Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

Lợi dụng vấn đề ngôn ngữ để chống phá, chia rẽ khối Đại đoàn kết dân tộc

 

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc, nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó, chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người DTTS tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “Bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người DTTS tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người DTTS; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người DTTS với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo Người có uy tín trong đồng bào DTTS để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng DTTS ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các DTTS nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối Đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người DTTS”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các DTTS của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các DTTS trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi DTTS ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng DTTS, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các DTTS có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào DTTS được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ Trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng DTTS; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Mông, Mnông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào DTTS duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của DTTS cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào DTTS theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người DTTS vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào DTTS hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người DTTS được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị - xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối Đại đoàn kết dân tộc.Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào DTTS am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào DTTS./.

Nhận thức về An ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay

 

An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm tương đối mới trong ngành khoa học nghiên cứu an ninh và nghiên cứu quan hệ quốc tế của các học giả trên thế giới, khái niệm an ninh phi truyền thống phản ánh nhận thức mới về an ninh quốc gia và thay đổi căn bản về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia theo mục tiêu hướng đến các mối đe dọa đối với an ninh quốc gia

Trong suốt các chương trình nghị sự, hội nghị diễn đàn mang tầm khu vực, quốc tế, trong các cuộc gặp song phương, đa phương giữa các quốc gia khái niệm ANPTT xuất hiện thường xuyên với các vấn đề điển hình như: Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, bênh truyền nhiễm… Tuy nhiên xuất phát từ nhiều góc độ như: Thể chế chính trị, lập pháp, thách thức về an ninh, quân sự đối với từng quốc gia, khu vực mà mỗi quốc gia có cách nhìn, đánh giá khác nhau về ANPTT.

Tuy nhiên xuất phát từ thực tế và quá trình phát triển trong giai đoạn hiện nay, các nghiên cứu về an ninh phi truyền thống chỉ mới được phát triển, trong khi đó ANPTT lại liên quan nhiều lĩnh vực, bao hàm nhiều thách thức an ninh mới như tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, an ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh năng lượng, an ninh tài chính tiền tệ, an ninh lương thực, an ninh thông tin… Các thách thức ANPTT đặt ra nhiều khó khăn cho công tác quản trị của tất cả quốc gia trên thế giới; các thách thức này đang hàng ngày đe dọa trực tiếp, nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển bền vững, đến công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Do đó cho đến nay các nhà nghiên cứu tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung cho đến nay vẫn chưa đưa ra được định nghĩa đồng nhất về an ninh phi truyền thống. Trên các diễn đàn, nghị sự hay trong các nghiên cứu riêng lẻ của các học giả trên thế giới nói chung mới chỉ để cập đến các khía cạnh của ANPTT. Tuy nhiên tựu chung lại thì ANPTT có thể được đánh giá như sau: “An ninh phi truyền thống không phải là an ninh quân sự, mà là an ninh tổng hợp, bao gồm: các mối đe dọa đến an ninh con người và xã hội một cách toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái… Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu khác nhau, nội dung an ninh phi truyền thống bao gồm: Thiếu hụt tài nguyên, bùng phát dân số, môi trường sinh thái suy giảm, xung đột tôn giáo, sắc tộc, bạo loạn và ly khai trong nước, khủng hoảng kinh tế và tài chính tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, tin tặc, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, nghèo đói, tội phạm ma túy, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mới nổi, tội phạm mạng, di dân, tị nạn kinh tế, dịch bệnh, tội phạm rửa tiền”.

An ninh phi truyền thống tại khu vực Đông Nam Á và Việt Nam mang một tính chất rất khác so với các khu vực khác trên thế giới do đây là khu vực có địa chính trị đặc biệt quan trọng, trong đó sự tranh chấp ảnh hưởng giữa các cường quốc là yếu tố chính ảnh hưởng đến toàn khu vực; kết hợp với nội tại khu vực Đông Nam Á là khu vực có nhiều quốc gia đang phát triển, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn định dễ tác động đến an ninh quốc gia của mỗi nước.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh, trên phạm vi rộng của các nguy cơ, thách thức ANPTT. Các thách thức ANPTT hiện hữu ngày càng rõ nét hơn và tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến quốc phòng an ninh. Các nguy cơ, thách thức ANPTT ở Việt Nam đang có những biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với cuộc sống con người, thách thức sự phát triển bền vững của đất nước.

Các thách thức ANPTT phổ biến ở Việt Nam hiện nay gồm: Biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia… Nhận thức được vấn đề ANPTT từ rất sớm Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm thể chế, lãnh đạo, chỉ đạo và cảnh báo các vấn đề này như tại Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 17/12/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII; đồng thời thể chế vào Nghị quyết Đại hội thứ XI, XII và đặc biệt, tại Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Những vấn đề toàn cầu như: Bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường… tiếp tục diễn biến phức tạp”. Từ đó đặt ra yêu cầu “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống…”. Điều này thể hiện tư duy, nhận thức vừa mới, vừa sâu sắc và toàn diện của Đảng ta về vai trò, vị trí của ANPTT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phù hợp với chủ trương “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Biểu hiện rõ ràng nhất của ANPTT trong thời gian vừa qua là cách thức các quốc gia ứng phó với “Đại dịch Covid-19” điển hình như hầu hết các quốc gia đều hạn chế tự do đi lại, tiếp xúc, thiết lập các khu cách ly, khu điều trị trên diện rộng từ đó kéo theo một loạt các vấn đề về an sinh xã hội, phát triển kinh tế, thâm hụt GDP… dẫn đến nguy cơ mất an ninh quốc gia luôn hiện hữu nếu khống chế không thành công đại dịch. Tại Việt Nam, ANPTT tại các khu công nghiệp trong thời gian chống dịch Covid-19 và phục hồi sau dịch là vấn đề rất nóng, các cuộc biểu tình, đình công, lãn công của công nhân diễn ra dưới sự tác động, tiếp sức của các thế lực bên ngoài thực hiện diễn biến hoà bình tại các khu công nghiệp cũng thể hiện phần nào một khía cạnh của ANPTT trong tình hình hiện nay.

