Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta

 


 

Chiều ngày 10/9/2022, Văn phòng Trung ương Đảng phát thông cáo cho biết trong hai ngày 9 và 10/9/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến về một số đề án để hoàn thiện báo cáo Bộ Chính trị trình Hội nghị Trung ương 6 khoá XIII. Lợi dụng vấn đề trên, một số trang mạng, báo đài phỏng vấn đưa tin xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, nhà nước ta. Trên trang Vietnamthoibao. Org, Thới Bình tán phát bài viết “Phản biện chính trị ở Việt Nam chỉ có một con đường’’ trong đó xuyên tạc rằng phản biện chính trị ở Việt Nam, nếu được gọi là “nhà bất đồng chính kiến”, thì sớm muộn gì cũng đối mặt án an ninh quốc gia…, vậy sự thật ở đây là gì.

Thứ nhất, chúng ta phải hiểu rằng. Giám sát, phản biện xã hội – một chức năng cơ bản của Mặt trận, vận động Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Chức năng “giám sát, phản biện xã hội” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được khẳng định trong Điều 9 Hiến pháp năm 2013, “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động”. Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, Đảng, Nhà nước ta rất cần có sự giám sát và phản biện xã hội từ phía Nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, giúp Đảng và Nhà nước tránh các nguy cơ như: Sai lầm về đường lối, đồng thời góp phần giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên về đạo đức, lối sống, kỹ năng thực thi công vụ và ý thức tổ chức kỷ luật. Giám sát và phản biện xã hội chính là hoạt động giúp cho bộ máy tổ chức Đảng, Nhà nước mạnh hơn, đáng tin cậy hơn, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên ngày càng tốt hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân ngày càng được bảo vệ tốt hơn. Do đó, giám sát và phản biện xã hội trở thành nhu cầu tự thân của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thứ hai, giám sát và phản biện xã hội là một yêu cầu tất yếu khách quan trong việc xây dựng, củng cố Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, với nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể thiếu vai trò (thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội) của Nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội trong việc tham gia thực tế vào công việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, giám sát và phản biện xã hội có vai trò góp phần đảm bảo quyền lực của Nhà nước được sử dụng đúng mục đích. Trong đó, Nhân dân (thông qua cơ quan đại diện là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) kiểm soát quá trình thực thi quyền lực của Nhà nước, sẽ giúp cho Nhà nước, viên chức, công chức tránh được bệnh quan liêu, xa dân. Nhất là trong điều kiện phát triển nền kinh kế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc sẽ góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực – một trong các nguyên nhân làm suy giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã “chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”

Đến đây chúng ta khẳng định rằng, những luận điệu của Thới Bình là hoàn toàn sai trái, với mục đích xuyên tạc, bịa đặt đi ngược lại chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chống phá chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

T3.

 

VIỆT NAM LỰA CHỌN ĐI THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA LÀ ĐÚNG ĐẮN

 


 

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga cho cách mạng Việt Nam là tất yếu lịch sử.

Trước năm 1930, ở Việt Nam tồn tại nhiều đảng phái, tổ chức, chính trị lựa chọn con đường cứu nước khác nhau nhưng đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc – người thanh niên yêu nước đã bôn ba nhiều nước để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, Người đã tìm hiểu các cuộc cách mạng nổ ra trước đó kể cả cuộc cách mạng tư sản ở nước Mỹ, nhưng, Người nhận thấy, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, ngày 07/11/1917, dưới sự lãnh đạo thiên tài của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã chặt đứt mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc, lập nên nhà nước công – nông đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Người khẳng định: “Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[1]. Chính vì vậy, theo Nguyễn Ái Quốc chỉ có đi theo con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga mới đem lại độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và bình đẳng thực sự cho mọi người, mới chấm dứt xóa bỏ được vĩnh viễn chế độ người bóc lột người; chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản chân chính được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng và khoa học, có đội ngũ đảng viên kiên trung, không sợ hy sinh, gian khổ, hết lòng, hết sức vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân mới có thể hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Và Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm lựa chọn con đường cách mạng vô sản, Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngày 03/02/1930.

