Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

Thực tiễn hoạt động mạng xã hội & âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam

 


Mạng xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, có thể phân thành hai loại: 

Thứ nhất, mạng xã hội của Việt Nam do các doanh nghiệp trong nước cung cấp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam không thiếu các mạng xã hội xưng danh là mạng xã hội Việt, nhưng rất ít trong số đó tồn tại được quá một năm trước khi phải khai tử. Các mạng xã hội Ở Việt Nam, đặc biệt là các trang mạng xã hội đã được cấp phép hoạt động phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Số ít trường hợp để xảy ra sai phạm và nội dung vi phạm chủ yếu là do thành viên chia sẻ, trao đổi các nội dung vi phạm về thuần phong mỹ tục, dung tục và phản cảm.

Thứ hai, mạng xã hội của nước ngoài, do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, điển hình như: Facebook, Google, Youtube, Twitter, Microsoft... cung cấp vào Việt Nam, được người Việt Nam lựa chọn sử dụng nhiều nhất hiện nay là Facebook và Youtube. Theo báo cáo của Google, Việt Nam là một trong nhóm 10 nước có lượng người dùng Youtube vào loại cao trên thế giới. Cả hai loại mạng xã hội này đều hoạt dộng và cạnh tranh lẫn nhau ở Việt Nam.

Trong môi trường phát triển số hóa mạnh mẽ như ngày nay, mạng xã hội cũng như “con dao hai lưỡi”. Không thể phủ nhận tiện ích mà mạng xã hội đem lại cho con người trong đời sống hiện đại; thế nhưng, đây lại là một thế giới ảo, thật giả lẫn lộn, có những điều tốt nhưng có cả “thuốc độc”. Tính chất thật, giả lẫn lộn không chỉ trên phương diện cá nhân, đối với từng con người, mà còn đối với phương diện xã hội, càng đặc biệt trở nên nguy hiểm khi nó được sử dụng vào các hoạt động chính trị. Với khả năng tương tác và tính lan truyền nhanh, làm cho sự thật giả của những thông tin trên mạng xã hội càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, vấn đề không phải là cấm mạng xã hội, nhưng mạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái mà chúng ta cần phải hạn chế, quản lý, đặc biệt là sự lợi dụng mạng xã hội để công kích, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Một hệ thống luật pháp đầy đủ để quản lý và điều chỉnh hành vi những người sử dụng mạng xã hội và thiết bị trực tuyến là đòi hỏi bức thiết của tình hình.

Thực tế mạng xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, tình trạng mất an toàn thông tin mạng xã hội diễn biến rất phức tạp, mang tính phổ biến; ý thức bảo đảm an toàn thông tin của một số cá nhân, tổ chức trong sử dụng công nghệ thông tin chưa được đề cao; ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia, về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng chưa thật đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa cao… Các hành vi tiêu cực như: Tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho rằng mạng xã hội là môi trường ảo, nên có thể tự do phát ngôn, tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm.

Mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét tràn lan; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nhiều thông tin không chính thống trên mạng xã hội đã làm nhiễu loạn, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, không thể chỉ ngăn cấm mạng xã hội bằng những mệnh lệnh hành chính, mà phải biết tận dụng mặt tích cực của nó để định hướng dư luận đến với cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái sai, cái xấu. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời đến với người dân. 

Trong tình hình mới, không gian mạng sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng còn triển khai hướng tiến công “mềm” thông qua việc đẩy mạnh việc sử dụng các mạng thông tin, mạng quốc tế để tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khó lường. Trong đó đáng lưu ý là, việc Mỹ đang lợi dụng những cơ hội của toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện chiến lược “Mỹ hoá" toàn cầu. Sự du nhập lối sống phương Tây từ việc mở rộng kết nối Internet đang thách thức sự kiểm soát của Nhà nước ta; sự suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào khả năng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế; sự lẫn lộn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, phai nhạt ý thức quốc gia dân tộc, suy giảm ý thức quốc phòng trong một bộ phận nhân dân, trước hết là một bộ phận trong thế hệ trẻ là không tránh khỏi.

Với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự, chúng triệt để lợi dụng những vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", "dân chủ", "nhân quyền"…; kết hợp "diễn biến hoà bình" với bạo loạn lật đổ chống phá từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi cần thiết và có điều kiện thì phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn. “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”[1].

Đặc biệt, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Chúng tuyên truyền rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng cho rằng con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là “mù mờ”, là “không tưởng”, hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân giàu, nước mạnh”. Chúng cố tình tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; đối lập một cách sai lầm chủ quyền dân tộc với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền luận điệu thù địch cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ý thức hệ cao hơn chủ quyền dân tộc”…

Các thế lực thù địch thông qua việc phát tán các ấn phẩm, tài liệu sách, báo, băng hình trên các phương tiện thông tin, trên các trang mạng xã hội,... nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc, chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Chúng vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm cho cách mạng nước ta có lúc gặp khó khăn, đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm bôi xấu, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Được sự hậu thuẫn mạnh của các thế lực phản động bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng. Họ cho rằng, đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên lý về giai cấp, đấu tranh giai cấp, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội… Các thế lực thù địch đã và đang điều chỉnh một số vấn đề về chủ trương, giải pháp sử dụng các thủ đoạn “mềm, ngầm, sâu, điểm”, mở rộng địa bàn hoạt động, nhất là các địa bàn trọng yếu; tích cực móc nối, liên kết các nhóm, tổ chức phản động và tìm mọi cách xâm nhập vào nội bộ ta (nhất là các cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể) nhằm tạo dựng “ngọn cờ” chuẩn bị thời cơ gây bạo loạn, ly khai ở một số vùng hoặc nhiều vùng có tính chất độc lập để chia cắt nước ta, hy vọng tạo dựng nhà nước “tự do”, “độc lập” chịu sự chi phối của bên ngoài,... Phương thức chống phá của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí, truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi, đặc biệt là chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội.

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới “không gian mạng” mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia, dân tộc cùng nhau  hợp tác và phát triển. Các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng những ưu thế vượt trội của công nghệ số, mạng xã hội để tuyên truyền những tư tưởng độc hại; thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật quân sự, phá vỡ niềm tin và cắt đứt sợi dây liên kết giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Với sự phát triển rất sôi động và phong phú của mạng thông tin toàn cầu, thì đó lại là một "điều kiện", "thời cơ" thuận lợi để các thế lực thủ địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại như báo chí, đài phát thanh đặt ở ngoài nước, internet, các trang mạng xã hội, các blog, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn trực tiếp tiến công vào báo chí cách mạng nước ta, làm nhiễu mạng điện tử, tiến công vào những nhà báo cách mạng.

Sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt lợi dụng báo chí, mạng xã hội chống phá cách mạng nước ta, làm cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay gặp những khó khăn, thách thức mới. Trong Báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, Jon Aloisi (cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) từng viết: “Thành công lớn nhất là đã thực hiện việc đưa vào Việt Nam mạng lưới internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nằm trong chiến lược nhằm thay đổi chính thể ở quốc gia này”.

Trong tình hình mới, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam càng quyết liệt và nguy hiểm hơn. Cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng phức tạp, khó khăn. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, trong đó tập trung tuyên truyền, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những thời điểm Quốc hội thông qua các văn bản pháp luật mới; phủ nhận thành quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc chủ trương củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội; bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội; đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; làm giảm sút lòng tin của nhân dân ta đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

T3

Đấu tranh với các qua điểm sai trái trên không gian mạng.

 


Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin…

Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

T3

 

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch.

 

 

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cánh mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại phải đi đôi với chống mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch ráo riết  đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam bằng “diễn biến hòa bình”, một trong những mũi nhọn chúng tập trung chống phá là Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng sử dụng mọi thủ đoạn,tinh vi, xảo quyệt, ra sức tuyên truyền, lừa mị kích động đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ta. Ý đồ thâm hiểm của chúng  là làm cho quân đội ta thoái hóa biến chất về chính trị, chuyển sang quỹ đạo chính trị của các thế lực thù địch, phản động chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam .

Do đó, đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ta của các thế lực thù địch thực sự là một đòi hỏi khách quan, bức thiết của sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc biệt, trong điều kiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế, khu vực ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, vận hội cho phát triển toàn diện đất nước do đổi mới, hội nhập đem lại, thì mặt trái của nó cũng đang đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho sự nghiệp cách mạng nói chung, cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nhất là âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đang diễn ra hết sức quyết liệt với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, đan cài vào nhiều lĩnh vực cả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…. đã làm cho việc nhận diện, phân biệt giữa kẻ thù, đối tượng, đối tác trong các quan hệ cụ thể là hết sức khó khăn.

Thực tế cho thấy, sự chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động đã và đang tác động ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị - tinh thần, ý chí quyết tâm, niềm tin và tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, chiến sĩ. Một số cán bộ, chiến sĩ có biểu hiện lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận thức và xử lý các tình huống cụ thể; không thể phân biệt, nhận diện đúng đắn về đối tượng, đối tác trong từng mặt quan hệ cụ thể; không nhận rõ đâu là thiếu sót khuyết điểm của ta, đâu là âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.v.v. . Vì vậy, tích cực, chủ động và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ chính trị của Đảng trong Quân đội một nhiệm vụ, nội dung trọng yếu, yêu cầu cấp thiết của công tác đảng, công tác chính trị trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Mọi sự lơ là, hoặc xem nhẹ cuộc đấu tranh này đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với bản chất chính trị, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta.

Để chủ động và kiên quyết đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, trước hết đòi hỏi các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức, lực lượng trong toàn quân phải quán triệt và thực hiện triệt để quan điểm, tư tưởng chỉ đạo: tích cực, chủ động, liên tiếp tiến công, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chính trị của quân đội. Thường xuyên củng cố, tăng cường bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng lý luận, trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong Quân đội, tạo dựng màng ngăn vững chắc để ngăn ngừa mọi sự thẩm thấu bởi các thủ đoạn tấn công của kẻ thù trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng vào trong Quân đội. Tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao giác ngộ về lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về chính trị của Quân đội và xây dựng Quân đội về chính trị, làm cơ sở tiền đề khoa học cho đấu tranh bác bỏ các quan điểm thù địch, phản động, phản khoa học. Tích cực, chủ động đấu tranh vạch trần mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch; bóc trần tính chất phản động, phản khoa học của các luận thuyết “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ quân đội nhận rõ bản chất phản động, phản khoa học trong các luận thuyết của kẻ thù, đồng thời trang bị cho mọi quân nhân có đủ kiến thức toàn diện cần thiết, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm, kỹ năng, phương pháp đấu tranh chống lại các luận thuyết của kẻ thù, bảo vệ chính trị của quân đội. Đặc biệt, cần tiếp tục coi trọng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ chính ủy, chính trị viên, đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu lý luận khoa học xã hội và nhân văn quân sự, bảo đảm cho đội ngũ này thực sự là lực lượng cốt cán, đi đầu trong đấu tranh chống âm mưu, hành động chống phá của kẻ thù hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đổi mới, tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội. Tổ chức tốt các diễn đàn đấu tranh tư tưởng, lý luận, thường xuyên tổ chức các hội thảo, mạn đàm, tọa đàm trao đổi, sinh hoạt khoa học, giao ban tình hình an ninh chính trị.v.v., thông qua đó để phát huy vai trò của nhà lãnh đạo, các chuyên gia nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học, các chính trị gia cả trong và ngoài quân đội, cả ở trong nước và quốc tế để phân tích, nhận diện đầy đủ về chiến lược “diễn biến hòa bình”; về âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, đồng thời tìm tòi biện pháp tiến công, chủ động dập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Xây dựng và bỗi dưỡng lực lượng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận vững mạnh đủ sức làm nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên quyết chiến đấu làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây làm chính; tích cực xây dựng môi trường văn hóa, lối sống lành mạnh; lấy cái tích cực, tiến bộ đẩy lùi cái tiêu cực, lạc hậu; lấy tư tưởng cách mạng khoa học để loại bỏ tư tưởng phản động, phản khoa học.

Những nêu trên chưa phải là đầy đủ, nhưng đó là định hướng cơ bản, quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải được thực hiện tốt. Quân đội càng tiến lên chính quy, hiện đại, trang bị, vũ khí, phương tiện càng hiện đại, thử thách của chiến tranh càng khốc liệt, đòi hỏi quân nhân phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất tinh thần chiến đấu và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Vì thế, càng phảikiên định quan điểm của Đảng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở, tiền đề phát huy trí tuệ, tài năng của bộ đội, sức mạnh của vũ khí trang bị kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Do đó càng phải tăng cường hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong công cuộcxây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Mọi biểu hiện coi nhẹ, hạ thấp hoặc buông lỏng công tác đảng, công tác chính trị sẽ dẫn đến hậu quả nguy hại cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

 

     T3

Thực trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như: chưa đa dạng hóa các hình thức thông tin, chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của người dân; chưa tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch; chưa phát huy vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội...

