủ đô Tokyo, tháng 5-2022_Ảnh: TTXVN

Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…

Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.  

Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác” (5). Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

Biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế không đơn giản là mối quan hệ có hai chiều đối lập, mà còn là mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau, được thể hiện ở các xu hướng:

Một là, xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc. 

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn có xu hướng bành trướng dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc, thông qua quá trình xâm lược thuộc địa, xâm lăng về kinh tế, chính trị, văn hóa. Với tư tưởng phân biệt giữa một dân tộc “ưu tú, vĩ đại, khuôn mẫu” với các quốc gia - dân tộc khác “man di, mọi rợ, lạc hậu, cần được khai hóa, đô hộ”, thậm chí phải bị tiêu diệt..., quá trình quốc tế hóa này đã tạo ra một sự liên kết giữa quốc gia một cách không tự nguyện mà chỉ xuất phát từ phía chủ quan của quốc gia bá quyền. Trong lịch sử hiện đại, các nước thực dân, đế quốc với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên danh nghĩa “khai hóa văn minh” chính là biểu hiện của xu hướng này. Ngược lại với chủ nghĩa đế quốc, quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản về mặt lý thuyết dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan là chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa bá quyền.

Về chính trị, các nước lớn tìm cách áp đặt luật lệ lên các nước nhỏ, bỏ qua luật pháp quốc tế hoặc tạo ra một luật chơi riêng có lợi cho mình. Các nước lớn ràng buộc các nước nhỏ bằng những hiệp định song phương, can thiệp để thay đổi thể chế, thậm chí nếu cần sẽ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Về kinh tế, các nước lớn muốn thông qua “sự lệ thuộc” về kinh tế để áp đặt về chính trị. Trong cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” (xuất bản năm 2004), John Perkins đã chỉ ra, Mỹ tìm cách xây dựng một đế chế của riêng mình nhằm đưa các nước đang phát triển và kém phát triển vào vòng xoáy nợ nần để đặt ra những yêu cầu về kinh tế, chính trị ràng buộc và có lợi cho Mỹ. Bên cạnh đó, các nước lớn còn có thể tự đặt ra những luật chơi kinh tế chung cho toàn cầu.

Về văn hóa - xã hội, các nước lớn tìm cách áp đặt hệ giá trị, tư tưởng đối với các nước nghèo và đang phát triển nhằm tạo ra một “chuẩn mực chung” cho thế giới. Một khối lượng lớn các sản phẩm văn hóa từ các nước phát triển du nhập vào các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, văn hóa, lối sống của Mỹ và các nước phương Tây đang lan tràn ở nhiều nước.

Hội nhập quốc tế là do sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, thể hiện mối liên hệ giữa các quốc gia. Rõ ràng, trong quá trình toàn cầu hóa, các nước mạnh với những lợi thế của mình sẽ có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới, thông qua đó truyền bá các “giá trị” của nước mình và chủ nghĩa tự do nhằm duy trì ưu thế quân sự và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa quốc tế đang bị lợi dụng nhằm phục vụ cho những mưu tính của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc cực đoan.

Tất nhiên, cũng cần nhìn nhận xu hướng này trong tính hai mặt của nó. Đó là khi các nước lớn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong quá trình toàn cầu hóa, vừa tạo ra thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng để vươn lên. Tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ cũng như các giá trị văn hóa tiên tiến… là một trong những mặt tích cực mà các nước đang và kém phát triển cần nắm bắt trong xu thế khách quan này.

Hai là, chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ chống lại xu hướng quốc tế hóa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn.

Xu hướng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ quyền sinh tồn, phát triển như một thực thể chính trị độc lập và chống lại xu hướng “quốc tế hóa” của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Với tư tưởng các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay kém phát triển… đều có quyền bình đẳng, mục tiêu của xu hướng này là bảo vệ lãnh thổ, không gian sinh tồn, bảo vệ tộc người - nòi giống, bảo vệ độc lập, tự do và quyền được phát triển, bảo vệ bản sắc…

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng này chính là chống xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Bởi toàn cầu hóa không chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực. Toàn cầu hóa đang đặt các nước đang và kém phát triển trước những thách thức lớn; làm trầm trọng thêm bất công xã hội, tăng khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước với nhau. Chính các mặt tiêu cực này đã khiến chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở cả các nước đang và kém phát triển trỗi dậy.

Bên cạnh đó, theo nhiều quan điểm, toàn cầu hóa còn được xem là quá trình phương Tây hóa mà cốt lõi là “Mỹ hóa” về mặt văn hóa, trong đó lối sống phương Tây được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến. Điều này khiến các phương thức sống khác cùng với hệ thống các giá trị và hình mẫu văn hóa khác, đặc biệt là bản sắc văn hóa dân tộc, đứng trước nguy cơ bị xói mòn, hòa tan. Điều này tất yếu dẫn đến chủ nghĩa dân tộc văn hóa của các nước nhỏ cần tìm cách bảo vệ bản sắc dân tộc mình trước làn sóng “xâm lăng” của văn hóa phương Tây.

Ba là, xu hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn chống lại xu thế quốc tế.