Với đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân, phong kiến, làm nên thắng lợi to lớn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Thắng lợi đó đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Thứ hai, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và và thành tựu của công cuộc đổi mới là hiện thực không thể phủ nhận của con đường đi theo Cách mạng Tháng Mười Nga do Chủ tịch Hồ Chi Minh và Đảng ta lựa chọn.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược năm 1954; lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975. Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến nay. Những mốc son chói lọi đó là sự thật không thể đảo ngược và bôi nhọ, điều đó không chỉ người Việt Nam yêu nước thừa nhận, mà thế giới ngợi ca và đánh giá cao.

Ghi nhận công lao đóng góp của các lãnh tụ trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, trong đó có lãnh tụ Hồ Chí Minh. UNESCO đã vinh danh lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất”. Đó là đánh giá khách quan, sự ghi nhận và vinh danh xứng đáng của thế giới đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Hiện nay, cả nước đang thực hiện đường lối đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, với nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là minh chứng sáng ngời về sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam – Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, việc lập luận của Trần Trung Đạo về sự lựa chọn con đường đi theo Cách mạng Tháng Mười Nga của Việt Nam là hoàn toàn sai trái, phi nhân tính, đó là luận điệu vu khống, xuyên tạc trắng trợn của y.

Vì thế, mỗi cư dân mạng cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu thủ đoạn của Trần Trung Đạo và đồng bọn. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng vào con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và sự thắng lợi của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo./.

          T3.

Phòng, chống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ: một trong những nhiệm vụ trong tâm trong thời gian tới

 

 


Nhận rõ tính chất nguy hiểm của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những năm qua, trong nhiều kỳ đại hội, hội nghị Trung ương, Đảng ta từng cảnh báo về tình trạng này. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta chỉ rõ: “Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá XI) đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện cụ thể về “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng ta hiện nay là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc”. Tình trạng này “làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Do vậy, Trung ương yêu cầu phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”. Văn kiện Đại hội XII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”. Những năm tới, Đảng ta yêu cầu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả sáu nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cần tập trung nhiệm vụ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

“Tự diễn biến” ở phạm vi tổ chức là có những thay đổi ở tầm quản lý vĩ mô về đường lối, chủ trương, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. “Tự diễn biến” đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị- xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên nhận thức chính trị và hành động xa rời, thậm chí đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm tư tưởng của Đảng. “Tự diễn biến” của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức.Tự diễn biến” của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với cá nhân trong tổ chức đó. “Tự diễn biến” do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở đây chủ yếu nói đến nguyên nhân chủ quan của cán bộ, đảng viên, như: lập trường, tư tưởng không vững vàng, thiếu bản lĩnh chính trị, hoang mang, dao động trước tác động của các yếu tố bên ngoài; thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân thường xuyên; không chủ động học tập, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… “Tự chuyển hóa” là hậu quả tất yếu của quá trình “tự diễn biến”, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Đó là thời điểm đã có sự thay đổi về bản chất.

Biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam xuất hiện từ hai hướng: Một mặt, đó là âm mưu và hoạt động tác động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch. Mặt khác, đó là sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ ta. Hai hướng này có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, phòng, chống chuyển hóa chính trị phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là trước tiên.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hóa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ có mặt bị giảm sút”. Và dự báo: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra tiếp tục tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước”. Trong khi đó mặt trái của cơ chế thị trường là nguyên nhân cộng hưởng trực tiếp làm gia tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều này được minh chứng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hạn chế về năng lực, phẩm chất, lối sống thiếu lành mạnh; tình trạng tham nhũng, tiêu cực chưa đẩy lùi; xuất hiện ngày càng nhiều các biểu hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ ở không ít tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Nguy hiểm hơn đó là xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, không tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tồn tại, phát triển của chế độ XHCN. Một số cá nhân, tổ chức lợi dụng danh nghĩ “phản biện”, “góp ý” để bày tỏ “quan điểm” chính trị tự do dân chủ theo kiểu phương Tây... Đứng trước tình hình đó, Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Sự nhấn mạnh này không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, mà còn xuất phát từ thực tiễn tình hình, từ quyết tâm giải quyết triệt để một vấn đề cấp bách hiện nay, đáp ứng nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Còn nhớ, trong lời nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10/10/1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà tắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại thì người sẽ yếu đi”. Chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn của Đảng.

          T3.

