Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân theo chủ trương Đại hội XIII của Đảng.

  - Giám sát, phản biện xã hội chính là hoạt động thể hiện bản chất dân chủ của chế độ ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng từ khi đổi mới đến nay, hoạt động này đã dần trở nên hoàn thiện, cùng với các hoạt động khác của thể chế chính trị, để bảo đảm từng bước thực hiện trong thực tế phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Báo chí là một kênh giám sát và phản biện xã hội quan trọng (Trong ảnh: Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương dự Hội báo toàn quốc 2022)_Ảnh: vov.vn

Giám sát, phản biện xã hội từ khi đổi mới đến nay

Một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1). Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ lòng dân và thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều phấn đấu cho mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho nhân dân; chỉ có như vậy, mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tư tưởng “dân là gốc” là tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và được vận dụng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng định lại tư tưởng này và đặt ra yêu cầu cho giai đoạn hiện nay của nước ta. Nhân dân được xác định là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn, vinh quang này và điều đó cũng chính là thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ thống chính trị nước ta (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội), xét về bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ thống chính trị, nhưng giữ lại quyền giám sát và phản biện xã hội để kiểm soát việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình tất yếu và phụ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan ở từng lúc, từng nơi, từng con người cụ thể.

Giám sát và phản biện xã hội là một con đường để thực hiện dân chủ, một công cụ có hiệu quả để thực hiện vai trò làm chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm “dân là gốc”. Nó tồn tại một cách khách quan trong phát triển xã hội và có tác dụng, hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ.

Từ khi trở thành chính đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước ta, nhất là từ khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi dân chủ là bản chất của chế độ và quán triệt quan điểm đó trong đường lối, chủ trương và trong hoạt động lãnh đạo đất nước của mình. Sự ra đời của đường lối đổi mới và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới là sản phẩm của quá trình thực hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa quá trình không ngừng giám sát và phản biện của các lực lượng xã hội. Mặc dù trong các nghị quyết của Đảng khi bắt đầu quá trình đổi mới chưa dùng khái niệm “giám sát, phản biện xã hội”, cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc giám sát, phản biện xã hội theo đúng nghĩa hiện nay, nhưng những yếu tố của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đã được thực hiện trên thực tế, mang lại hiệu quả và tác động tích cực, góp phần đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng vượt qua những khó khăn, thách thức, khắc phục dần những hạn chế, khuyết điểm để đi đến thành tựu của ngày hôm nay.

Đại hội X của Đảng lần đầu tiên chính thức đặt vấn đề giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên để thực hiện dân chủ, và coi đó là nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Kế thừa kinh nghiệm của quá khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội X của Đảng và các văn bản quy định của Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội tiếp tục thực hiện giám sát, phản biện xã hội với những bước phát triển mới. Ở nước ta hiện nay, có các lực lượng xã hội đông đảo tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới các hình thức đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển, quy hoạch, dự án... của các ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Những lực lượng đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông, báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và các chủ thể chính thức, phi chính thức, trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa dạng, thể hiện tính quần chúng, tính xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền hạn giám sát, phản biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Những văn bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, với quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội, nhằm khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ trong nhân dân, để từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV_Nguồn: baonghean.vn 

Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhằm đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian qua đã có hiệu quả tích cực, cụ thể là:

- Góp phần nâng cao chất lượng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng (2).

- Tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

- Tăng cường tính năng động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Góp phần kiểm soát các xung đột ngôn luận, không để chuyển các xung đột này trở thành xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị.

Trên con đường phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, các yếu tố của giám sát, phản biện xã hội đã từng bước hình thành. Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được đông đảo nhân dân hưởng ứng và có tác động nhất định trong việc tạo dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nước ta, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ chính trị. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét về thực chất, là quá trình không ngừng dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế cho đến mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp tích cực bởi hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Tuy nhiên, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là:

- Phạm vi hoạt động giám sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề “quốc kế dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân vẫn chưa được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc giám sát mới chỉ tiến hành với cá nhân, chưa được tiến hành với đơn vị, tổ chức.