Thực tế chính trị trong một thế giới toàn cầu hóa cho thấy, một đảng phái hay chính quyền nào đó sẽ nhận được sự tín nhiệm cao của người dân nếu nhận thức đầy đủ, toàn diện vấn đề chủ nghĩa dân tộc trong đường lối, chính sách. Có những quốc gia sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một “lá bài” để đạt được lợi ích thông qua hành vi đề cao lợi ích quốc gia, chỉ quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, dân tộc mà không quan tâm, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Từ đó, chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cộng đồng quốc tế, không gắn lợi ích dân tộc với quốc tế. Có thể thấy, do đặt lợi ích nước Mỹ lên trên hết, nên chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump theo đường lối thực dụng, đặc biệt về kinh tế, đã hạn chế quan tâm đến các vấn đề toàn cầu. Do vậy, trong giai đoạn Tổng thống Donald Trump cầm quyền, ông đã có những quyết định rút Mỹ khỏi một số tổ chức quốc tế cũng như các hiệp ước quốc tế, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc…

Xu hướng này còn biểu hiện ở tư tưởng “phản toàn cầu hóa”, theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ. Thực tế, không riêng Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ đã trở thành xu hướng trên toàn cầu kể từ năm 2008, khi các quốc gia sử dụng các chính sách mới nhằm hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau (áp dụng hạn ngạch, nâng thuế nhập khẩu, gia tăng các yêu cầu kỹ thuật…). Theo Tổ chức Cảnh báo thương mại toàn cầu (GTA), thương mại toàn cầu đang nghiêng theo xu hướng bảo hộ. Chỉ số đo lường tác động của chính sách bảo hộ thương mại tại mỗi quốc gia đều dương trong giai đoạn từ năm 2009 tới tháng 8-2018. Con số không ngừng gia tăng cho thấy chủ nghĩa bảo hộ đang lan rộng (6).

Ngoài ra, xu hướng này còn thể hiện ở tư tưởng bài ngoại, chống nhập cư. Hàng loạt đảng phái, phong trào nổi lên gần đây ở châu Âu cho thấy rõ điều này. Như vậy, chính chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã dẫn đến việc không thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế. Do vậy, các quốc gia hiện nay cần hướng đến chủ nghĩa dân tộc chân chính thiết lập nên chủ nghĩa quốc tế trên cơ sở của thế giới quan hiện đại: hòa bình, hữu nghị, dựa trên luật lệ, tôn trọng quyền tự quyết, độc lập và hội nhập quốc tế để cùng phát triển. Chủ nghĩa quốc tế dựa trên chủ nghĩa dân tộc chân chính chính là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của quốc gia trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia - dân tộc khác.

Giải quyết mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế tại Phiên thảo luận Cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 76_Ảnh: TTXVN

Trong thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.

Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế.

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới” (7). Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Thứ hai, kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Điều này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” (8); “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (9).

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (10). Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” (11). Việc “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.

Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển” (12).

Trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực gìn giữ và thực hiện.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Thứ ba, tiếp tục phát huy giá trị chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Để đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan, khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.

Hai là, cần phân biệt rõ chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.

Ba là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc (?!). Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Bốn là, cần đấu tranh phản bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết một số vấn đề về biên giới lãnh thổ (?!). “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới.

Tựu trung, mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và quốc tế là mối quan hệ không thể tách rời. Do vậy, cần “luôn kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản” (13). Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô-vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Tất cả những khuynh hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến sự suy yếu, rạn vỡ, thậm chí là đổ vỡ của một quốc gia - dân tộc hay một nhà nước đa quốc gia, dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung... Bài học thành công của việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng ta được thể hiện rõ trong kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như trong một thế giới đang biến chuyển sâu sắc./.

--------------------

(1) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn
(2) Phạm Thu Trang: “Chủ nghĩa dân tộc: Quan điểm và một số yếu tố tác động trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, 10-2017, tr. 13
(3) Xem: Anthony D. Smith: National Identity (Tạm dịch: Bản sắc dân tộc), Penguin, London, 1991, tr. 70 - 79, 91
(4) Lloyd S. Kramer là một nhà sử học và nhà giáo dục người Mỹ, được biết đến với một số công trình về chủ nghĩa dân tộc, như Nationalism Political Cultures in Europe and America 1775 - 1865 (Tạm dịch: Chủ nghĩa dân tộc văn hóa chính trị ở châu Âu và châu Mỹ 1775 - 1865) và Lafayette in Two Worlds: Public Cultures and Personal Identities in an Age of Revolutions (Tạm dịch: Lafayette ở hai thế giới: Văn hóa công cộng và bản sắc cá nhân trong thời đại cách mạng).
(5) Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp (chủ biên): Sổ tay thuật ngữ Quan hệ quốc tế, Khoa Quan hệ quốc tế - Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013
(6) Chủ nghĩa bảo hộ đe dọa kinh tế toàn cầu, Tạp chí tài chính onlinehttps://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/chu-nghia-bao-ho-de-doa-kinh-te-toan-cau-312242.html, ngày 3-9-2019
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.8, tr. 272
(8), (9), (10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 161, 162, 162, 161-162
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 84
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.13, tr. 477