Một số giải pháp phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

 


Một là, thường xuyên tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Nhận thức rõ những hạn chế, bất cập không thể tránh khỏi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Đồng thời, nhận thức đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về bản chất của chủ nghĩa tư bản. “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Tổ chức quán triệt triển khai thực hiện tốt trong thực tế công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan tâm đến nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Lựa chọn các hình thức, biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên phù hợp với nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng và đối tượng giáo dục trong từng hoàn cảnh, từng nhiệm vụ. Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhất là đội ngũ cán bộ nòng cốt, chuyên trách về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng về cả số lượng, chất lượng và cơ cấu; về phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, tác phong công tác; về thực hiện tốt các chế độ, chính sách. Không ngừng nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhất là tính sắc bén, tính thuyết phục cao trong đấu tranh phòng, chống các luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Quan tâm bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thông tin, tài liệu cho hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng trong cán bộ, đảng viên phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, khả năng, điều kiện cụ thể.

Ba là, phải từng bước thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực tiễn để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những cán bộ, đảng viên, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.

Bốn là, chăm lo xây dựng nhân tố con người cán bộ, đảng viên, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diến biến hòa bình”. Nâng cao sức “đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, nhất là trước sự cám dỗ của đồng tiền, của lối sống sa đọa. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, tự rèn luyện, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất và năng lực, phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác Hồ đã dạy.

Năm là, cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảo đảm cho việc tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách có cơ sở khoa học, thuyết phục.

T3.

 

Tác hại của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

 


Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên cũng rất lớn. Tác hại đó không chỉ đối với vai trò của cán bộ, đảng viên mà còn đối với vai trò và sự lãnh đạo của Đảng; vai trò và sự quản lý, điều hành của bộ máy Nhà nước, của chính quyền các cấp; vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong con người cán bộ được biểu hiện ở chỗ: Cán bộ sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là “gốc của mọi công việc”, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của cán bộ.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong con người đảng viên được biểu hiện ở chỗ: Đảng viên sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là chiến sĩ tiên phong của Đảng, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của đảng viên.

Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở chỗ: Từ những hạn chế, yếu kém của cán bộ, đảng viên sẽ làm cho nhân dân suy giảm và mất dần niềm tin vào cán bộ, đảng viên, từ đó mà dẫn đến suy giảm và mất dần niềm tin vào vai trò và sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xã hội, vào tính ưu việt của chế độ XHCN. Từ đó, nhân dân sẽ không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không quyết tâm phấn đấu để thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều đó sẽ hạn chế việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

T3.

Nhận diện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

 


“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay được đề cập ở đây là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy thoái. Và từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, có thể từng người đến đội ngũ. Nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu.

“Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên hiện nay có thể được biểu hiện ở cả trong nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng, niềm tin và ý chí quyết tâm hành động với các biểu hiện cụ thể, chẳng hạn: Suy giảm về nhận thức, về tư tưởng chính trị, ngày càng xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, xa rời lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xa rời Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời đường lối của Đảng. Suy giảm niềm tin vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Suy giảm về phẩm chất đạo đức, lối sống, ngày càng xa rời những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN, trượt dần sang đạo đức, lối sống tư sản, quay về với những thói hư, tật xấu của đạo đức, lối sống phong kiến…

“Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên có thể diễn ra trước hết trong mỗi con người cán bộ, đảng viên với các mức độ và biểu hiện cụ thể khác nhau về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Và nếu không được phát hiện, phòng, chống kịp thời sẽ dần dần lan rộng theo nhiều chiều hướng: Từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao; từ cán bộ cấp cao xuống cán bộ cấp thấp; từ một số ít cán bộ, đảng viên đến số đông, cán bộ, đảng viên; từ cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên đến tổ chức mà cá nhân cán bộ, đảng viên đó công tác, sinh hoạt.

T3.

Một số biện pháp đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam.