Chưa hoàn toàn chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội… còn hạn chế. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc dự báo, định hướng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam ổn định và phát triển, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế còn hạn chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ, hiệu quả; do đó chưa hạn chế được nhiều tác động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Chưa phát triển nhanh, mạnh, vững chắc với cơ cấu, quy mô hợp lý các loại hình thông tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, truyền thông thế giới, đáp ứng quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngang tầm khu vực và thế giới… Vẫn còn tình trạng thông tin thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều về phân bố và khoảng cách hưởng thụ thông tin của nhân dân giữa các vùng, miền.

          T3

 

Nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

 



Một là, nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng ta.

Hai là, các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Ba là, những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ.

Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các thế lực thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau. Các lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với những đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức để chống phá cách mạng nước ta. Một số cán bộ, đảng viên (trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất khó đấu tranh. Đây là những người phản bội lại lý tưởng cộng sản và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

          T3

 

TÌM HIỂU QUY ĐỊNH MỚI CỦA ĐẢNG VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG VIÊN VI PHẠM CHÍNH SÁCH DÂN SỐ

 


Trước đây, Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII, quy định rõ: Đảng viên sinh con thứ ba (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách, sinh con thứ tư thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có)…
Trong Hướng dẫn số 04-HD/UBKT ngày 22/3/2018 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện Quy định số 102-QĐ/TW, cụ thể trong Điều 27 đã chỉ rõ 06 trường hợp đảng viên được sinh con thứ ba (không vi phạm chính sách dân số). Ngoài các đối tượng được phép sinh con thứ ba thì “Trường hợp sinh con thứ ba do mang thai ngoài ý muốn, nếu thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người mẹ (có xác nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở lên) thì thôi không xem xét, xử ký kỷ luật.
Theo Quy định của Ban Chấp hành Trung ương và hướng dẫn của UBKT Trung ương thì đảng viên sinh con thứ ba trở lên đều vi phạm chính sách dân số (ngoại trừ 06 trường hợp được phép), tuy nhiên trường hợp sinh con thứ ba ngoài ý muốn (như đã nêu ở trên) được miễn xem xét, xử ký kỷ luật( lỗi khách quan), cũng có thể hiểu là vi phạm nhưng chưa đến mức kỷ luật.
Hiện nay Quy định 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã không còn liệt kê các hành vi đảng viên sinh con thứ 3, 4, 5 bị kỷ luật mà thay vào đó là cụm từ “vi phạm chính sách dân số”, cụ thể như sau.
1) Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
- Cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hoá gia đình; tham gia các hoạt động xét nghiệm, chẩn đoán để xác định giới tính thai nhi trái quy định.
- Vi phạm chính sách dân số.
2) Trường hợp vi phạm đã kỷ luật theo Khoản (1) mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
- Tuyên truyền, phổ biến hoặc ban hành văn bản có nội dung trái với chính sách dân số, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
- Gian dối trong việc cho con đẻ hoặc nhận nuôi con nuôi mà thực chất là con đẻ nhằm sinh thêm con ngoài giá thú hoặc trái quy định.
3) Trường hợp vi phạm Khoản (1), (2) gây hậu quả rất nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
Vậy, có phải Quy định 69 đã bỏ quy định kỷ luật đảng viên sinh con thứ 3, 4, 5 hay không?
Tại Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2017 về chính sách dân số trong tình hình mới, có nêu quan điểm: “Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.”
Như vậy, theo Nghị quyết 21-NQ/TW thì đảng viên phải tiên phong, gương mẫu trong thực hiện chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, nên việc đảng viên sinh con thứ 3, 4, 5 vẫn là vi phạm chính sách dân số và bị kỷ luật theo Quy định 69-QĐ/TW./.

Cảnh giác với hành vi thu thập, mua bán trái phép thông tin cá nhân


Thời gian qua, hoạt động thu thập, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng, căn cước công dân, chứng minh nhân dân của người dân diễn biến phức tạp tại một số địa phương. Công an các đơn vị, địa phương đã triển khai nhiều biện pháp nghiệp vụ nhằm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Theo đánh giá của Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh tội phạm, nhất là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rửa tiền, đánh bạc, tổ chức đánh bạc... ảnh hưởng trực tiếp tình hình an ninh, trật tự tại các địa phương. Thủ đoạn hoạt động phạm tội nổi lên của các đối tượng là: 

- Lợi dụng sơ hở của người dân trong việc chia sẻ hình ảnh căn cước công dân, chứng minh nhân dân, hộ khẩu trên mạng xã hội (Zalo, Facebook...) và sử dụng vào việc đăng ký sử dụng các dịch vụ online (mua hàng, xin việc, vay tiền để đánh cắp thông tin cá nhân của người dân. 

- Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân, đối tượng đưa ra nhiều lý do, xin chụp ảnh chân dung, chụp ảnh căn cước công dân, chứng minh nhân dân (có thể trả cho người dân từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng trên mỗi căn cước công dân, chứng minh nhân dân được chụp), hoặc các đối tượng thuê, mua tài khoản ngân hàng của người dân. 

Sau khi có thông tin dữ liệu cá nhân, tài khoản ngân hàng của người dân, các đối tượng bán thông tin cho các đối tượng khác (kể cả người nước ngoài) để sử dụng vào mục đích phạm tội, vi phạm pháp luật như: Làm giấy tờ giả để mở tài khoản lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các khoản vay vốn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, công ty tài chính; chuyển nhận tiền đánh bạc, tổ chức đánh bạc; giả mạo, giả danh cán bộ Công an, Toà án, Viện kiểm sát, hải quan, thuế... gọi điện đe doạ yêu cầu chuyển tiền để phục vụ công tác điều tra hoặc làm quen qua mạng xã hội hứa hẹn gửi quà, tiền đánh vào lòng tham của người dân rồi yêu cầu họ chuyển tiền phí, lệ phí và tiền "bôi trơn" vào tài khoản ngân hàng do chúng chỉ định để chiếm đoạt... 