Trong tương lai dự báo các thách thức ANPTT sẽ ngày càng gia tăng nghiêm trọng, sẽ có những diễn biến tiêu cực, khó lường, khó kiểm soát. Chính vì vậy, để giảm thiểu tối đa những tác động do ANPTT có thể gây ra yêu cầu phát hiện, xử lý, khắc phục kịp thời các vấn đề nội tại là yêu cầu cao nhất với tôn chỉ “giữ vững bên trong là chính” bảo đảm an ninh quốc gia từ sớm, từ xa, an ninh chủ động. Đồng thời cấp uỷ, chính quyền các cấp cần sâu sát với nhân dân, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ cơ sở đảm bảo trong sạch, vững mạnh. Phải chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế để nâng cao hiệu phát hiện, nhận diện các thách thức ANPTT, các yếu tố tác động từ sớm, từ xã để phối hợp, khắc phục, giải quyết triệt để các vấn đề ANPTT trong tình hình mới./.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Trong bối cảnh đó, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” luôn là nhiệm vụ cấp cách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Vậy “diễn biến hòa bình” là gì? “diễn biến hòa bình” có sự nguy hiểm ra sao? Âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới như thế nào?.

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành. “diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau như: “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng. tiêu cực để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và Nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Chúng đặc biệt coi trọng phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: Tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này./.

KHÔNG CÓ VIỆC MẠNG XÃ HỘI BỊ ĐÀN ÁP Ở VIỆT NAM

 

Hiện nay, các phần tử phản động, chống phá tiếp tục sử dụng luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do thông tin, tự do Internet, mạng xã hội ở Việt Nam nhằm mục đích chống phá nền dân chủ, kích động, chia rẽ trong xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào nước ta. Chúng cho rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, tự do mạng xã hội, mạng xã hội bị kiểm duyệt gắt gao…

Ở Việt Nam, mạng xã hội bắt đầu du nhập vào từ những năm 2000 dưới hình thức các trang nhật ký điện tử (blog). Đến nay, có khoảng hơn 300 trang mạng xã hội khác nhau đã đăng ký hoạt động và có khoảng trên 76 triệu người dùng mạng xã hội. Trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất vì nhờ có thiết kế thuận lợi cho người sử dụng khi tạo lập tài khoản cá nhân, cũng như những tính năng trao đổi thông tin, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân với những người cùng nhóm, cùng sở thích... nên đã thu hút được nhiều thành viên tham gia. Tiếp sau Facebook là các trang My Space, Twitter, các blog…

Với cơ chế hoạt động của mạng xã hội có tính chất tương tác cao, “cư dân mạng” dễ dàng chia sẻ những thông tin cá nhân với nhau, nên đã thu hút số người tham gia ngày càng đông, trong đó có giới trẻ. Điều này đã tạo ra những mặt thuận lợi cho mọi thành viên khi tham gia mạng xã hội, đó là có thể chia sẻ cũng như tìm kiếm những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu hoạt động riêng của mỗi người. Tuy nhiên, bên cạnh những thông tin chính thống, bổ ích, có tính giáo dục, còn có các thông tin không chính thống, sai sự thật, xuyên tạc, cổ xúy cho lối sống lệch chuẩn cũng được đưa lên mạng xã hội với các mục đích khác nhau. Thời gian gần đây, tình trạng sử dụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vu khống, nói xấu, kích động… diễn ra ngày càng phức tạp và tinh vi, gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và công việc của cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra, qua công tác nắm tình hình, ghi nhận thông tin hành chục vụ việc liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua mạng viễn thông, mạng xã hội với phương thức, thủ đoạn hoạt động mới, ngày càng tinh vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của người dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội…

Mạng xã hội đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại tư tưởng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật nhà nước và mạng xã hội tác động tiêu cực đối với sự phát triển văn hóa, nguy cơ làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, cùng với việc phát triển mạng xã hội, cần phải có sự quản lý để phát huy tốt nhất những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại.

Các thế lực thù địch với cách nhìn phiến diện cho rằng, ở Việt Nam mạng xã hội bị đàn áp và mạng xã hội không có tự do thông tin, người dùng mạng xã hội không được bày tỏ chính kiến, suy nghĩ của mình... Đây là thông tin hoàn toàn bịa đặt và sai sự thật, bởi vì Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do thông tin, tự do Internet. Thực tế, chúng ta đạt được những thành tựu trong phát triển kinh tế như ngày nay, một phần là nhờ chúng ta tận dụng tốt cơ hội từ Internet, chính điều kiện phát triển tự do về Internet và mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước; điều này đã là “một phần tất yếu” của các tầng lớp xã hội.

Thông qua các trang mạng xã hội, người dân có thể bày tỏ thông tin và chính kiến của mình; không những thế còn có nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã sử dụng Internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân... Những việc đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ ở Việt Nam đã chứng minh rằng ở Việt Nam không có chuyện đàn áp mạng xã hội, mà trái lại còn được Đảng, Nhà nước bảo đảm sự phát triển tự do. Thực hiện quyền tự do Internet, mạng xã hội luôn được đặt trong khung khổ pháp luật. Nhờ đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, Internet để vi phạm pháp luật Việt Nam.

Nhận rõ các quan điểm sai trái cho rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, đàn áp mạng xã hội và đưa ra các luận cứ khoa học để phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái đó là việc làm cần thiết. Đồng thời, qua đó cũng tự xem lại chính mình, xem lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước chỗ nào chưa thực hiện tốt, chỗ nào chưa phù hợp để từng bước hoàn thiện, nhằm thực sự đem lại quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho Nhân dân. Như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “... Đảng cách mạng cần phê bình và tự phê bình cũng như người ta cần không khí”, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng”./.

Nhận diện biểu hiện “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” và biện pháp phòng chống

 

Chủ nghĩa cá nhân” là một trong những căn bệnh nguy hại, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, làm hại đến Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân và cách mạng.

Sa vào chủ nghĩa cá nhân là sa vào lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, khi suy nghĩ, hành động hoặc làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể; đối lập với chủ nghĩa tập thể và đạo đức cách mạng. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là quá trình người cán bộ, đảng viên từng bước suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có những suy nghĩ, hành vi trái với đạo đức cách mạng, xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên; thậm chí phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc. Hay nói cách khác, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là hiện tượng “tha hóa” về phẩm chất đạo đức và nhân cách của người cán bộ, đảng viên; nó không chỉ có hại đến từng cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tính chất nguy hại của hiện tượng “sa vào chủ nghĩa cá nhân” có thể nhìn nhận ở một số giác độ, như:

Chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” - kẻ thù trong lòng mỗi người cán bộ, đảng viên. Chúng ta biết, để trở thành người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò lãnh đạo của mình trước quần chúng, thì mỗi người phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện công phu về mọi mặt cả về phẩm chất, năng lực và để giữ vững bản chất người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện suốt cuộc đời “cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tuy nhiên, nếu không giữ được đạo đức cách mạng, sẽ dễ “sa vào chủ nghĩa cá nhân” và nếu điều đó xảy ra, thì người cán bộ, đảng viên ấy đã nhiễm một loại “vi rút rất độc”; từ đó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh từ tham lam, lười biếng đến bè phái, cục bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phai nhạt lý tưởng, v.v. Như thế, người cán bộ, đảng viên ấy không còn đủ tư cách “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” làm cho Đảng suy yếu từ bên trong cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều này diễn ra như một tất yếu, bởi lẽ, Đảng ta được ví như cơ thể sống, trong đó mỗi đảng viên là một tế bào của cơ thể ấy, mỗi tế bào khỏe mạnh thì Đảng sẽ khỏe mạnh, ngược lại, mỗi tế bào mà mang mầm bệnh - “chủ nghĩa cá nhân”, thì cơ thể Đảng sẽ yếu, kém. Nếu trong cơ thể của Đảng mà có nhiều “tế bào hư hỏng”, thì sớm hay muộn Đảng sẽ mục ruỗng từ bên trong, thoái hóa, biến chất, mất vai trò lãnh đạo.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân”, tạo lực cản lớn của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đảng lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, chủ trương và thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; niềm tin của nhân dân đối với Đảng đều xuất phát từ niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, khi “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, người cán bộ, đảng viên sẽ không còn được nhân dân tin tưởng, ủng hộ; uy tín và hiệu quả lãnh đạo giảm sút; đồng thời, trở thành “cái cớ” để các thế lực thù địch, phản động móc nối, lợi dụng chống phá.

Có thể khẳng định rằng, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là một trong những biểu hiện suy thoái rất nguy hại đối với cán bộ, đảng viên và ảnh hưởng sâu sắc đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để đấu tranh, loại bỏ, quét sạch nó trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sa vào chủ nghĩa cá nhân là quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà quá trình đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do nhận thức không đúng đắn, đầy đủ về đạo đức cách mạng, về tính chất nguy hại của chủ nghĩa cá nhân; bản lĩnh chính trị không kiên định, vững vàng. Do vậy, thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị là giải pháp hàng đầu, giúp cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc hơn về vai trò là gốc của đạo đức cách mạng đối với quá trình tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ của mình.

Hai là, nêu cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là “kẻ thù bên trong”, “thứ vi trùng rất độc” nằm trong tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên, nên phải có thái độ kiên quyết đấu tranh, loại bỏ mới có thể quét sạch nó trong mỗi con người. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tự phê bình và phê bình; phải tự phê bình thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”, “tự soi”, “tự sửa” từ suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong chính bản thân mình, trong tổ chức và đồng chí, đồng đội. Muốn vậy, phải nêu cao tính chiến đấu trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”; kiên quyết phê bình, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng; kiên quyết đấu tranh làm vô hiệu hóa thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm chống phá Đảng của các thế lực thù địch.

Ba là, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp rất quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp khắc phục những biểu hiện “sa vào chủ nghĩa cá nhân” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, nêu gương là một trong những phương pháp rất quan trọng trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Muốn nêu gương về đạo đức, người cán bộ, đảng viên phải tạo được động lực bên trong, không “sa vào chủ nghĩa cá nhân”, phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, chất lượng công việc. Để làm được việc đó, thì người cán bộ, đảng viên phải đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mọi lúc, mọi nơi, bền bỉ suốt cuộc đời. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp phải gương mẫu, đi đầu trong thực hiện các quy định nêu gương của Đảng, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm. Đối với cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong đó, cần quán triệt, thực hiện tốt phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo” và cán bộ giữ cương vị càng cao, càng phải tiên phong, gương mẫu.

“Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là biểu hiện suy thoái đã và đang diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và gây nguy hại rất lớn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Những biểu hiện của “chủ nghĩa cá nhân” rất dễ nhận biết, nhưng để đấu tranh, khắc phục triệt để là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, bởi nó nằm sâu, bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đấu tranh chống biểu hiện này hiệu quả, cần tiến hành quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, cả tư tưởng, tổ chức, cán bộ; trong đó, nêu cao tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương và tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên là vấn đề căn cơ, cốt lõi, lâu dài, góp phần xây dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới./.

Cảnh báo sự sa sút lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 

Trong thời gian vừa qua, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất đáng quan ngại. Biểu hiện đầu tiên trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đã có không ít cán bộ, đảng viên, thậm chí có một số ít cán bộ giảng dạy lý luận chính trị nhưng bản thân, ở các mức độ khác nhau, không còn tin vào những quan điểm cơ bản, những chân lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin; tuyên truyền những điều không phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, bất chấp những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào mà đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay và được thế giới đánh giá cao. Cần lưu ý rằng, sự phủ nhận ngấm ngầm, không bộc lộ ra mặt của họ một khi có cơ hội sẽ bùng phát cũng đáng ngại và nguy hại không kém. Tấm gương tày đình về sự thờ ơ, phai nhạt, phản bội lý tưởng cách mạng đã từng xảy ra trong Đảng Cộng sản Liên Xô có hàng chục triệu đảng viên, trong lực lượng vũ trang của Liên Xô một thời rất hùng mạnh và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây là bài học đắt giá mà chúng ta không thể lơ là, chủ quan, mất cảnh giác hay coi thường.

Báo động về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là về sự suy thoái lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, kể cả một số cán bộ cấp cao, trong thời gian vừa qua hết sức đáng ngại. Chủ nghĩa cá nhân, động cơ kiếm tiền, bao che để trục lợi, lợi dụng khe hở của công tác quản lý và luật pháp để thu vén, làm giàu cho bản thân và gia đình đều là những nguyên nhân trực tiếp khiến người có chức, có quyền, có địa vị cao trong xã hội trở thành tội phạm. Nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định, dẫn họ đến sự thoái hóa đó chính là sự tu dưỡng của bản thân quá kém, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, điều mà họ đã từng tuyên thệ trung thành suốt đời trước cờ Đảng khi họ được kết nạp vào Đảng.

Rõ ràng là sự lao dốc của những cán bộ đã từng trải ấy trên các cương vị công tác họ được đảm nhận, suy đến cùng là do lối sống buông thả, do sự tham lam quyền lực vô độ, muốn có thật nhiều tiền, muốn làm giàu thật nhanh mà không nghĩ đến hậu quả. Chính họ đã không đủ can đảm để chống lại những "bả" vinh hoa, phú quý không chính đáng. Sự lao dốc không phanh ấy, một lúc nào đấy thuận lợi, rất có thể sẽ dẫn đến chỗ góp phần bán rẻ cả đồng chí, đồng đội, phản bội lại Tổ quốc và quay lưng lại với nhân dân.