 


Thứ nhất, công tác, phòng chống hoạt động lợi dụng “Bất tuân dân sự” xâm phạm ANCT – TTATXH ở Việt Nam phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý của, điều hành của Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong trioeenr khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng phương thức này để chống phá Việt Nam. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ để nắm vững và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, tạo sự đồng thuận xã hội và chấp hành nghiêm hiến pháp, pháp luật. Phải nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật cho mọi cá nhân và tổ chức, làm cho mọi người dân có giác ngộ cao về pháp luật, tin tưởng tuyệt đối vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được đổi mới, phù hợp với thực tế để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành (đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí, tập quán…). Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động “bất tuân dân sự”. Đây cũng là một biện pháp rất quan trọng, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, kích động chống phá.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lơi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… kích động, lôi kéo nhân dân tham gia “Bất tuân dân sự” để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Nắm chắc tình hình dư luận để kịp thời tham mưu, đề xuất với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng ngay từ cơ sở đúng pháp luật. Phải kịp thời phát hiện, giải quyết dứt điểm mâu thuẫn, không để vụ việc kéo dài để các thế lực thù địch phản động lợi dụng để chống phá. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những biểu hiện, dấu hiệu chống phá từ khi chúng còn manh nha, mới hình thành không để lây lan, trở thành những điểm nóng phức tạp, kéo dài… Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo…

Thứ ba, Tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản; kiểm soát chặt chẽ an ninh, an toàn thông tin, mạng internet, tích cực đấu tranh, ngăn chăn việc phát tán tài liệu, tin tức xuyên tạc, thù địch về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… ở nước ta. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet… đáp ứng với yêu cầu công tác phòng ngừa đấu tranh với hoạt động “Bất tuân dân sự”.

Thứ tư: khi giải quyết các vụ việc tập trung đông người, biểu tình, đình công tuân thủ cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tậpđông người hay biểu tình, đình công cần nhanh chóng đánh giá đúng tích chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền, thuyết phục, vận động quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý bằng pháp luật đối với số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cốt cán, kích động, lôi kéo người dân tham gia “Bất tuân dân sự”.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm góp phần baaor đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của người dân trên cơ sở pháp luật; tang cường cuảng cố quốc phòng an ninh bảo đảm ổn định ANCT – TTATXH . Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường đấu tranh chống quan lieu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; tang cường đối ngoại, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân trên cơ sở pháp luật.

T3.

Âm mưu, thủ đoạn hoạt động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù nhằm tăng cường liện kết hình thành các hội, nhóm “xã hội dân sự”

 


Để hình thành mưu đồ sử dụng “Bất tuân dân sự” tiến tới thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam, một trong những thủ đoạn cơ bản của các thế lực thù địch đó là gắn kết giữa “Bất tuân dân sự” với “xã hội dân sự”, sư dụng các tổ chức “xã hội dân sự” để tổ chức, điều hành “Bất tuân dân sự”. Mỹ và phương Tây thông qua các chương trình, dự án NGO, USAID đang triển khai ở khắp các tỉnh thành chỉ đạo các tổ chức “xã hội dân sự”, chuyên gia độc lạp, cán bộ nghỉ hưu, đồng thời liên kết với vai trò của báo chí, truyền thông để tạo dư luận, thực hiện phản biện để tác động vào quá trình hoạch địch chính sách.

Sau một số sự kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, một loạt các tổ chức chống đối ra đời. Các hội nhóm này đã tự xưng là tổ chức “xã hội dân sự” tập hợp những thành phần bất mãn, cơ hội chính trị, phản động mượn cớ phản đối Trung Quốc xâm lược để công kích đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Đảng, nhà nước, quân đội.

Để đẩy mạnh phong trào bất hợp tác với chính quyền, bất tuân trong phòng chống Covid – 19, các tổ chức khủng bố “Việt Tân” “Chính phủ quốc gia Việt Nam lân thời”, câu kết với các đối tượng cơ hội, chống đối chính trị, tang cường tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào tổ chức, phát triển lực lượng chống đối trong nước

Các đối tượng thuộc “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” và “Hội cựu tù nhân lương tâm” thành lập “ban cải cách thế chế” và “ủy ban hành động quốc gia”, tìm cách thành lập “Công đoàn độc lập”, “Hội nông dân độc lập” “Hội luật sư độc lập Việt nam”… để đấu tranh đòi sửa đổi những điều luật, đòi những quyền lợi cơ bản của con người. Thực chất đằng sau những việc làm này là tìm cách thành lập đảng chính trị đối lập ở Việt nam khi có thời cơ, điều kiện.

