Thứ Năm, 30 tháng 6, 2022

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, TIẾN LÊN HIỆN ĐẠI, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI


* * * * *
Xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là đòi hỏi khách quan, bảo đảm cho quân đội đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”(1). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(2).
Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng; bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân đội ta từ đội quân nhỏ, lẻ, trang bị giáo mác nhiều hơn súng đạn đã phát triển thành một tổ chức vũ trang; cơ cấu tổ chức của lực lượng vũ trang ba thứ quân bao gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân đội ta từng bước phát triển thành một quân đội chính quy, vững mạnh, có đủ các trung đoàn, sư đoàn bộ binh mạnh và các quân chủng, binh chủng. Sau năm 1975, từ 11 quân khu và 2 bộ tư lệnh thành phố rút gọn lại thành 8 quân khu. Sau chiến tranh biên giới, đã giải thể một số quân đoàn trong quân khu, đặc khu Quảng Ninh; một số sư đoàn đủ quân trở thành sư đoàn khung thường trực. Năm 2008, tổ chức lại Quân khu Thủ đô thành Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
Từ năm 2016 đến nay, quân đội đã điều chỉnh 1.286 tổ chức, giải thể các trường nghề và 61 trường quân sự cấp tỉnh; tăng cường lực lượng bảo vệ biên giới, biển, đảo và lực lượng, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Các cơ sở sản xuất, sửa chữa, công nghiệp quốc phòng, đoàn kinh tế - quốc phòng được điều chỉnh hợp lý, giảm bớt các tổ chức trung gian, từng bước khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Các đơn vị dự bị động viên, phương tiện kỹ thuật được tổ chức, sắp xếp đủ 100% số đầu mối đơn vị theo quy định.
Để xây dựng quân đội hiện đại, những năm qua, công nghiệp quốc phòng từng bước phát triển theo hướng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang và góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ chế tạo và sản xuất được một số loại vũ khí chiến lược cần thiết cho phòng thủ đất nước; từng bước bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ biển, đảo,... Những kết quả này là tiền đề rất quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; đồng thời, tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực, xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là chủ đạo, nhưng tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo,... diễn ra phức tạp, quyết liệt. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm xuất hiện nhiều loại vũ khí mới; cùng với đó, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao và chiến tranh phi tiếp xúc ngày càng trở nên phổ biến. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh,... ngày càng phức tạp. Đối với nước ta, sau hơn 35 năm đổi mới, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo tiền đề quan trọng để phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội,... với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó nhận diện. Tình hình trên đặt ra những yêu cầu mới rất cao đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Việc xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại cần quán triệt sâu sắc, thực hiện có hiệu quả những nội dung cơ bản sau:
Một là, quán triệt và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương về xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh.
Đây là nội dung bao trùm, chỉ đạo xuyên suốt, có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bảo đảm cho quân đội có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để làm tốt vấn đề này, trước hết, cần tập trung quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo,... Trên cơ sở đó, từng cấp chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi cụ thể, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số của từng khối phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị, giữ vững và phát huy truyền thống quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm. Tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Tổ chức quán triệt sâu sắc nghị quyết của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương và kế hoạch của Bộ Quốc phòng về điều chỉnh tổ chức lực lượng đến các đối tượng, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ ở từng cấp. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, đơn vị trong quân đội và của cả hệ thống chính trị, thống nhất nhận thức và nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, có sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
Quá trình điều chỉnh tổ chức Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp. Biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội, đơn giản một chiều hay hành chính hóa.
Hai là, kiên định nguyên tắc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Đây là vấn đề cơ bản, nguyên tắc bất di, bất dịch xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội nhân dân, nhằm giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng; là nhân tố quyết định việc hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Quán triệt sâu sắc, kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội; theo đó, xây dựng quân đội phải toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và trên mọi nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, lao động sản xuất và công tác. Trong đó, phải đặc biệt quan tâm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vì “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(3).
Việc xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh phải bảo đảm gọn về tổ chức, nâng cao chất lượng về mọi mặt, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong toàn quân. Cấp ủy, chỉ huy các cấp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn vững vàng, kiên định lập trường, mục tiêu, lý tưởng, nhận thức sâu sắc tình hình nhiệm vụ, thấy được hết thuận lợi, khó khăn, xác định rõ trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Chú trọng tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa,... Tích cực, chủ động đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Kiên quyết, kiên trì thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, quy định của Trung ương, của Quân ủy Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, về những điều đảng viên không được làm, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, với các mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp.
Ba là, thường xuyên rà soát, kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị của từng cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tổ chức, biên chế, trang bị là những nhân tố quan trọng cấu thành chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Vì vậy, trên cơ sở biểu tổ chức biên chế mới, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Trong thực tiễn, do yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu xây dựng quân đội đặt ra ở từng thời kỳ, Đảng ta đã nhiều lần điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ. Hiện nay, trong điều kiện nước ta phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra ngày càng cao, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động ngày càng sâu sắc tới tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thì việc kiện toàn tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị nói riêng, điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội nói chung là yêu cầu khách quan, cấp thiết, góp phần xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.