Bài học rút ra từ những vụ tiêu cực từ nhỏ đến lớn, nhất là nhiều vụ án kinh tế nghiêm trọng trong thời gian vừa qua, còn là do chúng ta thiếu một đạo luật đủ sức ngăn chặn sự lợi dụng và sự tham nhũng quyền lực ở nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế-xã hội khi chúng ta chấp nhận nền kinh tế thị trường, nơi mà đồng tiền có sức mạnh thống trị và quan hệ "tiền trao cháo múc" chi phối; nơi mà mọi thứ đều có thể đem ra trao đổi, mặc cả, mua bán.

Để phòng, chống sự phai nhạt lý tưởng tỏng một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay,Điều quan trọng hàng đầu cần phải làm để phòng ngừa, chống lại sự phai nhạt lý tưởng cách mạng là quán triệt sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên về lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Chỉ có sự tự ý thức và sự tự giác thấm nhuần lý tưởng ấy trong mọi tình huống thì mỗi cán bộ, đảng viên mới có thể làm tròn trọng trách của mình trước Đảng, trước nhân dân. Bên cạnh đố, các tổ chức đảng phải thường xuyên, liên tục giáo dục tư tưởng, đạo đức và phong cách cho mỗi cán bộ, đảng viên theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thật tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng, chống sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là trong việc phòng, chống sự suy thoái lý tưởng cách mạng ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, khó lường như hiện nay và trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải coi việc thấm nhuần và thực hành đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, một lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân chính là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa sự suy thoái, nhạt phai lý tưởng cách mạng, qua đó giữ vững vị thế, vai trò là lực lượng tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt và lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 

Xây dựng văn hóa không tham nhũng

 

Tham nhũng lớn gây mất rất nhiều tài sản cho đất nước, thất thoát tài sản cho đất nước. Còn tham nhũng vặt gây mất niềm tin, mà nếu mất niềm tin thì chúng ta sẽ mất tất cả.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống đều sẽ dẫn đến những hành vi sai lệch khác. Xây dựng văn hoá liêm chính trên tinh thần phục vụ người dân chính là xử lý gốc rễ vấn đề dẫn đến tham nhũng, tiêu cực.

Cơ chế có minh bạch thế nào, hành lang pháp lý có chặt chẽ đến mấy mà đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý không liêm chính thì vẫn xảy ra tiêu cực, lãng phí. Vì vậy, việc Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm thể hiện quyết tâm loại tham nhũng ra khỏi đời sống chính trị- xã hội.

Theo dõi việc kỷ luật, truy tố, xét xử nhiều cán bộ và lãnh đạo doanh nghiệp thời gian qua cho thấy đa số đều vi phạm ở lĩnh vực đầu tư dự án (dự án công) và đất đai, tài nguyên, khoáng sản. Mới nhất, thêm một hành vi là thao túng, lũng đoạn thị trường chứng khóan để huy động nguồn vốn khổng lồ rồi cũng đầu tư vào đất đai (bất động sản). Hàng loạt cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Khánh Hòa… vướng vào vòng lao lý; các đại gia như Chủ tịch Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh bị tạm giam là ví dụ sinh động.

Sáng cà phê với mấy bác hàng xóm về hưu, đề cập về các vấn đề thời sự đất nước, như công tác chống tham nhũng và chuyện đại gia, một bác hưu trí nói: “Các ông cứ vào google tra xem những lâu đài tráng lệ của các đại gia từ Bắc vào Nam, có đại gia nào không liên quan đến lĩnh vực khai thác khoáng sản và đất đai. Những tập đoàn mới nổi, số đông giàu lên từ kinh doanh bất động sản, tỷ lệ doanh nghiệp giàu lên, hùng mạnh từ công nghệ hay các lĩnh vực ngoài đất đai, khai thác tài nguyên rất ít”.

Còn một bác khác thì bình thêm: “Chúng ta mừng vì kinh tế đất nước ngày càng phát triển, số người giàu ngày càng nhiều, đời sống nhân dân ngày càng khấm khá. Nhưng nghĩ lại cũng buồn, từ thành thị đến nông thôn, dân cư đa số giàu lên từ đất. Thôn quê giờ đây nhà cửa xây khang trang, người dân mua sắm nhiều ô tô cũng từ sốt đất”.

Bình luận vẫn chỉ là bình luận, mỗi một quốc gia đều có hoàn cảnh riêng, điểm xuất phát riêng. Tuy nhiên, nhìn lại kinh nghiệm những quốc gia đã phát triển, đang phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel, Singapore… những đất nước rất nghèo tài nguyên họ vươn lên thành những nền kinh tế mạnh của thế giới bằng sự phát triển khoa học, công nghệ, tài chính, dịch vụ…

Còn ta, đất đai với người dân gắn bó như cá với nước, đất đai là sinh kế của người dân, không thể phủ nhận việc quy hoạch, thu hồi đất đai để xây dựng công nghiệp, du lịch, dịch vụ, đô thị nhằm góp phần phát triển kinh tế đất nước. Nhưng do công tác quản lý yếu kém, thị trường đất đai đã bị bóp méo. Một số nơi doanh nghiệp, chính quyền bắt tay nhau khiến việc thu hồi, đền bù đất đai không thỏa đáng làm phát sinh những vụ khiếu kiện kéo dài. Mọi nguồn vốn thời gian qua đa số đều đổ vào thị trường bất động sản.

Ngay trong cuộc họp Chính phủ vừa qua Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng nhấn mạnh, Chính phủ đã nhìn thấy những hệ lụy nên đã chỉ đạo sát sao các cơ quan chức năng ngăn chặn kịp thời nguy cơ đối với nền kinh tế. Từ phát hành cổ phiếu doanh nghiệp đến “thao túng” thị trường chứng khoán, đường đi cuối cùng cũng đều tìm đến thị trường đất đai.

Những vấn đề phức tạp đã được nhận diện, vì thế Kết luận số 12-KL/TW chỉ rõ: “Tăng cường quản lý, chống thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, vốn, tài sản Nhà nước ở các doanh nghiệp; đầu tư công, dịch vụ công,...

Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các định mức, đơn giá xây dựng và các lĩnh vực khác phù hợp với thực tiễn; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, cải cách hành chính, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công, tiết kiệm ngân sách Nhà nước. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong việc cổ phần hóa, thoái vốn, tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước; xử lý dứt điểm những tồn tại, yếu kém tại các dự án chậm tiến độ, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả”.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chia rẽ mối quan hệ Đảng - Dân

 

Đấu tranh chống các thế lực thù địch xuyên tạc, chia rẽ, phá hoại mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, liên tục, thường xuyên và lâu dài, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của cả HTCT, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. 

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chia rẽ mối quan hệ Đảng – Dân, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, nhận diện các nhóm đối tượng dễ bị tác động tiêu cực bởi các quan điểm sai trái, thù địch để có biện pháp thích hợp.

Những người hạn chế về nguồn thông tin và năng lực tiếp cận, xử lý thông tin (tập trung ở nông thôn, miền núi, người dân tộc thiểu số, người lớn tuổi) cần được nhà nước đầu tư phủ sóng internet, cung cấp báo chí, thường xuyên tổ chức cho họ tham gia các cuộc họp đoàn thể, khu dân cư... để cung cấp thông tin chính thống, cập nhật. Những người lập trường tư tưởng không vững vàng, dễ bị sa vào xu hướng tiêu cực cần tổ chức cho họ tham gia các lớp học, diễn đàn sinh hoạt chính trị tư tưởng dưới sự dẫn dắt của các chuyên gia. Những người từng bị oan sai, tổn thất do sự tắc trách, tiêu cực của các cơ quan chức năng, cán bộ, công chức thực thi công vụ, thường có xu hướng nghi ngờ, mất niềm tin vào Đảng, chính quyền, cần được bồi thường tổn thất về tinh thần và vật chất, động viên, tạo điều kiện cho họ trở lại trạng thái tâm lý bình thường thông qua các phong trào quần chúng ở cơ sở. Những người từng vi phạm pháp luật, bị cơ quan chức năng xử lý, đã được tuyên truyền, giáo dục nhưng chưa nhận thức hết sai phạm, cần thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, cảnh báo, tạo điều kiện cho họ trở lại cuộc sống bình thường để không bị các thế lực thù địch kích động, xúi giục, lôi kéo.

Hai là, tăng cường trách nhiệm của cả HTCT, nâng cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong công tác đấu tranh tư tưởng.

Đấu tranh tư tưởng là một mặt trận có nhiều mục tiêu cần tấn công nên cần nhiều lực lượng để phối hợp hành động. Sự bền chặt của mối quan hệ Nhân dân với Đảng trước hết phải bắt đầu bằng trách nhiệm của cả tổ chức và cá nhân. Về phía các tổ chức trong HTCT, cần khắc phục tình trạng buông lỏng lãnh đạo, quản lý, xa rời công tác tập hợp, giáo dục, hỗ trợ, động viên các lực lượng trong đấu tranh tư tưởng. Quán triệt và cụ thể hóa Quy chế công tác dân vận của HTCT phù hợp với tình hình địa phương, lĩnh vực. Về phía cá nhân, khắc phục tình trạng ngại khó, dẫn đến thờ ơ, đứng ngoài cuộc của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên. Xác định tham gia đấu tranh với các lực lượng thù địch là một trách nhiệm, nên cần có quyết tâm và nỗ lực hơn; chủ động và thường xuyên sử dụng internet, trực tiếp tham gia làm thành viên am hiểu và tỉnh táo của hệ thống mạng xã hội phổ biến ở Việt Nam như Facebook, Zalo, Youtube... nhằm truyền bá, lan tỏa các sản phẩm truyền thông về củng cố mối quan hệ Nhân dân với Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Chỉ khi có nhận thức đúng đắn, đầy đủ trách nhiệm, có trình độ lý luận chính trị cao, có kỹ năng nắm bắt, sàng lọc, xử lý thông tin tốt, có tâm huyết và bản lĩnh chiến đấu của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, thì mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch chia rẽ Nhân dân với Đảng.

Ba là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu “củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN” theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Đây là biện pháp lâu dài, nhưng là vũ khí sắc bén nhất để đả phá các quan điểm sai trái, thù địch. Để làm được điều đó, cần “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN”[1]. Trước mắt, cần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, HTCT trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Tiếp tục đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Bóc gỡ, xóa các tổ chức phản động chống phá Đảng, chính quyền. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2030, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, nỗ lực phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, giữ vững quốc phòng, an ninh, chủ quyền đất nước.

Bốn là, thường xuyên sơ kết, tổng kết, nghiên cứu đánh giá kết quả đấu tranh, rút kinh nghiệm, đề xuất các vấn đề cần tiếp tục, hình thành hệ thống phương pháp, luận cứ khoa học để đấu tranh có hiệu quả hơn.

Nhiệm vụ này cần sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, các cơ quan tuyên giáo, thông tin, báo chí, các cán bộ nghiên cứu lý luận của các trường đại học, học viện, nhất là hệ thống thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Nghiên cứu để kế thừa và đổi mới việc thực hiện nguyên tắc tính đảng trong đấu tranh tư tưởng. Mở rộng và phát huy vai trò của nhiều lực lượng cùng đồng loạt đấu tranh dưới sự chỉ đạo của cấp ủy và Ban Chỉ đạo 35 các cấp. Nghiên cứu mở rộng nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh trên khắp các mặt trận tư tưởng. Đặc biệt, phát huy thành tựu của cách mạng 4.0 để lan tỏa các giá trị tốt đẹp trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm vũ khí sắc bén nhất để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chia rẽ, phá hoại mối quan hệ Đảng-Dân./.

Tác động của “diễn biến hòa bình” đến học sinh, sinh viên

 

