KỲ TÍCH VIỆT NAM TRONG 60 NGÀY QUYẾT TỬ BẢO VỆ THỦ ĐÔ
Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TOẢ THÔNG TIN TÍCH CỰC
TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG GẶP MẶT CÁC ĐẠI BIỂU THANH NIÊN QUÂN ĐỘI
NHẬN DIỆN ĐÚNG MỤC ĐÍCH ĐẢNG TA LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC TA LÀ VÌ NHÂN DÂN!
NHẬN DIỆN ĐÚNG ĐỂ PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA!
SÁNG NGỜI PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG LŨ, BÃO!
KHÔNG THỂ CỔ XUÝ HÀNH VI NÚP BÓNG TỰ DO ĐỂ MIỆT THỊ CÁ NHÂN CỘNG ĐỒNG
Sự bùng nổ mạnh mẽ của mạng xã hội những năm gần đây đã tăng thêm tiện ích để mọi người thể hiện quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, mặt trái của mạng xã hội là các phát ngôn lệch chuẩn, các thông tin giả, độc hại được lan truyền ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.
Điều đáng nói là một số hành vi sai trái trên mạng xã hội bị phát giác và được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, song các thế lực thù địch cố ý vin vào để chống phá.
Luận điệu sai trái, xuyên tạc tự do ngôn luận trên mạng xã hội
Hồi tháng 3/2022, Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói là dù việc khởi tố điều tra, tạm giam với bà Nguyễn Phương Hằng là thực hiện theo các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và được thông báo công khai trên các phương tiện truyền thông, song một số tổ chức, cá nhân lại tìm cách “bẻ lái, xoay chiều”. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái rồi quy chụp “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”… Số này đưa ra các bài viết tô vẽ, đánh bóng hình ảnh bị can Nguyễn Phương Hằng như một thần tượng, từ đó hướng lái dư luận rằng ở Việt Nam, hễ ai “cứ nổi tiếng trên mạng xã hội thì sẽ bị “diệt”!
Trước đó, sau khi phiên toà xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm kết thúc, trang BBC giật tít: “Vụ xử “Báo Sạch”: Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù”. Bài báo dẫn lời Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch), ông Phil Robertson nói rằng “Việt Nam không nên coi truyền thông là kẻ thù của nhà nước, việc bỏ tù thêm nhiều nhà báo công dân sẽ không ngăn được người dân lên tiếng, hoặc yêu cầu cải cách ở Việt Nam”. Từ đó kêu gọi “Chính phủ nên công nhận các nhà báo công dân và truyền thông độc lập là đồng minh của công tác quản trị nhà nước tốt”!
Việc xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với những cá nhân vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xử phạt được thực hiện kịp thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
Chẳng hạn, ngày 22/8/2022, Công an tỉnh Lâm Đồng có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H.N.M, chủ tài khoản TikTok H.M số tiền 10 triệu đồng do người này đăng clip miệt thị người miền Trung. Dư luận cho rằng, những lời lẽ H.N.M đưa ra là không có cơ sở nhưng đã gây hiệu ứng mạng nguy hiểm, nội dung trong video đã thể hiện sự phân biệt đối xử, kỳ thị vùng miền, tạo tâm lý đố kỵ, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, đi ngược với tinh thần xây dựng nếp sống văn hoá, đoàn kết toàn dân. Điều đáng nói là dù việc xử phạt đã được tiến hành công khai và đúng quy định pháp luật, người vi phạm cũng thừa nhận hành vi sai trái, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội nhưng một số kênh thông tin lại “bẻ lái”, cho rằng việc đăng clip như vậy “là cần thiết” và việc cơ quan chức năng xử phạt H.N.M là “bịt miệng người dân, trấn áp vô lý”!
Đặc biệt, đối tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá là một số cá nhân nổi tiếng có lượt người theo dõi, tương tác cao trên các nền tảng mạng xã hội. Khi những phát ngôn gây sốc, lệch chuẩn, những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội gây bức xúc trong dư luận được cơ quan chức năng xử lý theo luật định, họ lại tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho những hành vi sai trái đó. Đồng thời, họ đưa ra luận điệu bóp méo, bôi đen bức tranh hiện thực về tình hình tự do ngôn luận ở Việt Nam, công kích cơ quan chức năng, phủ nhận hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng.
Mục đích của các thế lực thù địch là đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế.
Quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội không thể bất tuân pháp luật
Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung.
Không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000 đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác
Ngay như ở một số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật. Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn, trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông.