Phần lớn những người cho thuê, cho mượn thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng không biết việc sử dụng thông tin, tài khoản để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên có trường hợp dù biết rõ nhưng vì hám lợi vẫn tiếp tay, tạo cơ hội cho các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội và đã bị xử lý với vai trò đồng phạm. 

Trước diễn biến phức tạp của tình hình trên, để phòng tránh tội phạm và những hệ lụy có liên quan, Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an khuyến cáo:

1. Tuyệt đối không cho người lạ mượn, chụp, thuê, mua căn cước công dân (chứng minh nhân dân) hoặc tài khoản ngân hàng nếu không có mục đích chính đáng.

2. Không đăng tải, chia sẻ hình ảnh căn cước công dân, chứng minh nhân dân, tài khoản ngân hàng lên mạng xã hội. Không cung cấp thông tin căn cước công dân, chứng minh nhân dân cho những dịch vụ không thiết yếu, không có cam kết bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên các nền tảng mạng xã hội.

3. Trường hợp bị mất căn cước công dân, chứng minh nhân dân, người dân cần trình báo ngay cho cơ quan chức năng để làm lại giấy tờ. Đây là căn cứ để chứng minh chủ sở hữu của căn cước công dân, chứng minh nhân dân không có liên quan đến các giao dịch dân sự trong thời gian bị mất căn cước công dân, chứng minh nhân dân; đồng thời phòng ngừa trường hợp số căn cước của công dân bị lợi dụng thực hiện các giao dịch dân sự trái pháp luật.

4. Khi bị các đối tượng xấu lừa đảo, lấy cắp thông tin căn cước công dân, chứng minh nhân dân để tiến hành các hoạt động phi pháp, người dân cần liên hệ ngay với cơ quan chức năng nơi gần nhất để được hỗ trợ. Trường hợp nghi ngờ/ phát hiện số căn cước công dân/ chứng minh nhân dân của mình bị sử dụng trái phép để mở tài khoản ngân hàng hoặc đăng ký thuê bao trả sau, cần nhanh chóng liên hệ ngân hàng, nhà mạng để được hỗ trợ khóa tài khoản, thuê bao.

5. Trong trường hợp phát hiện đối tượng mượn, chụp, thuê căn cước công dân hay chứng minh nhân dân; mời chào cho thuê, mượn, mua, bán tài khoản ngân hàng đề nghị người dân tố giác và cung cấp ngay tài liệu, chứng cứ đến cơ quan Công an nơi gần nhất để xử lý theo quy định của pháp luật. Nếu biết đối tượng sử dụng căn cước công dân, tài khoản ngân hàng vào mục đích vi phạm pháp luật, phạm tội nhưng bao che hoặc vẫn bán, cho thuê, cho mượn thì có thể bị xử lý trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm

PHAO

Thủ đoạn tuyên truyền “ngày mất đất - 04/6”của các Hội nhóm Khmer krom

 Đến hẹn lại lên, thời gian qua các tổ chức Hội nhóm Khmer krom (đứng đầu là Liên đoàn Khmer Campuchia krom thế giới - KKF) tích cực tuyên truyền cho cái gọi là "ngày mất đất Khmer krom - ngày 04/6" tên gọi mà chúng nói đến là vùng đất Nam Bộ được Thực dân Pháp trao trả cho Việt Nam năm 1949 (bằng Bộ luật số 49 - 733, ngày 04/6/1949).

Dựa trên căn cứ Bộ luật số 49 - 733, ngày 04/6/1949 do Tổng thống Pháp Vincent Aurol ký với chính quyền Bảo Đại, trao trả 6 tỉnh Nam kỳ cho Việt Nam, các thế lực phản động cho rằng Pháp đã cắt vùng đất Nam Bộ (mà chúng gọi là vùng đất Khmer krom) của Campuchia cho Việt Nam làm cho mất đất Campuchia, người dân Khmer bị mất quyền làm chủ, bị Việt Nam đàn áp, nô dịch.

Hàng năm, cứ đến ngày 04/6 các Hội nhóm Khmer krom đứng chân tại Campuchia như: Cộng đồng Khmer Campuchia krom, Hội Khmer Campuchia krom vì Nhân quyền và Phát triển, Hội Ái Hữu, Hội Thanh niên Khmer krom…kêu gọi, hô hào người dân Khmer gốc Việt Nam đang sinh sống tại Campuchia tổ chức biểu tình, tổ chức "lễ kỷ niệm ngày mất đất", tuyên truyền hình ảnh tài liệu sai sự thật về vùng đất Nam Bộ trên các trang mạng xã hội như Zalo, Facebook…kêu gọi chính phủ Pháp xem xét lại Bộ luật số 49 - 733, ngày 04/6/1949; gửi thỉnh nguyện thư đến Chính phủ các nước, tổ chức Quốc tế nhờ can thiệp, yêu cầu Nhà nước Việt Nam trả lại vùng đất Nam Bộ cho người Khmer, cho đất nước Campuchia.

Diễn đàn thảo luận ngày mất đất 04/6, năm 2019

Những năm gần đây, do tình hình dịch bệnh Covid - 19 diễn biến phức tạp, các Hội nhóm Khmer krom không tổ chức tập trung mà sử dụng hình thức Livestreams trên hệ thống các trang mạng xã hội, tổ chức các diễn đàn thảo luận, trưng bài tư liệu, hình ảnh, bản đồ về vùng đất Nam Bộ từ thời xưa để tuyên truyền cho người dân nhận thức sai lệch về lịch sử vùng đất này. Mỗi khi đến ngày 4/6 hàng năm, hàng loạt các bài viết tuyên truyền, xuyên tạc được số đối tượng chống đối trong dân tộc Khmer chia sẽ, đăng tải trên các trang mạng xã hội…đã làm cho một bộ phận người dân ít học, thiếu kiến  thức tin, nghe theo luận điệu tuyên truyền cho rằng Việt Nam chiếm đất Campuchia, người Khmer mới chính là người chủ thật sự của vùng đất Tây Nam Bộ.

Logo Avatar các đối tượng tuyên truyền kỷ niệm 72 năm ngày mất đất (04/6/1949 - 04/6/2021)

Vậy thực tiển lịch sử như thế nào, căn cứ pháp lý nào để phản bác lại luận điệu tuyên truyền trên. Có thể thấy, lịch sử vùng đất Nam Bộ đã trải qua nhiều biến cố lịch sử, nhiều lớp người đã đến góp công khai phá trong đó có dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm…đoàn kết khai hoang lập làng, chống giặc ngoại xâm, các dân tộc sống đan xen, đoàn kết cùng phát triển. Chỉ một bộ phận những kẻ mang tư tưởng hận thù dân tộc, tiêm nhiễm tư tưởng cực đoan, làm tay sai cho các thế lực phản động thực hiện âm mưu "Diễn biến hòa bình" theo sự chỉ đạo của Phương tây mới đi ngược lại lợi ích quốc giá - dân tộc.