Sau thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, các nước đế quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu và hoạt động chống phá Việt Nam. Âm mưu xuyên suốt và mục tiêu cuối cùng không thay đổi của các nước đế quốc là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, biến Việt Nam thành một nước dân chủ tư sản kiểu phương Tây, đi theo quỹ đạo và trở thành một nước phi xã hội chủ nghĩa. Từ sau Đại hội XII của Đảng, tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp. Cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ; hoà bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố quốc tế, bất ổn chính trị - xã hội, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa một số nước tiếp tục diễn biến phức tạp. Một mặt, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động DBHB nhằm chuyển hóa chế độ XHCN ở các nước còn lại. Đối với Việt Nam, “các thế lực thù địch tiếp tục chống phá và can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, kích động bạo loạn, lật đổ và đẩy mạnh hoạt động "DBHB", thúc đẩy "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta. Mặt khác, các tổ chức phản động bên ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng internet, triệt để lợi dụng những tiêu cực, tham nhũng… để tuyên truyền xuyên tạc nhằm hạ uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Thực tế hiện nay cho thấy, số lượng người đọc báo mạng, nhất là học sinh, sinh viên (gọi chung là thanh niên hoặc sinh viên) đang có xu thế tăng nhanh đột biến so với một vài năm trước đây; trong số những người thường xuyên truy cập mạng Internet đa số là sinh viên, đây là một thực tiễn rất đáng chú ý trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực, trong đó có vấn đề “tư tưởng chính trị”. Sự phát triển nhanh của mạng internet và dịch vụ viễn thông cũng đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác tư tưởng. Các quan điểm sai trái trên mạng thường được in ấn, nhân bản với số lượng lớn nên phát tán rất nhanh trong xã hội, do đó cũng tác động đến một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên. Với lượng thông tin sai trái, thù địch trên mạng lớn gấp rất nhiều lần so với cách truyền bá thủ công trước đây, lại được tuyên truyền hằng ngày hằng giờ, đã thực sự tác động mạnh mẽ đối với cộng đồng cư dân mạng. Thực tế cho thấy một bộ phận cư dân mạng, nhất là “học sinh, sinh viên, đã và đang chịu tác động tiêu cực của mặt trái công nghệ thông tin, bị mê hoặc, lung lạc bởi những ''điều phi lý'' trên mạng internet, trở thành nạn nhân "một cách rất tự nhiên". Những thông tin sai trái, thù địch trên mạng phát tán rộng rãi, thường xuyên đã và đang gây phân tâm, lo lắng trong một bộ phận lớn cư dân mạng nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng. Điều đáng ngại là, trong khi tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân ta vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, thì có một số người, do những hoàn cảnh, động cơ khác nhau, hoặc vô tình hoặc cố ý, đã “sập bẫy” cuộc chiến tranh tâm lý - thông tin. Đây đó đã xuất hiện sự dao động, hoài nghi, thậm chí có người phản bội sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Hiện tượng phai nhạt lý tưởng cách mạng; hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả cách mạng; tuyên bố “sám hối”, ly khai học thuyết Mác - Lênin và con đường đi lên CNXH do Đảng ta lãnh đạo, chạy theo những học thuyết, trào lưu, trường phái học thuật, văn nghệ tư sản vốn đã và đang bị chính học giả các nước tư bản đào thải, phê phán - sa vào chủ nghĩa giáo điều mới; đề cao cái tôi cá nhân và lối sống vị kỷ, ích kỷ... Một số thanh niên, sinh viên phai nhạt lý tưởng, mắc căn bệnh "nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị". Một số sinh viên đề cao quan điểm “dân chủ tư sản”; sống thực dụng, ích kỷ, cá biệt có hiện tượng tha hoá về nhân cách; một số viết bài cho đài nước ngoài nói xấu chế độ ta để xin học bổng. Ngoài ra, còn hàng trăm thanh niên do nhận thức mơ hồ hoặc bị lừa phỉnh đã tham gia vào các cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên. Do đó, để tăng cường và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng tính đồng thuận xã hội, huy động đông đảo lực lượng học sinh sinh viên góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, thời gian tới cần thực hiện những giải pháp sau:

Thứ nhất, đưa vào nội dung giảng dạy những tri thức cơ bản giúp học sinh, sinh viên nhận thức rõ con đường đi lên CNXH và góp phần đấu tranh với các quan điểm sai trái.

Thứ hai, các Bộ, ban ngành hữu quan (Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Công An, Ban Tuyên giáo Trung ương…) cần phối hợp, kết hợp trong xây dựng, triển khai và áp dụng các nội dung về âm mưu DBHB của lực lượng thù địch, về con đường đi lên CNXH ở nước ta trong sách giáo khoa ở các cấp học, bậc học, nhất là cấp phổ thông theo hướng phong phú về nội dung, đa dạng về phương pháp và phù hợp với đối tượng tác động, giúp họ hiểu được âm mưu, hành động phản động của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thứ ba, cần giải quyết dứt điểm, nhanh gọn, không để lan rộng những vấn đề phức tạp nảy sinh trong nhà trường phổ thông và đại học, không để các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng vào tuyên truyền phá hoại tư tưởng, lôi kéo, tập hợp lực lượng đối lập trong học sinh, sinh viên.

Thứ tư, phối hợp giữa các cơ quan chức năng với lãnh đạo nhà trường ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tăng cường giáo dục đạo đức lối sống trong học sinh, sinh viên.

Giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, giáo dục giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nêu cao tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ hiện nay - chủ nhân tương lai của đất nước trong tiếp bước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường XHCN. Và dĩ nhiên, con đường nhanh nhất đạt được mục đích đó là tuyên truyền, giáo dục, quán triệt những nội dung liên quan đến con đường đi lên CNXH và sự cảnh giác với âm mưu phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta. Thứ năm, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giáo dục đối với học sinh, sinh viên, nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, học tập các môn học thuộc khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bộ Giáo dục cần xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, trong đó chú ý xem xét đến vấn đề an ninh chính trị quốc gia trong quá trình hợp tác giáo dục và đào tạo, qua đó tăng cường giáo dục chính trị - tư tưởng trong đội ngũ trí thức trẻ, học sinh, sinh viên nhằm nâng cao nhận thức về lập trường, quan điểm chính trị, chống lại mọi biểu hiện sai lệch về nhận thức và hành động sai trái./

Những kiểu xuyên tạc, vu cáo trong thời đại số

 

Những năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải khi nào hoạt động này cũng nhận được sự hợp tác thiện chí từ một số quốc gia. Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản. Trong mọi giai đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam. Đồng thời các hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn viện trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…. Hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án với những mỹ từ như “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động. Nhiều tổ chức như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam. Thông qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.

Sử dụng công nghệ số để ngăn chặn luận điệu xuyên tạc, vu cáo

 

Định hướng thứ tư trong phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII là “...xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội dung, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta xác định:“... Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa; phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa độc đáo, sáng tạo có sức lan tỏa để quảng bá, giới thiệu ra thế giới”.Theo đó, tuyên truyền văn hóa Việt Nam ra thế giới cần đưa ra các thông điệp vừa làm nổi bật được những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam, trong đó có tính khác biệt với các quốc gia khác, vừa đảm bài sự hài hòa với xu thế chung của nhân loại, đồng thời phải tác động đến tình cảm,đáp ứng được nhu cầu và thuyết phục đối tượng tiếp nhận. Do đó, hoạt động tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới không thể tách rời với việc đấu tranh phản bác, chống các luận điểm xuyên tạc, bôi nho hình ảnh Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng nói chung và công tác đối ngoại nói riêng. “Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không đúng sự thật. Trong thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, danh tiếng và hình ảnh tích cực của một quốc gia ngày càng được coi trọng, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế bởi hình ảnh quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ quốc tế mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như năng lực cạnh tranh của đất nước. Do vậy, việc tạo dựng, quảng bá, nâng cao hình ảnh quốc gia ngày càng được các nước chú trọng như một chiến lược sức mạnh mềm trong môi trường quốc tế nhiều biến đổi. Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO…

Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới.