Không chỉ mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ. Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016.
Tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
Theo đó, luật pháp quốc tế khẳng định quyền tự do ngôn luận không phải là tự do vô hạn, bất tuân pháp luật; trong một số trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh, ở các quốc gia tự do ngôn luận bị giới hạn. Từ thực tế trên cho thấy, không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối trong bất cứ chế độ chính trị nào, các quốc gia đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung; những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận mà gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc đều bị xử lý.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận của người dân được thực thi nghiêm túc và toàn diện, các luật, văn bản dưới luật về tự do ngôn luận đã cụ thể hóa Hiến pháp, ngày càng được hoàn thiện để vừa bảo đảm quyền của công dân, vừa giúp quyền đó thực hiện trên cơ sở luật pháp. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nghiêm cấm những hành vi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cho tổ chức, cá nhân khi tham gia mạng xã hội có những ứng xử phù hợp.
Để lành mạnh hóa môi trường mạng xã hội, góp phần thúc đẩy, bảo đảm tự do ngôn luận của các tổ chức, cá nhân, điều cần thiết là mỗi người dân cần nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, nêu cao ý thức trách nhiệm khi ứng xử trên mạng xã hội, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, phản bác các âm mưu, thủ đoạn sai trái về tự do ngôn luận ở Việt Nam.
Báo CAND
CHƠI VỚI MỸ PHẢI CHẤP NHẬN "BẠN KHÔNG BẰNG TIỀN"!
ẤN ĐỘ HOÀN THÀNH SẢN XUẤT, ĐƯA VÀO SỬ DỤNG TẦU SÂN BAY ĐẦU TIÊN
Ấn Độ vừa đưa vào biên chế hải quân chiếc tàu sân bay đầu tiên do nước này tự sản xuất có tên là INS Vikrant, đánh dấu bước phát triển mới trong ngành công nghiệp quốc phòng của quốc gia Nam Á này.
Theo Tạp chí Foreign Policy, năm 1961, Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên trong Thế giới thứ ba mua và vận hành một tàu sân bay, đó là con tàu lớp Majestic mua của Anh. Con tàu đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh Bangladesh năm 1971, được sử dụng để phong tỏa mọi hoạt động vận chuyển giữa các vùng phía Đông và phía Tây của Pakistan.
Hải quân Ấn Độ kể từ đó đã nỗ lực liên tục duy trì các lực lượng đặc nhiệm bao gồm các tàu khu trục, khinh hạm, tàu ngầm và các tàu hộ vệ, tạo thành một hạm đội với tàu sân bay làm chủ lực. Tuy nhiên, các lực lượng đặc nhiệm này luôn phải dựa vào các tàu sân bay và máy bay mua của nước ngoài.
![]() |
| Tàu sân bay INS Vikrant. Ảnh: Telangana Today |
Bởi thế mà sự ra đời của INS Vikrant, hàng không mẫu hạm đầu tiên do Ấn Độ tự chế tạo, có thể được coi là bước đột phá đối với ngành công nghiệp quốc phòng nước này. Với cột mốc quan trọng này, Ấn Độ trở thành nước thứ 5 trong danh sách các quốc gia có năng lực thiết kế và chế tạo tàu sân bay gồm: Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh.
INS Vikrant do hải quân Ấn Độ thiết kế và được đóng tại Nhà máy đóng tàu Cochin, với chi phí khoảng 2,5 tỷ USD. Nó có thể mang theo thủy thủ đoàn 1.600 người và vận hành phi đội gồm 30 máy bay chiến đấu.
INS Vikrant, trong tiếng Phạn có nghĩa là “mạnh mẽ” hoặc “can đảm”, dài 262m, rộng 60m vừa được ra mắt đầu tháng 9. Theo Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, sự ra đời của INS Vikrant là một ví dụ về nỗ lực của chính phủ nhằm thúc đẩy khả năng tự chủ trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và nâng cao sức mạnh hải quân Ấn Độ: “Ngày nay, an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là một ưu tiên quốc phòng lớn của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi đang làm việc theo mọi hướng, từ tăng ngân sách cho hải quân đến nâng cao năng lực của lực lượng này”.
Hàng không mẫu hạm 47.400 tấn này sẽ vận hành đầy đủ vào cuối năm 2023, sau khi trải qua các cuộc thử nghiệm cất hạ cánh với máy bay MiG-29K. Ấn Độ cũng có kế hoạch trang bị cho hàng không mẫu hạm này hơn 20 máy bay chiến đấu mới, gồm Rafale-M của hãng Dassault (Pháp) và F/A-18 Block III Super Hornet do Boeing chế tạo.
Theo Bộ Quốc phòng Ấn Độ, hơn 75% chi tiết của INS Vikrant được sản xuất trong nước, với sự tham gia của một số tập đoàn công nghiệp và hơn 100 doanh nghiệp cung cấp thiết bị và máy móc. Thời gian sản xuất bị kéo dài trong 6 năm đã khiến INS Vikrant có giá thành tăng gấp 6 lần, lên tới 200 tỷ rupee (2,5 tỷ USD).
Hiện tại, trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, hải quân Trung Quốc đang sở hữu hạm đội tàu chiến lớn nhất khu vực, với lực lượng chiến đấu ước tính khoảng 350 tàu các loại. Năm 2012, Trung Quốc đưa vào vận hành tàu Liêu Ninh, hàng không mẫu hạm đầu tiên do nước này tự chế tạo.
Kể từ đó, Bắc Kinh đã mở rộng đáng kể năng lực tác chiến của lực lượng hải quân. Tàu sân bay thứ ba của Trung Quốc có tên gọi Phúc Kiến hiện đang được thử nghiệm vận hành trên biển.
Một trong những cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Mỹ hiện sở hữu khoảng 355 tàu chiến, bao gồm tàu sân bay, tàu khu trục, tàu ngầm... Bộ Quốc phòng Mỹ ước tính lực lượng này sẽ tăng lên 420 tàu vào năm 2025 và 460 tàu vào năm 2030.
Chưa kể INS Vikrant thì hạm đội hải quân của Ấn Độ hiện bao gồm 10 tàu khu trục, 12 khinh hạm, 20 tàu hộ tống và 2 tàu sân bay. Ngoài một tàu sân bay lớp Majestic mua của Anh, chiếc còn lại INS Vikramaditya do Liên Xô đóng vào năm 1987 và được Ấn Độ mua lại năm 2004 với giá 2,35 tỷ USD.
Thành công trong việc chế tạo hàng không mẫu hạm INS Vikrant đánh dấu một chương mới trong việc hiện thực hóa tham vọng tự chủ của Ấn Độ trong lĩnh vực sản xuất quốc phòng, đồng thời gia tăng sức mạnh của hải quân Ấn Độ nhờ tầm hoạt động trên biển được mở rộng.
Tuy nhiên, INS Vikrant cũng sẽ phải đối mặt với một số trở ngại trước mắt, đó là khả năng tương thích trong công nghệ do thám và giám sát hiện đại, cùng với vũ khí phòng không như tên lửa chống hạm vốn được trang bị cho các tàu sân bay.
PHAO
ĐỘNG VIÊN QUỐC PHÒNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, động viên quốc phòng luôn được ông cha ta chú trọng, nhằm chuẩn bị đất nước về chính trị - tinh thần, nhân lực, vật lực, sẵn sàng đối phó và giành thắng lợi trong chiến tranh. Các triều đại phong kiến Việt Nam rất chú trọng chuẩn bị nguồn lực động viên ngay từ thời bình; kết hợp giữa sản xuất, phát triển kinh tế với xây dựng quân đội; chú trọng xây dựng lực lượng thường trực với xây dựng lực lượng dự bị và huy động toàn dân đánh giặc. Thời Đinh và Tiền Lê, chủ trương gắn “việc binh” với “việc nông”, thực hiện kế sách chăm lo xây dựng đất nước để “quốc thịnh, binh cường”. Thời Lý - Trần, thực hiện sách lược “tận dân vi binh”, “cử quốc nghênh địch” (toàn dân là lính, cả nước đánh giặc) và chủ trương “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh” - thời bình là nông dân, khi có chiến tranh được huy động để bổ sung cho quân đội. Nhìn chung, các triều đại phong kiến thường xác định dân binh (hương binh) là một bộ phận của lực lượng vũ trang, là tổ chức quân sự cơ sở ở làng xã, có nhiệm vụ chủ yếu là canh phòng, bảo vệ trị an và sẵn sàng tham gia đánh giặc khi đất nước có chiến tranh. Do đó, vấn đề động viên toàn dân, huy động mọi nguồn lực của đất nước cho chiến tranh luôn được nhà nước phong kiến coi trọng và chính sách “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh” trở thành quốc sách để giữ nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác động viên quốc phòng được tiến hành bằng nhiều biện pháp phong phú nên đã huy động được tinh thần, nguồn lực toàn dân, toàn diện để đánh giặc. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ra lời kêu gọi đồng bào trên khắp cả nước “Ủng hộ Việt Minh”, Chính phủ ra sắc lệnh “Đảm phụ quốc phòng” bằng lương thực hoặc tiền, mỗi người góp 05 đồng và thực hiện trưng mua gạo, hàng hóa, tạm vay tiền, vàng của nhân dân, vận động gây quỹ quốc phòng, quỹ độc lập và tuần lễ vàng,... nên đã động viên nhân dân cả nước với tinh thần, ý chí “quyết chiến, quyết thắng”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “xe chưa qua nhà không tiếc”, v.v. Nhờ đó, hàng triệu tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, hàng hóa,... đã được tổ chức khai thác và dự trữ trên các chiến trường, bảo đảm kịp thời cho toàn dân đánh giặc, giành thắng lợi vẻ vang trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Ngày nay, trên cơ sở quán triệt và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, đề án,... của Đảng, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, “thế trận lòng dân” và các nguồn lực động viên quốc phòng được xây dựng ngày càng vững chắc. Hệ thống pháp luật, các chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là các cơ chế, chính sách động viên quốc phòng được ban hành và triển khai thực hiện tương đối đồng bộ. Việc phát triển kinh tế - xã hội từng bước được kết hợp chặt chẽ với tăng cường quốc phòng, an ninh. Công nghiệp quốc phòng, an ninh được tập trung đầu tư phát triển, sản xuất được nhiều loại phương tiện, thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ trợ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Các cơ sở động viên công nghiệp được đầu tư, xây dựng, duy trì sản xuất, sửa chữa, vừa đáp ứng yêu cầu phục vụ dân sinh và nhu cầu quốc phòng, an ninh trong thời bình, vừa sẵn sàng động viên trong các tình huống quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, việc tổ chức quán triệt, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về động viên quốc phòng còn có những hạn chế, bất cập. Đó là, một số lĩnh vực, địa bàn, việc kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ, hiệu quả, nên nguồn lực động viên quốc phòng của một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự vững chắc. Đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ một số địa phương chưa tương xứng với tiềm năng, tốc độ phát triển kinh tế; khả năng dự trữ và huy động các nguồn lực cho quốc phòng có ngành, địa phương hạn chế. Tình trạng di dân tự phát, tội phạm, tệ nạn xã hội, an ninh, trật tự ở một số địa bàn có thời điểm chưa được kiểm soát, quản lý chặt chẽ, ảnh hưởng đến động viên quốc phòng, nhất là xây dựng “thế trận lòng dân” của khu vực phòng thủ, v.v.
Để chuẩn bị tiềm lực của đất nước, sẵn sàng đối phó hiệu quả với mọi tình huống quốc phòng, an ninh, đòi hỏi các cấp, ngành, lực lượng từ Trung ương đến địa phương, cả hệ thống chính trị và toàn dân phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc, triệt để các nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, đề án,... của Đảng trong thực hiện động viên quốc phòng; trong đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước đối với công tác động viên quốc phòng. Đây là giải pháp cơ bản, xuyên suốt, quan trọng hàng đầu, quyết định đến kết quả xây dựng và huy động nguồn lực động viên, phát huy sức mạnh tổng hợp của đát nước, các tổ chức, cá nhân tham gia công tác động viên quốc phòng. Để thực hiện giải pháp này, cần đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy đảng, hệ thống chính trị, nhất là vai trò của tổ chức đảng trong các bộ, ngành Trung ương, địa phương đối với nhiệm vụ xây dựng và huy động nguồn lực động viên cho quốc phòng; nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền giáo dục nhiệm vụ động viên đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng; phân công trách nhiệm cho từng cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên chịu trách nhiệm theo dõi, chỉ đạo từng nội dung, từng lĩnh vực cụ thể về công tác động viên quốc phòng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoàn thiện cơ chế, chính sách động viên quốc phòng; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ động viên quốc phòng; đồng thời, tăng cường sự quản lý, điều hành của Nhà nước thông qua việc nâng cao chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về động viên quốc phòng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước thông qua hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; coi trọng hoàn thiện và thực thi chính sách động viên quốc phòng. Nâng cao chất lượng giáo dục chấp hành pháp luật động viên quốc phòng cho các đối tượng. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác động viên quốc phòng. Củng cố, tăng cường hệ thống công cụ, phương tiện quản lý nhà nước về động viên quốc phòng, cải cách hành chính, đầu tư thích đáng cho công tác xây dựng, huy động nguồn lực động viên. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và công tác phối hợp của các cơ quan Nhà nước trong xây dựng và huy động nguồn lực động viên quốc phòng.
Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và hệ thống chính trị, nhằm huy động cao nhất vai trò, trách nhiệm, khả năng của các tổ chức và nhân dân trong thực hiện công tác động viên quốc phòng. Động viên cho quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Do đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các bộ, ngành Trung ương, địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị trong xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng trên cơ sở kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động tổ chức, chuẩn bị chu đáo, toàn diện công tác động viên quốc phòng ngay từ thời bình, làm cơ sở để huy động kịp thời mọi nguồn lực của đất nước đáp ứng yêu cầu từng trạng thái quốc phòng. Kết hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành Trung ương, địa phương trong xây dựng và huy động nguồn lực động viên. Trong đó, Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đóng vai trò trung tâm, nòng cốt.
Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách động viên quốc phòng. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách là cơ sở pháp lý cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân thực hiện nhiệm vụ động viên quốc phòng đúng pháp luật, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước về xây dựng và huy động các nguồn lực động viên cho quốc phòng. Hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật, cơ chế vận hành, các chính sách bảo đảm cho công tác động viên quốc phòng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và ban hành khá đầy đủ. Tuy nhiên, các yếu tố chi phối đến công tác động viên quốc phòng luôn vận động phát triển không ngừng, những quy định của pháp luật và chính sách đang vận dụng có những quy định không còn phù hợp trong thực tiễn. Vì vậy, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và các tổ chức có liên quan cần tiếp tục chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách động viên quốc phòng. Trong đó, tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh; đầu tư xây dựng các nguồn lực động viên, cơ chế hoạt động của các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp trong động viên quốc phòng. Quá trình thực hiện, cần chủ động rà soát, nghiên cứu các văn bản, chính sách hiện hành; tổ chức đánh giá cụ thể mức độ phù hợp của từng văn bản, chính sách và những hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với quy định pháp luật so với hoạt động thực tiễn đặt ra cho công tác động viên quốc phòng. Cơ quan chuyên môn phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan, nghiên cứu, đề xuất, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, bảo đảm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ động viên quốc phòng trong tình hình mới.
Bốn là, nâng cao hiệu quả kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với chuẩn bị nguồn lực động viên quốc phòng. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh là chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước ta. Trong đó, sự kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với chuẩn bị nguồn lực động viên quốc phòng là nội dung quan trọng trong chuẩn bị nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Sự kết hợp đó được thể hiện thông qua việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với kế hoạch động viên quốc phòng và bố trí thế trận quốc phòng. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống của nhân dân gắn với tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật, hậu cần, tài chính, khoa học - công nghệ vững chắc trên từng địa phương, địa bàn chiến lược. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với điều chỉnh phân bố dân cư, xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ; chuẩn bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông sẵn sàng phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng. Kết hợp trong chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện của từng địa phương để bảo đảm khả năng sẵn sàng chuyển sang các trạng thái quốc phòng một cách chủ động, kịp thời, an toàn theo kế hoạch thống nhất. Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng vững mạnh trên các địa bàn trọng điểm, vừa thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho nhân dân trên địa bàn trọng yếu, biên giới, hải đảo, vừa tăng cường tiềm lực, lực lượng quốc phòng, sẵn sàng bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng khi có tình huống.
PHAO
ĐÀI LOAN GỒNG MÌNH TRƯỚC SỨC ÉP QUÂN SỰ
Cơ quan Quốc phòng Đài Loan cho biết, việc Trung Quốc gần đây tăng cường các cuộc tuần tra gần Eo biển này kể từ tháng 8 đang đặt "gánh nặng" lên hạm đội tàu khu trục cũ kĩ vốn đang phải vật lộn để duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Trong một báo cáo nhằm gia tăng ngân sách cho một lớp khinh hạm mới, Cơ quan quốc phòng Đài Loan cho biết số lượng tàu Trung Quốc thường xuyên tuần tra ở các vùng biển gần Đài Loan đã tăng gấp đôi lên từ 4 đến 5 chiếc mỗi ngày.
"Hải quân phải cử lực lượng tương ứng để giám sát mỗi ngày, và lực lượng bổ sung để ứng phó tùy thuộc vào mức độ đe dọa, điều này đang gây ra gánh nặng cho một số tàu cũ," theo Cơ quan này.
PHAO
