Nếu nói vùng đất Nam Bộ là của Campuchia bị Thực dân Pháp cắt cho Việt Nam theo Bộ luật số 49 - 733, ngày 04/6/1949, thì chúng ta hãy tìm hiểu lại lịch sử đấu tranh của nhân dân trên vùng đất này. Khi Thực dân Pháp tấn công Nam Bộ rồi sau đó lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ là các sự kiện thể hiện rõ sự xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam Bộ. Nhưng quân đội, chính phủ Campuchia và người dân Khmer không có bất cứ một phản ứng gì. Trái lại, triều đình nhà Nguyễn đã điều động quân đội tiến hành kháng Pháp và khi kháng chiến thất bại, đại diện của triều đình nhà Nguyễn là Phan Thanh Giản và đại diện của Pháp là Đô đốc Bô-na (Bonard) đã ký Hiệp ước nhường quyền cai quản 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp (năm 1862). Tiếp đó, năm 1867, Pháp lại đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ triều đình nhà Nguyễn ký tiếp Hiệp ước (năm 1874) nhượng toàn bộ Nam Kỳ cho Pháp cai quản. Đây là những chứng cớ và cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này.

Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Bộ và Campuchia theo luật của nước Pháp. Việc khảo sát, đo đạc trên thực địa được tiến hành bởi các chuyên gia Pháp và Campuchia. Năm 1889 giữa Pháp và Campuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Bộ và Campuchia. Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định vùng đất Nam Bộ hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 04 tháng 6 năm 1949 Tổng thống Pháp Vincent Aurol ký Bộ luật số 49 - 733 trao trả lại Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại. Trong Bộ luật còn có chữ ký của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp. Vậy là đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn "bán" cho Pháp, đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ Pháp còn khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với vương quốc Campuchia. Từ đó về sau, chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ liên tục được tất cả các Hiệp định có giá trị pháp lý Quốc tế như Hiệp định Genève (1954), Hiệp định Paris (1973) công nhận.

Trong một bức thư, trả lời cho Quốc vương Sihanouk, giải thích những thắc mắc của Campuchia về quyết định này (Bộ luật số 49 - 733), ngày 08 tháng 6 năm 1949 Chính phủ Pháp đã có thư chính thức gửi quốc vương Sihanouk, trong đó có đoạn nói rõ: "Về pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Campuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ" vì "Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm 1862 và 1874…. chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam… về pháp lý, Pháp có đủ cơ sở để thoả thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam Kỳ". Trong bức thư đó Chính phủ Pháp còn khẳng định: "thực tế lịch sử ngược lại với luận thuyết cho rằng miền Tây Nam Kỳ vẫn còn phụ thuộc triều đình Khmer lúc Pháp tới "  "Hà Tiên đã được đặt dưới quyền tôn chủ của Hoàng đế An Nam từ năm 1715 và kênh nối Hà Tiên với Châu Đốc được đào theo lệnh của các quan An Nam từ nửa thế kỷ trước khi chúng tôi đến". Với bức thư nêu trên, Pháp không chỉ thừa nhận một thực tế lịch sử chứng tỏ người chủ thực sự của vùng đất Nam Bộ là Nhà nước Việt Nam, mà còn nêu lại một lần nữa cơ sở pháp lý khẳng định vùng đất Nam Bộ là thuộc chủ quyền của Việt Nam từ trước khi Pháp đặt chân đến Nam Kỳ.

Với những luận cứ trên, có thể thấy việc các đối tượng sử dụng cụm từ "ngày mất đất - 04/6" yêu cầu Việt Nam trả lại vùng đất Nam Bộ cho Campuchia là hoàn toàn không có căn cứ. Trên mảnh đất Nam Bộ, các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm…đã cùng nhau khai phá, lao động sản xuất, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, chỉ một bộ phận những phần tử cực đoan, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…bị lợi ích vật chất, tư tưởng hướng ngoại mới đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc, luôn tìm cách gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, phụ vụ cho ý đồ "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch chống phá đất nước.

Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, tạo mọi  điều kiện tốt nhất cho đồng bào Khmer phát triển toàn diện; hàng loạt những chính sách an sinh xã hội, kinh tế, hỗ trợ vốn sản xuất… như chương trình 134 (gọi tắt theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn); Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (gọi tắt là Chương trình 135 của giai đoạn I và giai đoạn II); hay tiếp nối của Chương trình 134, có Quyết định số 1952/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc "Tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn". Riêng chính sách hỗ trợ về đất sản xuất và đất ở cho vùng đồng bào dân tộc Khmer được thực hiện theo Quyết định 74/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nhìn chung, những chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ đã có hiệu quả trong thực tế. Đây là chính sách rất đúng đắn, hợp lòng dân, động viên được sự tham gia tích cực của cộng đồng. Kết quả thực hiện những chính sách này đã góp phần quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo hiệu quả, từng bước đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho bà con Khmer.

Một lớp dạy chữ Khmer cho các em học sinh trong dịp hè

Trước những luận điệu tuyên truyền sai sự thật của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ đảng viên, người dân nhất là đồng bào dân tộc Khmer cần có nhận thức đúng đắn, không để các thế lực thù địch kích động, chia rẽ, gây hận thù dân tộc; không tin, không nghe và không làm theo những luận điệu tuyên truyền vô căn cứ. Hãy chú trọng vào làm ăn, phát triễn sản xuất, nâng cao đời sống vật chất tinh thân cho bản thân, không để rơi vào ý đồ "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch chống phá đất nước

PHAO

Thủ đoạn chống phá của tổ chức phản động lưu vong Liên đoàn Khmer Krôm

 

Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh, thành phố, nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu héc-ta, có biên giới giáp Cam-pu-chia, dài 340km. Toàn vùng có trên 27 thành phần dân tộc cùng sinh sống, đông nhất là dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, dân số khoảng 17 triệu người; trong đó, dân tộc Khmer có khoảng 1,3 triệu người, chiếm trên 7% dân số. Đồng bào Khmer Tây Nam Bộ có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó cùng các dân tộc anh em trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng Tây Nam Bộ và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng còn chậm, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; hệ thống chính trị cơ sở chưa thật sự vững mạnh; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết. Lợi dụng những khó khăn đó, các thế lực thù địch, các hội nhóm, tổ chức phản động trong người Khmer lưu vong, nhất là tổ chức phản động lưu vong “Liên đoàn Khmer Krôm” (KKF) đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc Khmer để chống phá đối với nước ta, với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc:

Một là, thực hiện chính sách “chia để trị”, vu cáo, xuyên tạc tình hình dân tộc, tôn giáo ở nước ta, kích động đồng bào chống đối chính quyền. Thời gian qua, các tổ chức phản động, cực đoan bên ngoài đã âm mưu, tổ chức các hoạt động tách Phật giáo Nam tông Khmer ra khỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thành một hệ phái “độc lập”, coi đó là hệ tư tưởng cho “Nhà nước KKK độc lập tự trị” (KKK - Khmer Kampuchia Krôm). Chúng tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước ta, vu cáo Việt Nam đàn áp Phật giáo Nam tông Khmer, không cho người Khmer được thực hành nghi lễ, cài người giám sát hoạt động của sư sãi,… nhằm kích động tư tưởng “tự ti dân tộc” của sư sãi, phật tử nơi đây. Đồng thời, thành lập hàng chục trang web, báo, đài phản động; tài trợ cho các chùa Khmer lắp đặt trang thiết bị hiện đại để nghe, xem các chương trình có nội dung phản động. Gần đây, lợi dụng việc ta đấu tranh với số đối tượng sư sãi cực đoan, KKF và các tổ chức KKK coi đó là sự “bất công” đối với sư sãi “Khmer Krôm”, vi phạm nguyên tắc Hiến chương Liên Hợp quốc và kêu gọi các tổ chức nhân quyền quốc tế theo dõi, can thiệp, v.v.

Hai là, tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, nhất là đối với vấn đề nguồn gốc lịch sử của người Khmer và vùng đất Nam Bộ Việt Nam. Chúng cố chứng minh rằng, người Khmer chính là chủ nhân của di chỉ khảo cổ Ốc Eo (An Giang); quốc gia Phù Nam được thành lập vào đầu công nguyên là tiền thân của nước Chân Lạp, là giai đoạn lịch sử Cam-pu-chia sơ kỳ; lịch sử hình thành nhà nước Phù Nam, Chân Lạp và quốc gia Cam-pu-chia ngày nay là một. Do đó, vùng đất Nam Bộ Việt Nam là của người Khmer Cam-pu-chia! Để khuyếch trương thanh thế, một mặt, chúng quy tụ những đối tượng người Khmer đã từng tham gia ngụy quân, ngụy quyền cũ, những tri thức và cá nhân có tư tưởng cực đoan, bất mãn; mặt khác, thành lập các tổ chức: Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia Krôm (KKNLF), Hội những người Khmer, Quốc hội Khmer Krôm hải ngoại, Hội Ái hữu, Hội bảo vệ nhân quyền, Hội Phật học,… để giương cao ngọn cờ vì dân tộc, lôi kéo, tập hợp lực lượng. Đồng thời, hỗ trợ một số tổ chức phản động ở nước ngoài xuất bản các ấn phẩm để công bố những thông tin theo định hướng của chúng, như: Tạp chí “Tiếng nói cộng đồng” ở Cam-pu-chia, “Tiếng nói Khmer Campuchia Krôm” ở Mỹ, nhằm mục đích quốc tế hóa vấn đề người Khmer Nam Bộ, kích động ly khai, lôi kéo đồng bào Khmer tham gia đấu tranh đòi thành lập “Nhà nước Khmer Krôm”, tạo ra những điểm nóng trên địa bàn.

Ba là, xây dựng lực lượng, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá, tạo cớ can thiệp. Các tổ chức phản động tiến hành kích động, chỉ đạo sư sãi Khmer cực đoan nhen nhóm lập các hội đối lập với Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, tiến tới hình thành tổ chức tôn giáo thoát ly sự quản lý của Nhà nước. Đồng thời, tích cực tìm kiếm sự hậu thuẫn từ bên ngoài, móc nối với các tổ chức phản động để khuếch trương thanh thế, kêu gọi thành lập tổ chức Phật giáo Nam tông Khmer độc lập để “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer”. Chỉ đạo liên kết, tạo phe cánh trong Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, từng bước đưa người lên nắm vị trí chủ chốt nhằm thao túng hoạt động của Hội; không chấp hành các quyết định của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo và Hội đoàn kết sư sãi yêu nước nhằm lũng đoạn, vô hiệu hóa hoạt động của tổ chức này. Ngoài ra, chúng còn âm mưu thành lập tổ chức tôn giáo độc lập của người Khmer ngoài sự quản lý của Nhà nước. Tính từ năm 2010 đến nay, trong vùng đồng bào Khmer đã hình thành khoảng 06 hội, nhóm trái pháp luật, với lý do là “bảo tồn văn hóa dân tộc; giúp đỡ chùa chiền, sư sãi gặp khó khăn; thực hiện các nghi lễ tôn giáo theo đúng truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer,…”. Song, thực chất của việc làm đó là “liên kết các sư sãi, tăng sinh có tư tưởng cực đoan thành một khối” để bôi nhọ, hạ uy tín những chức sắc, sư sãi có tư tưởng tiến bộ, v.v.

Bốn là, tìm cách móc nối, mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín trong cộng đồng các tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số; tài trợ cho sư sãi, tăng sinh Khmer ra nước ngoài tu học với ý đồ chống phá nước ta lâu dài. Thời gian qua, các phần tử KKK cực đoan bên ngoài tài trợ kinh phí, móc nối xây dựng “ngọn cờ” nhằm lôi kéo, tập hợp sư sãi, phật tử Khmer kích động biểu tình, gây rối, phản đối chủ trương giải quyết của địa phương, như: vụ tượng Phật cổ ở Bạc Liêu, trùng tu Ao Bà Om, phá cổng chào ở Trà Vinh, v.v. Mặt khác, chúng lôi kéo, phát triển lực lượng chống đối nhằm tổ chức, đào tạo, huấn luyện phục vụ ý đồ chống phá Việt Nam lâu dài. Theo số liệu báo cáo của các địa phương, hiện nay, có trên 1.000 sư sãi Khmer đi tu học nước ngoài; trong đó, có 66 trường hợp bị tổ chức phản động lưu vong KKK đưa đi huấn luyện, đào tạo.