Các hoạt động “Bất tuân dân sự” đã gây ra những tác động tiêu cực đối với tình hình an ninh chính trị tại một số địa bàn, lĩnh vực trên cả nước, cụ thể: khiến cho việc thực thi pháp luật, triển khai các chủ trương, chính sách gặp nhiều khó khăn; tạo ra guy cơ “ly tán long dân”, vô hiệu hóa hoạt động của bộ máy chính quyền; tạo ra guy cơ đối với sự tồn vong của chế độ; tạo cơ hội cho các thế lực phản động chống phá.

“Bất tuân dân sự”, chống đối chính quyền bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh nguyên nhân khách quan từ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch thì nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, nổi lên đó là: do bất cập, hạn chế của công tác xây dựng luật; do sự yếu kém của hệ thống chính quyền cấp cơ sở; do sự yếu kém của công tác kiểm soát, định hướng truyền thông, báo chí; do sự thao túng của các “nhóm lợi ích”; do biện pháp “xử lý tình huống” của chính quyền và cơ quan chức năng các cấp tại một số thời điểm, trong một số vấn đề, vụ việc không phù hợp.

T3.

 

Âm mưu, thủ đoạn hoạt động “bất tuân dân sự” chống đối chính quyền của các thế lực thù chống phá Đảng, Nhà nước, quân độị ta.

 


 “Bất tuân dân sự” ở Việt Nam những năm gần đây là hậu quả, bước phát triển của chiến lược “DBHB” do các thế lực thù địch tiến hành và là thủ oạn mới của chúng. Thúc đẩy phong trào “Bất tuân dân sự” nhằm mục tiêu ythay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam là đặc trưng của Mỹ và các thế lực phản động, được tiến hành với nhiều cách thức khác nhau. Trong đó nổi lên một số phương thức, thủ đoạn cơ bản như sau:

Các thế lực thù địch ở nước ngoài sư dụng các tổ chức “xã hội dân sự”, truyền thông, mạng xã hội để thu thập thông tin về bức xúc trong xã hội, tán phát tạo dư luận, kích động các vụ việc theo hướng chống chính quyền, bảo vệ những kẻ quá kích. Chúng cung cấp các tài liệu về chủ thuyết và thủ đoạn lật đổ chính quyền thông qua “Bất tuân dân sự”. Chúng thường xuyên sử dụng sức ép quốc tế đối với các cơ quan chức năng Việt Nam trong việc xử lý các đối tượng tham gia, kích động, cầm đầu, qua đó tạo ra chỗ dựa cho các vụ “bất tuân dân sự” tiếp tục lan rộng, chuyển mục tiêu từ dân sinh sang chống đối về chính trị.

Để đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng tự do vô giới hạn, các đối tượng phản động đã sử dụng nhiều hình thức liên lạc khác nhau; đẩy mạnh phát triển lực lượng mới tập trung vào giới trí thức, sinh viện, số cực đoan tôn giáo và cán bộ đảng viên tha hóa, biến chất, những người có uy tín, ảnh hưởng lớn đối với người dân ở các khu dân cư, nhất là các nơi có nhiều công nhân và người lao động tự do. Tiếp tục hoàn chỉnh trang Web của “Hội” để đăng tải các bài viết, kêu gọi các tầng lớp trong xã hội ủng hộ hoạt động của các tổ chức nhận là “xã hội dân sự” và liên kết hoạt động đấu tranh ở Việt Nam.

Trong thời điểm khó khăn của người dân do Covid – 19, các đối tượng thuộc tổ chức khủng bố “Việt Tân”, chủ trương đẩy mạnh kêu gọi các đối tượng chống đối chính trị trong và ngòa nước góp quỹ để thành lập “chương trình tiếp sức” nhằm “hỗ trợ tài chính cho những người gặp khó khăn mùa dịch và tư vấn sức khỏe trực tuyến”. Mục đích của các đối tượng nhằm truyền bá tư tưởng “bất tuân dân sự”, hướng người tham gia cách thức xây dựng “phong trào xã hội” và phương pháp “đấu tranh đòi quyền lợi”.

Bên cạnh hoạt động tuyên truyền tư tưởng tự do vô giới hạn, kích động “Bất tuân dân sự”, chống đối chính quyền thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các đối tượng phản động còn cử người trục tiếp tiếp cận vào các tầng lớp nhân dân, nhất là giới công nhân để tuyên truyền, kích động “Bất tuân dân sự”.