Trên tinh thần đó, từng cấp cần chủ động làm tốt việc rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, bảo đảm trang bị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới. Trước hết, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Đối với khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm; bổ sung chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, khắc phục sự chồng chéo để tăng cường quân số cho các đơn vị thành lập mới, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Đối với khối đơn vị chiến đấu, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị để điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động. Sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sản xuất quốc phòng và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế các nhà trường quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Quá trình rà soát, điều chỉnh phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, theo hướng có giảm, có tăng, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại hình cơ quan, đơn vị và lực lượng. Qua đó, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, biên chế, trang bị của quân đội, với cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bốn là, quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau”, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; gắn xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh với đổi mới công tác huấn luyện - đào tạo.
Đây là một trong những khâu then chốt, đột phá, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong điều kiện mới. Sức mạnh của quân đội là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến..., trong đó, con người là nhân tố quyết định. Vì thế, việc xây dựng nhân tố con người, trực tiếp là nguồn nhân lực chất lượng cao cần được chú trọng và xem như một yếu tố có ý nghĩa quyết định trong xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Việc xây dựng nguồn nhân lực cần chú trọng cả về số lượng và chất lượng theo lộ trình hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật của các quân chủng, binh chủng, lực lượng. Cần có sự đột phá trong đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học quân sự, các chuyên gia đầu ngành, đội ngũ nhà giáo ở các học viện, nhà trường quân đội; quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần, kỹ thuật có trình độ, năng lực chuyên môn sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Các cơ quan, đơn vị cần có quy hoạch, kế hoạch xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao bảo đảm nhu cầu sử dụng cả trước mắt và lâu dài; xây dựng tiêu chí nguồn nhân lực làm cơ sở xem xét, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ một cách chính xác.
Cùng với đó, phải đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện - đào tạo ở các nhà trường quân đội, tạo nguồn cán bộ các cấp có đủ phẩm chất cách mạng, tư duy, năng lực chuyên môn, trình độ chỉ huy, quản lý,... theo chức trách. Xây dựng nhà trường, viện nghiên cứu tinh, gọn, mạnh, hiện đại; gắn đào tạo ở nhà trường với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở đơn vị; gắn nhà trường với chiến trường; gắn lý luận với thực tiễn; gắn trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy với kết quả huấn luyện của đơn vị. Trong đó, việc tổ chức huấn luyện phải chặt chẽ, linh hoạt, đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp; chú trọng truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực thực hành, làm chủ vũ khí, trang bị, khí tài mới, hiện đại, sức cơ động và khả năng tác chiến trong điều kiện mới cho các đối tượng; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng, các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong huấn luyện bộ đội. Trước mắt, cần tập trung nâng cao chất lượng các cuộc diễn tập, hội thao, hội thi; ban hành, triển khai thực hiện chiến lược và các đề án phát triển giáo dục - đào tạo trong quân đội theo phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, góp phần xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Năm là, tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật.
Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo(4); Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, trong thời gian tới, cần tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại; có quy mô tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động phù hợp; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm và sự tham gia tích cực, có hiệu quả của các thành phần kinh tế, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước. Gắn phát triển công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia, có cơ cấu hợp lý trong tổng thể nền công nghiệp quốc gia, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, có hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân.
Để đạt được mục tiêu đề ra, cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp quốc phòng dài hạn, trung hạn, phù hợp với điều kiện mới. Ưu tiên phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp cơ bản, có tính lưỡng dụng cao. Đầu tư xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp quốc phòng có công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiến tới hình thành các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, công nghệ cao, có nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất và bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Trước mắt, tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng với quy mô, tổ chức, cơ chế quản lý phù hợp, phát huy vai trò, trách nhiệm tự chủ của các cơ sở công nghiệp quốc phòng. Kiện toàn tổ chức ngành kỹ thuật theo hướng “tinh, gọn, mạnh, thống nhất”, phù hợp với tính năng công nghệ của vũ khí, trang bị kỹ thuật và nhiệm vụ của từng cấp; bảo đảm công tác quản lý, chỉ huy, chỉ đạo thông suốt, không chồng chéo. Đổi mới phương thức bảo đảm kỹ thuật đối với vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao theo hướng tập trung, thống nhất; đổi mới tư duy sản xuất vật tư kỹ thuật theo hướng mở rộng liên doanh, liên kết, xã hội hóa,... Tiếp tục nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, nhằm tận dụng, huy động các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ sự nghiệp hiện đại hóa quân đội. Theo đó, cùng với đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực, cần thúc đẩy hợp tác trong phát triển công nghiệp quốc phòng, kỹ thuật quân sự, kết hợp với mua sắm vũ khí, khí tài mới, hiện đại và gắn với chuyển giao công nghệ, nhất là các công nghệ mới, hiện đại.
Xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là chủ trương nhất quán, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện chủ trương này sẽ bảo đảm cho quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trách nhiệm này là của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhưng trước hết và chủ yếu là của cấp ủy, chỉ huy các cấp cùng cán bộ và chiến sĩ toàn quân./.
TS. PHAN VĂN GIANG
Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

YÊU CẦU XỬ LÝ NGHIÊM NẾU CÓ VI PHẠM VÀ LÀM RÕ TRÁCH NHIỆM


Ngày 29-6, Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Lâm Đồng đã làm việc với đại diện tổ chức đêm nhạc "Dấu chân địa đàng" liên quan đến việc danh ca Khánh Ly hát ca khúc "Gia tài của mẹ" của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Đêm nhạc diễn ra tại sân khấu Mây - In The Nest (phường 7, Đà Lạt) với sự tham dự của khoảng 1.000 người vào tối 25-6.
Theo Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Lâm Đồng, đơn vị tổ chức bị mời làm việc nhằm làm rõ việc ca sĩ Khánh Ly đã hát ca khúc "Gia tài của mẹ", ca khúc này không nằm trong danh mục 24 bài đăng ký biểu diễn được cơ quan chức năng duyệt trước đó.
Hiện Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Lâm Đồng cùng PA03 (Công an tỉnh Lâm Đồng) yêu cầu sân khấu Mây - In The Nest (phường 7, Đà Lạt) cung cấp giải trình về buổi biểu diễn, cùng clip liên quan đến ca sĩ Khánh Ly biểu diễn ca khúc "Gia tài của mẹ" để làm rõ vụ việc.
Sưu tầm

"THỊT DA EM LÀ SẮT HAY ĐỒNG" ?


"Giữa năm 1958, Bệnh viện Việt - Xô (Hà Nội) tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: "Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh nhân: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục".
Trần Thị Lý sinh năm 1933 tại Quảng Nam, tham gia Cách Mạng từ năm 12 tuổi. Trong giai đoạn từ 1951 - 1956, Trần Thị Lý tham gia đường dây cán bộ nằm vùng, 2 lần bị bắt. Năm 1956, bà bị chính quyền VNCH bắt lần thứ 3, bị tra tấn với những hình thức dã man nhất như: điện giật, dùi đâm, đổ nước xà phòng, dùng dao cắt vú, dùng lửa nung bộ phận sinh dục đến nỗi bị mất khả năng sinh sản... nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời.
Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, cai ngục của ngụy quyền nghĩ rằng bà không thể sống được nữa nên đem vứt bà ra bãi rác nhà lao Vĩnh Diện, bà thoát chết một cách hi hữu, được đồng đội bí mật đón về, chăm sóc tại Điện Bàn rồi bí mật chuyển vào Sài Gòn. Thấy "mất xác" bà, bọn mật vụ Quảng Nam và cả Sài Gòn truy lùng gắt gao. Các cơ sở của ta phải liên tục đổi chỗ ở cho chị, sức khỏe chị ngày một suy sụp, các vết thương bị nhiễm trùng nặng. Bằng nhiều phương tiện và nhiều chặng, các cơ sở cách mạng của ta đã đưa chị sang được Campuchia.
Tại đây, một gia đình Việt kiều yêu nước quê gốc Nghệ An đã làm hộ chiếu giả, đưa chị lên máy bay ra Hà Nội để chữa trị và tố cáo tội ác tày trời của Mỹ - Diệm.
Sự kiện Trần Thị Lý bị bắt, bị kẻ thù tra tấn dã man ngoài sức tưởng tượng đã làm rúng động dư luận thế giới và lương tri loài người lúc bấy giờ.
👉
17 giờ ngày 25-10-1958, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ Hà Nội phát bản tin về Trần Thị Lý với nội dung: “Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập, bắt “sám hối” với những nhục hình dã man như: lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục!”.
👉
Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể: “Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn.
Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi.
Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực.
Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo...
Chúng bắt tôi phải nhận tội “Thân cộng” và “Chống chính phủ quốc gia” của chúng!”.
👉
Ngày 21-11-1958, 5 bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền Sài Gòn đối với Trần Thị Lý.
Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn khác tiếp tục đăng ký vào thăm. Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam cũng phát đi lời của ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh - Việt rằng:
“Với chính sách đàn áp dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất thối nát. Ủy ban Quốc tế tại Việt Nam cần lưu ý ngay đến vấn đề này, đó là nhiệm vụ của họ!”.
Khi nhà thơ Tố Hữu đến thăm Trần Thị Lý, ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động.
Tháng 12-1958, bài thơ "Người Con gái Việt Nam" của ông ra đời (sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng), gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế:
"Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi
Mái tóc em đây, là mây hay là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông
Thịt da em hay là sắt là đồng?”
(...)
“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi em đã sống !
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Không giết được em, người con gái anh hùng !”
(...)
“ Từ cõi chết, em trở về, chói lọi
Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi
Em trở về, người con gái quang vinh
Cả nước ôm em, khúc ruột của mình. #ST

CUỘC CHIẾN GIỮA NGA VÀ UKRAINE, NATO - CUỘC CHƠI LỢI ÍCH CỦA CÁC NƯỚC LỚN!

 

Hội nghị G7 vừa kết thúc tại nước Đức. Tại hội nghị, các thành viên chủ yếu bàn về tình hình Ukraine và Nga. Làm sao để người Nga phải chịu tổn thất nặng nề, cả về kinh tế và quân sự, trong bối cảnh Nga đang giành nhiều thắng lợi quan trọng trên chiến trường. Quân đội Nga đã kiểm soát gần như toàn bộ Dobass, Kherson, Mariupol và cả biển Azov, biển đen và cảng chiến lược Odessa...kể từ khi bị NATO cấm vận, đồng Rúp Nga tăng gần một nửa giá trị so với trước cuộc chiến. Xăng dầu, khí đốt mang lại siêu lợi nhuận cho Nga. Người Nga không những không khốn đốn mà còn phất lên trông thấy. G7 bí thế phải cầu cạnh Trung Quốc, hy vọng Trung Quốc sẽ khuyên Nga lui binh khỏi Ukraine. Xin mạn đàm đôi lời:
Thứ nhất, Thật sự cười ra nước mắt. Nga sẽ không rút quân chừng nào họ chưa đạt mục đích cuối cùng. Giờ đây chẳng ai có thể khiến Putin suy nghĩ lại ngoài Zelensky và chính người dân Ukraine. Nga trước mắt sẽ thiệt hại nhân mạng, tiền của và cũng phải chịu ảnh hưởng trước các đòn trừng phạt của NATO. Thế nhưng họ lại được cái lợi về lâu dài. Đó là việc lấy lại đất đai, cảng biển...
Thứ hai, cầu cạnh Trung Quốc sẽ vô ích vì chẳng đời nào Putin xuống nước. Bây giờ cuộc chơi của các nước lớn đến hồi cao trào nhất. Trung Quốc hưởng lợi từ cuộc chiến này. Xăng dầu, khoáng sản giá rẻ đến từ Nga. Quan trọng hơn là Mỹ và NATO phải căng mình giúp Ukraine. Đây là cơ hội ngàn năm để Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế và có thời gian cho các toan tính chính trị của họ. Người Trung Quốc là chúa của mưu kế, chẳng đời nào họ khuyên Nga rút quân.
Thứ ba, Nga và Ukraine đánh nhau, nói đúng hơn là Nga chiến đấu với Ukraine và NATO chắc chắn sẽ làm họ suy yếu hoặc bị cô lập. Trong hoàn cảnh đó, Nga phải tìm đồng minh cho mình. Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ...sẽ là những quốc gia mà họ muốn kết giao. Nói cách khác là Nga cần Trung Quốc hơn bao giờ hết. Hai cường quốc sẽ xích lại gần nhau hơn nữa. Trung Quốc ủng hộ Nga, không lý Nga lại không ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Đài Loan hay các khu tự trị. Mỹ và NATO ngoài mặt muốn Nga rút quân nhưng trong lòng vẫn muốn Nga suy yếu. Bằng chứng là họ cung cấp vũ khí, viện trợ cho Ukraine ngày càng nhiều.
Thứ tư, chẳng phải chỉ có Hoa Kỳ và NATO mong muốn Nga sa lầy mà Trung Quốc hay Ấn Độ cũng mở cờ trong bụng. Họ được lợi nhiều từ cuộc chiến Nga và Ukraine. Đừng mong Trung Quốc sẽ chống lại Nga. Biển sâu có thể đo nhưng lòng người thì không thể. Đây là kế "giả chết để bắt quạ" mà nhiều nước lớn đang dùng trong tình hình Ukraine hiện nay. Suy cho cùng thì nước nào cũng vì lợi ích quốc gia họ.
Chỉ Ukraine là thiệt nhất, họ làm tiền tiêu, biến đất nước thành chiến trường cho cuộc chiến ủy nhiệm của phương Tây. Đất nước hoang tàn vì chính sách thù địch. Ukraine tự tay phá nát sơn hà tươi đẹp của họ. Đáng buồn, đáng hận lắm thay./.

BƯỚC NGOẶT LỚN LÀM THAY ĐỔI CỤC DIỆN CHỐNG THAM NHŨNG


Với mô hình Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Tổng Bí thư đứng đầu đã đem lại những kết quả rất quan trọng, trở thành địa chỉ tin cậy, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là bước ngoặt lớn làm trong sạch bộ máy.
Bước ngoặt lớn làm thay đổi cục diện chống tham nhũng
Cách đây 10 năm, vào tháng 5/2012, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã thông qua chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị.
Sau đó, ngày 1/2/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng gồm 16 thành viên, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban, 5 Phó Trưởng ban và 10 ủy viên nhằm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng trên phạm vi cả nước.
10 năm là chặng đường không dài nhưng đủ để nhìn thấy vai trò, tầm cỡ của mô hình Ban Chỉ đạo trực thuộc Bộ Chính trị, khẳng định đây là một chủ trương mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm và tầm nhìn của Trung ương trước một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.
Là 1 trong 16 thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương thời kỳ mới thành lập, ông Vũ Trọng Kim khi đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (hiện nay là đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam) cho biết, từ 7/2006-2/2013, Ban Chỉ đạo Trung ương trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng đứng đầu, song hoạt động của Ban Chỉ đạo trong giai đoạn này còn hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra nên phải tổ chức lại để hoạt động hiệu quả hơn.
“Với một tổ chức cùng cơ chế vận hành như vậy nhưng hoạt động chưa đạt được mục tiêu đề ra thì phải tìm ra một hướng mới. Sau đó, Trung ương đã quyết định tổ chức lại Ban Chỉ đạo Trung ương từ mô hình trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu sang mô hình trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu cho đến nay là 10 năm đã khẳng định đây là mô hình phù hợp, cứ theo đà này để làm thì sẽ có kết quả” – ông Vũ Trọng Kim khẳng định.
Mục đích của sự thay đổi này xuất phát từ yêu cầu khách quan với một mong muốn, một quyết tâm cao hơn là tạo bước chuyển biến mới rõ rệt hơn nữa trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng như tăng cường tính độc lập tương đối của Ban Chỉ đạo với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong đấu tranh chống “giặc nội xâm”. Với bước ngoặt này, các thành viên Ban Chỉ đạo đứng trước trách nhiệm và sự kỳ vọng rất lớn của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Theo ông Vũ Trọng Kim, thực tế trong 10 năm qua cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, là dấu ấn nổi bật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
“Với mô hình do Tổng Bí thư chủ trì, cùng với một tổ chức, cơ chế mới đã đem lại những kết quả bước đầu rất quan trọng trong đấu tranh chống tham nhũng, đặc biệt trong nhiệm kỳ Đại hội XII, XIII; trở thành địa chỉ tin cậy, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, củng cố sức mạnh nội lực của Đảng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch bộ máy” – ông Vũ Trọng Kim nói.
Theo Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam, những kết quả quan trọng trên có được chính là nhờ Trung ương đã đặt đúng vị trí Ban Chỉ đạo trực thuộc Bộ Chính trị, từ đó tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều chủ trương, chính sách thể hiện tính quyết đoán cao, sáng suốt, kịp thời. Những văn bản này bám sát thực tiễn, nhanh chóng đi vào cuộc sống, nhất là công tác cán bộ và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân.
Bằng cách làm khoa học, bài bản, có chiến lược, phương châm, phương pháp sáng tạo, đúng quyền hạn và trách nhiệm, không “lấn sân” và cũng không làm thay các cơ quan khác, Ban Chỉ đạo Trung ương đã làm tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ mà Đảng giao đó là chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát cụ thể, chặt chẽ các công việc với một bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Cùng với đó, nhờ có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng với sự sát sao, gương mẫu, có tâm, có tầm của Tổng Bí thư Nguyễn Trọng đã chỉ đạo công cuộc “đốt lò”, làm nên những chuyển biến hết sức to lớn khiến công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở thành một “phong trào, thành xu thế không ai có thể đứng ngoài cuộc”.