PHAO

GỐC RỄ ĐỂ BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực sự có hiệu quả, cần xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, với niềm tin vào thắng lợi và góp phần tri ân những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc; tuyệt đối tránh hiện tượng chiếu lệ, hình thức, nói không đi đôi với làm. Lòng yêu nước, niềm tin thắng lợi - gốc rễ lâu bền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, hồn cốt tạo nên những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ, từ nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta phát triển, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối phù hợp, đúng đắn; cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước; từng bước đi vào vào quần chúng nhân dân thông qcông tác tư tưởng, biến thành hành động cách mạng thiết thực, hiệu quả, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “...Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi”. Vậy nên, để tiếp tục giành thắng lợi và bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng, tất yếu phải bảo vệ Đảng. Muốn bảo vệ Đảng, trước hết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Suy cho cùng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ chính là bảo vệ cuộc sống, văn hóa, con người, cốt cách, trí tuệ Việt Nam. Trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng không chỉ là việc của cán bộ, đảng viên mà là của mọi tầng lớp nhân dân. Sự thâm độc của các thế lực phản động, thù địch là dùng mọi thủ đoạn tấn công vào “cái gốc”, tức là chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo, triệt tiêu con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Từ đó, chúng xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi “thực hiện cạnh tranh chính trị, thiết lập chế độ đa đảng”. Cùng với đó là sự xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; khoét sâu sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; xuyên tạc đoàn kết nội bộ và bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, đời tư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Do đó, Đảng ta đã xác định, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà tuyên giáo là lực lượng nòng cốt; đồng thời là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay càng đòi hỏi phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vì những lý do sau: 1) xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác nay đối với xây dựng Đảng và đối với quá trình xây dựng đất nước; 2) xuất phát từ sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; 3) xuất phát từ bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đặc biệt là từ sự tan rã, sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu; 4) xuất phát từ thực tế ở trong nước, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo dức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Song, để công tác này có hiệu quả, cần xuất phát từ trái tim yêu nước, có niềm tin chiến thắng, với trách nhiệm bảo vệ giống nòi, giang sơn gấm vóc Việt Nam, chứ không phải bằng mệnh lệnh, gượng ép, đối phó. Một khi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu được như vậy, tích cực hành động bằng trái tim tin tưởng, trách nhiệm, nhiệt huyết, chắc chắn nền tảng tư tưởng của Đảng luôn được bảo vệ vững chắc. Rọi chiếu vào lịch sử cách mạng Việt Nam, toát lên chân lý: muốn có chiến thắng, tất yếu phải có niềm tin vào chiến thắng và khi đó mới có sự đồng tâm hợp lực hành động muôn người như một, cống hiến, hy sinh bằng chính sự “chỉ đường dẫn lối” của trái tim yêu nước chân chính. Chính niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc, vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài trí của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn sức mạnh bao trùm, kết nối không gian, vượt qua thời gian, tạo sự bền bỉ, kiên cường, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, làm nên thắng lợi vĩ đại. Chính nhờ có niềm tin đã tạo nên những trái tim nhiệt huyết, thôi thúc bản lĩnh, bất chấp hy sinh, gian khổ để xông pha vào các cuộc trường chinh ròng rã gần 100 năm chống ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và can thiệp của Mỹ; 21 năm chống ách thống trị thực dân kiểu mới và chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai. Niềm tin ấy chính là cội nguồn sức mạnh bất diệt, nguồn cảm hứng, động viên lớp lớp thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng của trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp toàn dân kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chính sức mạnh của niềm tin đã chiến thắng sức mạnh của vũ khí, đô la của kẻ thù. Nhà báo Duylơrannút từng viết: “Trong thế kỳ XX, chính vật chất là sức mạnh của thời đại. Thời đại có nhiều tên gọi: Thời đại năng lượng nguyên tử, thời đại phản lực, thời đại điều khiển học, thời đại chinh phục vũ trụ, thời đại thông tin hóa. Dù đặt tên cho thiết bị nào thì người Mỹ đều có và người Việt Nam đều không có. Sức mạnh duy nhất của người Việt Nam lúc đó là sức mạnh của con người, của niềm tin chiến thắng”. Niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tâm điểm tập hợp, gắn kết cả dân tộc thành một khối thống nhất. Niềm tin này cũng thức tỉnh nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý luôn sát cánh, ủng hộ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Trong công cuộc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay, luôn cần có và phải có niềm tin ở cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người trong bộ máy trực tiếp làm công tác này (Nhóm chuyên gia, Ban Chỉ đạo, Tổ Thư ký giúp việc, Cộng tác viên...). Mỗi khi chúng ta có niềm tin vào thắng lợi, ắt sẽ có cách thức tiến hành để đạt đích thắng lợi. Một khi có niềm tin và trái tim yêu nước chân chính thì lập trường sẽ không dao động, tâm không gợn sóng, hành động không gượng gạo, không chạy theo phong trào và thành tích, càng không vì đối phó, hình thức, mệnh lệnh. Đó chính là gốc rễ đem lại kết quả tích cực, lâu bền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tri ân - một trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã để lại nhiều tấm gương chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, trở thành bài học, nêu gương cho các thế hệ người Việt. Từ những ngày Đảng mới thành lập, các đảng viên nhiệt huyết cách mạng cùng với nhân dân vượt qua gian khó, luôn tin tưởng vào thắng lợi ở ngày mai; không chỉ tin vào chiến thắng ngoại xâm mà cái đích cao cả là niềm tin và chiến đấu cho lý tưởng cộng sản - thực hiện khát vọng công bằng, bình đẳng, nhân văn. Những tấm gương chiến đấu, hy sinh của Tổng Bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ; các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hoàng Văn Thụ, Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi... luôn soi sáng lý tưởng cách mạng cho hậu thế, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên giai đoạn hiện nay tự soi mình, rèn mình, sửa mình, phấn đấu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong khi phần đông ra sức tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp sức xây dựng Đảng, đổi mới đất nước thì một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, tha hóa, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí có người quay lưng hại Đảng, phản bội nhân dân, phỉ báng quá khứ, làm nhục quốc thể. Lại có những cán bộ, đảng viên vun vén tư lợi, chạy chức, chạy quyền vì mục đích trục lợi cá nhân; có biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền với cấp dưới, với đồng nghiệp và nhân dân... Những hành động đó làm ảnh hưởng đến uy tín, thanh danh của Đảng; ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ; làm tổn hại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN mà nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân dày công gây dựng, vun đắp. Để có độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân hôm nay, đã có bao lớp tiền bối xông pha, cống hiến, chiến đấu, hy sinh. Lịch sử cách mạng Việt Nam được bồi đắp, tô thắm bởi những chiến công và sự hy sinh của các bậc tiền nhân, trong đó có những cán bộ, đảng viên. Pho sử bằng vàng đó thể hiện phong phú, sinh động cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Những giá trị đó thẩm thấu trong tiến trình lịch sử Đảng, trở thành chân lý, niềm tin, tự hào, lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng, của hậu thế đối với tiền nhân. Do vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không đơn thuần là bảo vệ cho hiện tại mà còn là bảo vệ thành quả của quá khứ và tạo sự vững bền ở tương lai. Bởi lẽ, “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”. Từ đó, những lúc bản thân phải gánh vác nhiều công việc, có thể chịu mệt nhọc hơn, hoặc thiệt thòi trong cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm; hoặc bị non kém hơn về quyền lợi, bổng lộc thì vẫn vui vẻ, với tâm niệm đóng góp của bản thân chưa xứng đáng với những đồng chí đã cống hiến, hy sinh. Nếu gặp nghịch cảnh nào đó của thực tế, bản thân có thể chạnh lòng, nhưng không được phép hụt hẫng, nhụt ý chí phấn đấu, mà cần có suy nghĩ tích cực, vượt qua để góp phần tri ân những người đã chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; luôn xác định làm việc là vì trách nhiệm tri ân, chứ không phải vì để được tôn vinh thành tích cá nhân. Theo đó, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là một cách thức góp phần trả ơn người đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trái tim nhiệt huyết, niềm tin vững chắc và lòng tri ân chân thành, sâu sắc chính là gốc rễ quan trọng, góp phần quyết định, đem lại kết quả tích cực trong cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Đó cũng là tiền đề, điều kiện tiên quyết, cơ sở để thực hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, để “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”./. Trung Thành 30A ST

Không phải là trạng thái phòng vệ tưởng tượng

Gần đây có một số ý kiến cho rằng: Chúng ta đang trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, liệu chúng ta có kẻ thù thật sự không hay chúng ta đang “tự dựng nên kẻ thù, tưởng tượng ra kẻ thù” và “tự mình rơi vào trạng thái hoang mang, hoảng sợ”. Một số người lại cho rằng: “Trong một “thế giới phẳng” hòa bình, xu thế dân chủ đang là tất yếu hiện nay, các quốc gia đều là bạn của nhau, là đối tác của nhau, chúng ta làm gì có kẻ thù mà phải phân vân, mà cần cảnh giác, không khéo lại rơi vào trạng thái phòng vệ tưởng tượng...”. Sự thật có phải như vậy không? Khẳng định, chúng ta tuyệt đối không tưởng tượng, không ảo tưởng, không hoang mang và càng không tự ru ngủ mình về kẻ thù của chúng ta! Nhiều năm qua và nhất là hiện nay, kẻ thù đáng sợ nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, thoái bộ. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa đầu hàng… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc, trong đủ thứ cái gọi là “nhân danh”, “dân chủ hóa”, “liên kết”, “hội nhập”… Chúng ta không được nhầm lẫn về điều đó. V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Cùng với thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch từ bên ngoài, những lầm lẫn chuyển hóa thành sai lệch từ bên trong và những “giặc nội xâm”, tất cả hợp thành kẻ thù nguy hiểm nhất tiêu diệt chúng ta hoặc làm chúng ta tự rã rời, tự băng hoại, tự sụp đổ bất cứ lúc nào. Những “giặc nội xâm”, những căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ấy, đang tiềm tàng và hiện hình ngay trong không ít cán bộ, đảng viên nhưng rất khó nhận diện và rất khó định lượng. Đó chính là những nguy cơ tự tan vỡ từ bên trong. Các bạn trẻ tham dự một cuộc thi tìm hiểu Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là do âm mưu chống phá, chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, trong nội bộ một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nói trên chính là một biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mặc dù vậy, phải thừa nhận rằng, đây là vấn đề mới nên nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương, của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay vẫn chưa thống nhất, chưa đầy đủ, thậm chí còn ảo tưởng, như đã trình bày, nên dẫn đến trong việc xử lý còn nhiều lúng túng, bất cập. Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng cơ bản là do không ngăn chặn kịp thời nguy cơ “tự diễn biến”, dẫn đến “tự chuyển hóa” chế độ chính trị. Chính vì tất cả lẽ đó, tại Đại hội XII và gần đây là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên"(1). Trên tinh thần ấy, Đảng ta xác định: Phải chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là các cơ quan chức năng chỉ đạo về công tác giáo dục chính trị tư tưởng, văn hóa trong quân đội cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối và các giải pháp mà Đại hội XII của Đảng đã xác định, đó là: Kiên trì, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Để đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch hiệu quả, trước hết phải kiên trì, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta. Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đối mới"(2). Đồng thời, Đại hội XII của Đảng xác định tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân có giác ngộ, hiểu biết sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, mới đủ điều kiện “tự bảo vệ”, góp phần ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của hệ tư tưởng tư sản, sự xâm lăng của “văn hóa phương Tây”. Đó là sự cần thiết để mỗi cán bộ, chiến sĩ tự tin, có dũng khí chống lại âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch; đặc biệt là phê phán, bác bỏ những quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả công tác tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả"(3). Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện nhất quán, quyết liệt, nền nếp chế độ bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, chú trọng cán bộ ở cấp Trung ương. Tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tinh giản, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng. Chủ động ngăn chặn và nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch: Một trong những biện pháp quan trọng trong đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch là chủ động nghiên cứu dự báo, sớm phát hiện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kịp thời ngăn chặn việc tuyên truyền, phát tán các thông tin xấu độc, tài liệu xuyên tạc, sai trái, thù địch của chúng. Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch"(4). Đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất mầu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Các quan điểm sai trái, thù địch sẽ gây tác hại trong môi trường xã hội có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là rất quan trọng, nó quyết định sự thành công hay thất bại trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Vì vậy cần phải làm thật tốt 4 vấn đề đã nêu trên để công cuộc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của chúng ta ngày càng đi vào chiều sâu và bảo đảm hiệu quả.