- Không ít hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, còn mang tính hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý một chiều, mang tính phản ánh tình hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng theo đúng yêu cầu của giám sát, phản biện xã hội.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa được thực hiện và phối hợp giữa những chủ thể có liên quan, còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ.

Nhìn chung, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân chưa được như mong muốn, một số nơi chưa tạo được niềm tin của nhân dân đối với các chủ thể giám sát, phản biện; quyền làm chủ thực sự của người dân còn có những hạn chế nhất định.

Nguyên nhân của thực trạng đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt chủ quan và khách quan. Về khách quan, do những tàn dư của lịch sử để lại, đó là một nền  dân chủ tuy ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều bất cập và mang dấu ấn tư tưởng gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn dư tập quán tiểu nông, dễ an phận, ngại đối diện, biện luận; trong khi đó, về chủ quan, việc thể chế hóa chủ trương giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách nhiệm giữa các bên có liên quan, nhất là thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó đã chẳng những không thúc đẩy được việc thực hiện một cách nghiêm túc giám sát, phản biện xã hội, mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân với hoạt động này. Trên thực tế, việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội với phương châm rất sáng tạo được đề ra từ hai thập niên trước, nay được bổ sung, phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ chế và con người còn bất cập là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám sát, phản biện xã hội. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong mỏi của nhân dân.

Để tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Các cựu chiến binh tham gia giám sát, quản lý, bảo vệ có hiệu quả khu rừng nguyên sinh Mã Đà, xã Tân Hòa, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước_Ảnh: TTXVN

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ mới trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu nhất là thực hiện tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tiến bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, coi đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất.

Tối ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là làm sao để hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép. Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, có thể nêu lên một số tiêu chí sau đây:

- Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là những vấn đề bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

- Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện cần và đủ để bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.

- Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với khách thể giám sát, phản biện.

- Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết phục cao.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường đồng thuận và đoàn kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Những tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này với việc đóng góp ý kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn thường được thực hiện và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện xã hội.

Muốn đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát huy dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện quan trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, khẳng định nhận thức về sự cần thiết khách quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần ngại, đề phòng và bác bỏ những quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự nguyện của chủ thể và khách thể giám sát, phản biện xã hội.

Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho các chủ thể phản biện; trong đó, chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.

Thứ ba, tạo ra những hình thức và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo, quản lý các cấp với các tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức, như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân một cách thực chất.

Thứ tư, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế để tôn trọng những ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.

Thứ năm, tạo cơ chế tự chủ trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội, nhằm bảo đảm tính khách quan của giám sát, phản biện xã hội.

Tạo ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động không đơn giản, đòi hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận hành và tổ chức cán bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những khâu nghiệp vụ của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy và hành động thực hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ trong sáng, một lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của chủ trương này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện cần và đủ cho hoạt động này.

Người dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân dân mong muốn được giám sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân./.

  

Hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường theo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiện nay, đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, với những thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có những phương hướng, biện pháp nhằm góp phần hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới là hệ thống các quan điểm mang tính định hướng sâu sắc về sự thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ, từ nhận thức mới để đổi mới đường lối, chính sách, phương thức hoạt động và tổ chức lực lượng thực hiện trong điều kiện một nước Việt Nam lạc hậu, kém phát triển, với mục tiêu xây dựng đất nước trở thành một quốc gia độc lập, tự cường, tiên tiến, phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tư duy về lý luận và động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội phát triển thay thế lẫn nhau, từ bậc thấp lên bậc cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(1). Trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng vai trò của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, của các nhân tố kinh tế, động lực lợi ích đối với sự phát triển. Người đặc biệt quan tâm và nỗ lực thực hiện việc giải phóng lực lượng lao động, nhằm tạo ra động lực quan trọng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc bảo đảm công bằng trong phân phối lợi ích dựa trên nguyên tắc: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”(2). Người kêu gọi phải chống chủ nghĩa cá nhân, vì đó là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”, nhưng không được giày xéo lên cá nhân, mà phải tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân. Sự ưu việt của chế độ mới là mỗi người đều được thụ hưởng những thành quả cách mạng một cách công bằng, hợp lý mà thể chế mang bản chất tốt đẹp do “dân là chủ” và “dân làm chủ” mang lại. Nhưng, để xây dựng và phát triển đất nước, theo Người, cần phải phát huy tối đa động lực lợi ích (trước mắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, chính đáng và công bằng trong xã hội). Vì vậy, Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm chăm lo, phát huy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; đồng thời, chú trọng xây dựng nền dân chủ trong chính trị và trong xã hội, bởi dân chủ có thực chất thì mới tạo ra đoàn kết thực chất và đồng thuận thực chất.