T3.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

 


 

Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm các quan điểm sai trái, thù địch chống phá trên mạng xã hội

Cơ quan chức năng cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng. Kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá các nước XHCN như Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba và Việt Nam...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan quản lý các mạng xã hội cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này; khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.

 Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội ở Việt Nam

Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram … , tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. 

 Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, rút  kinh nghiệm với các nước có cùng chế độ chính trị về đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội với các nước Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Cuba. Chẳng hạn, tháng 8 - 2019, các thế lực thù địch đã lợi dụng một số vấn đề có liên quan đến vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia nêu lên những thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội Facebook nhằm mục đích gây ra sự hiểu lầm về quan hệ giữa Lào và Campuchia. Văn phòng Ủy ban biên giới Quốc gia của Lào (Office of the National Boundary Committee, Ministry of Foreign Affairs) đã kịp thời tổ chức họp báo ở Thủ đô Viêng Chăn để phản bác lại các quan điểm này, góp phần thuyết phục các đảng viên, nhân dân trong nước và bạn bè thế giới  nắm bắt thực chất vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia.

Ngoài ra, cần thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội của các nước tiên tiến khác trên thế giới.

 Tập hợp rộng rãi các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia phòng, chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên mạng xã hội

Các thế lực phản động đã thiết lập hàng nghìn Website, blog, tài khoản Facebook, trang Fanpage với hầu hết máy chủ đặt ở nước ngoài, tổ chức hàng trăm chiến dịch tuyên truyền, phát tán với tần suất và số lượng lớn các tin, bài bình luận, videoclip... có nội dung xấu, độc, thật, giả, trắng đen lẫn lộn, thậm chí công khai các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Từ đó, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản thậm chí thù hận không chỉ một số người trong nước mà ngay cả Việt kiều và người nước ngoài, dẫn đến thiếu niềm tin vào Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần huy động, thu hút được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng và Nhà nước Việt Nam thông qua đẩy mạnh thông tin đối ngoại để giúp họ hiểu rõ bản chất tốt đẹp và những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng và phát triển đất nước. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng.

Trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần nâng cao cảnh giác đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự kiên định tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          T3

Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Một là, các cơ quan trong hệ thống chính trị phải thường xuyên bám sát các chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (khóa XII) về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là cần thường xuyên bám sát các thông tin và định hướng của Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của cấp mình gắn với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, các cơ quan trong hệ thống chính trị tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, hàng năm cần xây dựng kế hoạch, chương trình, giải pháp cụ thể để thực hiện nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từng cơ quan phải đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát để chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động của các đối tượng chống phá, xuyên tạc. Rà soát thường xuyên, nắm tình hình, phát hiện các trang blog, trang facebook, trang website, các diễn đàn thường đăng tải các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban tuyên giáo các cấp, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Năm là, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi các thông tin tiêu cực. Vì vậy, cần xây dựng và tổ chức các trang thông tin chính thống có uy tín để thường xuyên cập nhật, đưa các thông tin chính xác, nhanh nhạy.

Sáu là, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảy là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút  kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ;  nâng cao trình độ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tám là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, ngăn chặn sớm các tin tức xấu độc trên các trang mạng xã hội. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Chín là, nâng cao nhận thức và đề cao cảnh giác với các biểu hiện của bệnh giáo điều, cơ hội, thực dụng và xét lại trên mạng xã hội ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội XII của Đảng nhận định: “… một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”(1).

Nếu là thông tin xấu do các thế lực phản động, thù địch tấn công độc hại một thì các thông tin xấu do chính những kẻ cơ hội, bất mãn, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội sẽ nguy hại gấp nhiều lần. Bởi vậy, phải kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Lãnh đạo các cơ quan của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội cần sớm phát hiện, kịp thời giáo dục và xử lý kỷ luật thích đáng, nếu cần thiết thì đưa ra khỏi tổ chức mình cán bộ, đảng viên cơ hội, thực dụng và xét lại ở mức độ nghiêm trọng để làm trong sạch đội ngũ.

          T3

 

MỘT SỐ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Một là, thách thức đối với hệ tư tưởng chính thống.

Do không gian mạng có tính mở với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xoá nhoà ranh giới giữa thực và ảo, giữa vật lý và hiện thực, vì vậy không gian mạng mang đến những thách thức to lớn đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Có thể nói, hiện nay, các hệ tư tưởng, các luận điểm, các học thuyết ngoài mácxít, từ các loại chủ nghĩa khác nhau như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa khủng bố mạng… cho đến chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, cũng như vô số các tôn giáo, tín ngưỡng, thậm chí là mê tín dị đoan, đang xuất hiện một cách tràn lan trên không gian mạng. Lợi dụng triệt để những ưu thế của không gian mạng, một cách trực tiếp hay gián tiếp, các loại hình ý thức hệ đó đã và đang công khai hay ngấm ngầm chĩa mũi nhọn vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều luận điểm, quan điểm trong các ý thức hệ đó đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời chứa đựng tính chất độc hại, phản động, bóp méo thế giới quan và xuyên tạc nhân sinh quan, cố tình định hướng giá trị một cách sai lầm cho những người dùng mạng Internet nói riêng và cho người dân Việt Nam nói chung.

Hai là, thách thức đối với mặt trận tư tưởng - văn hoá.

Một hệ tư tưởng nếu không được truyền bá và giáo dục, củng cố và phát triển thường xuyên thì hệ tư tưởng đó sẽ chết. Đảng ta luôn chú trọng mặt trận tư tưởng - văn hoá, luôn ý thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục tư tưởng, song sự phát triển của không gian mạng hiện nay đang đặt ra những thách thức vô cùng to lớn. Các phương tiện truyền thông truyền thống của chúng ta (truyền hình, phát thanh, sách, báo, tạp chí, phim ảnh, bảng tin, khẩu hiệu cổ động…)đã tỏ ra chậm và phần nàohạn chế về tính hiệu quả.Các phương thức truyền thông về tư tưởng, lý luận chủ yếu vẫn là phổ biến nghị quyết, vận động học tập, nghe báo cáo,… trong một không gian và thời gian nhất định, với tính chất bắt buộc, tập trung và thống nhất, chủ yếu vẫn mang tính một chiều từ trên xuống và số lượng đối tượng tiếp nhận thông tin hạn chế. Trong khi đó, không gian mạng với tính chất đa dạng, phi tập trung, tự chủ và tương tác đã tác động mạnh mẽ và thách thức to lớn đến cách giáo dục tư tưởng truyền thống. Không gian mạng với phương thức giao tiếp ngang hàng, tương tác hai chiều và đa chiều, đã tạo ra một bước nhảy vọt về chất trong phương thức tiếp cận thông tin và trao đổi ý kiến, đồng thời cung cấp cho cư dân mạng cơ hội giao tiếp bình đẳng và một nền tảng để chia sẻ quan điểm một cách tự do. Việc tuyên truyền, phổ biến các luận điểm trên không gian mạng có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng và tính thẩm thấu mạnh đã cóảnh hưởng nhất định đến tính định hướng,quyền kiểm soát, quản lý của Đảng, Nhà nướcđối với mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Ba là, thách thức đối với niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Không gian mạng đã cải thiện đáng kể khả năng của các cá nhân và tổ chức trong việc công bố, trao đổi,tiếp cận và tiếp thu thông tin, đồng thời nâng cao tính độc lập, tính đa dạng, tính chọn lọc và sự khác biệt của các suy nghĩ. Mọi người có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình (một cách ẩn danh), và có thể nhanh chóng trao đổi và chia sẻ thông tin cũng như suy nghĩ của mình với những người khác về mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…trên không gian mạng. Không kể sự chống phá có chủ đích của các thế lực thù địch, bản thân sự yếu kém của các công ty công nghệ lớn trong việc bảo mật thông tin, vi phạm quyền riêng tư, buông lỏng tin giả, kích động bạo lực… và sự bất cập của chúng ta trong quản lý, kiểm soát không gian mạng đã tạo môi trường thuận lợi cho việc ngụy tạo, phổ biến lan tràn các luận điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, đặc biệt là trên các mạng xã hội. Mặc dù trong vài năm trở lại đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là một thách thức không nhỏ. Điều này gây ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

              T3

 

Biện pháp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; phòng, chống “tự diễn biến” tự chuyển hóa” trong Quân đội.