“Thắng lợi bước đầu trong đấu tranh chống tham nhũng cũng chính là thắng lợi của nhân dân, vì nhân dân đã đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi cũng như cổ vũ, động viên công cuộc này. Những nhà quan sát trên thế giới cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có một quyết tâm lớn, đã giành lại uy thế, danh dự và củng cố lòng tin của người dân vào chính quyền, vào sự lãnh đạo của Đảng” – ông Vũ Trọng Kim nhấn mạnh và cho rằng, trong 10 năm qua, từ thực tiễn, đòi hỏi của nhân dân và yêu cầu của sự phát triển, Việt Nam đã xây dựng được hình mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
“Với chúng ta, mô hình Ban chỉ đạo hiện nay xứng đáng được tồn tại, xứng đáng được cổ vũ và xứng đáng được nêu tên trong phương thức đấu tranh của các Đảng cầm quyền” – ông Kim nói.
Sức nóng của “lò lửa” chống tham nhũng đã truyền xuống các địa phương
Trong 10 năm qua, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.
Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Trong khi cả nhiệm kỳ Đại hội XII, số lượng cán bộ Trung ương quản lý bị xem xét xử lý kỷ luật là 113 người.
Nhất là đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp như vụ án xảy ra tại công ty Việt Á, vụ “Đưa, nhận hối lộ” xảy ra tại Cục lãnh sự, Bộ Ngoại giao và một số đơn vị liên quan; vụ án xảy ra tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, vụ “thao túng thị trường chứng khoán” tại Công ty cổ phần tập đoàn FLC… Qua đó khởi tố nhiều cán bộ diện Trung ương quản lý như cựu Chủ tịch Hà Nội Chu Ngọc Anh, cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cùng nhiều sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang….
Công tác thu hồi tài sản tham nhũng có chuyển biến tích cực, cơ quan thi hành án dân sự các cấp đã thu hồi 61.000 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 34,7%. Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã thu hồi được gần 50.000 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 41,3%.
Có thể thấy, công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay đang được thực hiện trên diện rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, làm rõ bản chất tham ô, tham nhũng mang tính chất tập thể, có tổ chức, có sự cấu kết chặt chẽ giữa cán bộ nhà nước với các đối tượng bên ngoài nhà nước.
Theo Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học, trong kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các cơ quan đã có sự phối, kết hợp, khớp nối với nhau rất chặt chẽ, nhịp nhàng.
“Qua đó, khắc phục cơ bản tình trạng như Tổng Bí thư thường nói là “cua cậy càng, cá cậy vây” và cũng như Tổng Bí thư nói, giờ đây, một cơ quan nào trong các cơ quan, lực lượng đấu tranh chống tham nhũng mà không muốn làm thì cũng không được” – ông Nguyễn Thái Học cho biết.
Cùng với sự ráo riết, quyết liệt của Trung ương, đến nay, sức nóng của “lò lửa” chống tham nhũng đã được truyền xuống các địa phương, tạo nên sự chuyển biến rất tích cực trong việc chủ động phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Nhiều nơi đã bắt nhịp được yêu cầu chỉ đạo của Trung ương, thành lập Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh, ban hành kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo, từ đó dần khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Tính đến ngày 27/6/2022, đã có 34 tỉnh, thành phố quyết định thành lập Ban Chỉ đạo.
Nhấn mạnh cuộc chiến chống “giặc nội xâm” là một quá trình lâu dài, phức tạp, ông Vũ Trọng Kim cho rằng, với mô hình, cách làm bài bản, hiệu quả như vừa qua của Ban Chấp hành Trung ương, tới đây, các Ban chỉ đạo ở địa phương cần tích cực học tập những kinh nghiệm quý báu đó, đồng thời chỉ đạo sâu sát, kịp thời, chặt chẽ các công việc; phân công, phân nhiệm từng thành viên rõ ràng, có chế độ kiểm tra trách nhiệm của từng người. Hơn ai hết, thành viên Ban chỉ đạo phải gương mẫu, trong sạch, không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào, phải có đức, có tài trong thực hiện công tác tham mưu, quản lý, tổ chức lãnh đạo các công việc chuyên môn.
“Thành viên Ban chỉ đạo phải thành thục về chuyên môn, với nhân dân phải sâu sát, với công việc của Đảng phải trung thành, vì mục tiêu cao nhất là lợi ích của nhân dân. Thành viên nào không đạt được yếu tố trên thì cần sớm đưa ra tổ chức, nếu không sẽ làm ảnh hưởng tới Ban chỉ đạo” – ông Vũ Trọng Kim cho biết./.

KHỦNG HOẢNG NĂNG LƯỢNG DIỄN RA TRÊN KHẮP THẾ GIỚI


Cuộc khủng hoảng ở Ukraine và những diễn biến chính trị ở phương Tây đã gây ra khủng hoảng năng lượng khắp thế giới, châu Á không phải là ngoại lệ.
Thế nhưng, khủng hoảng năng lượng ở châu Á sẽ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các nước trong khu vực này, mà còn có thể tác động tới phần còn lại của thế giới.
Những diễn biến mới nhất trên thị trường năng lượng châu Á - TBD
Giá nhập khẩu năng lượng đang tăng đột biến trên toàn cầu, với giá than cao gấp 5 lần và giá khí đốt tự nhiên cao gấp 10 lần so với năm 2021. Một số quốc gia châu Á, đặc biệt là những nước đang phát triển phụ thuộc vào nhập khẩu bị ảnh hưởng ở mức chưa từng có trong cuộc khủng hoảng năng lượng này.
Mùa hè năm nay, Sri Lanka đang ở trong cơn khát năng lượng trầm trọng. Cảnh tượng đã quen thuộc trong vài tháng ở bất kì trạm xăng nào. Xe xếp hàng dài vài tiếng, thậm chí vài ngày để đổ đầy 1 bình xăng. Nhưng bắt đầu từ ngày 28/6, việc bán lẻ xăng dầu cũng buộc phải tạm ngừng trong khoảng 2 tuần tới. Nhiên liệu sẽ phải để dành phục vụ cho các dịch vụ thiết yếu.
Anh Emdad Hussain - Người dân Sri Lanka cho biết: "Tình hình hiện nay đang tồi tệ hơn. Nhiên liệu cạn kiệt, thậm chí những thứ cơ bản nhất như điện hoặc thực phẩm cũng thiếu".
Tại Sri Lanka, giá dầu diesel đã tăng 230% và giá xăng đã tăng 137% trong 6 tháng qua. Nhưng vấn đề lớn hơn mà Bộ trưởng Năng lượng nước này thông báo tuần trước, đó là Sri Lanka sắp hết nhiên liệu và cũng không có đủ ngoại tệ để chi trả cho việc nhập các nhu yếu phẩm. Chính phủ nước này đã tính tới việc vay 500 triệu USD từ Ấn Độ để mua thêm nhiên liệu.
Còn ở Pakistan, cuộc khủng hoảng năng lượng được dự báo sẽ còn tồi tệ hơn trong vài tuần tới. Nước này sử dụng điện năng phần lớn là từ các nhà máy chạy bằng khí đốt tự nhiên nhập khẩu. Nhưng giá cả tăng vọt trong vài tháng qua khi các nước châu Âu đi tìm các nguồn cung mới để thay thế Nga. Chính phủ Pakistan hiện chưa thể đạt được một thỏa thuận mới để nhập khí hỏa lỏng tự nhiên với giá cả phải chăng. Thiếu nhiên liệu dẫn tới mất điện triền miên.
Cô Saphia Mangi - Người dân Pakistan nói: "Để chống chọi lại cái nóng, chúng tôi giờ chỉ còn 1 cái quạt chạy bằng năng lượng mặt trời, dùng chung cho tất cả mọi người. Tới tối, cái nóng cũng không giảm".
Pakistan cũng nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ nước ngoài để sử dụng và giá hiện giờ cũng là mức giá nhập cao nhất trong 1 thập kỉ. Các quốc gia đang phát triển như Pakistan và Sri Lanka đang chịu tác động của giá cả tăng cao toàn cầu, nhưng họ cũng chịu tác động của nguồn cung năng lượng. Hai yếu tố này khiến cho khủng hoảng năng lượng ở đây trầm trọng hơn nhiều.
Tuy nhiên, không chỉ ở quốc gia nghèo, mà tình hình năng lượng ở Australia, một trong những nước có tài sản trung bình với mỗi người trưởng thành cao nhất thế giới cũng không mấy khả quan. Hôm 15/6, Cơ quan Điều hành Thị trường Năng lượng Australia thông báo đóng cửa một số thị trường điện giao ngay thuộc khu vực miền Đông và mới mở lại một phần hôm thứ 5 tuần trước.
Đây là điều chưa từng có tiền lệ để kịp thời đối phó với cuộc khủng hoảng năng lượng quốc gia đang ngày càng lan rộng. Giá bán buôn điện trong quý I/2022 tăng 141% so với cùng kỳ năm ngoái và Chính phủ Australia thúc giục các hộ gia đình cắt giảm sử dụng điện.

CẢNH GIÁC TRƯỚC “VIÊN ĐẠN BỌC ĐƯỜNG”