Thứ hai, tư duy về tổ chức và thiết chế xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư duy mới về sự ra đời, tầm quan trọng và bản chất của tổ chức lãnh đạo cách mạng. Người cho rằng: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Việc xuất hiện một đảng kiểu mới ở Việt Nam xuất phát từ quá trình nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận về quy luật ra đời của Đảng, là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người nói rõ về bản chất, bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc của Đảng. Trách nhiệm cao cả của Đảng là phải có đường lối, chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo “để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”. Đảng phải thật sự trong sạch, đoàn kết và “thanh khiết từ to đến nhỏ” thì mới có thể lãnh đạo được nhân dân và cách mạng “nhất định thắng lợi”. Đảng phải thực hiện tốt những nguyên tắc hoạt động, như tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình, hoạt động theo đúng pháp luật; có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, thống nhất,... Đặc biệt, công tác bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên là “công việc gốc của Đảng” để làm cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” và đổi mới phải bắt đầu từ Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với phòng, chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, vì Đảng “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, mà phải vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét về bản chất thì Nhà nước ta là Nhà nước kiểu mới, thể hiện tính dân chủ nhân dân và phục vụ lợi ích của dân tộc. Nhà nước phải thực sự “phục vụ nhân dân”, tôn trọng và bảo đảm các quyền công dân, quyền con người. Nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân và điều hành, quản lý xã hội một cách nghiêm minh, công bằng, kỷ cương. Như vậy, từ rất sớm, Người đã có tư duy mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thứ ba, tư duy về sức mạnh của đổi mới là nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đổi mới là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, nhưng phải theo phương châm bắt đầu từ con người, vì con người, do con người và trở về với con người. Người khẳng định: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân(4). Có lực lượng dân chúng thì việc to tát mấy, khó khăn đến đâu cũng giải quyết được. Công cuộc đổi mới phải dựa chắc vào đồng bào, phải học - hỏi - hiểu dân chúng, “theo đúng đường lối dân chúng”, “sao cho được lòng dân”; từ đó, mang tài dân, sức dân, kinh nghiệm và sáng kiến của dân để làm lợi cho nhân dân trong sự nghiệp đổi mới.

Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cần phải đại đoàn kết rộng rãi toàn dân thành một khối thống nhất, bền vững và lớn mạnh trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Do vậy, Người đặc biệt đề cao phương pháp đoàn kết “hết thảy”; tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, cảm hóa, thậm chí còn phải “khoan hồng đại độ” với những người “thế này hay thế khác”, kể cả những người lầm đường lạc lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, bảo đảm hài hòa quyền lợi các giai tầng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Người khẳng định: “Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”(5). Đây là chủ trương sáng tạo, thể hiện tư duy mới, nhạy bén và phù hợp với thực tiễn đất nước ta.