 


- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, phát huy vai trò trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Quán triệt sâu sắc các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng: (thể hiện trong nghị quyết lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ; kế hoạch công tác của người chỉ huy ; công tác kiểm tra, giám sát ; bồi dưỡng lực lượng chuyên trách…)

+ Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực của cơ quan và lực lượng chuyên trách đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận trong Quân đội.

+ Phát huy sức mạnh tổng hợp đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực của cơ quan và lực lượng chuyên trách đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận trong quân đội

Để đấu tranh có hiệu quả các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên lĩnh vực lý luận tư tưởng nói chung và trên mạng internet nói riêng cần có lực lượng nòng cốt : Ban Chỉ đạo 35

Chỉ thị số 47 ngày 8/1/2016 của Chủ nhiệm TCCT về tổ chức và hoạt động của lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong quân đội (lực lượng 47). Từ khi có lực lượng 47 việc đấu tranh trên mạng internét của quân đội đã có sự chuyển biến rõ rệt, kịp thời phản bác các thông tin xấu độc, góp phần định hướng tư tưởng cho bộ đội.

- Xác định đúng nội dung, thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận trong Quân đội. Chủ động đấu tranh với những tư tưởng sai trái, phản động.

=> Giáo dục cán bộ, chiến sĩ thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đồng thời tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng

- Sử dụng tổng hợp các biện pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch.

+ Thông qua các phương tiện truyền thông (truyền hình; truyền thanh, Báo chí…

+ Đấu tranh thông qua internet, mạng xã hội… Đặt biệt là đấu tranh trên mạng internet.

> Internet: Đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta. Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống XH. Và các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng để chống phá CM nước ta:

Theo số liệu của Bộ Công an: các thế lực thù địch đã huy động 63 đài phát thanh, trên 400 báo, tạp chí; 88 nhà xuất bản. trên 1600 trang Web, blog và trang mạng xã hội để đăng tải, phát tán hàng trăm nghìn tin bài có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, QĐ như: Blog: Quan làm báo", dân làm báo", biển đông" " chân dung sự thật… và các mạng xh như facebook, Twitter.. kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, kích động bạo loạn. lập các trang blog cá nhân mang tên các lãnh đạo đảng nhà nước (tên miền nước ngoài, org, .com…. phát tán các thông tin thực hư lẫn lộn. Chúng lập các đội Biệt kích mạng nhằm tiêu diệt các nhóm facebook mang tính tích cực…

=> đấu tranh phòng chống diến biến hòa bình, tự chuyển hóa, tự diễn biến, âm mưu phi chính trị hóa quân đội trên mạng internet là một vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay.

+ Thông qua công tác giảng dạy, giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, sinh hoạt chính trị, thông báo thời sự hàng tuần, tháng…

+ Thông qua các hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật…

+ Thông qua việc thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của quân đội (chức năng chiến đấu, công tác, lao động sản xuất)

- Tăng cường tổng kết thực tiễn trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận của Quân đội.

Thông qua việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để khẳng định giá trị của các nguyên lý, quan điểm, luận điểm trong học thuyết MLN, tư tưởng HCM, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

          T3

Tại sao quân đội lại là mũi nhọn để các thế lực thù địch tập trung chống phá, nhất là âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội?

 


 Xuất phát từ vai trò của Quân đội: là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước XHCN, bảo vệ nhân dân, nòng cốt trong xây dựng nền QP toàn dân Bảo vệ TQ…

 Hiện nay: QĐ ta vẫn là lực lượng trung kiên, tuyệt đối trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

 Do đó các thế lực thù địch tập trung chống phá Quân đội, coi Quân đội là đột phá khẩu trong việc chống phá CM nước ta.

Trong báo cáo gửi Văn phòng Tổng thống Mỹ (năm 2017) Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định: “Mặc dù yếu tố tinh thần của binh lính và hàng ngũ sĩ quan trẻ đã có sự chuyển biến, nhưng Quân đội Việt Nam vẫn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho ĐCS Việt Nam, người dân Việt Nam vẫn luôn tin tưởng vào sức mạnh và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội, do đó để đạt được các mục tiêu chiến lược đối với Việt Nam, phải tăng cường can dự, từng bước “phi chính trị hóa” quân đội.

          T3