Những ngày qua, dư luận cả nước dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc đến thời điểm này đã có hơn 70 cán bộ ở trung ương, địa phương, lực lượng vũ trang, ngành Y tế bị kỷ luật Đảng, khởi tố, bắt giam do sai phạm liên quan đến Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á. Quá trình điều tra, làm rõ sai phạm của những cá nhân trong vụ án đang được các cơ quan tố tụng thực hiện, nhưng chắc chắn rằng, trong số họ có rất nhiều người từng là đảng viên đã không giữ được mình, sa ngã trước “viên đạn bọc đường”.
Còn nhớ, khi nói chuyện với các lực lượng trước khi vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội (1954), nhiều người thắc mắc không biết từ chiến khu về xuôi thì lương bổng, công tác sau này ra sao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung một điều chưa ai nêu ra: "Khi về xuôi thì đạo đức và nhân cách của mình phải thế nào?" Rồi Người căn dặn: "Bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy"… Soi chiếu với những gì diễn ra gần đây, đặc biệt là khi Đảng đẩy mạnh yêu cầu “tự soi”, “tự sửa” thông qua công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lời Bác dặn năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị. Bởi chỉ trong 5 năm trở lại đây, “viên đạn bọc đường” thông qua các hình thức như: Hoa hồng, chiết khấu, hối lộ, phí bôi trơn, cổ phiếu ưu đãi… đã là “phép thử” và làm nhiều cán bộ “gục ngã” do không đủ bản lĩnh vượt qua ma lực của đồng tiền, của vòng danh lợi.
Trước “đại án” chưa có điểm dừng liên quan đến Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á, nhiều cán bộ, nguyên cán bộ cấp cao, cựu tướng lĩnh cũng đã bị “viên đạn bọc đường” xuyên thủng, bị kỷ luật Đảng nghiêm khắc, đồng thời phải chịu xử lý hình sự, như: Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Hữu Tín, Trần Vĩnh Tuyến, Nguyễn Văn Hiến, Văn Hữu Chiến, Trần Văn Minh, Nguyễn Văn Tình, Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa… Bài học từ những cá nhân sai phạm nêu trên chính là họ đã để cho chủ nghĩa cá nhân lấn lướt dẫn đến mù quáng. Sự sa ngã của họ không chỉ là nỗi đau cho bản thân, gia đình, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng trong vai trò là chính đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Để xảy ra những vụ việc như vậy còn do nguyên nhân đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII): Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp.…
Phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri thành phố Hà Nội ngày 23-6 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định rõ quan điểm xử lý nghiêm cán bộ sai phạm là để làm bài học răn đe chung, cảnh tỉnh cho những người khác không vi phạm; đúng như Bác Hồ từng dạy là vì sự nghiệp chung, không thể không làm, “cắt một vài cành sâu để cứu cả cây”… Khi xử lý các cán bộ sa ngã, đáng buồn là không ít người đến khi bị kỷ luật, xử lý hình sự mới nhận ra sai lầm và muộn màng nói lời cay đắng "nếu như”, “giá mà”.
Do vậy, điều quan trọng nhất lúc này là mỗi cán bộ, đảng viên phải tự tu dưỡng đạo đức, tạo sức đề kháng, ngăn chặn, vô hiệu hóa những “viên đạn bọc đường” trong chính công việc hằng ngày, bằng cách tuân thủ nghiêm quy trình công tác, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan. Không chỉ bản thân làm tốt mà cần tuyên truyền, giáo dục cấp dưới, đồng nghiệp, đặc biệt là người thân trong gia đình làm theo để họ không trở thành “gót chân Asin”…
Có thể thấy trong đời sống, nhân dân luôn nhìn vào cán bộ, đảng viên để nghe theo, làm theo. Vì thế, mỗi đảng viên muốn nêu gương thì nói phải đi đôi với làm trên cả ba mặt: Với người, với mình, với việc. Theo đó, đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, đặt việc công lên đầu. Đối với mình, không được tự cao, tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, mà phải luôn học tập cầu tiến, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa điều dở. Đặc biệt, người có địa vị càng cao thì càng phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình, càng phải ra sức hoàn thiện về đạo đức cách mạng, nhất quán giữa nói và làm...
Cùng với tăng cường, siết chặt cơ chế kiểm soát quyền lực của Nhà nước để cán bộ các cấp “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng”, mỗi cơ quan, đơn vị cần chủ động rà soát quy định, quy chế nội bộ để cán bộ, đảng viên khi nắm quyền trong tay phải nắm rõ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, không dám lạm quyền, lộng quyền, không để bị ngã gục trước cám dỗ. Những vị trí công tác “nhạy cảm” liên quan đến phê duyệt dự án, thuế, hải quan, quản lý tài sản công, quản lý tài chính… phải thường xuyên được sàng lọc, luân chuyển, tránh tình trạng cát cứ dẫn đến lạm dụng quyền, sai phạm.
Bên cạnh đó, việc đầu tư chiến lược và lâu dài cho công tác nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, chế độ đãi ngộ với đội ngũ cán bộ, đảng viên là hết sức cần thiết. Thực hiện tốt công tác này sẽ góp phần động viên, quan tâm và tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ tận tâm, tận lực cống hiến nhiều hơn và giữ vững sự liêm chính, không bị sa ngã trước “viên đạn bọc đường”.
Xét cho cùng, giá trị lớn nhất của mỗi cá nhân thể hiện qua những đóng góp của bản thân cho tập thể. Dù làm gì, công việc giản đơn hay phức tạp, thuận lợi hay khó khăn, nếu mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhớ lời Bác dạy về đạo đức cách mạng sẽ có thêm động lực để rèn luyện, học tập, làm việc tốt nhất, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém. Đó cũng chính là cách để tránh rơi vào những sai lầm, khuyết điểm. Khi mỗi cán bộ, đảng viên có sức đề kháng cao trước mọi loại "viên đạn bọc đường" sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 30/6


“ Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Điện văn gửi Ban chấp hành Đảng Dân chủ Việt Nam, ngày 30 tháng 6 năm 1947. Đây là thời điểm, sau khi nước nhà mới giành độc lập chưa được bao lâu, thực dân Pháp lại dã tâm quay lại xâm lược nước ta.
Lời dạy “Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào” có ý nghĩa thiết thực, không chỉ là yêu cầu đối với các đồng chí trong Đảng Dân chủ, mà còn suy rộng ra tất cả các đồng chí cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, mỗi người phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào. Phải luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân; phải gương mẫu, đoàn kết, chung sức, đồng lòng vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng, tiếp tục đưa đất nước phát triển tiến lên. Thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, tích cực, tự giác trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, góp phần cùng toàn Đảng thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày nay, trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị, không những là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động mà còn là yêu cầu đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đề cao trách nhiệm, phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, gương mẫu đi đầu trong thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thật sự là những cán bộ có tâm, có tầm, vì nước, vì dân, là tấm gương sáng để quần chúng nhân dân học tập và làm theo.
Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mỗi cán bộ, chiến sĩ càng phải ra sức học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác. Trên từng cương vị, chức trách được giao, mỗi quân nhân phải nâng cao nhận thức, kiên định lập trường cách mạng; không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua khó khăn, gian khổ; ra sức học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Càng trong khó khăn, gian khổ bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải được khẳng định, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
123
17 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