Thứ tư, tư duy về chiến lược “trồng người” và phát triển nguồn lực con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp phải chú trọng đẩy mạnh “sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”. Người khẳng định: “Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”(6). Con người phải được đào tạo, giáo dục và rèn luyện về mọi mặt để có tài và có đức; phải làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của xã hội. Theo đó, cần đẩy mạnh giáo dục toàn diện để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có tri thức, trình độ, trở thành động lực phát triển trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; gắn việc học tập với thực hành, phát huy nhân tố con người, nhằm rèn luyện, bồi dưỡng, đào tạo ra những con người tốt, cán bộ tốt, đóng góp quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị vững vàng, có đủ chuyên môn để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thứ năm, tư duy về phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm phát triển kinh tế, nhằm bảo đảm lợi ích thiết thực cho mỗi người dân; cho nên, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các cấp thực hiện ngay những việc làm cho dân có ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh,... Xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là hướng đến việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động. Việc thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng đường lối, kế hoạch và cách thức tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu để phát triển kinh tế bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất xã hội, giải phóng sức lao động, huy động nguồn vốn và công nghệ hiện đại, tạo ra năng suất cao. Ngay từ thời kỳ đầu xây dựng chế độ xã hội mới, Người đã có chủ trương: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình,... Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”(7). Người định hướng con đường Việt Nam phải đi là “con đường công nghiệp hóa nước nhà”, mở cửa hợp tác tạo ra cơ hội lớn để có thể kiến thiết quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào hoạt động sản xuất. Công nghiệp hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động lãnh đạo và quản lý kinh tế ở các đơn vị, mà khâu then chốt phải chú trọng là “đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất”(8); theo đó, tiết kiệm là yêu cầu bắt buộc trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển kinh tế; không chỉ tiết kiệm về của cải, tiền bạc, thời gian, sức lực (sức dân), mà còn phải thực hiện tiết kiệm cả trong tiêu dùng hằng ngày.

Chính phủ có vai trò quan trọng trong xây dựng cơ chế, chính sách, xác lập và duy trì hệ thống các nguyên tắc quản lý kinh tế và tạo ra các “đòn bẩy” kích thích sự phát triển kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, việc quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, đều phải có lãi. Cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, hay bỏ, món nào đáng tiêu, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải được tính toán cẩn thận. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người chủ trương xây dựng nền kinh tế với các hình thức sở hữu chính: “Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Sở hữu của người lao động riêng lẻ. Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”(9). Người tổng kết, trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: “A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(10). Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế chứa đựng tư duy mới, hiện đại, khoa học và cách mạng, có ý nghĩa thời sự và giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường

Thành tựu của hơn 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta, trên cơ sở quán triệt, vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thời gian tới, Đảng và dân tộc ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng đổi mới của Người nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trên những phương diện chủ yếu sau:

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm và tính chất của thời đại mới.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đại dịch COVID-19 đã làm cho thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về nhiều mặt; đất nước ta đang đứng trước cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết. Bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự đột phá, đổi mới tư duy một cách toàn diện, đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trên cơ sở đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là phải coi trọng tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và nâng tầm tư duy lý luận, tạo thế đột phá để phát triển đất nước trên cơ sở kiên định đường lối đổi mới, kế thừa và phát triển, chú trọng cả chiến lược và sách lược. Vì vậy, tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành bài học quý báu, “kim chỉ nam” cho Đảng ta và dân tộc ta trong việc đánh giá đúng thực tiễn và hoạch định đường lối, chính sách phù hợp, góp phần củng cố và phát triển cơ sở lý luận về đường lối đổi mới.

Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc trong nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng”(11). Thực tiễn đã chứng minh, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan; theo đó, việc đổi mới tư duy để phát triển là rất quan trọng, vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu to lớn mà nhân loại đã đạt được trong hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các thành tựu về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng và phát triển nền kinh tế hiện đại.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, có vấn đề mang tính hệ trọng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(12). Thực hiện các mục tiêu đó phải trên tinh thần kế thừa, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận của Đảng, nhưng vẫn phải giữ vững những nguyên lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải về bản chất của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng và hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong những năm tới, Đảng phải đặc biệt coi trọng và “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(13); ban hành những nghị quyết, chỉ thị đáp ứng tiêu chí phù hợp giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, đáp ứng niềm tin của nhân dân đối với Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị; phát huy, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện mới.

Quá trình đổi mới tư duy, bổ sung, hoàn chỉnh cả về lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được xác định ngày càng rõ ràng hơn. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, sửa đổi, điều chỉnh tổ chức, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý của Nhà nước. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; bảo đảm quyền lực “đều ở nơi dân”, tránh lạm quyền, độc quyền, lộng quyền. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “đặc quyền”, “đặc lợi”, “tham ô, lãng phí, quan liêu” và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực, coi đây là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn mới.