Lại diễn kịch “Giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế”!

 

Ngày 14/3, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken được nhiều trang thông tấn báo chí nước ngoài như BBC, VOA… cho biết đã chủ trì lễ trao giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế (IWOC) cho Phạm Thị Đoan Trang.

Thông tin nêu, ngoài Phạm Thị Đoan Trang còn có 11 phụ nữ khác trên toàn cầu được “biểu dương lòng dũng cảm, sức mạnh và khả năng lãnh đạo đặc biệt của họ trong việc vận động cho hòa bình, công lý, nhân quyền, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng của mình”. Những người này đến từ các nước Bangladesh, Brazil, Burma, Colombia, Iraq, Liberia, Libya, Moldova, Nepal, Romania, South Africa.

 Phạm Thị Đoan Trang được đính kèm với cụm từ “nhà báo độc lập”, như để tránh nhầm lẫn giữa Trang “báo chí” với một bà Trang nào khác. Sau khi dùng những từ ngữ ca ngợi “đóng góp của nữ nhà báo độc lập Phạm Thị Đoan Trang đang bị giam cầm tại Việt Nam”, Ngoại trưởng Hoa Kỳ lên án “sự giam cầm bất công đối với bà, chúng tôi kêu gọi phóng thích cho bà ngay lập tức”. Được biết, buổi lễ có sự hiện diện của Đệ nhất phu nhân Jill Biden, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc Linda Thomas-Greenfield, Trợ lý Bộ trưởng Giáo dục và Văn hóa Lee Satterfield.

Kể từ tháng 3/2007 đến nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao giải này cho hơn 170 phụ nữ từ hơn 80 quốc gia. Phạm Thị Đoan Trang là phụ nữ thứ ba ở Việt Nam được trao giải IWOC, sau Tạ Phong Tần được trao năm 2013 và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được trao năm 2017. Điểm chung của ba người phụ nữ được “vinh danh” này là đều bị toà án các cấp xét xử về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999. 

Ngay sau khi Phạm Thị Đoan Trang được trao giải nói trên, một số kênh truyền thông nước ngoài đã nhanh chóng liên hệ với các phần tử chống phá Việt Nam để “tiếp sóng”. Trong đó có Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được dịp bung nổ: “Chúc mừng chị Phạm Thị Đoan Trang với danh hiệu Phụ nữ dũng cảm quốc tế 2022. Đây là sự ghi nhận của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung dành cho cá nhân Phạm Thị Đoan Trang với những nỗ lực tranh đấu miệt mài, bền bỉ cho quyền con người, tự do ngôn luận tại Việt Nam”. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đồng thời cũng được thể bôi nhọ đất nước, quê hương của mình: “Tôi hy vọng rằng sự dấn thân của chị Đoan Trang sẽ tạo ra thay đổi tích cực trong một xã hội đầy sợ hãi, khiếp nhược. Và quan trọng hơn hết là sẽ không có thêm công dân Việt Nam nào bị kết án vì nói lên quan điểm chính trị, vì chống lại sự đàn áp, bất công. Không một công dân Việt Nam bị bỏ tù vì bày tỏ sự can đảm của mình trước nhà cầm quyền độc tài”.  

Cần thấy rằng, chính Nguyễn Ngọc Như Quỳnh với hoạt động chống phá đất nước như Phạm Thị Đoan Trang, đã bị tuyên 10 năm tù giam và cũng chính Quỳnh từng được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trao “giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế” trước đó. Khi sang đất Mỹ, với những “thành tích” chống lại Tổ quốc, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được các thế lực thù địch, phản động bên ngoài tìm cách đánh bóng tên tuổi, đào tạo và gán cho những giải thưởng hào nhoáng như “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế 2018”; “Giải thưởng Nhân quyền 2019”...

Ở trong nước, Quỳnh tìm cách miệt thị chế độ, ca tụng nước Mỹ là “miền đất hứa”, xứ sở của tự do, của thiên đường. Tuy nhiên, khi bị trục xuất sang Mỹ một thời gian, chính thị đã phải ngao ngán thốt lên trên trang cá nhân của mình những điều chua chát. Như Quỳnh đã viết loạt bài với các nhan đề trên tài khoản Facebook cá nhân: “Cuộc tranh luận về thuốc điều trị sốt rét sẽ đi đến đâu?”,“Nước Mỹ không vĩ đại như người ta tưởng” và “dịch bệnh nên đọc cảnh báo của chuyên gia y tế, đừng nghe lời lãnh đạo”...

Rồi từ thực tế chống chọi với đại dịch, Quỳnh thốt lên: “Nước Mỹ không vĩ đại như nhiều người đang nghĩ. Thiếu khẩu trang y tế, thiếu bộ xét nghiệm, Tổng thống kêu nhân viên sử dụng lại khẩu trang, có khác gì Vũ Hán không!?”. Từ những viện dẫn về đánh giá của các chuyên gia y tế, cũng như các phân tích lập luận của cá nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh kết luận không nên tin theo lời lãnh đạo nước Mỹ vì có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào!  

Rõ ràng, với sự thực như trên, Quỳnh cũng chẳng ưa gì đất Mỹ và còn nhiều éo le, vất vả khác mà xứ sở này thực sự “vỡ mộng” so với suy nghĩ của Quỳnh trước đây. Vậy nhưng, với tâm ý chống phá Nhà nước Việt Nam, ngay khi được hỏi về trường hợp của Phạm Thị Đoan Trang thì Quỳnh không tiếc lời ca tụng Trang và được thể bôi nhọ đất nước, chế độ.  

Với trường hợp Phạm Thị Đoan Trang, sau những trò tôn vinh, trao giải thưởng nhân quyền, giải thưởng tự do báo chí thì nay, cái gọi là giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế chỉ là sự tiếp nối của những vở kịch lố. Với các trường hợp như vậy, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng.