Ba là, tiếp tục phát huy dân chủ và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong quá trình đổi mới, xã hội càng phát triển thì đòi hỏi dân chủ ngày càng được tôn trọng và thực hiện hiệu quả. Do vậy, Đảng, Nhà nước luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; phát huy vai trò dân là chủ và dân làm chủ, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ trong hoạt động chính trị và trong đời sống xã hội một cách thực chất, phát huy dân chủ đến cao độ. Tuy nhiên, dân chủ phải đi liền với bảo đảm trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật; vì vậy, dân chủ trong điều kiện mới phải thể hiện trong các thiết chế và trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và của xã hội. Để tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” được tiếp tục phát huy hiệu quả, cần thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đi đôi với cụ thể hóa, công khai hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cho nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng trên thực tế.

Theo đó, để xây dựng xã hội “dân giàu” thì phải bảo đảm “dân sinh”; Đảng, Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nhất là tập trung nâng cao dân trí và từng bước nâng cao đời sống, thu nhập của nhân dân để giữ vững ổn định và tạo điều kiện phát triển; giảm thiểu sự thiếu đồng bộ, chênh lệch giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, đô thị; thực hiện giảm nghèo bền vững. Cần có biện pháp để huy động “tài dân”, “sức dân”, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và hộ gia đình; có chính sách thu hút mọi nguồn lực từ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài là những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần tập trung thực hiện tốt trong thời kỳ mới.

Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo, tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Thực hiện chiến lược “trồng người”, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”(14). Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ban hành những quan điểm chỉ đạo, giải pháp đồng bộ và toàn diện về phát triển giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn lực con người trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Trong phát triển nguồn nhân lực, cần chú trọng gắn kết 3 khâu đào tạo, sử dụng, đãi ngộ; theo đó, đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế. Phải thực hiện xã hội hóa việc học tập; đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở để nâng cao trình độ nguồn nhân lực toàn diện. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là lao động ở nông thôn; có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú trọng, tăng cường hơn nữa việc phát hiện, bồi dưỡng, có chế độ đãi ngộ, thu hút sử dụng nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - lĩnh vực đột phá của đổi mới.

Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới tư duy, bộ máy và phương thức quản lý, điều hành, hoạch định cơ chế, chính sách để thích ứng kịp thời với sự thay đổi có tính cách mạng về khoa học - công nghệ, đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo...; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trí tuệ, có trình độ, có sức khỏe, sáng tạo, năng động. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; phấn đấu “Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(15).

Xác định rõ nội dung, bản chất và các bước tuần tự trong phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế; tập trung phát triển những ngành công nghiệp then chốt để phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô,... đó chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng phát triển kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Trong quản lý kinh tế và phát triển kinh tế cần tuân thủ sự kết hợp giữa xây dựng mới và cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có; kết hợp các loại hình công nghệ từ thô sơ đến trung bình; đồng thời, phải mạnh dạn ứng dụng công nghệ hiện đại trong từng hạng mục (từ đơn lẻ đến đồng bộ) để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, theo tiêu chuẩn, có sức cạnh tranh cao. Đây được coi là khâu đột phá “đi tắt, đón đầu” của Việt Nam để bắt kịp với tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng trên thế giới.

Chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, với tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng đạt nhiều kết quả, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu mới vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, giàu đẹp, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam.

Hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường theo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  - Hiện nay, đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, với những thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có những phương hướng, biện pháp nhằm góp phần hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới là hệ thống các quan điểm mang tính định hướng sâu sắc về sự thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ, từ nhận thức mới để đổi mới đường lối, chính sách, phương thức hoạt động và tổ chức lực lượng thực hiện trong điều kiện một nước Việt Nam lạc hậu, kém phát triển, với mục tiêu xây dựng đất nước trở thành một quốc gia độc lập, tự cường, tiên tiến, phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tư duy về lý luận và động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội phát triển thay thế lẫn nhau, từ bậc thấp lên bậc cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(1). Trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng vai trò của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, của các nhân tố kinh tế, động lực lợi ích đối với sự phát triển. Người đặc biệt quan tâm và nỗ lực thực hiện việc giải phóng lực lượng lao động, nhằm tạo ra động lực quan trọng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu công nghiệp Liên hợp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên (năm 1964)_Nguồn: hochiminh.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc bảo đảm công bằng trong phân phối lợi ích dựa trên nguyên tắc: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”(2). Người kêu gọi phải chống chủ nghĩa cá nhân, vì đó là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”, nhưng không được giày xéo lên cá nhân, mà phải tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân. Sự ưu việt của chế độ mới là mỗi người đều được thụ hưởng những thành quả cách mạng một cách công bằng, hợp lý mà thể chế mang bản chất tốt đẹp do “dân là chủ” và “dân làm chủ” mang lại. Nhưng, để xây dựng và phát triển đất nước, theo Người, cần phải phát huy tối đa động lực lợi ích (trước mắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, chính đáng và công bằng trong xã hội). Vì vậy, Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm chăm lo, phát huy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; đồng thời, chú trọng xây dựng nền dân chủ trong chính trị và trong xã hội, bởi dân chủ có thực chất thì mới tạo ra đoàn kết thực chất và đồng thuận thực chất.

Thứ hai, tư duy về tổ chức và thiết chế xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư duy mới về sự ra đời, tầm quan trọng và bản chất của tổ chức lãnh đạo cách mạng. Người cho rằng: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Việc xuất hiện một đảng kiểu mới ở Việt Nam xuất phát từ quá trình nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận về quy luật ra đời của Đảng, là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người nói rõ về bản chất, bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc của Đảng. Trách nhiệm cao cả của Đảng là phải có đường lối, chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo “để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”. Đảng phải thật sự trong sạch, đoàn kết và “thanh khiết từ to đến nhỏ” thì mới có thể lãnh đạo được nhân dân và cách mạng “nhất định thắng lợi”. Đảng phải thực hiện tốt những nguyên tắc hoạt động, như tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình, hoạt động theo đúng pháp luật; có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, thống nhất,... Đặc biệt, công tác bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên là “công việc gốc của Đảng” để làm cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” và đổi mới phải bắt đầu từ Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với phòng, chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, vì Đảng “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, mà phải vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét về bản chất thì Nhà nước ta là Nhà nước kiểu mới, thể hiện tính dân chủ nhân dân và phục vụ lợi ích của dân tộc. Nhà nước phải thực sự “phục vụ nhân dân”, tôn trọng và bảo đảm các quyền công dân, quyền con người. Nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân và điều hành, quản lý xã hội một cách nghiêm minh, công bằng, kỷ cương. Như vậy, từ rất sớm, Người đã có tư duy mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thứ ba, tư duy về sức mạnh của đổi mới là nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đổi mới là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, nhưng phải theo phương châm bắt đầu từ con người, vì con người, do con người và trở về với con người. Người khẳng định: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân(4). Có lực lượng dân chúng thì việc to tát mấy, khó khăn đến đâu cũng giải quyết được. Công cuộc đổi mới phải dựa chắc vào đồng bào, phải học - hỏi - hiểu dân chúng, “theo đúng đường lối dân chúng”, “sao cho được lòng dân”; từ đó, mang tài dân, sức dân, kinh nghiệm và sáng kiến của dân để làm lợi cho nhân dân trong sự nghiệp đổi mới.

Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cần phải đại đoàn kết rộng rãi toàn dân thành một khối thống nhất, bền vững và lớn mạnh trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Do vậy, Người đặc biệt đề cao phương pháp đoàn kết “hết thảy”; tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, cảm hóa, thậm chí còn phải “khoan hồng đại độ” với những người “thế này hay thế khác”, kể cả những người lầm đường lạc lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, bảo đảm hài hòa quyền lợi các giai tầng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Người khẳng định: “Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”(5). Đây là chủ trương sáng tạo, thể hiện tư duy mới, nhạy bén và phù hợp với thực tiễn đất nước ta.

Thứ tư, tư duy về chiến lược “trồng người” và phát triển nguồn lực con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp phải chú trọng đẩy mạnh “sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”. Người khẳng định: “Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”(6). Con người phải được đào tạo, giáo dục và rèn luyện về mọi mặt để có tài và có đức; phải làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của xã hội. Theo đó, cần đẩy mạnh giáo dục toàn diện để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có tri thức, trình độ, trở thành động lực phát triển trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; gắn việc học tập với thực hành, phát huy nhân tố con người, nhằm rèn luyện, bồi dưỡng, đào tạo ra những con người tốt, cán bộ tốt, đóng góp quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị vững vàng, có đủ chuyên môn để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thứ năm, tư duy về phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm phát triển kinh tế, nhằm bảo đảm lợi ích thiết thực cho mỗi người dân; cho nên, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các cấp thực hiện ngay những việc làm cho dân có ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh,... Xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là hướng đến việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động. Việc thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng đường lối, kế hoạch và cách thức tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu để phát triển kinh tế bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất xã hội, giải phóng sức lao động, huy động nguồn vốn và công nghệ hiện đại, tạo ra năng suất cao. Ngay từ thời kỳ đầu xây dựng chế độ xã hội mới, Người đã có chủ trương: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình,... Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”(7). Người định hướng con đường Việt Nam phải đi là “con đường công nghiệp hóa nước nhà”, mở cửa hợp tác tạo ra cơ hội lớn để có thể kiến thiết quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào hoạt động sản xuất. Công nghiệp hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động lãnh đạo và quản lý kinh tế ở các đơn vị, mà khâu then chốt phải chú trọng là “đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất”(8); theo đó, tiết kiệm là yêu cầu bắt buộc trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển kinh tế; không chỉ tiết kiệm về của cải, tiền bạc, thời gian, sức lực (sức dân), mà còn phải thực hiện tiết kiệm cả trong tiêu dùng hằng ngày.

Chính phủ có vai trò quan trọng trong xây dựng cơ chế, chính sách, xác lập và duy trì hệ thống các nguyên tắc quản lý kinh tế và tạo ra các “đòn bẩy” kích thích sự phát triển kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, việc quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, đều phải có lãi. Cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, hay bỏ, món nào đáng tiêu, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải được tính toán cẩn thận. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người chủ trương xây dựng nền kinh tế với các hình thức sở hữu chính: “Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Sở hữu của người lao động riêng lẻ. Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”(9). Người tổng kết, trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: “A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(10). Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế chứa đựng tư duy mới, hiện đại, khoa học và cách mạng, có ý nghĩa thời sự và giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường

Thành tựu của hơn 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta, trên cơ sở quán triệt, vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thời gian tới, Đảng và dân tộc ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng đổi mới của Người nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trên những phương diện chủ yếu sau:

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm và tính chất của thời đại mới.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đại dịch COVID-19 đã làm cho thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về nhiều mặt; đất nước ta đang đứng trước cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết. Bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự đột phá, đổi mới tư duy một cách toàn diện, đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trên cơ sở đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là phải coi trọng tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và nâng tầm tư duy lý luận, tạo thế đột phá để phát triển đất nước trên cơ sở kiên định đường lối đổi mới, kế thừa và phát triển, chú trọng cả chiến lược và sách lược. Vì vậy, tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành bài học quý báu, “kim chỉ nam” cho Đảng ta và dân tộc ta trong việc đánh giá đúng thực tiễn và hoạch định đường lối, chính sách phù hợp, góp phần củng cố và phát triển cơ sở lý luận về đường lối đổi mới.

Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc trong nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng”(11). Thực tiễn đã chứng minh, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan; theo đó, việc đổi mới tư duy để phát triển là rất quan trọng, vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu to lớn mà nhân loại đã đạt được trong hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các thành tựu về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng và phát triển nền kinh tế hiện đại.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm dây chuyền sản xuất sản phẩm thấu kính quang học cao cấp của Công ty TNHH nghiên cứu kỹ thuật R Việt Nam (tỉnh Hòa Bình) xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản, Malaysia, Đức... _Ảnh: Tư liệu

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, có vấn đề mang tính hệ trọng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(12). Thực hiện các mục tiêu đó phải trên tinh thần kế thừa, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận của Đảng, nhưng vẫn phải giữ vững những nguyên lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải về bản chất của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng và hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong những năm tới, Đảng phải đặc biệt coi trọng và “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(13); ban hành những nghị quyết, chỉ thị đáp ứng tiêu chí phù hợp giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, đáp ứng niềm tin của nhân dân đối với Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị; phát huy, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện mới.

Quá trình đổi mới tư duy, bổ sung, hoàn chỉnh cả về lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được xác định ngày càng rõ ràng hơn. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, sửa đổi, điều chỉnh tổ chức, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý của Nhà nước. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; bảo đảm quyền lực “đều ở nơi dân”, tránh lạm quyền, độc quyền, lộng quyền. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “đặc quyền”, “đặc lợi”, “tham ô, lãng phí, quan liêu” và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực, coi đây là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn mới.

Ba là, tiếp tục phát huy dân chủ và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong quá trình đổi mới, xã hội càng phát triển thì đòi hỏi dân chủ ngày càng được tôn trọng và thực hiện hiệu quả. Do vậy, Đảng, Nhà nước luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; phát huy vai trò dân là chủ và dân làm chủ, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ trong hoạt động chính trị và trong đời sống xã hội một cách thực chất, phát huy dân chủ đến cao độ. Tuy nhiên, dân chủ phải đi liền với bảo đảm trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật; vì vậy, dân chủ trong điều kiện mới phải thể hiện trong các thiết chế và trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và của xã hội. Để tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” được tiếp tục phát huy hiệu quả, cần thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đi đôi với cụ thể hóa, công khai hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cho nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng trên thực tế.

Theo đó, để xây dựng xã hội “dân giàu” thì phải bảo đảm “dân sinh”; Đảng, Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nhất là tập trung nâng cao dân trí và từng bước nâng cao đời sống, thu nhập của nhân dân để giữ vững ổn định và tạo điều kiện phát triển; giảm thiểu sự thiếu đồng bộ, chênh lệch giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, đô thị; thực hiện giảm nghèo bền vững. Cần có biện pháp để huy động “tài dân”, “sức dân”, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và hộ gia đình; có chính sách thu hút mọi nguồn lực từ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài là những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần tập trung thực hiện tốt trong thời kỳ mới.

Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo, tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Thực hiện chiến lược “trồng người”, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”(14). Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ban hành những quan điểm chỉ đạo, giải pháp đồng bộ và toàn diện về phát triển giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn lực con người trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ..._Nguồn: tapchicongthuong.vn

Trong phát triển nguồn nhân lực, cần chú trọng gắn kết 3 khâu đào tạo, sử dụng, đãi ngộ; theo đó, đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế. Phải thực hiện xã hội hóa việc học tập; đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở để nâng cao trình độ nguồn nhân lực toàn diện. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là lao động ở nông thôn; có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú trọng, tăng cường hơn nữa việc phát hiện, bồi dưỡng, có chế độ đãi ngộ, thu hút sử dụng nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - lĩnh vực đột phá của đổi mới.

Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới tư duy, bộ máy và phương thức quản lý, điều hành, hoạch định cơ chế, chính sách để thích ứng kịp thời với sự thay đổi có tính cách mạng về khoa học - công nghệ, đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo...; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trí tuệ, có trình độ, có sức khỏe, sáng tạo, năng động. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; phấn đấu “Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(15).

Xác định rõ nội dung, bản chất và các bước tuần tự trong phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế; tập trung phát triển những ngành công nghiệp then chốt để phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô,... đó chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng phát triển kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Trong quản lý kinh tế và phát triển kinh tế cần tuân thủ sự kết hợp giữa xây dựng mới và cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có; kết hợp các loại hình công nghệ từ thô sơ đến trung bình; đồng thời, phải mạnh dạn ứng dụng công nghệ hiện đại trong từng hạng mục (từ đơn lẻ đến đồng bộ) để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, theo tiêu chuẩn, có sức cạnh tranh cao. Đây được coi là khâu đột phá “đi tắt, đón đầu” của Việt Nam để bắt kịp với tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng trên thế giới.

Chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, với tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng đạt nhiều kết quả, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu mới vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, giàu đẹp, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam./.