Đấu tranh với luận điệu sai trái chủ quyền biển, đảo

 

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Bản chất, hoạt động của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ

 

Tà đạo Giê Sùa do đối tượng David Her (tên thật là Hờ Chá Sùng, tự xưng là mục sư, người dân tộc Mông, quê quán ở huyện Phôn Xa Vẳn, tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa DCND Lào, hiện đang sinh sống ở bang California, Mỹ) lập ra năm 2015. David Her tự nhận mình là người đưa tin của chúa Giê Sùa, cho rằng chúa Giê Sùa sẽ tái lâm, bảo vệ và lãnh đạo người Mông xây dựng nhà nước riêng. “Hội thánh chúa Giê Sùa” đã chỉnh sửa, xuyên tạc giáo lý, giáo luật của đạo Tin Lành để tuyên truyền cho rằng, tên chúa Giê Su phải gọi là Giê Sùa và giải thích Giê Su là tên do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người.

Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạonhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác.

Đáng chú ý, trong một buổi sinh hoạt, nhóm đối tượng ở bản Na Cô Sa 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên công khai cầu nguyện, mong muốn chúa Giê Sùa về phù hộ, dẫn dắt để có được “Nhà nước Mông”. Khi chính quyền đến tuyên truyền, vận động thì số này tỏ thái độ chống đối đến cùng và xé biên bản vi phạm hành chính. Một số đối tượng ở xã Pú Xi, huyện Tuần Giáo khi được người đứng đầu các hệ phái Tin Lành tuyên truyền quay lại tôn giáo chính thống đã công khai tuyên bố: “Ở Mường Nhé hoạt động “Nhà nước Mông” không thành thì người Mông ở huyện Tuần Giáo sẽ làm, mọi người phải tin theo Giê Sùa để lập “Nhà nước Mông”, ai làm lộ thông tin sẽ giết người đó...”! Một số đối tượng cầm đầu “Nhà nước Mông” đã thường xuyên liên lạc, chỉ đạo hoạt động cho số đối tượng cầm đầu các điểm nhóm “Giê Sùa”, tuyên truyền với những luận điệu cho rằng, đi theo Giê Sùa thì mới có “Nhà nước Mông”. Một số người tin theo tà đạo Giê Sùa còn bao che, dẫn đường, cung cấp lương thực cho số đối tượng tham gia hoạt động lập “Nhà nước Mông” trong quá trình trốn tránh lực lương chức năng truy bắt…

Bên cạnh đó, chúng thông qua việc hỗ trợ tài chính cho số đối tượng cầm đầu, cốt cán ở trong nước để động viên, chỉ đạo lôi kéo, phát triển tín đồ. Từ năm 2018 đến nay, nhóm của đối tượng Vừ Thị Dợ ở Mỹ đã công khai chỉ trích một mục sư ở trong nước và một số mục sư Tin Lành khác ở Mỹ là tà giáo, kêu gọi người Mông không tin những mục sư trên. Từ năm 2017 đến nay, đối tượng Vừ Thị Dợ và số đối tượng cốt cán ở Mỹ đã nhiều lần gửi tiền cho đối tượng cầm đầu, cốt cán ở Điện Biên, Lai Châu để hoạt động. Theo đạo Giê Sùa, đạo Bà Cô Dợ khi có chiến tranh, thiên tai thì sẽ được đưa đến đất nước của chúa sinh sống; kêu gọi người Mông phải đoàn kết để chung tay xây dựng đất nước riêng của người Mông...

Số đối tượng cốt cán trong tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ ở các tỉnh Tây Bắc và một số tỉnh ở Tây Nguyên đã chia thành nhiều nhóm hoạt động riêng lẻ, có đối tượng đứng đầu chỉ đạo, phụ trách; có sự trao đổi thông tin, tình hình và thống nhất về cách thức hoạt động và chịu sự chỉ đạo chung của đối tượng ở Mỹ. Tuy nhiên, tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ chưa có cơ cấu tổ chức rõ ràng mà chia thành nhiều nhóm hoạt động riêng lẻ; không có giáo lý, giáo luật, hiến chương, điều lệ cụ thể, hoạt động chủ yếu cắt xén giáo lý của đạo Tin lành, bị các chức sắc Tin lành Mông ở Mỹ và nhiều nước lên án. Tài liệu tuyên truyền, sinh hoạt chủ yếu do Vừ Thị Dợ và David Her soạn thảo, tán phát trên mạng Internet dựa vào giáo lý, giáo luật của đạo Tin lành nhưng có lược bỏ, sửa đổi.

Luận điệu tuyên truyền, tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ đã đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, coi các tôn giáo khác là tà giáo, còn bản thân tự nhận là tôn giáo chính thống của người Mông. Những gì mà các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của đồng bào dân tộc Mông; không được pháp luật Việt Nam cho phép. Vì vậy, việc nhận thức rõ bản chất của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ để kịp thời ngăn chặn, xử lý hoạt động phi pháp, nguy hiểm của những đối tượng cầm đầu, cốt cán đang tích cực tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia vào các hoạt động gây phức tạp về tình hình an ninh, trật tự trong giai đoạn hiện nay.

Xuyên tạc trắng trợn, bất chấp thực tế

  

Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cựccủa Đảng, Nhà nước ta.

Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)... đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, "trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy"... Hoặc "hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp...".

Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cựcthì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”...

Sử dụng công nghệ số để ngăn chặn luận điệu xuyên tạc, vu cáo

 

Định hướng thứ tư trong phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII là “...xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội dung, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Trong phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta xác định:“...Hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa; phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa độc đáo, sáng tạo có sức lan tỏa để quảng bá, giới thiệu ra thế giới”.Theo đó, tuyên truyền văn hóa Việt Nam ra thế giới cần đưa ra các thông điệp vừa làm nổi bật được những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam, trong đó có tính khác biệt với các quốc gia khác, vừa đảm bài sự hài hòa với xu thế chung của nhân loại, đồng thời phải tác động đến tình cảm,đáp ứng được nhu cầu và thuyết phục đối tượng tiếp nhận.

Do đó, hoạt động tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới không thể tách rời với việc đấu tranh phản bác, chống các luận điểm xuyên tạc, bôi nho hình ảnh Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng nói chung và công tác đối ngoại nói riêng.

“Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị” là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trước những thông tin không đúng sự thật.

Trong thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, danh tiếng và hình ảnh tích cực của một quốc gia ngày càng được coi trọng, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế bởi hình ảnh quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ quốc tế mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như năng lực cạnh tranh của đất nước. Do vậy, việc tạo dựng, quảng bá, nâng cao hình ảnh quốc gia ngày càng được các nước chú trọng như một chiến lược sức mạnh mềm trong môi trường quốc tế nhiều biến đổi.

Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO…

Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới.